1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn ngữ văn THCS

24 476 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 4,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMĐỀ TÀI: "MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC MÔN NGỮ VĂN THCS"... Một trong nhữngphương pháp dạy học mới đã được đưa vào là Phương pháp dạy

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:

"MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG VIỆC

DẠY VÀ HỌC MÔN NGỮ VĂN THCS"

Trang 2

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nghị quyết số 29 -NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương

Đảng lần thứ 8 khóa XI về “Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu

công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã chỉ ra cần phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo,

khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học.Từng bước áp dụng các phương tiện tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạyhọc, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh

Thực tế cho thấy một thời gian dài vừa qua, hầu hết các trường đều áp dụngphương pháp dạy học truyền thống thụ động, một chiều, vừa quá tải về kiến thức, vừagây nhàm chán cho người học Môn Ngữ văn cũng không phải là ngoại lệ Chất lượngcũng đang ngày càng đi xuống Số lượng học sinh chọn học các môn xã hội, trong đó cómôn văn có chiều hướng giảm; nhiều người học theo kiểu đối phó, thuộc vẹt, học tủ; sựhứng khởi và đam mê của học sinh với môn văn có biểu hiện mất dần

Thực hiện chủ trương đổi mới phương pháp dạy học, rất nhiều phương pháp dạyhọc tích cực đã được sử dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy học Một trong nhữngphương pháp dạy học mới đã được đưa vào là Phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy.Tuy nhiên, việc ứng dụng bản đồ tư duy trong quá trình dạy học là vấn đề còn khó khăn,lúng túng đối với nhiều giáo viên, trong đó có giáo viên dạy môn Ngữ văn Họ tỏ ra bănkhoăn không biết sử dụng bản đồ tư duy vào khâu nào trong quá trình dạy học? Phươngpháp thiết kế bản đồ tư duy, hướng dẫn cách thức sử dụng cho học sinh ra sao? Nhất làđối với những giáo viên mới vào nghề và những giáo viên chưa quen với việc ứng dụngCông nghệ thông tin, trình độ Tin học còn hạn chế

Mặt khác, huyện Ba Tơ nói chung và xã Ba Khâm nói riêng, mặt bằng dân trí cònthấp, khả năng tiếp thu kiến thức của các em học sinh nơi đây còn hạn chế, đặc biệt là đốivới môn Ngữ văn Do vậy bản thân tôi thiết nghĩ việc sử dụng bản đồ tư duy sẽ phần nàogóp phần nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung và bộ môn Ngữ văn nói riêng

Bản thân tôi thật sự tâm đắc với phương pháp trực quan Sử dụng bản đồ tư duy trong quátrình dạy học Bởi vì không chỉ lôi cuốn, hấp dẫn với học sinh, mà nó còn là một phươngpháp dạy học rất hiệu quả, rất khoa học, rất dễ sử dụng và có thể sử dụng rộng rãi ở tất cảcác khâu trong quá trình dạy học, đặc biệt là trong việc giảng dạy bộ môn Ngữ văn Vì

vậy, tôi viết đề tài Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp sử dụng Bản đồ tư duy

Trang 3

trong việc dạy và học môn Ngữ Văn THCS” để cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với

đồng nghiệp

1.2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

a/ Thời gian: - Bắt đầu nghiên cứu tháng 8/2013

- Hoàn thành tháng 3/2014b/ Địa điểm: Trường THCS Ba Khâm, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi

1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp quan sát: Hình thức chủ yếu của phương pháp này là dự giờ đồng nghiệp

từ đó tôi có thể phát hiện ra những ưu nhược điểm trong bài dạy của các đồng nghiệp

- Phương pháp so sánh: với phương pháp này tôi có thể phân loại, đối chiếu kết quảnghiên cứu

- Ngoài ra tôi còn sử dụng những phương pháp hỗ trợ khác như: đọc tài liệu, thống kê,thăm dò ý kiến của học sinh, trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp

