1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm skkn sáng kiến kinh ngiệm đề tài sử dụng hình thức dạy học theo nhóm trong dạy học ngữ văn ở trường THCS

30 376 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 241,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với hình thức này, HS được lôi cuốn vào các hoạt động học tập, tiếpthu kiến thức bằng chính khả năng của mình với sự tổ chức hướng dẫn của giáoviên GV.Thông qua tổ chức học nhóm, GV kết

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Môn Ngữ văn ở trường phổ thông nhằm giúp học sinh (HS) có đượcnhững kiến thức cơ bản, cần thiết về văn học dân tộc và văn học thế giới; gópphần hình thành ở HS thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đấtnước truyền thống dân tộc, tinh thần cách mạng; bồi dưỡng các năng lực tư duy,hành động và thái độ ứng xử đúng đắn trong cuộc sống xã hội Cũng bởi thế màphương pháp và hình thức dạy học môn Ngữ văn rất phong phú, đa dạng; baogồm cả các phương pháp hiện đại như: thảo luận nhóm, đóng vai nhân vật, giảiquyết vấn đề, nghiên cứu tình huống,dự án, hợp tác …) và các phương pháptruyền thống như: trực quan, đàm thoại, kể chuyện …; bao gồm cả hình thức dạyhọc theo lớp, theo nhóm nhỏ và cá nhân; hình thức dạy học ở lớp, ở phòng bộmôn, ở bảo tàng, tại các di tích lịch sử…và HS cũng có thể nghe báo cáo, traođổi trực tiếp với các nhà văn, nhà phê bình, nói chuyện với các cựu chiến binh

Vì vậy, tổ chức dạy học theo nhóm là hình thức dạy mới – một trongnhững hình thức thực hiện tốt nhất việc dạy học phát huy tính tích cực và tươngtác của HS Với hình thức này, HS được lôi cuốn vào các hoạt động học tập, tiếpthu kiến thức bằng chính khả năng của mình với sự tổ chức hướng dẫn của giáoviên (GV).Thông qua tổ chức học nhóm, GV kết hợp đánh giá kết quả học tậpcủa HS

Từ hiệu quả thực tế nêu trên tôi chọn đề tài : “Sử dụng hình thức dạy họctheo nhóm trong dạy học Ngữ văn ở trường THCS”

II MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:

1 Mục đích:

Tìm hiểu định nghĩa dạy học Ngữ văn theo nhóm và cách thức tổ chức họcsinh làm việc theo nhóm đối với môn Ngữ văn ở trường THCS

Trang 2

2 Nhiệm vụ:

Tác dụng của dạy học Ngữ văn theo nhóm

Tổ chức dạy học Ngữ văn theo nhóm

Vai trò của giáo viên trong dạy học Ngữ văn theo nhóm

IV/ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:

Thời gian nghiên cứu : Từ tháng 8/2009 đến nay

Thời gian thực hiện và hoàn thành đề tài :từ tháng 8/2009 đến tháng1/2011

Trang 3

bộ môn Mỗi giáo viên có một cách trình bày, có một phương pháp dạy riêng ,vìvậy ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển trí tuệ của các em.

Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động, đặc biệt trongnhững hoạt động của chủ thể Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học.Tích cực trong hoạt động học tập thực chất là tính tích cực , nhận thức, đặc trưng

ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnhtri thức Học sinh sẽ thông hiểu và ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạt độngchủ động, nỗ lực của chính mình

Dạy học theo nhóm là hình thức dạy học đặt học sinh vào môi trường học

tập tích cực, trong đó học sinh được chia thành các nhóm nhỏ ( 2,4,6 em ) mộtcách thích hợp Trong nhóm, học sinh được thảo luận và hợp tác làm việc vớinhau Dạy học theo nhóm, học sinh học tập thông qua giao tiếp, trao đổi, tranhluận với nhau, chia sẻ và có cơ hội để diễn đạt ý nghĩ của mình, tìm tòi và mở

Trang 4

rộng suy nghĩ Còn giáo viên là người tổ chức các hoạt động gợi mở, hướng dẫnkích thích và hỗ trợ học sinh bằng kinh nghiệm giáo dục của mình.

