1.Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, cho vay tiêu dùng đã trở thành mục tiêu của nhiều tổ chức tín dụng, nhất là các tổ chức tín dụng ngoài nhà nước. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đời sống của nhân dân đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu chi tiêu phục vụ đời sống ngày càng cao, đó là điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng nói chung, lĩnh vực cho vay tiêu dùng nói riêng phát triển. Các sản phẩm ,dịch vụ tiêu dùng ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng . Tuy nhiên, không phải lúc nào người tiêu dùng cũng có thể chi trả cho tất cả các nhu cầu mua sắm cùng lúc, đặc biệt là những vật dụng đắt tiền. Nếu người tiêu dùng vay được tiền từ ngân hàng thì họ có thể thoã mãn nhu cầu tiêu dùng của mình trước khi họ có đủ khả năng thanh toán cho nhu cầu đó. Điều đó làm tăng sự tiêu dùng hàng hoá ,thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tạo nhiều công việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của toàn xã hội một cách nhanh chóng. Thực hiện hoạt động cho vay tiêu dùng, một mặt có thể thực hiện tốt nhiệm vụ kích cầu cho nền kinh tế, tạo nên sự hoà hợp giữa Cung & Cầu tiêu dùng. Mặt khác, nó còn đem lại những khoản lợi nhuận lớn cho ngân hàng. Chính vì vậy, Cho vay tiêu dùng được xem là một hướng đi, một lĩnh vực kinh doanh đầy triển vọng cho các NHTM Việt Nam. Với tư cách là một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế,các ngân hàng phải làm gì để đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng cùng với nó là việc đảm bảo an toàn ,hiệu quả từ đó tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng và đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế và của toàn xã hội. Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hàng Trống, Hà Nội đã xác định hướng đi và đang trong bước đầu của quá trình thực hiện: chiến lược ngân hàng bán lẻ. Trong đó, cho vay tiêu dùng là xu thế tất yếu để ngân hàng chiếm lĩnh thị trường, tiến tới một ngân hàng bán lẻ hiện đại. Xuất phát từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn cùng với những kiến thức bản thân thu được trong quá trình tìm hiểu, tôi đã chọn vấn đề: “ Mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hàng Trống, Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiện cứu đề tài: Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu đề xuất phương hướng và những giải pháp để mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hàng Trống, Hà Nội Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài có các nhiệm vụ sau: + Hệ thống hoá lí luận về cho vay tiêu dùng ở các ngân hàng thương mại và kinh nghiệm của một số ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế về vấn đề này. + Phân tích đánh giá thực trạng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hàng Trống, Hà Nội cả khía cạnh kết quả và hạn chế. + Kiến nghị phương hướng và các giải pháp có thể áp dụng vào thực tiễn để mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hàng Trống, Hà Nội Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn về cho vay tiêu dùng ở Ngân hàng thương mại. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi không gian: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hàng Trống, Hà Nội Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng từ năm 2012 -2014 và kiến nghị đến năm 2020. 5. Phương pháp nghiên cứu -Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp sơ đồ, biểu đồ, hình vẽ và các phương pháp nghiên cứu kinh tế khác. - Nguồn dữ liệu: luận văn sử dụng các nguồn dữ liệu thứ cấp qua báo cáo của Ngân hàng và cơ quan thống kê. 6. Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương với nội dung cụ thể sau: Chương 1: Một số nội dung lý luận cơ bản về cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Thương mại. Chương 2: Thực trạng về cho vay tiêu dung tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội, Chi Nhánh Hàng trống, Hà nội giai đoạn năm( 2011-2013) Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội, Chi Nhánh Hàng trống, Hà nội.
Trang 1Giảng viên hướng dẫn : Phạm Thị Vân Anh
HÀ NỘI - 2015
Trang 2sâu sắc đến Ban giám hiệu Trường Đại Học Công Nghiệp Việt Hung và đặc biệt
là cô giáo Phạm Thị Vân Anh đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo em rất nhiều trong thời gian thực hiện khóa luận này Em xin cũng xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị, cô chú trong phòng tài chính - kế toán của Trung tâm tư vấn khoa học công nghệ, đào tạo và xuất nhập khẩu – Tổng công ty xây dựng Hà Nội đã tận tính giúp đỡ, tạo cơ hội cho em hoàn thành báo cáo của mình
Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng song thời gian được tiếp xúc thực tế có hạn cũng như nhận thức và trình độ còn hạn chế nên chắc không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy em rất mong những ý kiến đóng góp của Cô giáo cũng như tập thể Công ty để em có điều kiện bổ sung, nâng cao kiến thức của mình, phục vụ tốt hơn việc tìm hiểu , nghiên cứu chuyên môn của mình sau này
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn "mở rộng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP
Sài Gòn- Hà nội, Chi nhánh Hàng trống- Hà nội " là công trình nghiên cứu của
Trang 4CH ƯƠ NG 1 4
M T S N I DUNG LÝ LU N C B N V CHO VAY TIÊU D NG C A Ộ Ố Ộ Ậ Ơ Ả Ề Ù Ủ NGÂN HÀNG TH ƯƠ NG M I Ạ 4
Trang 5CH ƯƠ NG 1 4
M T S N I DUNG LÝ LU N C B N V CHO VAY TIÊU D NG C A Ộ Ố Ộ Ậ Ơ Ả Ề Ù Ủ NGÂN HÀNG TH ƯƠ NG M I Ạ 4
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cho vay tiêu dùng đã trở thành mục tiêu của nhiều
tổ chức tín dụng, nhất là các tổ chức tín dụng ngoài nhà nước Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đời sống của nhân dân đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu chi tiêu phục vụ đời sống ngày càng cao, đó là điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng nói chung, lĩnh vực cho vay tiêu dùng nói riêng phát triển Các sản phẩm ,dịch vụ tiêu dùng ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng Tuy nhiên, không phải lúc nào người tiêu dùng cũng có thể chi trả cho tất cả các nhu cầu mua sắm cùng lúc, đặc biệt là những vật dụng đắt tiền Nếu người tiêu dùng vay được tiền từ ngân hàng thì họ có thể thoã mãn nhu cầu tiêu dùng của mình trước khi họ có đủ khả năng thanh toán cho nhu cầu đó Điều
