Sử dụng phương pháp nghiên cứu là mô tả, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp bên cạnh những mặt tích cực vẫn tồn tại những vấn đề phát sinh liên quan đế Các đề tài, bài viết trên nghi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN HOÀNG GIANG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 3CHUẨN Y CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
Luận văn tựa đề: “Văn hóa kinh doanh chuỗi cà phê Milano tại thành phố Hồ
Chí Minh”, công trình được học viên Đỗ Thành Đức thực hiện và nộp nhằm thỏa một
phần yêu cầu tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Tác giả đã chỉnh sửa theo đúng ý kiến đóng góp của Hội đồng
(Trường Đại học Lao động - Xã hội) (Trường Đại học Lao động - Xã hội)
Ngày bảo vệ luận văn, Tp Hồ Chí Minh, Ngày 18 tháng 3 năm 2016
Viện Đào Tạo Sau Đại Học
Trang 4LÝ LỊCH KHOA HỌC
I SƠ LƢỢC LÝ LỊCH
Địa chỉ: Ba Canh – Văn Thủy – Lệ Thủy – Quảng Bình
III QUÁ TRÌNH LÀM VIỆC
Từ năm 2012 đến nay, làm việc tại trường Đại học quốc tế Hồng Bàng
IV CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
Tôi cam đoan khai đúng sự thật
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Đỗ Thành Đức
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn này “Văn hóa kinh doanh chuỗi cà phê Milano tại
Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Những số liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn có chỉ rõ nguồn trích dẫn trong danh mục tài liệu tham khảo và kết quả khảo sát điều tra của cá nhân
Kết quả nghiên cứu này chưa từng được công bố bất kỳ công trình nghiên cứu nào từ trước đến nay
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Đỗ Thành Đức
Trang 6Xin được tỏ lòng kính trọng đối với TS Nguyễn Hoàng Giang, đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, nghiêm túc cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, bạn bè đã hợp tác chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tài liệu, tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu, cũng như dành cho tôi những lời động viên khích lệ tinh thần
Một lần nữa, xin cho phép tôi được bày tỏ lòng tri ân đến tất cả những người đã dành cho tôi sự giúp đỡ vô giá trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Trân trọng
Đỗ Thành Đức
Trang 7TÓM TẮT
Nghiên cứu “Văn hóa kinh doanh chuỗi cửa hàng cà phê Milano tại Thành phố
Hồ Chí Minh” đã hệ thống lại hệ thống lại cơ sở lý thuyết và nội dung có liên quan về văn hoá kinh doanh Làm rõ tầm quan trọng của văn hóa kinh doanh đối với sự phát triển của doanh nghiệp trong xu thế của nề kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới Đưa ra đánh giá thực trạng văn hoá kinh doanh chuỗi Cà phê Milano tại Thành Phố Hồ Chí Minh trên cơ sở lý luận đã trình bày
Nghiên cứu dựa trên phương pháp phân tính định tính, phỏng vấn chuyên gia, thống kê mô tả, khảo sát chủ cửa hàng, nhân viên và khách hàng của chuỗi cửa hàng
cà phê Milano tại thành phố Hồ Chí Minh Từ kết quả đó cho thấy bên cạnh những mặt tích cực vẫn còn một số hạn chế, tồn tại cần phải được khắc phục trong thời gian tới Cần có sự thay đổi từ chính nội bộ bên trong mỗi cửa hàng đến các cơ quan tổ chức có liên quan
Mặc dù trong quá trình nghiên cứu nhận được sự ủng hộ từ phía nhà trường, các đối tượng nghiên cứu, nhưng vì hạn chế về mặt thời gian nên việc thu thập dữ liệu vẫn còn bị giới hạn
Trang 8MỤC LỤC
LÝ LỊCH KHOA HỌC i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT iv
DANH MỤC BẢNG x
DANH MỤC BIỂU ĐỒ xi
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 6
1.4.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 6
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
1.4.2.1 Phạm vi không gian 6
1.4.2.2 Phạm vi thời gian 6
1.5 Phương pháp nghiên cứu 6
1.6 Những đóng góp mới của Luận văn 7
1.7 Kết cấu nghiên cứu của đề tài 7
Tóm tắt Chương 1 8
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA KINH DOANH 9
2.1 Khái niệm chung về văn hóa và văn hóa kinh doanh 9
2.1.1 Văn hóa 9
2.1.2 Văn hóa doanh nghiệp 11
Trang 92.1.2.1 Khái niệm 11
2.1.2.3 Các cấp độ của văn hóa doanh nghiệp 13
2.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến Văn hóa doanh nghiệp 16
2.1.2.4 Các loại hình Văn hóa doanh nghiệp 17
2.1.3 Văn hóa kinh doanh 17
2.1.3.1 Khái niệm 17
2.1.3.3 Mối liên hệ giữa văn hóa doanh nghiệp và văn hóa kinh doanh 19
2.1.3.4 Các yếu tố cấu thành văn hóa kinh doanh (Dương Thị Liễu, 2012) 20
2.1.3.5 Quá trình hình thành văn hóa kinh doanh: 22
2.1.3.6 Vai trò của văn hóa kinh doanh đối với sự phát triển của Doanh nghiệp 23
2.1.3.7 Văn hóa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay 24
2.2 Cơ sở lý thuyết về Cà phê 25
2.2.1 Lược sử Ngành Cà phê (Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, 2013) 25
2.2.1.1 Khám phá 25
2.2.1.2 Sự hình thành và phát triển 26
2.2.1.3 Quá trình phát triển Cà phê ở Việt Nam 27
2.2.2 Cây Cà phê 28
2.2.2.1 Cà phê chè (Arabica) 28
2.2.2.2 Cà phê vối (Robusta) 29
2.2.2.3 Cà phê mít (Coffea liberica và Coffea excelsa) 30
2.2.3 Thành phần trong Cà phê (Nguyễn Hữu Toàn, 2014) 30
2.2.4 Tác dụng của Cà phê 30
2.3 Văn hóa kinh doanh Cà phê 31
2.4 Bài học kinh nghiệm về văn hóa kinh doanh Cà phê của Highlands Coffee, Cà phê Starbucks 31
Trang 10Tóm tắt Chương 2 32
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Giới thiệu tồng quan về công ty TNHH Cà phê Lê Phan và chuỗi cửa hàng Cà phê Milano 34
3.2 Các sản phẩm của chuỗi cửa hàng Cà phê Milano 34
3.3 Quy trình hợp tác nhượng quyền: 35
3.4 Phân tích đánh giá thực trạng về văn hóa kinh doanh chuỗi cửa hàng Cà phê Milano 35
3.4.1 Cấp độ 1: Các giá trị văn hóa hữu hình 35
3.4.2 Cấp độ 2: Các giá trị được tuyên bố: 36
3.4.3 Đánh giá thực trạng qua các yếu tố cấu thành văn hóa kinh doanh 37
3.5 Phương pháp nghiên cứu 38
3.5.1 Phương pháp nghiên cứu 38
3.5.2 Quy trình nghiên cứu 38
3.5.3 Khung nghiên cứu 39
3.6 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 40
3.6.1 Xác định mẫu nghiên cứu 40
3.6.2 Khảo sát, điều tra, thu thập số liệu 41
3.6.3 Phương pháp thực hiện: 41
Tóm tắt Chương 3 42
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
4.1 Bối cảnh trong nước và thế giới 43
4.1.1 Những cơ hội 43
4.1.2 Những thách thức 43
4.2 Kết quả nghiên cứu 44
Trang 114.2.1 Đánh giá văn hóa kinh doanh cấp độ 1 - Những giá trị văn hóa hữu hình
chuỗi cửa hàng Cà phê Milano 44
4.2.2 Đánh giá văn hóa kinh doanh cấp độ 2 - Những giá trị được tuyên bố của chuỗi cửa hàng Cà phê Milano 48
4.2.3 Đánh giá cấp độ 3 – Những quan niệm chung 52
4.2.4 Đánh giá các kênh thông tin về cấp độ 1 - những giá trị văn hóa hữu hình và cấp độ 2 - những giá trị được tuyên bố của chuỗi cửa hàng Cà phê Milano53 4.2.4 Kết quả phỏng vấn sâu các chuyên gia 56
4.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao văn hóa kinh doanh chuỗi cửa hàng Cà phê Milano 57
4.3.1 Xây dựng, củng cố giá trị hữu hình chuỗi cửa hàng Cà phê Milano 57
4.3.2 Khẳng định các giá trị được tuyên bố 59
4.3.3 Một số giải pháp khác 60
5.1.2 Kiến nghị đối với doanh nghiệp 60
Cần có các chiến lược để hoàn thiện, khắc phục các nội dung văn hóa kinh doanh còn thiếu, tiếp tục phát triển các yếu tố đã tốt Khi nhượng quyền cần đào tạo và có các điều khoản ràng buộc để các cửa hàng trong chuỗi cũng nhau thực hiện một cách thống nhất 60
Thường xuyên có công tác kiểm tra, giám sát quá trình hoạt động của các cửa hàng trong chuỗi để luôn đảm bảo rằng không có một cửa hàng nào phá vỡ các điều khoản cam kết dù là vô tình hay hữu ý Luôn đảm bảo chất lượng sản phẩm 60
Có các chính sách về sản phẩm để phục vụ nhiều hơn nữa thị hiếu của nhiều đối tượng khác nhau 61
Tóm tắt Chương 4 61
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