Dạy học theo nhóm là hình thức dạy học tích cực vì:

Hoạt động thảo luận nhóm đã tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cánhân trên con đường chiếm lĩnh kiến thức học tập

Thông qua hoạt động thảo luận nhóm, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ,khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Nhờthảo luận nhóm, bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗihọc sinh và của cả lớp chứ không chỉ dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm củangười thầy giáo

2 Cơ sở thực tiễn:

Thực tế trong vài ba năm gần đây, việc tổ chức dạy học theo nhóm đã được đưa vào nhà trường Tuy nhiên để phương pháp dạy học theo nhóm có hiệu quả hay không còn tùy thuộc vào Gv đứng lớp Một thực tế cho thấy nhiều GV khi lên lớp đã tổ chức cho học sinh học theo nhóm nhưng có tiết thì thành công, có tiết thì chưa đem lại hiệu quả Như vậy, vấn đề tổ chức dạy học theo nhóm cần được trao đổi để rút kinh nghiệm cho nhau nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở nhà trường THCS nói chung và ở trường THCS Hùng Vương nói riêng.

Trang 5

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS HÙNG VƯƠNG

Qua nhiều năm giảng dạy ở trường THCS tôi nhận thấy học sinh đãhiểu

được những vấn đề chung của môn Ngữ văn , đặc biệt là nắm được kiến thứcNgữ văn về đất nước và con người Việt Nam Từ đó các em đã khắc sâu đượcbản sắc văn hoá tốt đẹp cùng với những biểu tượng về tình yêu quê hương đấtnước, lòng tự tôn, tự hào dân tộc cũng như đạo nghĩa “uống nước nhớ nguồn”hay “thương người như thể thương thân” vào tâm trí của mình

Trong thực tế, tài liệu phục vụ giảng dạy môn Ngữ văn và đồ dùngtrực quan ở các trường học trang bị còn thiếu nên giáo viên cần phải tự tìm tòi ,sáng tạo thêm để làm phong phú tiết dạy nên mất nhiều thời gian chuẩn bị Cáctrường học còn thiếu phương tiện hiện đại như máy chiếu để trình chiếu PowerPoint, hoặc có máy chiếu nhưng chưa có phòng học dành riêng cho máy chiếunên chưa hỗ trợ cho giáo viên trong quá trình dạy học bộ môn Vì vậy, việc tổchức dạy học theo yêu cầu đổi mới phương pháp, trong đó có hình thức thảo luậnnhóm, vẫn là hình thức phổ biến và thuận lợi nhất

Từ năm 2002 đến nay, việc sử dụng hình thức tổ chức dạy học theonhóm đã đựoc GV sử dụng ngày càng thuần thục và tính hiệu quả của nó cũngrất là thuyết phục Bằng kinh nghiệm thực tiễn, mỗi GV có một cách sử dụnghình thức dạy học theo nhóm cho riêng mình, nhưng kết quả cuói cùng là đã làm

Trang 6

cho giờ dạy - học Văn thêm sôi nổi, tạo hứng thú học tập cho các em Qua cáctiết dự giờ của GV trường tôi cũng như các GV trường bạn ở các buổi thao giảngcụm, tôi nhận thấy hình thức này đã được nhiều GV quan tâm và sử dụng cóhiệu quả, tuy nhiên mức độ linh hoạt và độ đột phá của nó thì vẫn còn hạn chế.

Về phía HS, các em cũng đã ngày càng quen thuộc hơn, thuần thụchơn với cách thức thảo luận nhóm Và cũng từ đó, các em trở nên mạnh dạn, tựtin hơn khi trình bày một vấn đề trước tập thể; sự hợp tác để làm việc cũng đãlàm cho quan hệ của các em trở nên gần gũi hơn, gắn kết hơn

Từ thực tế trên, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp dạy học theo nhóm màtôi đã từng áp dụng có hiệu quả để các bạn đồng nghiệp cùng tham khảo

Trang 7

CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC THEO NHÓM TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS.