PHẦN 2 NỘI DUNG 2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN:

Năm học 2013 - 2014 là năm học mà toàn ngành Giáo dục và Đào tạo đang tiếp tục

nỗ lực đổi mới phương pháp giảng dạy, để đào tạo ra những con người năng động, sớmthích ứng với đời sống xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đấtnước Trước tình hình đó, đòi hỏi đội ngũ giáo viên chúng ta phải không ngừng đổi mới,cải tiến nội dung, phương pháp soạn giảng để trong mỗi tiết dạy, học sinh sẽ được hoạtđộng nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiều hơn trên conđường chủ động chiếm lĩnh kiến thức Vì vậy, đòi hỏi mỗi giáo viên phải triệt để thựchiện theo nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy tính chủ động, tích cực,

tự giác và sáng tạo của học sinh trong hoạt động dạy học

Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội Đây là môn học có vai tròrất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người Đồng thời mônhọc này có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho họcsinh Cung cấp cho học sinh những hiểu biết về văn hóa, con người Việt Nam và thế giới,hướng các em đến những giá trị cao đẹp của cuộc sống như Chân – Thiện – Mĩ Mặt

Trang 4

khác nó cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ vớirất nhiều các môn học khác trong các nhà trường phổ thông Học tốt môn văn sẽ tác độngtích cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốtmôn văn Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học vớihành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống.

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN:

Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâucác ý tưởng Bản đồ tư duy một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó làmột kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợpvới cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vôtận của bộ não

Bản đồ tư duy giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả hơn: Việc rèn luyện

phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạyhọc mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấy một số học sinh học rất chăm chỉnhưng vẫn học kém, các em thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phầntrước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đãhọc trước đó vào những phần sau Phần lớn số học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảngtrên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trínhớ của mình Sử dụng thành thạo bản đồ tư duy trong dạy học sẽ gúp học sinh có đượcphương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy

Bản đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực Một số kết quả nghiên cứu chothấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suynghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử dụng bản đồ tư duy giúp họcsinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não

2.3 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC HỌC VĂN HIỆN NAY

Thực tế hiện nay, môn Ngữ văn đang dần dần mất vị trí là một môn học chính, quan

trọng mà bị xếp sau một số môn học được coi là thực tế hơn để thi tuyển sinh vào các

trường Đại học, cao đẳng như Toán, Hóa, Lý, Anh, Tin… Môn Ngữ văn là một môn họckhó với học sinh bởi dung lượng kiến thức rất nhiều Học sinh phải học văn học ViệtNam (Văn học dân gian, văn học Việt Nam trung đại, cận đại, hiện đại), và văn học Thếgiới (Văn học Trung Quốc, Ấn Độ, Phương Tây) Các kiến thức về tiếng Việt, Tập làmvăn cũng không hề đơn giản Có rất nhiều văn bản mới được đưa thêm vào trong sáchgiáo khoa Vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện chương trình giảm tải, lược bỏ

đi một số bài học hoặc đưa một số bài học chính vào phần đọc thêm Song không vì thế

Trang 5

mà chương trình đã thật sự nhẹ nhàng Giáo viên và học sinh vẫn phải gồng mình dạy vàhọc để theo kịp chương trình.

Qua thực tế giảng dạy ở trường tôi nhận thấy rằng có rất nhiều biểu hiện tâm lý chánhọc văn của học sinh, cụ thể là:

- Học sinh thờ ơ với Văn: Đa phần các em xem thường và không muốn học Văn Các em

thường chỉ quan tâm đến các môn tự nhiên và phần lớn dành thời gian cho các môn này

Và nếu có học thì đó cũng chỉ là đối phó, qua loa Mặt khác, chính vì môn văn có khốilượng kiến thức nhiều và khó, tâm lí thực dụng nặng nề nên nhiều em học sinh thấy họcvăn là một công việc nặng nhọc, mệt mỏi, khó khăn! Đôi khi giờ học văn đối với các emthật vất vả…