5.1 Đề xuất các kiến nghị 62
Trang 125.1.1 Kiến nghị đối với nhà nước 62
5.2 Đánh giá những đóng góp và hạn chế của luận văn 63
Kết luận 64
Tóm tắt Chương 5 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
I.Tài liệ ệt 66
II.Tài liệ 66
III Tài liệu internet 66
PHỤ LỤC 68
Trang 13DANH MỤC BẢNG Bảng 4.1: Khảo sát chủ cửa hàng Cà phê Milano (là chủ các cửa hàng)
cấp độ 1 - Những giá trị văn hóa hữu hình: 44
Bảng 4.2: Khảo sát nhân viên chuỗi cửa hàng Cà phê Milano cấp độ 1
- Những giá trị văn hóa hữu hình 46
Bảng 4.3: Khảo sát khách hàng Cà phê Milano cấp độ 1 – Những giá
trị văn hóa hữu hình 47
Bảng 4.4: Khảo sát chủ cửa hàng Cà phê Milano cấp độ 2 - Những giá
trị được tuyên bố 49
Bảng 4.5: Khảo sát nhân viên Cà phê Milano cấp độ 2 - Những giá trị
được tuyên bố 50 Bảng 4.6: Khảo sát khách hàng Cà phê Milano cấp độ 2 - Những giá
trị được tuyên bố 51
Bảng 4.7: Khảo sát đánh giá cấp độ 3 – Những quan niệm chung 52
Bảng 4.8: Khảo sát các kênh thông tin của chủ cửa hàng Cà phê
Milano về giá trị văn hóa cấp độ 1 và 2 53
Bảng 4.9: Khảo sát các kênh thông tin của nhân viên Cà phê Milano
về giá trị văn hóa cấp độ 1 và 2 54
Bảng 4.10: Khảo sát các kênh thông tin của khách hàng Cà phê
Milano về giá trị văn hóa cấp độ 1 và 2 55
Trang 14DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1: Khảo sát quản lý và chủ chuỗi cửa hàng cà phê Milano
cấp độ 1 - Những giá trị văn hóa hữu hình 45
Biểu đồ 4.2: Khảo sát nhân viên chuỗi cửa hàng Cà phê Milano cấp độ
1 - Những giá trị văn hóa hữu hình 47
Biểu đồ 4.3: Khảo sát khách hàng Cà phê Milano cấp độ 1 – Những
giá trị văn hóa hữu hình 48
Biểu đồ 4.4: Khảo sát Chủ cửa hàng Cà phê Milano cấp độ 2 - Những
giá trị được tuyên bố 49
Biểu đồ 4.5: Khảo sát nhân viên Cà phê Milano cấp độ 2 - Những giá
trị được tuyên bố 50
Biểu đồ 4.6: Khảo sát khách hàng Cà phê Milano cấp độ 2 - Những
giá trị được tuyên bố 51
Biểu đồ 4.7: Khảo sát đánh giá cấp độ 3 – Những quan niệm chung 52
Biểu đồ 4.8: Khảo sát các kênh thông tin của chủ cửa hàng Cà phê
Milano về giá trị văn hóa cấp độ 1 và 2 53
Biểu đồ 4.9: Khảo sát các kênh thông tin của nhân viên Cà phê Milano
về giá trị văn hóa cấp độ 1 và 2 54
Biểu đồ 4.10: Khảo sát các kênh thông tin của khách hàng Cà phê
Milano về giá trị văn hóa cấp độ 1 và 2 55
Trang 15CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Cà phê không phải là cây có nguồn gốc từ Việt Nam, mà khoảng nửa sau thế
kỷ XIX, người phương Tây đưa cây Cà phê sang trồng ở Việt Nam Cây Cà phê ở Việt Nam có nguồn gốc từ Indonesia và Côngô (bản đồ) Cây Cà phê được trồng lần đầu tiên ở khu vực phía Bắc, chủ yếu là cây Cà phê chè Sau đó, cây Cà phê được trồng mở rộng vào các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh Sau một thời gian, thực dân phương Tây thấy giống Cà phê chè không mang lại hiệu quả kinh tế cao vì vậy đã đưa giống Cà phê vối từ Côngô vào trồng ở Tây Nguyên Sau một thời gian cây Cà phê phát triển rất mạnh mẽ, diện tích cây Cà phê ngày càng tăng Hiện nay xuất khẩu Cà phê Việt Nam có một vị thế cao trong bảng xếp hạng thế giới
Nguồn: http://www.rameccoffee.com/tin-tuc-4.html
Với chính sách mở cửa, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước chuyển biến mạnh mẽ, đã xây dựng được những thương hiệu được thế giới biết đến trên nhiều lĩnh vực khác nhau Trong lĩnh vực Cà phê thì có các thương hiệu như: Trung Nguyên, Vina Cà phê, Passio, Milano Mỗi thương hiệu lại chọn cho mình một hình thức kinh doanh, xây dựng chiến lược, định vị thương hiệu, lựa chọn phân khúc thị trường khác nhau và đặc biệt là xây dựng văn hóa kinh doanh theo bản sắc
Trang 16riêng của mình Và cuộc chiến Cà phê không hề êm xuôi chút nào khi mà Việt Nam đang mở cửa kinh tế một cách sâu rộng với kinh tế thế giới Theo trang điện tử của
Bộ ngoại giao thì: Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu
tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và các tổ chức quốc tế Việt Nam đã thiết lập quan hệ tốt với tất cả các nước lớn, trong đó có 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (P5), các nước trong nhóm G8; nâng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc trở thành đối tác chiến lược toàn diện, gia tăng nội hàm của quan hệ đối tác chiến lược với Nga, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Anh, Tây Ban Nha
Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đưa lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương Tháng 7/1995 Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996 Đây được coi là một bước đột phá về hành động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Tiếp đó, năm 1996 Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) và đến năm 1998, Việt Nam được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC)
Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 Sau 11 năm đàm phán gia nhập
Tổ chức này Ngày 5/10/2015 Bộ trưởng Thương mại các nước tham gia đàm
phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đạt được thỏa thuận cuối cùng về hiệp định thương mại tự do lớn nhất thế giới này …
Trang 17Cùng với sự mở cửa đó thì làn sóng các doanh nghiệp Cà phê nước ngoài cũng đã tiến vào thâm nhập thị trường Việt Nam Điển hình có Starbucks bước vào thị trường Việt Nam năm 2013 với cửa hàng đầu tiên tại Tp Hồ Chí Minh, hay Coffee Bene & Tea vào Việt Nam 8/2014 với cửa hàng đầu tiên tại 58 Đồng Khởi, Q1, Tp Hồ Chí Minh, và nhiều hãng Cà phê khác như: Gloria Jean’s Coffee (Úc), Coffee Bean & Tea Leaf (Mỹ), Illy (Ý) Các thương hiệu ngoại khi vào Việt Nam
đã mang theo văn hóa kinh doanh, đưa cách thưởng thức cà phê có từ lâu đời của mình để tiếp cậy và chinh phục thị trường Việt Đứng trước các đối thủ mạnh, có lịch sử lâu đời, bề dày văn hóa kinh doanh như vậy, các thương hiệu Cà phê trong nước đã xây dựng cho mình văn hóa kinh doanh như thế nào để thương hiệu của mình có thể canh tranh, thu hút và giữ khách hàng ở lại, thương hiệu luôn ở trong tâm trí khách hàng
Được thành lập từ năm 2011, với quán Cà phê đầu tiên tại quận Gò Vấp Sau
2 năm phát triển, đến năm 2013, số đại lý đã lên đến con số hơn 200 đại lý tại thành phố Hồ Chí Minh và đến nay Chuỗi Cà phê Milano của công ty Lê Phan đã lên đến gần 700 đại lý trên toàn quốc, trong đó tại Tp Hồ Chí Minh là hơn 600 đại lý Đó là một sự phát triển khá ấn tượng Với mục tiêu thay đổi cách suy nghĩ “Đa số khách hàng có nhu cầu thưởng thức Cà phê thật, nhưng lại nghĩ, Cà phê mang đi giá rẻ là chất lượng kém”, Milano đã xây dựng cho khách hàng một cách thức thưởng thức
Cà phê mới đó chính là thưởng thức Cà phê chất lượng nhưng giá rẻ đúng như khẩu hiệu của Milano đã đề ra “Khám phá sự hoàn hảo” Vậy để có được sự thành công của Milano ngày hôm nay, liệu chăng Milano đã xây dựng được cho mình một văn hóa kinh doanh Cà phê thành công? Nếu đã thành công thì làm thế nào để hoàn thiện hơn nữa để có thể văn hóa kinh doanh của chuỗi cà phê Milano để có thể phát
triển một cách bền vững Với lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “Văn hóa kinh
doanh chuỗi Cà phê Milano tại thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn tốt
Trang 181.2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống lại cơ sở lý thuyết và nội dung có liên quan về văn hoá kinh doanh Phân tích đánh giá thực trạng văn hoá kinh doanh chuỗi Cà phê Milano trên cơ sở lý luận đã trình bày Trên cơ sở nghiên cứu đó, tác giả đề xuất các giải pháp để phát triển văn hoá kinh doanh chuỗi Cà phê Milano tại Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh doanh Cà phê nói riêng và cho nền kinh tế Việt Nam nói chung Tác giả cũng mong muốn, luận văn này sẽ là nguồn tài liệu tham khảo trước tiên cho các nhà nghiên cứu về văn hoá kinh doanh, trong lĩnh vực Cà phê cũng như cho các loại hình kinh doanh khác