Ở đề tài này, người viết không có ý định chỉ ra phải sử dụng nhữngcách thức nào trong hình thức dạy học theo nhóm mà chỉ có ý định giới thiệu vớiđồng nghiệp về những gì mà bản thân đã làm được trong giờ dạy học Ngữ văn

dựa trên cơ sở nhận thức về tác dụng của hình thức tổ chức dạy học theo

nhóm, cách thức tổ chức hoạt động theo nhóm và vai trò của người GV khi sử dụng hình thức dạy học theo nhóm Xin được trình bày như sau:

1.TÁC DỤNG CỦA DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO NHÓM:

Hoạt động nhóm là một đặc điểm quan trọng, đó là quá trình học sinhđược tham gia một chuỗi các hoạt động học tập dưới sự hướng dẫn của giáoviên, được khuyến khích để trao đổi kinh nghiệm và được tạo cơ hội làm việchợp tác với người khác Bằng cách nói ra những điều đang suy nghĩ , mỗi người

có thể hiểu rõ trình độ hiểu biết của mình về vấn đề đã nêu ra, thấy mình học hỏiđược những gì Với cách này, bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứkhông phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên

Hoạt động nhóm đem lại cho học sinh cơ hội để sử dụng phương pháp,kiến thức và kỹ năng các em đã lĩnh hội và rèn luyện

Trang 8

Ví dụ: Tiết 44: Từ đồng âm (Ngữ văn 7, tập I) GV phát phiếu học tập cho các nhóm, yêu cầu các nhóm chơi trò chơi bằng cách hoàn thành phiếu học tập theo yêu cầu: Em hãy điền vào những chỗ còn thiếu trong bảng, theo mẫu của 4 từ CHỈ đồng âm đã được làm sẵn:

Vd: Vốn quy ra khoảng 7 chỉ.

CHỈ 3 (ĐT): Đưa tay hoặc vật gì đó cho người khác nhận ra vật khác.

Vd: Chỉ đường cho khách.

CHỈ 4 (Chỉ từ): Không có gì thêm hoặc khác.

Vd: Chỉ một mình Thức ăn chỉ toàn cá.

Vd: ăn ở có nhân đức.

NHÂN 3 (ĐT): Một trong bốn pháp tính cơ bản nhằm tìm tích các số.

Vd:

NHÂN 4 (QHT): Chỉ hoàn cảnh thuận tiện, phù hợp.

Vd: PHI 1 (DT): Vợ lẽ

của vua, thái tử,

Vd: Ngựa phi nước đại.

Vd: Hoa khoe sắc.

Sắc mặt hồng hào.

SẮC 3 (ĐT): Làm dược liệu ra hết chất thuốc.

Vd:

SẮC 4 (TT):Dễ làm đứt vật khác Vd:

Trang 9

SAO 1 (DT):Thiên

thể nhìn thấy như

một điểm sáng

lấp lánh.

Vd:

SAO 2 (DT):

.

Vd: Cột nhà làm bằng gỗ sao SAO 3 (ĐT):

Vd: Sao đúng nguyên văn SAO 4 (Đại từ): Từ dùng để hỏi về .

Vd: Sao bạn không đi học? Sau một thời gian quy định, các tổ cử người viết kết quả lên bảng, tổ nào giải nghĩa từ và lấy ví dụ đúng, phong phú thì tổ đó thắng GV treo bảng phụ đã trình bày sẵn lên bảng để các em đối chiếu, qua đó rèn luyện cho HS kỹ năng giải nghĩa từ, phân biệt được các sắc thái ý nghĩa của từ, phân biệt được từ Hán Việt với từ thuần Việt 1 2 3 4 CHỈ 1 (DT): Dây nhỏ bằng sợi dùng để may, thêu Vd: Xe chỉ luồn kim Chỉ thêu CHỈ 2 (DT):1/10 lạng hoặc 3,780 gram vàng Vd: Vốn quy ra khoảng 7 chỉ CHỈ 3 (ĐT): Đưa tay hoặc vật gì đó cho người khác nhận ra vật khác Vd: Chỉ đường cho khách CHỈ 4 (Chỉ từ): Không có gì thêm hoặc khác Vd: Chỉ một mình Thức ăn chỉ toàn cá NHÂN 1 (DT): Bộ phận bên trong của hạt, bánh và một số vật Vd: Nhân bánh Nhân tế bào

NHÂN 2 (DT):Lòn

g thương người.

Vd: ăn ở có nhân,

có đức.

NHÂN 3 (ĐT): Một

trong bốn pháp tính cơ bản nhằm tìm tích các số.

Vd: Hai nhân với hai là bốn

NHÂN 4 (QHT):

Chỉ hoàn cảnh thuận tiện, phù

hợp.

Vd: Nhân ngày sinh nhật bạn, mình tặng bạn bó

Trang 10

Vd: Ngựa phi nước đại.

PHI 3 (ĐT):

Phóng mạnh vũ khí có đầu nhọn.