- Khả năng trình bày: Khi học sinh tạo lập một văn bản giáo viên có thể dễ dàng nhận ra

những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai, viết câu sai, viết chính tả sai, bố cục

và lời văn hết sức lủng củng, thiếu logic Đặc biệt có những bài văn diễn đạt ngô nghê, tốinghĩa, lủng củng Đây là một tình trạng đã trở nên phổ biến và thậm chí là đáng báođộng trong bậc học THCS

Điều đó, một phần thể hiện rõ qua kết quả khảo sát đầu năm học 2013-2014 nhưsau:

- Đối với người dạy: Đa số giáo viên đều có tình yêu nghề, mến trẻ, tận tụy với công tác

giảng dạy, chăm lo quan tâm đến học sinh Tuy nhiên, vẫn còn những mặt hạn chế sau:+ Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phận không nhỏ học sinh yếukém dẫn đến chất lượng chưa cao

+ Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phương pháp trực quanvào tiết học hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu bài của học sinh

Trang 6

+ Một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi được mạch nguồncảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người học.

- Đối với học sinh:

+ Một số học sinh vì lười học, chán học mải chơi, hổng kiến thức nên không chuẩn bị tốttâm thế cho giờ học Ngữ văn

+ Địa phương xã Ba Khâm huộc vùng kinh tế còn khó khăn, hầu hết phụ huynh đều đilàm ăn xa, ít có thời gian quan tâm kèm cặp con em mình Bản thân các em còn phải phụgiúp gia đình ngoài giờ lên lớp, không có thời gian học

+ Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số nhu cầu giải trí như xem ti vi,chơi game ngày càng nhiều làm cho một số em chưa có ý thức học bị lôi cuốn dẫnđến sao nhãng việc học tập

2.4 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC MÔN NGỮ VĂN THCS

2.4.1 Sử dụng bản đồ tư duy trong các hình thức kiểm tra:

Có thể nói, đây là việc làm rất đơn giản nhưng lại còn rất xa lạ, mới mẻ đối với rấtnhiều giáo viên Qua dự giờ, góp ý, trao đổi kinh nghiệm cùng các đồng nghiệp trong tổ,trong trường, tôi nhận thấy, hầu hết giáo viên rất băn khoăn khi nghe đề nghị dùng bản đồ

tư duy để kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút hay kiểm tra một tiết Sau đây là một vài kinhnghiệm xin chia sẻ cùng đồng nghiệp:

a Sử dụng bản đồ tư duy trong việc kiểm tra bài cũ:

Giáo viên đưa ra một từ khóa (hay một hình ảnh trung tâm) thể hiện chủ đề củakiến thức cũ mà các em đã học, cần kiểm tra, yêu cầu các em vẽ bản đồ tư duy thông quacâu hỏi gợi ý Trên cơ sở từ khóa (hoặc hình ảnh trung tâm) ấy kết hợp với câu hỏi địnhhướng của giáo viên, học sinh sẽ nhớ lại kiến thức và định hình được cách vẽ Bản đồ tưduy theo yêu cầu

* Ví dụ: Sau khi các em học xong bài “Các phương châm hội thoại” tiết 1, 2 trước khi

tìm hiểu các kiến thức mở rộng có liên quan đến phương châm hội thoại ở Tiết 3 (Tiết 13,

lớp 9), giáo viên kiểm tra bài cũ bằng cách cho các em lập bản đồ tư duy để củng cố, hệ

thống kiến thức đã học ở hai tiết học trước thông qua câu hỏi sau: Ta đã học qua những

phương châm hội thoại nào? Em hãy lập bản đồ tư duy để hệ thống kiến thức về chúng?