đó làm tăng sự tiêu dùng hàng hoá ,thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tạo nhiều công việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của toàn xã hội một cách nhanh chóng Thực hiện hoạt động cho vay tiêu dùng, một mặt có thể thực hiện tốt nhiệm vụ kích cầu cho nền kinh tế, tạo nên sự hoà hợp giữa Cung & Cầu tiêu dùng Mặt khác, nó còn đem lại những khoản lợi nhuận lớn cho ngân hàng Chính vì vậy, Cho vay tiêu dùng được xem là một hướng đi, một lĩnh vực kinh doanh đầy triển vọng cho các NHTM Việt Nam.Với tư cách là một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế,các ngân hàng phải làm gì để đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng cùng với nó
là việc đảm bảo an toàn ,hiệu quả từ đó tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng và đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế và của toàn xã hội
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hàng Trống, Hà Nội đã xác định hướng đi và đang trong bước đầu của quá trình thực hiện: chiến lược ngân hàng bán lẻ Trong đó, cho vay tiêu dùng là xu thế tất yếu để ngân hàng chiếm lĩnh thị trường, tiến tới một ngân hàng bán lẻ hiện đại
Trang 7Xuất phát từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn cùng với những kiến thức bản
thân thu được trong quá trình tìm hiểu, tôi đã chọn vấn đề: “ Mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hàng Trống, Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiện cứu đề tài:
Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu đề xuất phương hướng và những giải pháp để mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn –
Hà Nội, chi nhánh Hàng Trống, Hà Nội
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài có các nhiệm
vụ sau:
+ Hệ thống hoá lí luận về cho vay tiêu dùng ở các ngân hàng thương mại và kinh nghiệm của một số ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế về vấn đề này
+ Phân tích đánh giá thực trạng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hàng Trống, Hà Nội cả khía cạnh kết quả và hạn chế
+ Kiến nghị phương hướng và các giải pháp có thể áp dụng vào thực tiễn để
mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Hàng Trống, Hà Nội
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn về cho vay tiêu dùng ở Ngân hàng thương mại
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp sơ đồ, biểu đồ, hình vẽ và các phương pháp nghiên cứu kinh tế khác
- Nguồn dữ liệu: luận văn sử dụng các nguồn dữ liệu thứ cấp qua báo cáo của Ngân hàng và cơ quan thống kê
6 Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, phụ lục, luận
Trang 8văn được kết cấu thành 3 chương với nội dung cụ thể sau:
Chương 1: Một số nội dung lý luận cơ bản về cho vay tiêu dùng của Ngân
hàng Thương mại
Chương 2: Thực trạng về cho vay tiêu dung tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn-
Hà Nội, Chi Nhánh Hàng trống, Hà nội giai đoạn năm( 2011-2013)
Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Sài
Gòn- Hà Nội, Chi Nhánh Hàng trống, Hà nội.
Trang 9CHƯƠNG 1 MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU
DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Thương mại
1.1.1 Khái niệm về cho vay tiêu dùng
Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, thực hiện chức năng chủ yếu là tạo vốn và cung ứng vốn cho nền kinh tế Hoạt động cơ bản của ngân hàng là huy động vốn, cho vay và đầu
tư, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng
Cho vay là một trong những hoạt động truyền thống của ngân hàng Cho vay
có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Căn cứ vào phương thức cho vay, gồm có: cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp, cho vay thấu chi và cho vay gián tiếp Căn cứ vào thời hạn cho vay, gồm có: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn Căn cứ vào TSBĐ, gồm có: cho vay có TSBĐ và cho vay không có TSBĐ Căn
cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, gồm có: cho vay sản xuất kinh doanh và cho vay tiêu dùng
Khi nền kinh tế phát triển, mức sống của người dân được nâng cao nên họ
có nhu cầu vay tiêu dùng ngày càng lớn Bên cạnh đó, cho vay tiêu dùng cũng đem lại nguồn lợi nhuận cao cho ngân hàng nên hiện nay các ngân hàng trong nước và thế giới đều phát triển hoạt động này
Như vậy, có thể hiểu: Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ
cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng bao gồm cá nhân và hộ gia đình Đây là một nguồn tài chính quan trọng nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền như nhà ở, đồ dùng gia đình, phương tiện vận chuyển, nhu cầu du lịch, giáo dục, y tế…
Trang 101.1.2.Đặc điểm cho vay tiêu dùng
mà nhu cầu tiêu dùng cũng cao hơn
1.1.2.2- Về quy mô
Do cho vay tiêu dùng là khoản cho vay cấp cho các cá nhân, hộ gia đình không phải sử dụng cho mục đích kinh doanh nên nó thường là các khoản vay có giá trị không lớn thậm chí còn rất nhỏ Giá trị này được xác định trên cơ sở giá cả hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng đang có nhu cầu tiêu dùng trong khi giá trị những thứ này thường không quá lớn Hơn nữa, phần lớn khách hàng vay tiêu dùng đều đã có sự tích lũy từ trước, ngân hàng chỉ là người hỗ trợ cho việc mua sản phẩm được dễ dàng hơn khi tích lũy là chưa đủ vì thế quy mô đối với mỗi khoản vay thường là nhỏ
Tuy nhiên với số lượng khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng lớn và vì thế tổng quy mô cho vay lớn Đây cũng là xu thế phổ biến, trong hướng xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng trở nên đa dạng dẫn đến số lượng cho vay tiêu dùng sẽ rất lớn
1.1.2.3- Về lãi suất
Các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất cao,”cứng nhắc”, và nhu cầu vay kém nhạy cảm với lãi suất Điều đó có nghĩa là nó đủ để bù đắp chi phí huy động vốn của ngân hàng, không như hầu hết các khoản cho vay kinh doanh hiện nay với lãi suất thay đổi theo thị trường, lãi suất cho vay tiêu dùng thường là ấn định
Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kì Nó tăng lên trong thời kì nền kinh tế rộng mở, khi mà mọi người dân cảm thấy lạc quan về tương lai Ngược lại
Trang 11khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, rất nhiều cá nhân và họ gia đình cảm thấy không tin tưởng nhất là khi họ thấy tình trạng thất nghiệp tăng lên và họ sẽ hạn chế việc vay mượn từ ngân hàng Khi vay tiền, người tiêu dùng dường như kém nhạy cảm với lãi suất.