Vd: Phi đao, phi kiếm

PHI 4 (ĐT): Rán

(chiên) hành, tỏicho thơm

Vd: Phi tỏi để xào rau muống.

SẮC 3 (ĐT): Làm

dược liệu ra hết chất thuốc.

Vd: Sắc thuốc nam, sắc thuốc bắc.

SẮC 4 (TT):Dễ làm

đứt vật khác.

Vd: Dao sắc Kéo sắc Cưa sắc

SAO 3 (ĐT): Tạo

ra nhiều bản mới giống như bản gốc.

Vd: Sao đúng nguyên văn.

SAO 4 (Đại từ): Từ

dùng để hỏi về vật

gì hoặc như thế nào.

Vd: Sao bạn không đi học?

Tiết 20,21: Cô bé bán diêm ( Ngữ văn 8) Sau khi phân tích truyện và đi

đến những kết luận ở phần Ghi nhớ, giáo viên tổ chức cho HS thảo luận nhóm:

? Hình dung lại câu chuyện, theo em những ngọn lửa diêm được miêu tảtrong truyện có ý nghĩa gì ? Điền vào phiếu học tập những ý nghĩa có thể chấpnhận được

- Tượng trưng cho khát vọng ấm no, hạnh phúc của cô bé.

- Tượng trưng cho cuộc đời ngắn ngủi của cô bé.

-Tượng trưng cho chiếc cầu nối giữa một bên là hiện thực khổ đau đói rét với một bên là ước mơ hạnh phúc của cô bé nói riêng và con người nói chung.

- Tượng trưng cho tinh thần nhân đạo của nhà văn.

Trang 11

Thông qua hoạt động thảo luận nhóm như vậy, HS nắm vững, khắc sâukiến thức bài học Đồng thời giúp các em rèn luyện và phát triển kỹ năng làmviệc và giao tiếp, tạo thói quen học hỏi lẫn nhau: phát huy vai trò trách nhiệm,tính tích cực trên cơ sở hợp tác Có như vậy mới dần xoá bỏ thói quen thụ động( ghi chép ) của các em.

Ví dụ: Tiết 103,104: Cô Tô, Ngữ văn 6: Khi dạy phần Mặt trời mọc trên biển Cô Tô , giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm, tìm hiểu những

hình ảnh so sánh bất ngờ mà tác giả đã sử dụng để miêu tả bức tranh bình minh trên biển Đây là cơ hội để HS sử dụng những kiến thức đã được tiếp nhận trong

bài trước về kỹ năng miêu tả, kết hợp với kiến thức mới nên đã khám phá đượcnhững hình ảnh : “Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết Tròn trĩnh phúchậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn”, “ Quả trứng hồng hào thămthẳm và đường bệ đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cáichân trời màu ngọc trai nước biển ửng hồng Y như một mâm lễ phẩm tiến ra từtrong bình minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lướitrên muôn thuở biển đông”; thể hiện được khả năng dùng từ độc đáo, sinh độngcủa nhà văn Nguyễn Tuân

Hoạt động nhóm cũng đồng thời giúp HS rèn luyện, phát triển kỹ nănglàm việc và giao tiếp, tạo điều kiện cho các em học hỏi lẫn nhau, làm tăng hiệuquả , nhất là lúc phải giải quyết vấn đề gay cấn cần tới sự phối hợp của các cánhân để hoàn thành nhiệm vụ chung

Hình thức dạy học theo nhóm góp phần hình thành và phát triển các mốiquan hệ qua lại trong HS, tạo ra bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫnnhau trong học tập

Tổ chức dạy học theo nhóm giúp HS nhút nhát, diễn đạt kém…có điềukiện rèn luyện tập dượt để dần dần khẳng định mình trong sự hấp dẫn của hoạtđộng nhóm

Trang 12

Khi dạy học theo nhóm giáo viên có dịp tận dụng các kinh nghiệm, sựsáng tạo của HS trong học tập.