Sau đó, giáo viên ghi cụm từ khóa lên giữa bảng phụ “Phương châm hội thoại”, rồi gọimột em xung phong lên bảng vẽ Học sinh sẽ dễ dàng vẽ được bản đồ tư duy theo nộidung yêu cầu Dưới đây là bản đồ tư duy về các phương châm hội thoại có tính chất minhhọa, các em vẽ bản đồ tư duy đảm bảo các nội dung tương tự như sau là tốt

Trang 7

Hình 1- bản đồ tư duy: Phương châm hội thoại

Khi học sinh vẽ xong, giáo viên cho cả lớp quan sát, gọi một vài em nhận xét, góp

ý sơ đồ rồi giáo viên nhận xét và cho điểm

b Sử dụng bản đồ tư duy trong kiểm tra 15 phút, 1 tiết:

Chúng ta cũng có thể dùng bản đồ tư duy trong các hình thức kiểm tra trên giấy (15phút, 1 tiết) một cách dễ dàng để tăng cường việc rèn luyện thói quen tư duy lô-gic, tưduy hệ thống cho học sinh thông qua các bài kiểm tra viết, nhằm phát triển năng lực tưduy sáng tạo cho các em Tuy nhiên, giáo viên cũng cần lưu ý rằng kiểm tra kiến thức cũbằng phương pháp vẽ bản đồ tư duy chỉ là một hình thức kiểm tra nhằm việc giúp họcsinh củng cố, hệ thống kiến thức có tính chất lý thuyết Do đó, giáo viên nên chọn kiểmtra những kiến thức có tính hệ thống, xâu chuỗi, các em có thể dễ dàng hệ thống hóa bằngbản đồ tư duy Ví dụ: lập bản đồ tư duy về Từ loại (xét về cấu tạo, xét về ngữ pháp), vềcác Phương châm hội thoại, về Trau dồi vốn từ, về Nghĩa của từ, Các cách phát triển từvựng, trong phân môn Tiếng Việt; lập bản đồ tư duy về hệ thống luận điểm, luận cứtrong một văn bản nghị luận, về dàn ý của một kiểu văn bản nào đó trong phân môn Tậplàm văn; hay lập bản đồ tư duy để khái quát, sơ đồ hóa kiến thức về một tác giả, tác phẩmnào đó, về quá trình phát triển tính cách, tâm trạng của một nhân vật trong tác phẩmtruyện hay mạch cảm xúc, trình tự kết cấu của một bài thơ đối với phân môn Văn học.Mặt khác, về yêu cầu của đề kiểm tra, giáo viên cần đưa ra từ hay cụm từ khóa ngắn gọn,

Trang 8

rõ ràng, cụ thể, khái quát được chủ đề của phần kiến thức cần kiểm tra trong câu hỏi đểđịnh hướng, giúp học sinh dễ dàng nắm bắt chính xác yêu cầu đề và có thể vẽ đúng bản

đồ tư duy theo yêu cầu Sau đây là một số ví dụ minh họa các dạng đề kiểm tra viết yêucầu học sinh lập bản đồ tư duy:

* Ví dụ 1: Từ tiếng Việt (xét về mặt cấu tạo) gồm có những loại nào? Em hãy vẽ bản

đồ tư duy giới thiệu chi tiết về chúng

Hình 2- bản đồ tư duy: Từ Tiếng Việt (xét về cấu tạo)

* Ví dụ 2: Cho từ khóa Truyện Kiều Em hãy vẽ bản đồ tư duy giới thiệu nguồn gốc,

thể loại và giá trị “Truyện Kiều” của Nguyễn Du

Trang 9

Hình 3- bản đồ tư duy: Truyện Kiều

* Ví dụ 3: Bài thơ “Viếng lăng Bác” ghi lại diễn biến tâm trạng cảm xúc của nhà thơ