Người tiêu dùng thường quan tâm đến khoản tiền họ phải trả hàng tháng hơn là lãi suất của khoản vay Bên cạnh đó mức thu nhập và trình độ dân trí cũng tác động rất lớn đến việc sử dụng các khoản cho vay tiêu dùng Những người có thu nhập cao có xu hướng vay nhiều hơn so với thu nhập hàng năm mà mình có được Những gia đình mà người chủ gia đình hay người tạo thu nhập chính có trình độ, có học vấn cao thì việc vay mượn là một công cụ để đạt được mức sống như mong muốn
Ngân hàng có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định mức lãi suất thực tế đối với cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng Song phần lớn lãi suất được xác định dựa trên lãi suất cơ bản cộng phần lợi nhuận cận biên và phần bù đắp rủi
ro, có thể đưa ra công thức tính tổng quát như sau:
Lãi suất cho vay tiêu dùng= Chi phí huy động vốn + Rủi ro tổn thất dự kiến + Phần bù kỳ hạn với các khoản cho vay dài hạn+ Lợi nhuận cận biên
Hiện nay, mỗi ngân hàng thương mại có những phương pháp tính lãi riêng, song nhìn chung, tập trung vào những phương pháp như: Phương pháp lãi đơn, phương pháp lãi gộp, phương pháp tỷ lệ chiết khấu, phương pháp lãi suất biến đổi…
1.1.2.4- Về lợi nhuận
Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng cao: Do rủi ro và chi phí cao nên ngân hàng thường đặt mức lãi suất cao đối với các khoản cho vay tiêu dùng Lãi suất cho vay
tiêu dùng phải đáp ứng được phần lợi nhuận mong đợi và phần bù rủi ro.
1.1.3- Vai trò của cho vay tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường
- Đối với các ngân hàng thương mại
Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế hội nhập, các ngân
Trang 12hàng thương mại muốn hoạt động một cách có hiệu quả, có lợi nhuận, có thể tồn tại
và phát triển đòi hỏi mỗi ngân hàng phải có một chiến lược kinh doanh riêng, phải cạnh tranh với nhau để giành thị phần cho mình Chính vì vậy, nếu ngân hàng nào chỉ chú trọng đến nhóm khách hàng là doanh nghiệp mà không để ý đến những khách hàng cá nhân thì đối tượng khách hàng sẽ rất hạn chế Do đó hình thức cho vay tiêu dùng giúp các ngân hàng mở rộng đối tượng khách hàng, quan hệ với nhiều khách hàng hơn, phát triển khả năng huy động vốn các loại tiền gửi cho ngân hàng đồng thời đa dạng hóa sản phẩm, giảm thiểu rủi ro… từ đó làm tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng
- Đối với người tiêu dùng
Nhu cầu tiêu dùng đối với mỗi người là tất yếu, và đương nhiên không phải ai cũng có thể tự đáp ứng được nhu cầu của mình bằng chính thu nhập của mình Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng ra đời giúp cho người dân có thể kết hợp nhu cầu hiện đại và khả năng thanh toán trong tương lai, thỏa mãn được nhiều hơn những nhu cầu của mình trước khi có khả năng chi trả và đặc biệt quan trọng trong những trường hợp cấp bách, như chi tiêu cho giáo dục hay y tế…Cho vay tiêu dùng làm cho chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao
- Đối với nhà sản xuất
Cho vay tiêu dùng giúp kích cầu tiêu dùng của nền kinh tế, kích thích người tiêu dùng mua sắm nhiều hàng hóa, giúp nhà sản xuất bán được nhiều sản phẩm, tăng khả năng quay vòng vốn, từ đó góp phần mở rộng sản xuất, gia tăng lợi nhuận.Ngoài ra, cho vay tiêu dùng cũng tạo điều kiện cho nhà sản xuất mở rộng mối quan hệ hợp tác với các ngân hàng để bán được nhiều sản phẩm hơn
- Đối với nền kinh tế
Thứ nhất, cho vay tiêu dùng giúp người dân được hưởng các tiện ích trước khi tích luỹ đủ tiền, nhất là trong những trường hợp chi tiêu có tính cấp bách như chi tiêu cho giáo dục, y tế Như vây cho vay tiêu dùng không chỉ mang lại lợi ích cho
Trang 13người tiêu dùng mà còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế
Thứ hai, cho vay tiêu dùng có vai trò quan trọng trong việc kích cầu, góp phần vào việc xây dựng nền tài chính vững mạnh cho một quốc gia Thị trường cho vay tiêu dùng đã góp phần tạo nên sự sôi động của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo nguồn vốn cho khu vực sản xuất trong nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, từ đó tăng GDP cho nền kinh tế Đi đôi với nó là hàng loạt các vấn đề xã hội được giải quyết như tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp
họ cải thiện mức sống, giảm tệ nạn xã hội…
Thứ ba, cho vay tiêu dùng còn góp phần làm giảm chi phí giao dịch xã hội thông qua việc tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân hàng và khách hàng
Tóm lại, cho vay tiêu dùng mang lại lợi ích cho cả người tiêu dùng, người sản
xuất, ngân hàng thương mại hay tổng quan nền kinh tế nói chung Có thể nói, phát triển cho vay tiêu dùng là một hướng đi phù hợp với sự phát triển của xã hội và tuân theo quy luật kinh tế của các ngân hàng thương mại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
1.1.4- Phân loại cho vay tiêu dùng
Có nhiều hình thức phân loại cho vay tiêu dùng, trong đó có một số cách phân loại chủ yếu như sau:
1.1.4.1 Căn cứ vào mục đích vay
• Cho vay bất động sản: là các khoản cho vay nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu mua mới, cải tạo, xây dựng nhà ở hoặc đất đai của các cá nhân hoặc hộ gia đình Quy mô của mỗi khoản vay bất động sản thường lớn hơn khoản vay tiêu dùng thông thường, tuy nhiên có kỳ hạn dài hơn và độ rủi ro cao hơn
Cho vay mua ô tô: là các khoản cho vay nhằm mục đích phục vụ nhu cầu đi lại của cá nhân hoặc hộ gia đình
Cho vay du học: là các khoản cho vay đối với cá nhân người đi du học hoặc thân nhân của người đi du học nhằm đáp ứng nhu cầu trang trải các chi phí của du
Trang 14học sinh ở trong hoặc ngoài nước.