2 CÁCH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO NHÓM.

Để thực hiện một tiết dạy học Ngữ văn có sử dụng hình thức hoạt độngnhóm, chúng ta hãy bắt đầu bằng cách chia lớp học thành các nhóm nhỏ ( 2,4,6em) Chúng ta cần phải biết cách chia nhóm, chọn kiểu nhóm nào để phù hợp vớiđiều kiện lớp bạn

Nhóm: Gồm 2 dến 6 em, tuỳ mục đích và yêu cầu của vấn đề học tập, cácnhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc lựa chọn chủ định, được duy trì ổn địnhhoặc thay đổi theo từng phần của tiết học, được giao nhiệm vụ cụ thể

Các nhóm lớn ( 6 em, tạo điều kiện cho các thành viên trong nhóm niềmtin lớn nhất về kết quả làm việc vì có nhiều khả năng tìm câu hỏi đúng) Vớí loạinhóm này, thu hút được nhiều ý kiến, nhiều kinh nghiệm và có khả năng hiểuđúng, hiểu nhanh chóng nhiệm vụ Tuy nhiên nhóm cũng có hạn chế là khó điđến quyết định thống nhất và giáo viên khó quản lí

Các nhóm nhỏ ( 2-4 em) các em có nhiều cơ hội để thể hiện ý kiến củamình, thống nhất ý kiến nhanh hơn và dễ quản lí hơn

*Cơ cấu nhóm:

Để nhóm hoạt động có hiệu quả, các thành viên phải biết rõ nhiệm vụ củamình, vì vậy phải phân công nhiệm vụ cho các em:

+ Trưởng nhóm: điều khiển hoạt động nhóm

+ Thư kí: ghi chép kết quả hoạt động của nhóm sau khi đã thống nhất

+ Báo cáo viên: Báo cáo kết quả làm việc của nhóm

+ Thành viên khác: có nhiệm vụ tham gia tích cực vào các hoạt động của nhóm Trong nhóm có học sinh phải thay nhau đóng vai của các thành viên trên Khi hoạt động nhóm các thành viên trên cần:

+ Hướng vào nhau ( ngồi thành vòng tròn hoặc xung quanh bàn )

Trang 13

+ Chăm chú lắng nghe người khác phát biểu.

+ Từng thành viên sẵn sàng đưa ra ý kiến của mình

+ Trao đổi, thảo luận để có ý kiến thống nhất

+ Tuân theo sự điều khiển của từng nhóm trưởng

+ Đảm bảo thời gian

* Cách chia nhóm

Trong giờ lên lớp, tuỳ theo mục tiêu của từng hoạt động GVcó thể chia nhómnhỏ có từ hai HS trở lên Việc chia nhóm nhiều hay ít HS là do GV yêu cầu vàquyết định

Sau đây là một số cách chia nhóm đang được giáo viên áp dụng:

- Gọi ngẫu nhiên: tuỳ theo mục đích chia nhóm giáo viên có thể chia nhómthích hợp ( từ số 1 đến số 6…rồi quay trở lại )

- Chỉ định: Giáo viên lần lượt đọc tên học sinh vào từng nhóm

- Chia nhóm biểu tượng: GV có thể dùng các biểu tượng: hình tam giác, hoa hồng, các loại qủa, tên các anh hùng …để chia nhóm Các em có cùng biểutượng vào một nhóm để tạo ra sự ngẫu nhiên và thoải mái cho học sinh

- Chia từng cặp: Giáo viên chỉ định hai học sinh ngồi gần nhau làm việc.Cách này thường diễn ra ngay sau khi học sinh làm việc cá nhân

Ví dụ: Dạy tiết 49: Tổng kết từ vựng, Ngữ văn 9 : Gv cho HS vẽ sơ đồ

cấu tạo từ tiếng Việt và nhận xét sơ đồ này?

Giáo viên chia 4 em một nhóm, yêu cầu các nhóm vẽ sơ đồ và nhận xét,các nhóm báo cáo kết quả

GV bổ sung, nhận xét từng nhóm

* Xuất hiện nhiều kiểu nhóm gồm:

- Nhóm nhiều trình độ ( trong đó có học sinh giỏi, khá, Tb, yếu)

- Nhóm cùng trình độ ( gồm các em có cùng khả năng học tập như nhau)

Trang 14

- Nhóm tình bạn (gồm các em kết bạn với nhau, không phụ thuộc vào lựchọc).