1.3 Tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài
Một số công trình nghiên cứu, bài viết, trong đó tiêu biểu là những công trình
và bài viết sau:
i Tài liệu “Hội thảo khoa học” tài liệu của trường Đại học Quốc tế Hồng
Bàng, năm 2014
Tài liệu bao gồm các đề tài nghiên cứu, tham luận khoa học, luận văn xuất sắc của các giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ tại trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau Trong đó có đề tài nghiên cứu về văn hóa, văn hóa kinh doanh
ii Luận án tiến sĩ “Hệ thống tiêu chí nhận diện văn hóa doanh nghiệp – Vận
dụng cho doanh nghiệp Việt Nam”, Đỗ Hữu Hải, năm 2014
Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến tiêu chí nhận diện văn hóa doanh nghiệp ở trong và ngoài nước, từ những tổng kết đó, tác giả đi đến xây dựng
hệ thống tiêu chí nhận diện văn hóa doanh nghiệp trong các doanh nghiệp Việt Nam, sau đó tác giả đã kiểm chứng hệ thống tiêu chí nhận diện văn hóa doanh nghiệp tại các doanh nghiệp Việt Nam
iii Luận văn thạc sĩ “Văn hoá kinh doanh chuỗi cửa hàng cà phê Trung
Nguyên tại thành phố Hồ Chí Minh”, Trần Hải Nguyên, năm 2013
Tác giả đã hệ thống các cấu trúc của văn hoá kinh doanh và cấp độ của văn hoá doanh nghiệp Sau đó tác giả đã phân tích thực trạng văn hoá kinh doanh tại chuỗi cà phê Trung Nguyên tại thành phố Hồ Chí Minh Từ thực trạng thì tác giả đề xuất các giải pháp để phát triển văn hóa kinh doanh chuỗi cà phê Trung Nguyên tại
Trang 19Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và làm tài liệu tham khảo cho các loại hình kinh doanh khác nói chung
iv Luận văn thạc sĩ “
”, Nguyễn Thành Công,
2013
Tác giả đã là tìm hiểu văn hóa kinh doanh đặc biệ
ững mặt tốt và mặt tồn tại của văn hóa kinh doanh Sử dụng phương pháp nghiên cứu là mô tả, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp
bên cạnh những mặt tích cực vẫn tồn tại những vấn đề phát sinh liên quan đế
Các đề tài, bài viết trên nghiên cứu về văn hoá kinh doanh đã hệ thống cơ sở
lý thuyết về văn hoá, văn hoá kinh doanh, nhận định về xây dựng văn hoá kinh doanh và đề xuất các giải pháp để xây dựng và phát triển văn hoá kinh doanh của các doanh nghiệp ở Việt Nam trong quá trình tham gia xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và hội nhập với kinh tế thế giới
Trong quá trình hội nhập mạnh mẽ hiện nay ở Việt Nam, văn hoá kinh doanh
có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của mỗi loại hình doanh nghiệp nếu thiếu yếu tố văn hoá thì doanh nghiệp khó có thể đứng vững và tồn tại được trên thị trường ở bất kỳ thời điểm nào Đánh giá một cách đúng đắn, nguồn nhân lực của doanh nghiệp là con người thì văn hoá kinh doanh là sự liên kết và phát huy các giá trị tốt đẹp của từng nguồn nhân lực riêng lẻ tổng hợp lại Bên cạnh đó, văn hoá kinh doanh còn là phương tiện biểu hiện phong cách của người lãnh đạo đứng đầu các vị trí của doanh nghiệp và tác phong làm việc của mọi nhân viên Chính vì vậy, xác định đúng các quan điểm về xây dựng văn hoá kinh doanh, tìm ra đặc trưng văn hoá kinh doanh riêng cho từng lĩnh vực, ngành, loại hình doanh nghiệp là cơ sở nâng
Trang 20cao vị thế cho doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời góp phần xây dựng nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững
Hiện nay, Việt Nam là nước xuất khẩu Cà phê đứng thứ hai thế giới và là một trong những thị trường đầy tiềm năng để kinh doanh Cà phê Vì vậy, các loại hình
kinh doanh Cà phê trên thế giới như: Goria Jean’s coffee, Starbucks… cũng theo
đó vào Việt Nam kinh doanh song song và cạnh tranh với các thương hiệu Cà phê trong nước Cho đến nay, ngoài một số đề tài nghiên cứu về Cà phê nhưng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu đánh giá mức độ trung thành của thương hiệu Cà phê, thì chưa thấy các đề tài, bài viết nào nghiên cứu đầy đủ về loại hình văn hoá kinh doanh chuỗi Cà phê tại Thành phố Hồ Chí Minh
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1.4.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa kinh doanh chuỗi Cà phê Milano tại Thành
phố Hồ Chí Minh
Khách thể nghiên cứu: Quản lý, nhân viên của các quán Cà phê Milano trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và khách hàng, các chuyên gia bên ngoài
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Phạm vi không gian
Chuỗi cửa hàng Cà phê Milano tại Thành phố Hồ Chí Minh
1.4.2.2 Phạm vi thời gian
Dữ liệu thứ cấp được phân tích từ năm 2013 đến năm 2015
Thời gian khảo sát thu thập dữ liệu sơ cấp từ tháng 5 đến tháng 12 năm 2015
1.5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích lịch sử: Nghiên cứu cụ thể quá trình hình thành và phát triển của chuỗi Cà phê Milano từ ngày đầu thành lập năm 2011 cho đến ngày nay Qua đó đánh giá cụ thể những giá trị cốt lõi đã được hình thành, tồn tại và tiếp tục duy trì phát triển
- Phương pháp suy luận logic: kế thừa những thành quả nghiên cứu và tư liệu thống kê nhằm tổng hợp những giá trị nổi bật, giá trị mới của Cà phê Milano, những giá trị đã gắn liền với sự phát triển của Cà phê Milano trong quá trình phát triển của Cà phê Milano
Trang 21- Phương pháp khảo sát 700 khách hàng và nhân viên, chủ cửa hàng: Bảng khảo sát được lấy ý kiến thông qua trực tiếp và trên internet
- Phương pháp quan sát: thực hiện tại 50 quán thuộc chuỗi Cà phê Milano tại Thành phố Hồ Chí Minh với mốc thời gian sáng từ 8h đến 10h, chiều từ 14h đến 18h và tối từ 19h đến 21h
- Phương pháp nghiên cứu định tính: phỏng vấn sâu 10 chuyên gia bên trong, bên ngoài với thời gian từ 90 đến 120 phút và thảo luận 10 nhóm nhân viên trong thời gian 60 đến 90 phút
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel 2013
1.6 Những đóng góp mới của Luận văn
Nắm bắt thực tiễn lý thuyết về văn hoá kinh doanh và cấp độ của văn hoá kinh doanh
Phân tích và đánh giá thực trạng văn hoá kinh doanh chuỗi cửa hàng Cà phê Milano trên cơ sở lý luận đã trình bày
Nhận định đặc trưng văn hoá kinh doanh chuỗi cửa hàng Cà phê Milano Nhận biết các yếu tố như, không gian của quán, sở thích của khách hàng, hoạt động văn hoá… ảnh hưởng lớn đến văn hoá kinh doanh chuỗi cửa hàng Cà phê Milano; Đa dạng các loại dịch vụ sản phẩm để phục vụ khách hàng, đẩy mạnh xây dựng và phát triển thương hiệu, đội ngũ quản lý, nhân viên sẽ phát triển mạnh văn hoá kinh doanh chuỗi cửa hàng Cà phê Milano
Đề xuất các giải pháp để phát triển văn hoá kinh doanh của chuỗi cửa hàng Cà phê Milano nói riêng, và cho lĩnh vực Cà phê nói chung trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hội nhập
1.7 Kết cấu nghiên cứu của đề tài
Chương 1: Mở đầu: Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu,
phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu nghiên cứu của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý luận: Trình bày khái niệm về văn hoá và văn hoá kinh
doanh, văn hoá doanh nghiệp trong kinh doanh, Cơ sở lý thuyết Cà phê và Bài học kinh nghiệm văn hoá kinh doanh về Cà phê
Chương 3: Phân tích thực trạng và phương pháp nghiên cứu: Giới thiệu
Trang 22tổng quan về Công ty TNHH cà phê Lê Phan, Phân tích đánh giá thực trạng về văn hoá kinh doanh chuỗi cửa hàng Cà phê Milano, Phương pháp nghiên cứu, Thu thập
và xử lý số liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Bối cảnh trong nước và thế
giới, Quan điểm định hướng và mục tiêu phát triển, Kết quả nghiên cứu, Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao văn hoá kinh doanh chuỗi cửa hàng Cà phê Milano và Đánh giá những đóng góp và hạn chế của luận văn
Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Chương này cũng trình bày các hạn chế
của nghiên cứu và một số đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo Đánh giá những đóng góp và hạn chế của luận văn Trình bày tóm tắt các kết quả chính đạt được và những đóng góp của đề tài
Tóm tắt Chương 1
Chương 1 nêu vấn đề chọn đề tài “Văn hóa kinh doanh chuỗi cửa hàng Cà
phê Milano tại Thành phố Hồ Chí Minh” Bên cạnh đó, tác giả cũng cho thấy rõ
mục tiêu nghiên cứu, tổng quan tài liệu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu chủ yếu, những đóng góp mới và kết cấu nghiên cứu đề tài Các nội dung của Chương 1 là cơ sở để xác lập cơ sở lý luận về văn hoá kinh doanh trong Chương 2
Trang 23CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA KINH DOANH 2.1 Khái niệm chung về văn hóa và văn hóa kinh doanh
2.1.1 Văn hóa
Văn hóa là hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình1 Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại nhưng mãi đến thế kỷ 17 và được quan tâm nhất là bắt đầu cuối thế
kỷ 19 các nhà khoa học trên thế giới bắt đầu tập trung nghiên cứu sâu về lĩnh vực này Bản thân văn hoá là phức tạp, đa dạng, là khái niệm nhiều nghĩa, tính chất và biểu hiện Vì vậy khi tiếp cận nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau sẽ có nhiều khái niệm2:
- Theo nguồn gốc:
Trong bài giảng về Văn Hóa Doanh nghiêp, Huỳnh Quốc Thắng cho rằng văn hoá có nguồn gốc từ ý thức, đó là cơ sở đời sống lý trí – tình cảm – tâm linh của con người, là khả năng phản ánh, nhận biết và ứng xử tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của con người Văn hóa là sản phẩm, kết quả của ý thức in dấu trong thực
tế đời sống, là cái mang tính trừu tượng nhưng có thật
- Theo phạm vi nghiên cứu:
Trên thế giới thì văn hoá có rất nhiều khái niệm:
Theo Trần Mạnh Quân (2012): “Văn hóa là một phạm trù rất rộng, phản ánh
mọi mặt của đời sống con người Văn hóa vừa là sản phẩm sáng tạo của loài người, vừa là giá trị tạo nên cuộc sống của con người và tiến bộ của nhân loại”
Theo Trần Ngọc Thêm (2004): “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”;
Theo Chủ Tịch Hồ Chí Minh (1943): “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt
1
Dương Thị Liễu (2012) Giáo trình Văn hóa kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
2 Dương Thị Liễu (2012) Giáo trình Văn hóa kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
Trang 24hàng ngày về mặc, ăn, ở, và các phương tiện sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sinh tồn” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn văn hoá là phương
thức để con người tồn tại và phát triển Văn hoá có mặt trong tất cả các hoạt động của con người, dù đó là hoạt động sản xuất vật chất hay sản xuất giá trị tinh thần, trong quan hệ giao tiếp, ứng xử trong xã hội hay thái độ ứng xử với thiên nhiên
Năm 1970, UNESCO đã định nghĩa: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm
cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” Để tạo điều kiện
cho định hướng tiếp cận văn hoá, năm 1977 tổ chức văn hoá, giáo dục, khoa học của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã cho xuất bản tác phẩm Hiểu biết để hành động,
trong đó có đoạn viết: “Văn hóa là yếu tố cơ bản cho sức sống một dân tộc, từ
những hoạt động sáng tạo của nhân dân đến sức sống tổng hợp của một xã hội, những phương thức sản xuất và sở hữu, những của cải vật chất, những hình thái tổ chức…” Tháng 12 năm 1986, UNESCO phát triển thêm định nghĩa về văn hoá:
“văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các
cộng đồng trong quá khứ, hiện tại qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và cách thể hiện, đó là những yếu
tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”
Theo Charlene M.Solomo và Michael S.Schell (2009): “Văn hóa là những
cách ứng xử thấy được và những giá trị và tin tưởng vô hình riêng biệt cho mỗi xã hội Những hệ thống giá trị ấy đã ăn sâu vào xã hội và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Tóm lại, văn hoá là một khái niệm rất rộng, trong đó giá trị vật chất và tinh thần làm nền tảng định hướng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn và hành động hướng đến cái Chân, Thiện, Mỹ Từ ý nghĩa đó ta rút ra giá trị vật chất và tinh thần như
sau: “Văn hóa là nguồn lực nội sinh của con người, là kiểu sống và bản giá trị của
các tổ chức, cộng đồng người, trung tâm là các giá trị chân - thiện - mỹ ” (Đỗ Minh
Cương, 2001)
Trang 252.1.2 Văn hóa doanh nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm
Văn hóa doanh nghiệp có thể hiểu là cách thức hành động, làm việc hằng ngày của các thành viên trong công ty Đó là những quy tắc xử sự có thể đã được quy định bằng văn bản hoặc tự ngầm hiểu với nhau và thực hiện trong thời gian dài Đó
là những nếp sinh hoạt, các hành vi ứng xử, các phương thức sản xuất, kỹ năng và kiến thức kỹ thuật, quan điểm về kỷ luật, các thông lệ và thói quen quản lý, các mục tiêu của những người liên quan, cách trả lương, quan điểm về các công việc khác nhau, niềm tin vào tính dân chủ trong các buổi thảo luận và những quy ước, những điều cấm kỵ
Theo Ông Georges de Saite Marie, chuyên gia người pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ thì: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo nên nền
móng sâu xa của doanh nghiệp”
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Văn hoá doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt của các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ
ứng xử và lễ nghi và toàn bộ chúng là duy nhất với tổ chức đã biết”
Theo Nguyễn Mạnh Quân (2012): “Văn hóa doanh nghiệp là sự tổng hợp của
mọi phương thức hoạt động cùng với biểu hiện của nó mà một tổ chức, doanh nghiệp đã sáng tạo ra nhằm thích ứng với những yêu cầu môi trường trong hoạt động và đòi hỏi của sự cạnh tranh”
Là một khái niệm trừu tượng và có nhiều cách hiểu khác nhau, tuy nhiên có
thể hiểu Văn hoá doanh nghiệp theo nghĩa sau: Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ
các giá trị văn hóa được xây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp; tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống riêng của mỗi doanh nghiệp (Phan Quốc Việt và Nguyễn Huy Hoàng) Toàn bộ những giá trị tinh thần mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của các thành viên cũng như sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, văn hoá doanh nghiệp gắn với đặc điểm từng dân tộc, trong từng giai đoạn phát triển cho đến từng doanh nhân, từng người lao động, do
Trang 26đó, rất phong phú, đa dạng Song văn hoá doanh nghiệp cũng không phải là vô hình, khó nhận biết mà rất hữu hình, thể hiện rõ một cách vật chất, chẳng những trong hành vi kinh doanh giao tiếp của người lao động, lãnh đạo trong doanh nghiệp, mà cả trong hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp từ mẫu mã, kiểu dáng đến nội dung và chất lượng Văn hoá doanh nghiệp là cơ sở của toàn bộ các chủ trương, bện pháp cụ thể trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phối kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Khái niệm văn hoá lại được đề cập nhiều trong thực tế đời sống chúng ta hiện nay Bởi vì khi nói đến văn hoá là nói đến ý thức, cái gốc tạo nên tính người cùng những gì thuộc về bản chất làm cho con người trở nên năng động, sáng tạo trong cuộc sống trong sản xuất kinh doanh Văn hóa còn là nội lực để con người điều chỉnh cải tạo cuộc sống văn hoá có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của mỗi
cá nhân cũng như một tổ chức, một xã hội Nhà xã hội học người Mỹ E.H Schein
đưa ra định nghĩa: “Văn hoá doanh nghiệp là tổng thể những thủ pháp và quy tắc