Viễn Phương theo trình tự không gian và thời gian của chuyến ra thăm lăng Bác Hồ Với

cụm từ khóa “Viếng lăng Bác”, em hãy lập bản đồ tư duy ghi lại diễn biến tâm trạng cảm

xúc ấy của tác giả qua mỗi khổ thơ

Trang 10

Hình 4- bản đồ tư duy: Văn bản Viếng lăng Bác

*Ví dụ 4: Có mấy cách phát triển của từ vựng? Em hãy lập bản đồ tư duy minh họa với

cụm từ khóa sau: “Sự phát triển của từ vựng”

Hình 5- bản đồ tư duy: Sự phát triển của từ vựng

*Ví dụ 5: Em hãy lập bản đồ tư duy trình bày những hiểu biết của em về nhà thơ

Nguyễn Du (Tên hiệu, xuất thân, thời đại, cuộc đời, sự nghiệp văn học?)

* Lưu ý:

- Giáo viên có thể linh hoạt sử dụng các câu hỏi yêu cầu học sinh lập bản đồ tư duy

ở khâu kiểm tra bài cũ và kiểm tra viết (15 phút, 1 tiết) hoán đổi cho nhau đều được

- Đối với kiểm tra miệng, 15 phút ta lấy thang điểm 10; còn đối với kiểm tra 1 tiết thì tùytheo mức độ của từng câu hỏi, ta có thể cho từ 2-3 điểm (xem như câu hỏi yêu cầu lậpbản đồ tư duy là một phần trong đề kiểm tra)

Trang 11

Hình 6- bản đồ tư duy: Nhà thơ Nguyễn Du

2.4.2 Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học bài mới và ghi bảng:

Lâu nay, việc sử dụng bản đồ tư duy như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc dạyhọc bài mới thì ít nhiều giáo viên chúng ta đã và đang ứng dụng Tuy nhiên, việc sử dụngbản đồ tư duy vừa để tổ chức, dẫn dắt cho học sinh tự tìm hiểu, khám phá, chiếm lĩnhkiến thức bài học lại vừa thay thế cho việc ghi bảng cô đọng kiến thức tiết dạy, bài dạycủa giáo viên thì quả là việc làm còn hết sức mới mẻ Qua trao đổi với anh chị em giáoviên trong tổ chuyên môn, trong trường, trong cụm trường ở những buổi sinh hoạt chuyênmôn, hầu hết anh chị em đều có chung quan niệm xem bản đồ tư duy là công cụ, phươngtiện, là một thứ “bảng phụ” hỗ trợ, minh họa cho tiết dạy mà thôi Ai cũng cho rằngkhông thể dùng bản đồ tư duy thay cho phần ghi bảng của giáo viên được Thực ra thì tavẫn có thể thực hiện kết hợp chúng trong quá trình dạy học bài mới Qua một quá trìnhthử nghiệm chúng trong một số tiết dạy, tôi nhận thấy rõ ràng cách làm này ta hoàn toàn

có thể làm được Không những thế, việc kết hợp sử dụng bản đồ tư duy trong việc tổchức dạy học bài mới với việc sử dụng nó để cô đọng kiến thức thay cho việc ghi bảng lạitiết kiệm được rất nhiều thời gian trên lớp, lại vừa có tác dụng hình thành cho học sinh cóthói quen ghi chép bằng bản đồ tư duy Đây cũng là việc làm rất cần thiết góp phần rènluyện kĩ năng vẽ bản đồ tư duy cho các em, nhất là những bài học nhằm giới thiệu, cungcấp kiến thức

Trang 12

Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽbản đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các tự liên quanđến từ khoá đó và hoàn thiện bản đồ tư duy Qua bản đồ tư duy đó học sinh sẽ nắm đượckiến thức bài học một cách dễ dàng Sau đây là một số ví dụ minh họa:

* Ví dụ 1: Với văn bản: Thầy bói xem voi (Tiết 40 lớp 6), sau phần đọc và tìm hiểu

chung, giáo viên có thể vẽ mô hình bản đồ tư duy lên bảng Bản đồ tư duy gồm 5 nhánhchính, ở mỗi nhánh có thể phân thành nhiều nhánh nhỏ tuỳ thuộc vào nội dung bài học