Cho vay đối với người đi làm việc ở nước ngoài: là các khoản cho vay đối với người lao động, chuyên gia… đi làm việc ở nước ngoài
Cho vay tiêu dùng khác: là các khoản cho vay nhằm mục đích tài trợ cho nhu cầu khác như chữa bệnh, đi du lịch, mua sắm vật dụng gia đình…
Trong từng thời kỳ, mỗi ngân hàng sẽ đưa ra những sản phẩm cho vay tiêu dùng khác nhau Nếu ngân hàng nào có chính sách cho vay tiêu dùng phù hợp, linh hoạt sẽ thu hút được nhiều đối tượng khách hàng, từ đó góp phần mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng
1.1.4.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ
• Cho vay tiêu dùng trả góp: là các khoản vay được thanh toán nợ (gồm cả gốc
và lãi) làm nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định (thường theo tháng hoặc theo quý) Hình thức này chủ yếu đáp ứng cho nhu cầu mua sắm hàng lâu bền hoặc có giá trị lớn như mua nhà, mua ô tô…
Hình thức này giúp ngân hàng có khả năng thanh toán đều đặn và phù hợp với những khách hàng có thu nhập ổn định và đều đặn Việc thu nợ có thể thực hiện theo hai phương pháp: phương pháp thu nợ gốc đều đặn mỗi kỳ và lãi vay được tính theo nợ gốc còn lại đầu mỗi kỳ; phương pháp thu nợ trong số tiền lãi và gốc được thu đều đặn mỗi kỳ
• Cho vay tiêu dùng trả một lần: là các khoản vay có giá trị nhỏ, ngắn hạn nhằm thỏa mãn nhu cầu tiền mặt tức thời, và khách hàng chỉ phải thanh toán một lần cho ngân hàng khi khoản vay đáo hạn Các khoản vay này phần lớn đáp ứng cho nhu cầu mua đồ gia dụng, đi du lịch, chữa bệnh…
• Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: là các khoản vay mà ngân hàng cho phép khách hàng vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng nhất định bằng cách sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai
Mỗi thẻ tín dụng có một hạn mức tín dụng nhất định và mức này có thể thay
Trang 15đổi phụ thuộc vào nhu cầu và độ tín nhiệm của khách hàng Ưu điểm của thẻ tín dụng là: được sử dụng thanh toán thay cho tiền mặt, séc; gọn nhẹ; có thể sử dụng để rút tiền hoặc chuyển khoản; phạm vi hoạt động rộng Tuy nhiên, thẻ tín dụng có nhược điểm là: chủ yếu sử dụng thanh toán cho các khoản tiêu dùng có giá trị nhỏ; rủi ro nếu bị mất cắp, đánh rơi và lộ mã thẻ.
Phương thức thấu chi gắn liền với tài khoản vãng lai và người đi vay dùng phương tiện chủ yếu là thẻ thanh toán
Căn cứ vào chính sách cho vay tiêu dùng chung và thu nhập cũng như hoạt động kinh doanh của khách hàng mà ngân hàng có cách thức thu nợ phù hợp để đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay và giúp khách hàng có khả năng trả nợ đầy đủ, đúng hạn, từ đó góp phần thu hút thêm nhiều khách hàng mới
1.1.4.3.Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ
• Cho vay tiêu dùng trực tiếp: là các khoản vay trong đó ngân hàng trực tiếp cho vay và cũng trực tiếp thu nợ từ người vay
Cho vay tiêu dùng trực tiếp được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ cho vay tiêu dùng trực tiếp
Trong đó:(1) Ngân hàng ký hợp đồng tín dụng với người tiêu dùng
(2) Người tiêu dùng trả trước một phần tiền mua hàng cho công ty bán lẻ.(3) Ngân hàng thanh toán số tiền mà người tiêu dùng còn thiếu cho công ty bán lẻ
(4) Công ty bán lẻ giao hàng cho người tiêu dùng
(1)
Trang 16(5) Người tiêu dùng thanh toán số tiền đã vay cho ngân hàng
Hình thức này giúp ngân hàng giảm được rủi ro do các khoản vay được thẩm định bởi cán bộ tín dụng ngân hàng là những người có trình độ chuyên môn và nhiều kinh nghiệm Trong khi cán bộ tín dụng ngân hàng thường chú trọng đến chất lượng khoản cho vay thì nhân viên của công ty bán lẻ lại quan tâm đến việc bán được nhiều hàng hay không Tuy nhiên, chi phí cho hoạt động này khá cao do giá trị khoản vay thường nhỏ
• Cho vay tiêu dùng gián tiếp: là các khoản vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng Đây là hình thức ngân hàng tài trợ cho các công ty bán lẻ hàng lâu bền, các công ty xây dựng để các công ty này bán hàng trả góp cho người tiêu dùng Cho vay tiêu dùng gián tiếp được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ cho vay tiêu dùng gián tiếp
Trong đó:
(1) Ngân hàng ký hợp đồng mua bán nợ với công ty bán lẻ
(2) Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký hợp đồng mua bán chịu hàng hóa Người tiêu dùng thường phải trả trước 20 - 30% giá trị hàng
(3) Công ty bán lẻ giao hàng cho người tiêu dùng
(4) Công ty bán lẻ bán toàn bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng.(5) Ngân hàng thanh toán số tiền mà người tiêu dùng còn thiếu cho công ty
bán lẻ Người tiêu dùng
(5) (4)
(2) (1)
(3) (6)
Trang 17Mỗi hình thức cho vay trên đều có ưu nhược điểm nhất định Để đảm bảo an toàn hoạt động, tạo mối quan hệ hợp tác tốt với các công ty bán lẻ và thu hút khách hàng thì ngân hàng cần đưa ra chính sách và quy trình cho vay tiêu dùng phù hợp, linh hoạt trong từng thời kỳ.
1.1.4.4 Căn cứ vào tài sản đảm bảo
•Cho vay tiêu dùng có TSBĐ: là các khoản vay mà khách hàng cầm cố hoặc thế chấp tài sản của mình để đảm bảo cho khoản vay TSBĐ là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu nợ dự phòng khi nguồn thu chính của khách hàng thiếu hụt, tạo áp lực buộc khách hàng phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng
•Cho vay tiêu dùng không có TSBĐ: là các khoản vay không có tài sản cầm
cố hay thế chấp của khách hàng mà chủ yếu dựa vào mối quan hệ và uy tín của khách hàng
Đối với mỗi đối tượng khách hàng, ngân hàng cần có chính sách cho vay tiêu dùng phù hợp Với những khách hàng có quan hệ truyền thống, có uy tín tốt thì ngân hàng không yêu cầu TSBĐ; với những khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao, có giá trị lớn thì ngân hàng cần yêu cầu TSBĐ để hạn chế rủi ro khi tổn thất xảy ra Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động cho vay tiêu dùng,
Trang 18đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác.