giải quyết vấn đề thích ứng bên ngoài và thống nhất bên trong các nhân viên, những quy tắc đã tỏ ra hữu hiệu trong quá khứ và vấn đề cấp thiết trong hiện tại Những quy tắc và những thủ pháp này là những yếu tố khởi nguồn trong việc các nhân viên lựa chọn phương thức hành động, phân tích và ra quyết định thích hợp Các thành viên của tổ chức doanh nghiệp không đắn đo suy nghĩ về những quy tắc
và thủ pháp ấy, mà coi chúng là đúng đắn ngay từ đầu” hay cũng có khái niệm
“Văn hoá doanh nghiệp là một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo,
nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức đồng thuận
và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên”, đó
là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh Điều đó có nghĩa là trong hoạt động doanh nghiệp, tất cả các thành viên đều gắn bó với nhau bởi những tiêu chí chung trong hoạt động kinh doanh Ngoài ra, văn hoá doanh nghiệp còn đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân giúp cho mỗi cá nhân thực hiện vai trò của mình theo đúng định hướng chung của doanh nghiệp và hướng tinh thần đó vào việc phấn đấu cho mục đích của doanh nghiệp
Trang 27Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các học giả và hệ thống nghiên cứu
logic văn hoá doanh nghiệp có thể định nghĩa: văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ
những giá trị được thừa nhận, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp được thành viên thừa nhận và phát triển
Văn hóa ra đời và tồn tại, phát triển song song với xã hội, vì vậy đối với doanh nghiệp văn hóa doanh nghiệp chính là sợi dây xuyên suốt đóng góp một phần
to lớn trong quá trình tồn tại của doanh nghiệp Văn hoá kinh doanh là công cụ
triển khai chiến lược, và cũng là phương pháp tạo động lực cho người lao động và sức mạnh đoàn kết cho tổ chức, doanh nghiệp” (Nguyễn Mạnh Quân, 2012) Tác
động của văn hóa doanh nghiệp có thể là tích cực hoặc tiêu cực Nếu phát triển tốt thì văn hóa doanh nghiệp sẽ là một tài sản vô hình của doanh nghiệp, tạo động lực cho nhân viên, hướng nhân viên đi đúng quỹ đạo theeo mục tiêu đã đề ra, bên cạnh
đó nó sẽ khơi nguồn sáng tạo không ngừng cho nhân viên cũng như nhằm giúp phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, ngược lại nếu không phát triển đúng thì văn hóa doanh nghiệp sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp, thậm chí làm cho doanh nghiệp không thể tiếp tục tồn tại
2.1.2.3 Các cấp độ của văn hóa doanh nghiệp
Theo Edgar H.Schein thì: Văn hoá doanh nghiệp có thể chia làm ba cấp độ khác nhau, dùng để chỉ mức độ các giá trị của văn hoá doanh nghiệp gồm:
Cấp độ 1 - Những giá trị văn hóa hữu hình
Những giá trị văn hoá hữu hình là những cái biểu hiện ra bên ngoài rõ ràng, dễ nhận biết nhất của văn hoá doanh nghiệp bao gồm các hình thức:
Thứ nhất, kiến trúc đặc trưng và diện mạo của doanh nghiệp:
Kiến trúc đặc trưng và diện mạo của doanh nghiệp luôn được các doanh nghiệp quan tâm và xây dựng Kiến trúc và diện mạo sẽ gây ấn tượng đến đối tác, khách hàng….về sức mạnh, sự thành đạt và tính chuyên nghiệp của bất kỳ doanh nghiệp nào Tất cả sự thể hiện đó đều có thể làm nên đặc trưng cho doanh nghiệp Thực tế cho thấy kiến trúc và diện mạo có ảnh hưởng đến quá trình thu hút nhân lực
và thái độ làm việc của người lao động
Thứ hai, các lễ kỷ niệm, lễ nghi và sinh hoạt văn hoá:
Các lễ kỷ niệm, lễ nghi và sinh hoạt văn hoá là hoạt động được dự kiến từ
Trang 28trước và được chuẩn bị kỹ lưỡng Theo đó lễ nghi là những nghi thức đã trở thành thói quen, được mặc định khi tiến hành một hoạt động nào đó, nó gắn liền, thể hiện trong đời sống hàng ngày chứ không chỉ dành cho những hoạt động lễ hội đặc biệt
Lễ nghi tạo nên đặc trưng về văn hoá, với mỗi nền văn hoá khác nhau thì lễ nghi cũng khác nhau
Lễ kỷ niệm là hoạt động tổ chức nhằm ôn lại những giá trị tốt đẹp, là dịp tôn vinh doanh nghiệp, sự tự hào của các thành viên về doanh nghiệp
Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao, các hội thi….là hoạt động không thể thiếu trong đời sống văn hoá Thông qua các hoạt động, các thành viên nâng cao sức khỏe, tăng cường giao lưu, chia sẻ, hiểu biết và làm phong phú đời sống tinh thần
Thứ ba, ngôn ngữ, khẩu hiệu:
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp hàng ngày Các thành viên trong doanh nghiệp để làm việc với nhau cần cho sự hiểu biết lẫn nhau thông qua việc sử dụng chung ngôn ngữ
Khẩu hiệu là câu nói ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ thể hiện triết lý kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ tư, biểu tượng, bài hát truyền thống, đồng phục:
Biểu tượng giúp mọi người nhận ra, hiểu được cái nó biểu thị Các công trình kiến trúc, lễ nghi, khẩu hiệu đều chứa đưng đặc trưng của biểu tượng Một biểu tượng khác là logo, đây là một tác phẩm sáng tạo thể hiện hình tượng của một tổ chức bằng ngôn ngữ hình tượng
Bài hát truyền thống, đồng phục là những giá trị văn hoá tạo ra sự đồng cảm, gắn bó, tạo động lực làm việc và là niềm tự hào của nhân viên về doanh nghiệp Bên cạnh đó, các giai thoại, truyện kể, các ấn phẩm điển hình là những biểu tượng giúp mọi người hiểu rõ hơn những giá trị văn hoá của doanh nghiệp
Cấp độ 2 – Những giá trị đƣợc tuyên bố
Đây là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của nhân viên Những giá trị này cũng
có tính hữu hình vì có thể nhận biết, diễn đạt một cách rõ ràng, chính xác gồm: Thứ nhất, tầm nhìn:
Tầm nhìn là viễn cảnh trong tương lai mà doanh nghiệp muốn đạt tới Tầm
Trang 29nhìn cho thấy mục đích, phương hướng chung để các thành viên có hành động thống nhất, là bức tranh toàn cảnh về doanh nghiệp trong tương lai với giới hạn về thời gian tương đối dài có tác dụng kích thích các thành viên chung sức, nỗ lực cùng đạt được trạng thái đó
Thứ hai, sứ mệnh và các giá trị cơ bản:
Sứ mệnh và các giá trị cơ bản giúp cho việc xác định con đường, cách thức và các giai đoạn để đi tới tầm nhìn mà doanh nghiệp xác định
Thứ ba, mục tiêu chiến lược:
Trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển, doanh nghiệp luôn chịu tác động cả khách quan và chủ quan Những tác động này có cả thuận lợi, cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp cần xác định, xây dựng kế hoạch chiến lược, chương trình hành động, tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức để hoàn thành sứ mệnh của mình
Cấp độ 3 – Các giá trị ngầm định
Các giá trị ngầm định là niềm tin, nhận thức, suy nghĩ, tình cảm đã đi sâu vào tiềm thức của mỗi thành viên trong doanh nghiệp Hệ thống các giá trị ngầm định thể hiện qua các mối quan hệ sau:
Thứ nhất, ngầm định mối quan hệ giữa con người với môi trường:
Về mối quan hệ này, mỗi người và mỗi doanh nghiệp có nhận thức khác nhau: một số cho rằng họ có thể làm chủ mọi tình huống, tác động môi trường không thể thay đổi họ nhưng một số khác lại cho rằng cần phải hòa nhập với môi trường hoặc tìm kiếm các giải pháp để không bị tác động bất lợi từ môi trường
Thứ hai, ngầm định về mối quan hệ giữa con người với con người:
Ngoài quan hệ xã hội, trong tổ chức các thành viên còn có quan hệ trong công việc Các quan hệ này có ảnh hưởng tương hỗ lẫn nhau Một số tổ chức ủng hộ sự
nổ lực cá nhân nhưng một số khác lại khuyến khích sự hợp tác và tinh thần tập thể
Vì thế, để các định chính xác tư tưởng chủ đạo trong mối quan hệ giữa con người với con người tổ chức cần đánh giá vai trò của cá nhân trong mỗi quan hệ với các thành viên còn lại
Thứ ba, ngầm định về bản chất con người:
Các tổ chức cũng có quan niệm khác nhau về bản chất con người Một số tổ
Trang 30chức cho rằng bản chất con người là lười biếng, tinh thần tự chủ và khả năng sáng tạo kém nhưng một số tổ chức khác lại cho rằng con người có tinh thần tự chủ cao,