- Nhóm cùng sở thích ( gồm các em có cùng sở thích )

- Nhóm cùng nhu cầu học tập

Trong các kiểu nhóm trên kiểu 1 và kiểu 2 được sử dụng nhiều hơn

Hoạt động nhóm chỉ có ý nghĩa và tác dụng thiết thực khi nhóm hoạt động

có hiệu quả Tính hiệu quả của nhóm trong dạy học là thước đo chất lượng củahình thức dạy học theo nhóm

Muốn nhóm hoạt động có hiệu quả tốt cần có những điều kiện thiết yếu sau: Các thành viên trong nhóm đều hiểu biết công việc của nhóm và của bảnthân; cùng hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau và có trách nhiệm với công việc chung Chọn kiểu nhóm phù hợp với yêu cầu thảo luận

Mọi thành viên tích cực tham gia các hoạt động nhóm và sẵn sàng đưa ra ýkiến của mình, cùng tranh luận, trao đổi một cách thoải mái trước khi đi đếnthống nhất ý kiến chung của toàn nhóm, tránh trường hợp chỉ có trưởng nhóm vàthư kí hoạt động của từng nhóm Thu nhận thông tin phản hồi để kịp thời điềuchỉnh, bổ sung kế hoạch tổ chức các hoạt động của mình có hiệu quả

Tạo bầu không khí vui vẻ, cởi mở thoải mái trong học tập, giúp các em tựtin hơn trong thảo luận

Ví dụ: Ngữ văn 9, Tiết 16,17: “Chuyện người con gái Nam Xương” của

Nguyễn Dữ: Những giá trị về nội dung và nghệ thuật của chi tiết cái bóng ?

Sau khi đại diện của các nhóm trình bày các phương án trả lời của nhómmình, GV sẽ chỉ cho các em thấy rõ:

- Giá trị nội dung:

+ Tô đậm thêm nét đẹp phẩm chất của Vũ Nương trong vai trò làm vợ, làm mẹ + Là ẩn dụ cho số phận mỏng manh của người phụ nữ trong chế độ phong kiếnnam quyền

Trang 15

+ Xuất hiện ở cuối tác phẩm: khắc hoạ giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo củatác phẩm: Một khi đã đánh mất niềm tin, hạnh phúc chỉ là một cái bóng hư ảo.

- Giá trị nghệ thuật:

+ Tạo nên nghệ thuật thắt nút, mở nút để tạo mâu thuẫn bất ngờ và hợp lí chocốt truyện; tạo sự hoàn chỉnh, chặt chẽ cho cốt truyện

+ Tạo kịch tính, tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện

+ Tạo nên vẻ đẹp lung linh cho tác phẩm với một klết thúc tưởng như có hậunhưng lại càng nhấn mạnh hơn bi kịch của người phụ nữ

Tiết 121, Ngữ văn 9; “Sang thu” của Hữu Thỉnh: Bài thơ có gì đặc biệt về

giọng điệu và cách ngắt nhịp? Cần phải đọc bài thơ như thế nào để thể hiện đượcgiọng điệu và cách ngắt nhịp ấy?

Với câu hỏi này, HS sẽ bước đầu chỉ ra được sự đặc biệt trong giọng điệu

và cách ngắt nhịp của bài thơ:Tiết tấu chậm rãi, giọng điệu nhẹ nhàng và cónhững câu đọc liền không ngắt nhịp Qua đó, GV sẽ nêu yêu cầu: Cần đọc bàithơ với giọng điệu nhẹ nhàng, trầm lắng, thoáng chút suy tư

Tiết 58, Ngữ văn 9, “Ánh trăng” của Nguyễn Duy: Phần củng cố: Bài thơ

có nhan đề là “Ánh trăng” trong khi đó xuyên suốt các khổ thơ tác giả đều dùng

từ “vầng trăng”, chỉ có câu cuối cùng là sử dụng “ánh trăng`” Vì sao như vậy ? Với câu hỏi thảo luận này, Gv sẽ “có cớ” để chốt lại ý cả toàn bài thơ vớimột lời bình ấn tượng: Vầng trăng là biểu tượng của cuộc sống đẹp, “ánh trăng”

là ánh sáng của sự nhắc nhở về lẽ sống Bài thơ có tên là “ánh trăng” nhưng ởcác khổ thơ trên tác giả đều viết “vầng trăng”, chỉ đến khổ cuối mới xuất hiện từ

“vầng trăng” “Ánh trăng” chính là sự quy tụ, kết tinh đẹp nhất của vầng trăng,tạo nên chiều sâu tư tưởng của bài thơ, đồng thời nâng vẻ đẹp của bài thơ lên đếnđỉnh điểm

Tiết 23: “Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh” của Phạm Đình Hổ, Ngữ văn 9

Ngày đăng: 30/10/2016, 16:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w