1.2 Mở rộng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm mở rộng cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại càng ngày càng chứng tỏ được vai trò của mình và vì thế các ngân hàng càng ngày càng đi sâu vào lĩnh vực này để mở rộng và cho vay một cách có hiệu quả các khoản cho vay tiêu dùng
Khi nói về mở rộng cho vay tiêu dùng, ta cần phải xem xét việc mở rộng cả theo hai chiều hướng Thứ nhất là mở rộng cho vay tiêu dùng theo chiều rộng, nghĩa
là nâng qui mô, mở rộng về số lượng các hợp đồng cho vay, phương thức cho vay tiêu dùng sao cho đa dạng, phong phú Thứ hai là mở rộng theo chiều sâu, nghĩa là
số lượng phải đi kèm chất lượng Ngân hàng cần nâng cao chất lượng của từng sản phẩm cho vay tiêu dùng
Mở rộng cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại được thể hiện ở một số điểm chủ yếu sau:
+ Đối với khách hàng: Mở rộng cho vay tiêu dùng có nghĩa là phải thoả mãn được các nhu cầu hợp lý của khách hàng về khối lượng cung cấp, sự đa dạng hoá các hình thức cho vay tiêu dùng cũng như các dịch vụ kèm theo
+ Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Cho vay tiêu dùng phải góp phần chuyển dịch một khối lượng lớn các nguồn tài chính, trợ giúp ngân sách nhà nước cũng như tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần cải thiện đời sống dân cư
+ Đối với các ngân hàng thương mại: Cho vay tiêu dùng cần phải chiếm một khối lượng đáng kể trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng Tuy nhiên, bên cạnh việc mở rộng cho vay, ngân hàng cũng cần chú ý đến chất lượng của khoản vay, sao cho đảm bảo mở rộng gắn với cho vay tiêu dùng chất lượng cao
Mở rộng cho vay tiêu dùng là sự tăng lên cả về số lượng và chất lượng của các khoản vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại
Trang 191.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá về việc mở rộng cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Số lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng
Vì cho vay tiêu dùng có đặc điểm là quy mô khoản vay nhỏ, số lượng các khoản vay lớn nên để thu hút khách hàng, ngân hàng phải có khả năng cung cấp nhiều sản phẩm cho vay tiêu dùng khác nhau Mỗi sản phẩm cho vay tiêu dùng có tác dụng và có mục đích sử dụng riêng, nên khi ngân hàng có khả năng đa dạng hóa danh mục cho vay tiêu dùng chứng tỏ sự mở rộng trong hoạt động cho vay tiêu dùng và cho thấy ngân hàng đó có uy tín, đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của khách hàng
Do đó, đa dạng hóa danh mục cho vay tiêu dùng là mục tiêu của các ngân hàng trong quá trình mở rộng cho vay tiêu dùng Tuy nhiên, do đặc điểm là các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng dễ bị bắt chước và thay thế bởi những dịch vụ tốt hơn, nên ngân hàng cũng cần áp dụng những chính sách đi kèm, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, loại bỏ những sản phẩm không còn phù hợp và tập trung vào giai đoạn đầu của sản phẩm
1.2.2.2 Số lượng và đối tượng khách hàng cho vay tiêu dùng
Số lượng khách hàng sẽ quyết định việc duy trì, phát triển hay chấm dứt sự tồn tại của một sản phẩm hay dịch vụ ngân hàng Lượng khách hàng hiện tại và tiềm năng cho biết khả năng đáp ứng các nhu cầu đa dạng của ngân hàng Mặt khác, đặc điểm của cho vay tiêu dùng là số lượng khách hàng vay rất lớn Do vậy, nếu một ngân hàng có số lượng khách hàng vay tiêu dùng ngày càng tăng thì chứng tỏ hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng đó có uy tín và đang ngày càng mở rộng Những khách hàng này đồng thời là những kênh quảng cáo hữu hiệu để ngân hàng
mở rộng cho vay tiêu dùng hơn nữa
Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, mở cửa thị trường tài chính, thực hiện các cam kết trong khuôn khổ WTO hiện nay, các đối tượng khách hàng tham gia
Trang 20vay tiêu dùng cũng rất đa dạng, bao gồm nhiều trình độ, nghề nghiệp, tuổi tác… khác nhau Do đó, việc mở rộng đối tượng khách hàng cho vay tiêu dùng cả trong
và ngoài nước cũng là dấu hiện phản ánh khả năng cung cấp và mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng
1.2.2.3 Doanh số cho vay tiêu dùng
Doanh số cho vay tiêu dùng là tổng giá trị các khoản cho vay tiêu dùng phát sinh trong kỳ Doanh số cho vay tiêu dùng năm sau cao hơn năm trước (nếu kỳ là năm) thể hiện quy mô cho vay tiêu dùng tăng Do vậy, doanh số cho vay tiêu dùng thể hiện quy mô và tỷ trọng cho vay tiêu dùng của ngân hàng
Tốc độ tăng doanh số cho vay tiêu dùng qua các năm được thể hiện qua công thức sau:
Tốc độ tăng
doanh số CVTD
= Doanh số CVTD kỳ n - Doanh số CVTD kỳ (n-1) x 100%
Doanh số CVTD kỳ (n-1)1.2.2.4 Dư nợ cho vay tiêu dùng
Dư nợ cho vay tiêu dùng là tổng số tiền mà ngân hàng cho khách hàng vay tính đến một thời điểm cụ thể Đây là chỉ tiêu tích lũy qua các thời kỳ Chỉ tiêu dư
nợ cho vay tiêu dùng giúp cho lãnh đạo ngân hàng nắm bắt được thực trạng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng, để từ đó có những định hướng cụ thể cho năm tiếp theo Chỉ tiêu này được phân chia theo các tiêu thức: dư nợ cho vay tiêu dùng theo mục đích cho vay, dư nợ cho vay tiêu dùng theo đối tượng khách hàng, dư nợ cho vay tiêu dùng theo thời hạn, dư nợ cho vay tiêu dùng theo TSBĐ, dư nợ cho vay tiêu dùng theo loại tiền Do đó, thông qua chỉ tiêu dư nợ cho vay tiêu dùng có thể biết được những sản phẩm nào là thế mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay tiêu dùng của ngân hàng, khách hàng chủ yếu của ngân hàng là những đối tượng nào, dư nợ cho vay tiêu dùng của ngân hàng là ngắn, trung hay dài hạn…Bởi vậy, mở rộng cho vay tiêu dùng không chỉ là tăng doanh số cho vay tiêu dùng phát sinh trong năm mà còn là tăng dư nợ cho vay tiêu dùng, tăng dư nợ vào những sản phẩm cho vay là thế mạnh của ngân hàng, tăng dư nợ với những khách
Trang 21hàng truyền thống và tăng dư nợ những hợp đồng cho vay có tính an toàn và hiệu quả cao
Ngoài ra, ngân hàng cần xem xét đến mối tương quan giữa dư nợ cho vay tiêu dùng với tổng dư nợ cho vay vì nó phản ánh hiệu quả cho vay tiêu dùng qua các năm Đặc biệt cũng cần chú trọng đến tỷ lệ cho vay tiêu dùng có TSBĐ vì tỷ lệ này phản ánh chất lượng của khoản vay tiêu dùng, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro trong trường hợp khách hàng không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ
Tốc độ tăng dư nợ cho vay tiêu dùng qua các năm được thể hiện qua công thức sau:
Tốc độ tăng
dư nợ CVTD
= Dư nợ CVTD kỳ n - Dư nợ CVTD kỳ (n-1) x 100%
Dư nợ CVTD kỳ (n-1)1.2.2.5 Lợi nhuận cho vay tiêu dùng
Lợi nhuận cho vay tiêu dùng là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh trực tiếp khả năng sinh lời của hoạt động cho vay tiêu dùng, đóng góp của hoạt động cho vay tiêu dùng vào kết quả hoạt động cho vay và hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng Lợi nhuận cho vay tiêu dùng được xác định trên cơ sở doanh số cho vay tiêu dùng, lãi suất, phí và thời hạn cho vay tiêu dùng
Lợi nhuận cho vay tiêu dùng lớn và tăng trưởng đều đặn qua các năm thể hiện
sự mở rộng của hoạt động cho vay tiêu dùng và gián tiếp phản ánh chất lượng cho vay tiêu dùng đang dần được nâng cao
Khi so sánh mối quan hệ giữa lợi nhuận cho vay tiêu dùng với tổng lợi nhuận cho vay và với tổng lợi nhuận của ngân hàng, ta có các chỉ tiêu sau:
Trang 22ngân hàng nói chung.