có trách nhiệm và khả năng sáng tạo tuyệt vời Các quan điểm khác nhau dẫn đến
sự quản lý khác nhau và tác động đến nhân viên cũng theo cách khác nhau
Thứ tư, ngầm định về bản chất hành vi con người:
Cơ sở hành vi cá nhân phụ thuộc vào thái độ, tính cách, nhận thức và sự ham học hỏi của mỗi người Người phương Tây quan tâm đến năng lực, sự cố gắng và thể hiện bản thân bằng những cái làm được Trong khi đó, người phương Đông coi trọng vị thế nên có lối sống cố chứng tỏ mình là ai đó qua địa vị xã hội mà người đó
có được
Thứ năm, ngầm định về bản chất sự thật và lẽ phải:
Một số tổ chức cho rằng sự thật và lẽ phải là kết quả của một quá trình phân tích, đánh giá theo một chân lý, chuẩn mực đã có Một số thì cho rằng sự thật và lẽ phải là quan điểm, ý kiến của người lãnh đạo là niềm tin, sự tín nhiệm tuyệt đối với người đứng đầu tổ chức Cũng có tổ chức cho rằng cái còn lại sau cùng là sự thật và
lẽ phải
Ngoài ra, trong doanh nghiệp còn tồn tại một hệ thống các giá trị chưa được coi là đương nhiên và các giá trị mà lãnh đạo muốn đưa vào Những giá trị được các thành viên chấp nhận thì được coi là đương nhiên và lâu dài sẽ trở thành giá trị ngầm định Sự ảnh hưởng của các giá trị ngầm định ảnh hưởng lớn hơn rất nhiều so với các giá trị được biểu hiện
2.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp đồng hành tồn tại, phát triển cùng doanh nghiệp, chịu
sự ảnh hưởng trong mỗi một sự thay đổi trong doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp chịu tác động trực tiếp, mạnh mẽ của các yếu tố (Dương Thị Liễu 2012):
- Người đứng đầu/ người chủ doanh nghiệp: là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến Văn hóa doanh nghiệp
- Lịch sử, truyền thông: Mỗi doanh nghiệp đều có lịch sử phát triển của mình, chính điều này sẽ giúp cho thành viên hiểu hơn về doanh nghiệp
- Ngành nghề doanh nghiệp: Mỗi ngành nghề khác nhau sẽ có văn hóa nghề khác nhau, văn hóa nghề sẽ ảnh thưởng, tác động một cách trực tiếp, sâu sắc đến
Trang 31công ty thuộc ngành nghề đó, vì vậy các công có ngành nghề khác nhau sẽ có văn hóa khác nhau
- Văn hóa vùng miền: Các nhân viên đến từ các vùng miền khác nhau sẽ có văn hóa khác nhau, điều này sẽ ảnh hưởng đến văn hoá doanh nghiệp
- Những giá trị văn hóa học hỏi được: bao gồm các hình thức như: Kinh nghiệm tập thể, từ doanh nghiệp khác, từ nền văn hóa khác, từ thành viên mới mang lại, xu hướng và trào lưu xã hội
2.1.2.4 Các loại hình Văn hóa doanh nghiệp
Có nhiều loại hình văn hoá doanh nghiệp, nhìn từ khía cạnh khác sẽ có loại hình văn hoá doanh nghiệp khác (Dương Thị Liễu, 2012):
- Phân cấp theo quyền lực: Mô hình văn hoá nguyên tắc; mô hình văn hoá quyền hạn; mô hình văn hoá đồng đội
- Theo cơ cấu về định hướng con người và nhiệm vụ: văn hoá gia đình; văn hoá tháp Eiffel; văn hoá tên lửa dẫn đường; văn hoá lò ấp trứng
- Theo mối quan tâm nhân tố con người: văn hoá kiểu lãnh đạm; văn hoá kiểu chăm sóc; văn hoá kiểu đòi hỏi; văn hoá hợp nhất
- Theo vai trò lãnh đạo: văn hoá quyền lực; văn hoá gương mẫu; văn hoá nhiệm vụ; văn hoá chấp nhận rủi ro; văn hoá đề cao vai trò cá nhân; văn hoá đề cao vai trò tập thể
2.1.3 Văn hóa kinh doanh
2.1.3.1 Khái niệm
Văn hóa tham gia vào mọi quá trình hoạt động của con người, thể hiện ngày càng rõ nét và tạo thành các lĩnh vực văn hoá đặc thù như: văn hoá chính trị, văn hoá pháp luật, văn hoá giao thông, văn hoá gia đình…và văn hoá kinh doanh Văn hoá kinh doanh có thể xem là chìa khóa mở ra sự thành công và phát triển nền kinh
tế mỗi nước nói chung và doanh nghiệp nói riêng Cuộc sống cũng như công việc kinh doanh không ngừng vận động, chắc chắn sẽ còn nhiều chuẩn mực khác để đánh giá văn hoá kinh doanh nữa mà từ góc độ bản thân, mỗi cá thể sẽ bổ sung thêm khi đặt mình công việc của một doanh nhân đang kinh doanh một cách có văn hoá
Trang 32Trong kinh doanh, văn hoá tham gia hầu hết các hoạt động của doanh nghiệp,
từ tổ chức đến các hoạt động chức năng của doanh nghiệp, cách bố trí nhân sự đến hình thành quan hệ giao tiếp ứng xử giữa các thành viên và các phương thức quản
lý kinh doanh để tạo hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp
Nhìn từ góc độ nghệ thuật kinh doanh, từ vấn đề tạo vốn, tìm địa điểm kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, cách thức xây dựng chiến lược kinh doanh, tiếp thị sản phẩm, dịch vụ hậu mãi….đã thể hiện với những giá trị tốt đẹp của nhân tính, của tri thức, của trí tuệ, của mỗi hoạt động qua quá trình hoạt động và như vậy kinh doanh chính là biểu hiện tốt đẹp văn hoá của con người
Với góc độ tiếp cận văn hoá trong kinh doanh như trên, hiểu theo nghĩa rộng:
Văn hoá kinh doanh là toàn bộ các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần do chủ thể kinh doanh sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động kinh doanh, trong sự tương tác giữa chủ thể kinh doanh với môi trường kinh doanh và theo nghĩa hẹp: văn hoá kinh doanh là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, được thể hiện trong cách ứng xử của họ với xã hội, tự nhiên ở một cộng đồng hay một khu vực
(Dương Thị Liễu, 2012)
Do đó, bản chất của văn hoá kinh doanh là làm cho cái lợi gắn bó chặt chẽ với cái đúng, cái tốt và cái đẹp Từ đó, có thể đưa ra khái niệm về văn hoá kinh doanh
như sau: Văn hoá kinh doanh là toàn bộ các giá trị văn hóa được chủ thể kinh
doanh chọn lọc tạo nên bản sắc và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh, phải ép buộc Nếu một người nào đó làm khác sẽ bị cộng đồng lên án hoặc xa lánh xét về mặt pháp lý những việc làm đó không trái pháp luật
- Tính dân tộc: tính dân tộc là một đặc trưng tất yếu của văn hóa kinh doanh,
vì bản thân văn hóa kinh doanh là một tiểu văn hóa nằm trong văn hóa dân tộc và mỗi chủ thể kinh doanh đều thuộc về một dân tộc cụ thể với một phần nhân cách tuân theo các giá trị văn hóa dân tộc Khi các giá trị của văn hóa dân tộc được thẫm thấu vào tất cả các hoạt động kinh doanh sẽ tạo nên nếp suy nghĩ, cảm nhận chung cho những người kinh doanh trong cùng một dân tộc
- Tính chủ quan: văn hóa kinh doanh là sự thể hiện quan điểm, phương
hướng, chiến lược và cách thức tiến hành kinh doanh của một chủ thể kinh doanh
Trang 33cụ thể Tính chủ quan của văn hóa kinh doanh được thể hiện trong văn hóa kinh
doanh thông qua việc các chủ thể khác nhau sẽ có những suy nghĩ, đánh giá và
hành động khác nhau về một sự việc, hiện tượng trong kinh doanh
- Tính kế thừa: Giống như văn hóa, văn hóa kinh doanh là sự tích tụ của tất
cả các hoàn cảnh Trong quá trình kinh doanh, mỗi thế hệ sẽ có sự kế thừa những cái phù hợp và loại bỏ những cái không phù hợp Những cái phù hợp sẽ phát triển làm cho văn hóa kinh doanh sẽ trở nên phong phú, đa dạng và đẹp hơn
- Tính khách quan: văn hóa kinh doanh được hình thành và chịu sự tác động
của các nhân tố bên ngoài như: lịch sử, xã hội, quá trình hội nhập… nên văn hóa
kinh doanh tồn tại khách quan ngay cả với chính chủ thể kinh doanh
- Tính học hỏi: Có những giá trị văn hóa kinh doanh thuộc về văn hóa dân
tộc hay văn hóa xã hội và cũng không phải do nhà lãnh đạo sáng lập ra Những giá trị đó được hình thành từ kinh nghiệm xử lý vấn đề, từ kết quả quá trình nghiên cứu thị trường, đối thủ cạnh tranh hoặc tiếp nhận trong quá trình tiếp cận, giao lưu với các nền văn hóa trên thế giới Có thể nói, ngoài những giá trị được kế thừa từ văn hóa dân tộc và xã hội thì tính học hỏi sẽ giúp văn hóa kinh doanh có những giá trị tốt đẹp hình thành nên những giá trị văn hóa mới phù hợp với sự phát triển và hội nhập
- Tính tiến hóa: Kinh doanh rất sôi động và luôn thay đổi, do đó văn hóa kinh