Để có thể hoàn thiện được mô hình bản đồ tư duy của bài học, giáo viên sử dụng hệthống câu hỏi định hướng để khai thác kiến thức:

+ Bố cục của văn bản: học sinh sẽ dựa vào văn bản để xác định các ý chính (Hoàn cảnhcác thầy bói xem voi, cách xem voi, các thầy nhận xét về con voi, hậu quả)

+ Tiếp tục hoàn thành các nhánh của bản đồ tư duy bằng hệ thống câu hỏi nhỏ có tính gợi

mở như: Hoàn cảnh xem voi như thế nào? Cách xem voi như thế nào? Cách phán về voi

ra sao? Kết quả ra sao?

Hình 7- bản đồ tư duy: Văn bản “Thầy bói xem voi”

* Ví dụ 2: Khi học bài “So sánh” (Tiết 78, lớp 6), đầu giờ giáo viên cho từ khoá “So

sánh” rồi yêu cầu học sinh vẽ bản đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em đểcác em có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ (nhánh con cấp 2, cấp3…), sau khi các nhóm học sinh vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước lớp để cáchọc sinh khác bổ sung ý Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức

Ngày đăng: 30/10/2016, 18:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1- bản đồ tư duy: Phương châm hội thoại - Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn ngữ văn THCS
Hình 1 bản đồ tư duy: Phương châm hội thoại (Trang 7)
Hình 3- bản đồ tư duy: Truyện Kiều - Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn ngữ văn THCS
Hình 3 bản đồ tư duy: Truyện Kiều (Trang 9)
Hình 4- bản đồ tư duy: Văn bản Viếng lăng Bác - Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn ngữ văn THCS
Hình 4 bản đồ tư duy: Văn bản Viếng lăng Bác (Trang 10)
Hình 6- bản đồ tư duy: Nhà thơ Nguyễn Du - Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn ngữ văn THCS
Hình 6 bản đồ tư duy: Nhà thơ Nguyễn Du (Trang 11)
Hình 8- bản đồ tư duy: So sánh - Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn ngữ văn THCS
Hình 8 bản đồ tư duy: So sánh (Trang 13)
Hình 9- bản đồ tư duy: Truyện Kiều - Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn ngữ văn THCS
Hình 9 bản đồ tư duy: Truyện Kiều (Trang 14)
Hình 11- bản đồ tư duy: Ôn tập Tiếng Việt - Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn ngữ văn THCS
Hình 11 bản đồ tư duy: Ôn tập Tiếng Việt (Trang 16)
Hình 12- bản đồ tư duy: Nhân vật Vũ Nương - Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn ngữ văn THCS
Hình 12 bản đồ tư duy: Nhân vật Vũ Nương (Trang 17)
Hình 13- bản đồ tư duy: Đặc điểm con người Việt Nam - Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn ngữ văn THCS
Hình 13 bản đồ tư duy: Đặc điểm con người Việt Nam (Trang 18)
Hình 14- bản đồ tư duy: Chiến tranh hạt nhân - Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn ngữ văn THCS
Hình 14 bản đồ tư duy: Chiến tranh hạt nhân (Trang 19)
Hình 16- bản đồ tư duy: Từ loại (Tổng kết Ngữ pháp) - Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn ngữ văn THCS
Hình 16 bản đồ tư duy: Từ loại (Tổng kết Ngữ pháp) (Trang 20)
Hình 17- bản đồ tư duy: Ôn tập Tiếng Việt - Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn ngữ văn THCS
Hình 17 bản đồ tư duy: Ôn tập Tiếng Việt (Trang 21)
Hình   18- 18-bản   đồ   tư duy:   Ôn   tập Truyện   về truyện   (lớp 9) - Sáng kiến kinh nghiệm SKKN một số biện pháp sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn ngữ văn THCS
nh 18- 18-bản đồ tư duy: Ôn tập Truyện về truyện (lớp 9) (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w