1.2.2.6 Tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu trong cho vay tiêu dùng
Để mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng, ngân hàng không chỉ quan tâm đến số lượng và giá trị khoản vay mà còn phải quan tâm đến chất lượng khoản vay Do đó, ngân hàng phải xem xét đến tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu trong cho vay tiêu dùng
Nợ quá hạn phát sinh khi khoản vay đến hạn mà khách hàng không hoàn trả được toàn bộ hay một phần tiền gốc hoặc lãi vay Đây thường là biểu hiện yếu kém
về tài chính của khách hàng và là dấu hiện rủi ro tín dụng cho ngân hàng Tỷ lệ nợ quá hạn trong cho vay tiêu dùng được xác định theo công thức sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn trong CVTD
= Dư nợ quá hạn CVTD x 100%
Tổng dư nợ CVTD
Nợ xấu là nợ quá hạn thuộc nhóm 3, 4 và 5, gồm: nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không ở rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn Tỷ
lệ nợ xấu trong cho vay tiêu dùng được xác định theo công thức sau:
Tỷ lệ nợ xấu trong CVTD
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng cho vay tiêu dùng
1.3.1 Các nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan là các nhân tố thuộc về phía ngân hàng, nó có vai trò
Trang 23quyết định đến việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân của ngân hàng thương mại Trước ki quyết định có mở rộng cho vay tiêu dùng Cá nhân hay không các ngân hàng phải cân nhắc về những lợi ích mà hoạt động này mang lại.
Hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân cũng là một trong các hoạt động đem lại nhiều lợi ích cho các ngân hàng Khi nhận thức được những lợi ích mà hoạt động này đem lại Ngân hàng thường đưa ra những chiến lược, chính sách, phương hướng hoạt động cùng một số biện pháp cụ thể để mở rộng hoạt động cho vay này
Hơn nữa, khi quyết định lựa chọn hoạt động tài trợ mới các ngân hàng đều cân nhắc đến lợi nhuận dự tính mà hoạt động này đem lại so với một hoạt động tài trợ khác Với điều kiện các yếu tố khác không đổi các Ngân hàng muốn cung cấp một khoản vay có tỷ lệ thu nhập dự tính cao nhất sau khi đã trừ đi toàn bộ chi phí và một phần rủi ro cho vay Như vậy, một trong những điều kiện quan trọng quyết định việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân mà không đầu tư vào hoạt động khác là lợi nhuận dự tính từ hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân phải lớn hơn lợi nhuận dự tính từ hoạt động tài trợ khác
Trong đó, lợi nhuận dự tính từ hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân lại phụ thuộc vào yếu tố: Lãi từ cho vay tiêu dùng cá nhân và một số yếu tố khác như: chi phí thẩm định, chi phí cho vay, đồng thời ngăn ngừa và hạn chế rủi ro
Ngoài ra, lợi ích từ việc cho vay tiêu dùng cá nhân còn có tác động tích cực tới việc mở rộng các dịch vụ khác do số lượng khách hàng tăng lên, từ đó họ có thể sử dụng nhiều dịch vụ, từ đó ngân hàng sẽ thu được thêm câc loại phí dịch vụ
mà họ sử dụng
Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay các Ngân hàng không thể tự quyết định mức lãi suất cho vay tiêu dùng cá nhân mà phải phụ thuộc vào tình hình thị trường Như vậy, yếu tố quyết định đến lợi nhuận dự tính của hoạt động cho vay tiêu dùng
cá nhân là khả năng của các Ngân hàng trong việc giảm bớt các chi phí trong quá trình cho vay, đồng thời giảm thiểu rủi ro trong cho vay tiêu dùng cá nhân
Như vậy, các nhân tố tác động đến hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân như sau:
Trang 24- Hệ thống mạng lưới giao dịch của ngân hàng.
Mạng lưới giao dịch rộng lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân nói riêng Hệ thống mạng luới giao dịch của Ngân hàng càng phát triển rộng, Ngân hàng sẽ đáp ứng được tối đa nhu cầu của khách hàng Hơn nữa, khách hàng sẽ dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ của ngân hàng đồng thời Ngân hàng
có thể nắm bắt kịp thời các thông tin về khách hàng, các thông tin này sẽ hỗ trợ cho cán bộ tín dụng trong quá trình thẩm định khách hàng vay vốn
- Quy mô ngân hàng.
Quy mô Ngân hàng cũng ảnh hưởng trực tiêp đến việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân Đối với những ngân hàng có quy mô lớn thì hci phí huy động vốn sẽ thấp hơn những ngân hàng có quy mô nhỏ Chi phí huy động vốn thấp thì lãi suất cho vay cũng thấp làm tăng khả năng cạnh tran và thu hút được sự quan tâm của khách hàng hơn so với các Ngân hàng khác, chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay lớn sẽ tạo ra một khoản lợi nhuận lớn hơn Ngoài ra Ngân hàng có quy mô lớn sẽ tạo được uy tín đối với Khách hàng, nhờ tiềm lực tài chính mạnh mà Ngân hàn có điều kiện áp dụng khoa học công nghệ mới, giảm bớt chi phí nhân công nâng cao năng suất lao động đồng thời đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng khắt khe của Khách hàng
- Số lượng và trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng.