doanh với tư cách là bản sắc của chủ thể kinh doanh cũng luôn tự điều chỉnh phù
hợp với trình độ kinh doanh và tình hình mới Đặc biệt là trong thời đại hội nhập,
sự giao thoa của nhiều nền văn hóa thì sự tiếp thu những giá trị tiến bộ là điều tất yếu
Như vậy, các đặc trưng của văn hóa kinh doanh là một bộ phận không tách rời của văn hóa dân tộc và văn hóa xã hội Tuy nhiên, trong kinh doanh cũng có những khác biệt so với các lĩnh vực khác và thể hiện ở hai đặc trưng sau: văn hóa kinh doanh xuất hiện cùng với sự xuất hiện của thị trường và văn hóa kinh doanh phải phù hợp với trình độ kinh doanh của chủ thể kinh doanh
2.1.3.3 Mối liên hệ giữa văn hóa doanh nghiệp và văn hóa kinh doanh
Hiên tại có hai cách hiểu về văn hóa kinh doanh: một là, theo khía cạnh vĩ mô thì văn hóa kinh doanh là một phạm trù tầm cỡ quốc gia, được đúc kết từ văn hóa
Trang 34một dân tộc được vận dụng vào giá trị, triết lý kinh doanh của mình thì chỉ là một phần của văn hóa kinh doanh; hai là, theo cách hiểu vi mô thì chính yếu của văn hóa kinh doanh là doanh nghiệp thì văn hóa kinh doanh cũng chính là, vì chính là văn hóa kinh doanh ở cấp độ doanh nghiệp, nó chịu ảnh hưởng bởi nền văn hoá Quốc gia nhưng vẫn mang bản sắc riêng của doanh nghiệp đó Có thể hiểu theo
tổng hợp hai cách hiểu trên: “Văn hóa kinh doanh là toàn bộ các nhân tố văn hóa
được chủ thể kinh doanh chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của chủ thể đó”
Ở phạm vi trong luận văn này tác giả chỉ vận dụng theo cách hiểu vi mô,
nghĩa là văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp cũng là một do ta xem chủ
thể của văn hóa kinh doanh là doanh nghiệp
2.1.3.4 Các yếu tố cấu thành văn hóa kinh doanh (Dương Thị Liễu, 2012)
Chủ thể kinh doanh phải lựa chọn và vận dụng các giá trị văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội vào hoạt động kinh doanh của mình để tạo sự kết nối giữa Doanh Nghiệp và xã hội, tạo nên các giá trị văn hóa tinh thần cho doanh nghiệp Đồng thời, trong quá trình hoạt động các chủ thể kinh doanh cũng tạo ra các giá trị riêng của mình thông qua những giá trị hữu hình như giá trị sản phẩm, hình thức mẫu mã sản phẩm, các giá trị văn hóa tinh thần của doanh nghiệp và các giá trị vô hình như phương thức tổ chức và quản lý kinh doanh, chiến lược, sứ mệnh, mục đích kinh doanh
Sự kết hợp giữa hai giá trị trên tạo nên một hệ thống văn hóa kinh doanh với 4 yếu tố cụ thể là:
Một là, Triết lý kinh doanh:
Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh thông qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm, khái quát hóa của các chủ thể kinh doanh và chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh Triết lý kinh doanh thường gồm những
bộ phận sau: Sứ mệnh và các mục tiêu kinh doanh cơ bản; Các phương thức hành động để hoàn thành được sứ mệnh và mục tiêu nhằm cụ thể hóa hơn cách diễn đạt được những sứ mệnh và mục tiêu; Các nguyên tắc tạo ra một phong cách ứng xử, giao tiếp và hoạt động kinh doanh đặc thù của doanh nghiệp
Hai là, Đạo đức kinh doanh:
Trang 35Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh Đây là hệ thống các quy tắc xử sự, các chuẩn mực đạo đức, các quy chế, nội quy có vai trò điều tiết các hoạt động của quá trình kinh doanh nhằm hướng đến triết lý đã
định Ngày nay, hoạt động kinh doanh đòi hỏi các chủ thể phải có những hành vi
phù hợp với đạo lý dân tộc và các quy chuẩn về cái thiện và cái tốt chung của toàn nhân loại Do vậy, đạo đức kinh doanh sẽ góp phần phát triển mối quan hệ với người lao động, với chính quyền, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với nhà cung cấp và với cộng đồng xã hội, từ đó góp phần tạo nên môi trường kinh doanh
ổn định
Ba là, Văn hóa doanh nhân:
Văn hóa doanh nhân là toàn bộ các nhân tố VĂN HÓA mà các doanh nhân
chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh của mình Tài năng, đạo đức và phong cách của nhà kinh doanh có vai trò quyết định trong việc hình thành văn hóa kinh doanh của chủ thể kinh doanh Đạo đức của doanh nhân trong quá trình hoạt động là một thành tố quan trọng tạo nên VĂN HÓA của doanh
nhân Có thể khái quát đạo đức doanh nhân luôn bao gồm các thành tố: Tính trung
thực, Tôn trọng con người, Vươn tới sự hoàn hảo, Đương đầu với thử thách, Coi
trọng hiệu quả gắn liền với trách nhiệm xã hội
Những đức tính trên là năm đức tính không thể thiếu đối với một nhà kinh doanh Tuy nhiên, để thành đạt trong nền kinh tế thị trường thì ngoài những tiêu chuẩn không thể thiếu về đạo đức, các doanh nhân phải có tài năng kinh doanh Có thể khái quát những tài năng của nhà kinh doanh thành những năng lực sau:
+ Sự hiểu biết về thị trường: Sự hiểu biết đó bao gồm những hiểu biết về thị
trường ngành hàng, hiểu biết về khách hàng mục tiêu, hiểu biết về đối thủ cạnh tranh và hiểu biết về các yếu tố ảnh hưởng tới việc kinh doanh
+ Những hiểu biết về nghề kinh doanh: đó là những kiến thức về chuyên môn
và nghiệp vụ kinh doanh như kiến thức về công nghệ, phương pháp quản trị, marketing, chất lượng sản phẩm, tài chính
+ Hiểu biết về con người và có khả năng xử lý tốt các mối quan hệ: Năng lực
hiểu biết về con người và khả năng xử lý tốt các mối quan hệ của nhà kinh doanh
Trang 36được thể hiện thông qua khả năng giao tiếp, khả năng nuôi dưỡng và phát triển các mối quan hệ phục vụ cho công việc kinh doanh Nếu có được năng lực này, các doanh nhân sẽ giải quyết tốt các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, khả năng đạt được kết quả cao trong kinh doanh là điều không khó
+ Nhanh nhạy, quyết đoán và khôn ngoan: Đây là những năng lực cốt yếu của
nhà kinh doanh, đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường Nếu không có sự nhanh nhạy, quyết đoán và khôn ngoan, các doanh nhân khó có thể nắm bắt được những cơ hội thuận lợi để thực hiện mục đích tối đa hóa lợi nhuận đã định
Bốn là, Các hình thức văn hóa khác:
Các hình thức văn hóa khác bao gồm những giá trị của văn hóa kinh doanh được thể hiện bằng tất cả những giá trị của văn hóa kinh doanh, được thể hiện bằng tất cả những giá trị trực quan hay phi trực quan điển hình Có thể mô tả các hình thức văn hóa khác của văn hóa kinh doanh gồm: giá trị sử dụng hình thức mẫu mã sản phẩm, kiến trúc, nghi lễ, giai thoại, khẩu hiệu, ấn phẩm điển hình, lịch sử phát triển và truyền thống văn hóa
2.1.3.5 Quá trình hình thành văn hóa kinh doanh:
Văn hóa kinh doanh của bất cứ tổ chức hay doanh nghiệp đều phải trải qua ba giai đoạn phát triển (Dương Thị Liễu, 2012):
Giai đoạn non trẻ
Nền tảng hình thành văn hóa kinh doanh phụ thuộc nhà sáng lập và những quan niệm chung của họ Nếu doanh nghiệp thành công, nền tảng này sẽ tiếp tục phát triển và tồn tại, trở thành một lợi thế, sự khác biệt của doanh nghiệp và là cơ sở gắn kết các thành viên thành một thể thống nhất
Trong giai đoạn này, doanh nghiệp phải tập trung vào những giá trị văn hóa khác biệt so với đối thủ, cũng cố những giá trị đang có và truyền đạt cho người mới Nền văn hóa trong các doanh nghiệp trẻ thành công thường được kế thừa nhanh chóng do: Những người sáng lập nó vẫn tồn tại; chính nền văn hóa đó đã giúp cho doanh nghiệp khẳng định mình và phát triển trong môi trường đầy cạnh tranh; rất nhiều giá trị của nền văn hóa đó là thành quả đúc kết được trong quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp chính vì vậy, việc thay đổi văn hóa kinh
Trang 37doanh trong doanh nghiệp hiếm khi diễn ra trừ khi có những yếu tố bên ngoài tác động và khi đó sẽ diễn ra quá trình thay đổi là điều tất yếu
Giai đoạn giữa
Khi doanh nghiệp có nhiều biến đổi, có thể xuất hiện những xung đột giữa những người bảo thủ và những người đổi mới Việc thay đổi trong giai đoạn này sẽ rất nguy hiểm vì đặc điểm của người sáng lập đã in trong nền văn hóa, quyết định thay thế những sẽ đặt doanh nghiệp vào thử thách thành công hoặc thất bại Sự thay đổi chỉ thực sự cần thiết khi những yếu tố đã từng giúp doanh nghiệp thành công đã trở nên không phù hợp do thay đổi môi trường bên ngoài và quan trọng hơn là môi trường bên trong
Giai đoạn chín muồi và nguy cơ suy thoái
Trong giai đoạn này, doanh nghiệp không tiếp tục tăng trưởng nữa do thị trường đã bảo hòa hoặc sản phẩm trở nên lỗi thời Sự chín muồi không hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ lâu đời, quy mô hay số thế hệ của lãnh đạo doanh nghiệp mà cốt lõi là phản ánh mối quan hệ qua lại giữa sản phẩm của doanh nghiệp với những
cơ hội và hạn chế môi trường hoạt động
Những yếu tố văn hóa kinh doanh lỗi thời cũng có tác động tiêu cực không kém đến các doanh nghiệp Tuy nhiên mức độ lâu đời cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp Nếu trong quá khứ doanh nghiệp có một thời gian dài phát triển thành công và hình thành được những giá trị văn hóa, đặc biệt là quan điểm chung của riêng mình thì sẽ rất khó thay đổi vì những giá trị này phản ánh niềm tự hào và lòng tự tôn của tập thể
2.1.3.6 Vai trò của văn hóa kinh doanh đối với sự phát triển của Doanh nghiệp
Cũng như, văn hóa kinh doanh đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Bước vào con đường kinh doanh hầu như ai cũng khao khát làm giàu, nhưng doanh nghiệp cần phải biết hài hòa, cân bằng giữa lợi ích doanh nghiệp với lợi ích cộng đồng, xã hội Phải tận dụng hết những nguồn lực có sẵn nghĩa là nâng cao hiệu suất chứ không phải bóc lột các nguồn lực, để tăng năng lực cạnh tranh, góp phần tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường Chính văn hóa kinh doanh sẽ nâng cao uy tín doanh nghiệp, đưa doanh nghiệp và người tiêu dùng
Trang 38đến gần nhau hơn Đó cũng chính là “Đạo” làm giàu mà không phải ai cũng làm được Một doanh nghiệp có văn hóa kinh doanh đúng đắn sẽ giúp cho doanh nghiệp phát triển một cách bền vững
2.1.3.7 Văn hóa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay
Đất nước chúng ta tuy trải qua hơn 4000 năm lịch sử nhưng phần lớn thời gian lại phải đấu tranh gìn giữ nền độc lập Chúng ta có thể tự hào về truyền thống yêu nước của nhân dân, truyền thống chống giặc ngoại xâm của ông cha, truyền thống hiếu học trọng dụng nhân tài … Nhưng đối với vấn đề kinh doanh thì trước đây chưa được chú trọng, chưa đúc kết được những truyền thống quý báu để thế hệ sau
có thể tiếp thu vận dụng Đã có thời điểm chúng ta “Bế quan tỏa cảng” không giao lưu, buôn bán với bên ngoài Trong “Thương học phương châm”, Cụ Lương Văn Can đã chỉ ra 10 điểm yếu của buôn bán ở nước ta đó là: Không có thương phẩm, không có thương hiệu, không có chữ tín, không có kiên tâm, không có nghị lực, không biết trọng nghề, không có thương học, kém đường giao thiệp, không biết tiết kiệm, khinh hàng nội hóa”
Từ sau đổi mới 1986, kinh tế nước ta đã có những bước phát triển mang lại những thành tựu to lớn, đưa đất nước Việt Nam ngày càng đi lên Đã có được các doanh nghiệp phát triển vững vàng, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, xây dựng được văn hóa kinh doanh cho mình Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có không ít doanh nghiệp chưa ý thức được vai trò của văn hóa doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh Trong Hội nhập và văn hóa kinh doanh, PGS TS Dương thị Liễu, NCS Nguyễn Vân Hà chỉ ra những bất cập của văn hóa kinh doanh Việt Nam trong tiến trình hội nhập như sau:
- Cung cách làm ăn nhỏ lẻ, thói quen tùy tiện
Trang 39Sự thiếu vắng của triết lý kinh doanh và chiến lược kinh doanh dài hạn tròn các doanh nghiệp Việt Nam
đề là càng phải được chú trọng đầu tư
2.2 Cơ sở lý thuyết về Cà phê
2.2.1 Lƣợc sử Ngành Cà phê (Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, 2013) 2.2.1.1 Khám phá
Theo truyền thuyết, sự xuất hiện của Cà phê bắt đầu từ năm 600 cùng với sự phát hiện ra Cà phê Chè Câu chuyện huyền thoại của Cà phê gắn liền với sự phát hiện tình cờ của một người chăn dê có tên là Kaldi khi ông đang chăn dê ở một vùng rừng núi thuộc địa phận nước Ê-thi-ô-pi-a ngày nay Trong lúc Kaldi ngủ thiếp đi, đàn dê của ông bắt đầu tản mát quanh đó Vài giờ sau, ông tỉnh dậy và vô cùng sợ hãi khi không thấy đàn dê của mình đâu nữa Kaldi bắt đầu đi tìm và cuối cùng khi tìm thấy đàn dê, một cảnh tượng kỳ thú đập vào mắt ông Những con dê lúc đó rất phấn khích và đang nhảy nhót trên những đôi chân sau Kaldi tìm kiếm quanh đó và phát hiện đàn dê của mình đã ăn những quả màu đỏ trên một cây rất lạ Kaldi cảm thấy lo lắng vì sợ rằng đàn dê sẽ bị ốm vì đã ăn những quả cây lạ
Kaldi đã phải tốn nhiều thời gian để lùa được đàn dê về chuồng và ông quyết định sẽ không kể lại những gì đã xảy ra cho bố mẹ biết Ngày hôm sau, khi được thả ra ngoài, đàn dê của Kaldi lại tìm đến các bụi cây lạ hôm trước và bắt đầu ăn những quả màu đỏ Kaldi chú ý quan sát và nhận thấy những quả cây lạ không ảnh hưởng đến sức khỏe của đàn dê Ông đánh liều ăn thử một vài quả và ngay lập tức, ông cảm thấy sảng khoái và tỉnh táo
Sau đó, Kaldi mang những quả cây lạ về nhà và kể lại câu chuyện cho bố mẹ nghe Bố mẹ của Kaldi đã tặng một vài quả cho các thầy tu ở một tu viện gần đó Các thầy tu rất vui bởi vì sau khi nhai những quả cây, họ cảm thấy vẫn tỉnh táo dù thời gian cầu nguyện kéo dài tới bao lâu Các vị thầy tăng quyết định đem sấy khô
Trang 40những quả cây lạ để có thể mang chúng tới các tu viện ở xa Ở đó, họ hòa nước với những quả cây đã được sấy khô để tạo thành một loại đồ uống mới
2.2.1.2 Sự hình thành và phát triển
Sau khi Kaldi khám phá ra những quả cây lạ có thể giúp tinh thần sảng khoái
và tỉnh táo, câu chuyện của ông đã lan truyền rất nhanh sang khu vực Trung Đông Những quả Cà phê được chuyển từ nước Ê-thi-ô-pi-a đến khu vực bán đảo A-rập và được trồng trên một vùng đất thuộc địa phận nước Yê-men ngày nay Ở Yê-men, người ta dùng vỏ quả Cà phê để chế biến thành một loại chè Cho tới khi xuất hiện
ở Thổ Nhĩ Kỳ, người ta mới bắt đầu rang xay nhân Cà phê và tạo ra loại Cà phê như của chúng ta ngày nay
Trong suốt thời gian đó, người A-rập luôn cố gắng giữ kín những bí mật về cây Cà phê Không ai được phép mang theo những quả hoặc nhân Cà phê sống mà chỉ được phép vận chuyển loại Cà phê đã được rang xay Vào khoảng năm 1640, mặc dù Cà phê rang xay đã xuất hiện nhiều ở nước Anh và Châu Âu nhưng chỉ có người A-rập mới biết chính xác loại hạt giống và hình dáng của cây Cà phê
Cho đến đầu năm 1700, người Hà Lan tìm cách lấy cắp một cây Cà phê từ vùng đất Yê-men và từ đó cả thế giới bắt đầu biết đến cây Cà phê Người Hà Lan giới thiệu cây Cà phê đó lần đầu tiên ở Java thuộc nước In-đô-nê-xi-a và sau đó Cà phê đã lan rộng ra toàn thế giới
Quán Cà phê mọc lên rất nhanh ở khắp Châu Âu và trở thành những trung tâm trao đổi thông tin của tầng lớp trí thức Vào những năm 1700, Cà phê được đưa tới Châu Mỹ do một đại úy bộ binh Pháp đã trồng và chăm sóc một cây Cà phê nhỏ trong suốt chuyến hành trình dài vượt Đại Tây Dương Cây Cà phê này được trồng lại trên đất của đảo Ca-ri-bê thuộc quốc gia Mac-tin-nic và đây chính là cây Cà phê gốc đã sinh ra hơn 19 triệu cây con trên đảo trong vòng 50 năm Xuất phát từ sự khởi đầu đơn giản như thế mà cây Cà phê đã được trồng phổ biến ở khắp các vùng nhiệt đới thuộc Nam và Trung Mỹ
Khi đó, Quốc hội Hoa kỳ quyết định phê chuẩn Cà phê là một loại đồ uống quốc gia nhằm phản đối thuế suất quá cao đánh vào mặt hàng chè do Nhà vua Anh quốc ban hành thời bấy giờ
Ngày nay, trồng và chế biến Cà phê đã trở thành một ngành công nghiệp trên