Để thành công trong công tác quản lý và kinh doanh thì việc quản lý và đào tạo một đội ngũ cán bộ cho vay có trình độ chuyên môn cao, phẩm chất đạo đức tốt, giàu kinh nghiệm luôn là mục tiêu phấn đấu của các ngân hàng Cán bộ cho cay có phẩm chất đạo đức tốt sẽ giảm thiểu các tiêu cực cũng như rủi ro cho các ngân hàn trong quá trình cho vay bởi họ không vì lợi ích cá nhân mà cho vay các đối tượng
có khả năng trả nợ kém Hơn nữa, một cán bộ cho vay giàu kinh nghiệm, giỏi chuyên môn có thể tiếp cận được các khách hàng tốt và thẩm định khách hàng một cách nhanh chóng khi tiến hành cho vay và hạn chế những rủi ro gây tổn thất cho
Trang 25Ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng Cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu rất lớn của các cá nhân, hộ kinh doanh cá thể, ngoài ra các món vay Cá nhân phát sinh thường xuyên với những khách hàng khác nhau, mục đích vay đa dạng Hơn nữa, do trình độ của Khách hàng thường hạn chế hơn so với khách hàng Doanh nghiệp nên đòi hỏi cán bộ tín dụng phải hướng dẫn thủ tục nhiều hơn Do đó, số lượng cán bộ tín dụng đủ để giải quyết các nhu cầu vay sẽ giúp cho hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân của Ngân hàng diễn ra nhanh chóng, giải phóng khách hàng nhanh dồng thời đảm bảo chất lượng món vay có hiệu quả cao
- Sản phẩm cho vay tiêu dùng Cá nhân đa dạng phong phú.
Muốn mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân có hiệu quả các Ngân hàng không những đáp ứng tốt về phong cách phục vụ, lãi suất cho vay thấp,…mà còn cần phải thiết kế được các sản phẩm cho vay phù hợp và đáp ứng được các yêu cầu cần thiết của khách hàng hiện tại cũng như Khách hàng tiềm năng trên thị trường Tuy nhiên, khả năng đáp ứng các sản phẩm của hoạt động cho vay tiêu dùng
Cá nhân đến đâu còn phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, công nghệ ngân hàng, chính sách hoạt động của ngân hàng đó
- Công nghệ ngân hàng hiện đại.
Công nghệ ngân hàng hiện đại và phù hợp sẽ giúp giảm bớt các chi phí phát sinh trong quá trình cho vay tiêu dùng Cá nhân, đồng thời giảm bớt thời gian đi lại cho khách hàng Ngoài ra, công nghệ ngân hàng hiện đại còn hỗ trợ cho việc triển khai nhân rộng loại hình cho vay tiêu dùng Cá nhân do khối lượng khách hàng lớn
và các sản phẩm mang tính tự động hóa cao như cho vay thấu chi, cho vay phát hành thẻ tín dụng
- Chính sách cho vay tiêu dùng Cá nhân của Ngân hàng.
Theo quy chế cho vay thì bất kỳ một cá nhân hay một tổ chức kinh tế nào phát sinh nhu cầu vay vốn tại ngân hàng đều phải đáp ứng một số điều kiện nhất định,
Trang 26cho vay tiêu dùng Cá nhân cũng không nằm ngoài quy chế này Thông qua các điều kiện, Ngân hàng có thể loại một số Khách hàng không đủ điều kiện vay Ngân hàn, những khách hàng không có khả năng trả nợ.
Nếu các điều kiện cho vay được nới lỏng hơn sẽ có nhiều Khách hàng được vay vốn đồng thời việc cho vay sẽ được mở rộng nhưng Ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn Do vậy, cùng với việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân ngân hàng cũng phải đảm bảo được các điều kiện cho vay phù hợp để lợi ích thu được từ việc cho vay đảm bảo hơn, đồng thời phải lớn hơn những tổn thất ngân hàng phải gánh chịu từ những khoản cho vay có chất lượng kém
1.3.2 Các nhân tố khách quan
- Các nhân tố thuộc về khách hàng.
Khách hàng luôn là nhân tố quyết định đến những thành công hay thất bại của một ngân hàng trong việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân Hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân có khả năng mở rộng hay không phụ thuộc vào quy mô
và khả năng tăng trưởng nhu cầu vay ngân hàng của khách hàng Như vậy, việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân tại các Ngân hàng càng có điều kiện thực hiện do nhu cầu của người dân đang ngày càng tăng cao, do đó nhu cầu vay ngày càng lớn, tuy nhiên nó còn phụ thuộc vào một số yếu tố sau:
+ Nhu cầu tiêu dùng của Khách hàng đối với những mặt hàng có giá trị cao, thời gian sử dụng lâu dài
Xã hội càng phát triển, thu nhập của người dân ngày càng cao và ổn định, họ không phải nghĩ đến ăn mặc mà họ hướng tới những mặt hàng có tính chất xa xỉ, hữu ích cho cuộc sống hàng ngày, cải thiện và nâng cao đời sống của họ Do vậy, tâm lý khách hàng có nhu cầu vay để tài trợ cho việc mua sắm những mặt hàng tiêu dùng có giá trị cao, mẫu mã hợp thời trang, giá trị sử dụng tương đối tốt thì để mua được các mặt hàng này Khách hàng không phải tích lũy trong một thời gian dài Do vậy, khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao thì hoạt động cho vay này cũng phát triển
+ Quy mô thu nhập thường xuyên của khách hàng
Trang 27Nguồn trả nợ của các khoản vay Cá nhân chủ yếu là từ nguồn thu nhập thường xuyên của Khách hàng sau khi trừ đi một phần để chi tiêu cuộc sống hàng ngày Thu nhập này có thể dưới dạng tiền lương, tiền công đối với những người đang ở độ tuổi lao động hoặc thu nhập từ hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể hoặc dưới dạng trợ cấp xã hội đới với những người đã về hưu Nhìn chung, thu nhập thường xuyên càng lớn khả năng trả nợ của khách hàng càng cao, nhờ đó việc mở rộng cho vay tiêu dùng Cá nhân càng thuận lợi, giảm rủi ro trong cho vay của Ngân hàng và đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn Theo các nhà kinh tế học vĩ mô: qui mô của các khoản thu nhập thường cuyên cùng với của cải tích lũy càng lớn thì khách hàng
có xu hướng lựa chọn tiêu dùng hơn tiết kiệm Như vậy qui mô thu nhập thường xuyên ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân của ngân hàng và khả năng trả nợ của khách hàng, ảnh hưởng đến quyết dịnh lựa chọn nên tiêu dùng hay tiết kiệm của khách hàng
Ngoài các nhân tố nêu trên, hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân còn bị chi phối bởi quan niệm và nhận thức của mỗi khách hàng cũng ảnh hưởng đến việc mở rộng cho vay tiêu dùng Cá nhân Các nước chậm phát triển người dân thường có quan niệm đi vay là biểu hiện của sự túng thiếu hơn là họ có nhu cầu tiêu dùng trước khi họ tích lũy đủ tiền Vấn đề này là một trong những trở ngại lớn trong việc
mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân của các Ngân hàng tại các nước có nền kinh tế chậm phát triển
- Các nhân tố môi trường
+ Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế và sự biến động của nó có thể tạo ra
cơ hội cũng như thách thức đối với Ngân hàng trong việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân
Đối với các nước có nền kinh tế phát triển, người dân có thu nhập tương đối
ổn định, mức sống luôn được đảm bảo ở mức cao, trong điều kiện đó người dân có nhu vầu nâng cao mức sống của mình Do vậy, nhu cầu vay tiêu dùng hoặc kinh doanh nhỏ lẻ là rất lớn, bởi khi đó, người ta có thể mua sắm hàng hóa trước khi họ
có thể tích lũy đủ tiền hoặc hỗ trợ trong việc đầu tư kinh doanh buôn bán của các hộ
Trang 28dân nhằm tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho bản thân và gia đình Như vậy, việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân không chỉ phát triển hoạt động cho vay nói chung của các ngân hàng thương mại mà còn khuyến khích nền kinh tế phát triển, kích thích tiêu dùng và hỗ trợ vốn đầu tư kinh doanh giúp tăng thu nhập đặc biệt trong thời kỳ nền kinh tế hưng thịnh Ngược lại, trong giai đoạn nền kinh tế đang bị suy thoái, lạm phát tăng cao, tình trạng thất nghiệp diễn ra khắp nơi thì người dân lại có tâm lý tiết kiệm và hạn chế đầu tư kinh doanh giảm thiểu rủi ro hơn
là tiêu dùng và đầu tư kinh doanh
+ Môi trường văn hóa xã hội: Môi trường văn hóa xã hội có ảnh hưởng rất lớn
đối với việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân bởi hành vi của người dân chính là sự phản án chính xác tác động của tập hợp các yếu tố văn hóa – xã hội như trình độ dân trí, thói quen, phong tục tập quán Các yếu tố này dường như là các yếu tố vô hình, tuy nhiên nó lại có tác động hết sức mạnh mẽ đến các tâm lý của người dân như:
Tập quán thói quen tiêu dùng và tiết kiệm: Theo một số thống kê cho thấy tỷ
lệ tiết kiệm của người dân Mỹ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng thu nhập khoảng 10%, vì thế mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân tại nước Mỹ sẽ thuận lợi Ngược lại, xã hội Nhật Bản người dân có thói quen tiết kiệm hơn là chi tiêu cho sinh hoạt, họ có xu hướng tiết kiệm với một tỷ lệ cao khoảng 30% thu nhập
Trình độ dân trí của Khách hàng vay: trình độ dân trí của Khách hàng vay ảnh
hưởng rất lớn đối với hoạt động cho vay Cá nhân của ngân hàng
Những người có trình độ dân trí cao thường là những người có việc làm ổn định và thu nhập cao Do đó, họ cũng có xu hướng vay dùng cho chi tiêu gia đình nhiều hơn là nhữn người có thu nhập thấp, mức độ nhận thức và hiểu biết của họ về các dịch vụ của ngân hàng tốt hơn những người có trình độ thấp Đồng thời họ cũng
có những nhận thức nhất định về các điều kiện khi vay vốn ngân hàng, đảm bảo trả
nợ ngân hàng đúng thời hạn cam kết
Như vậy, hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân trong Ngân hàng chịu sự tác
Trang 29động của rất nhiều yếu tố Tuy nhiên, nếu Ngân hàng có những biện pháp nhằm phát huy những nhân tố tích cực đồng thời hạn chế những nhân tố có tác động tiêu cực thì hoạt động cho vay tiêu dùng Cá nhân sẽ đáp ứng tốt các nhu cầu của khách hàng.
Trang 30TÓM TẮT CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHO VAY
TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Chương 1 là chương cơ sở lý luận trình bày các lý thuyết có liên quan đến cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại được kết cấu làm 3 phần như sau:
1.1 Tổng quan về cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Thương mại.
Cho vay tiêu dùng có thể được hiểu : là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng bao gồm cá nhân và hộ gia đình Đây là một nguồn tài chính quan trọng nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền như nhà ở, đồ dùng gia đình, phương tiện vận chuyển, nhu cầu du lịch, giáo dục, y tế…
Cho vay tiêu dùng có những đặc điểm như: khách hàng vay là các cá nhân và
hộ gia đình; số lượng các khoản vay thường rất lớn; quy mô khoản vay nhỏ; lãi suất
cao hơn lãi suất cho vay kinh doanh, Các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất
cao,”cứng nhắc”, và nhu cầu vay kém nhạy cảm với lãi suất; thường có độ rủi ro cao hơn cho vay kinh doanh; Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng cao
Cho vay tiêu dùng có vai trò quan trọng đối với ngân hàng, đối với người tiêu dùng, đối với nhà sản xuất cũng như đối với nền kinh tế
Có nhiều hình thức phân loại cho vay tiêu dùng Căn cứ vào mục đích cho vay gồm có: cho vay BĐS, cho vay tiêu dùng thông thường, cho vay mua ô tô, cho vay du học, cho vay đối với người đi làm việc ở nước ngoài, cho vay tiêu dùng khác Căn cứ vào phương thức hoàn trả gồm có: CVTD trả góp, CVTD trả một lần, CVTD tuần hoàn Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ gồm có: CVTD trực tiếp và CVTD gián tiếp Căn cứ vào tài sản đảm bảo gồm có: CVTD có TSĐB và CVTD không có TSĐB
1.2 Mở rộng cho vay tiêu dùng
Có nhiều quan niệm về mở rộng cho vay tiêu dùng, trong đó nó có thể được hiểu theo nghĩa sau: Mở rộng cho vay tiêu dùng là sự tăng lên cả về số lượng và chất lượng của các khoản vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại
Trang 31Để đánh giá sự mở rộng cho vay tiêu dùng của ngân hàng, có thể dựa vào các chỉ tiêu như: số lượng sản phẩm cho vay tiêu dùng, số lượng và đối tượng khách hàng cho vay tiêu dùng, doanh số cho vay tiêu dùng, dư nợ cho vay tiêu dùng, lợi nhuận cho vay tiêu dùng, tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu trong cho vay tiêu dùng.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng cho vay tiêu dùng
Nhân tố thuộc về ngân hàng là những nhân tố chủ quan nằm trong tầm kiểm soát của ngân hàng và ngân hàng có thể trực tiếp tác động lên chúng để nâng cao và
mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng bao gồm: chính sách cho vay tiêu dùng; quy trình cho vay tiêu dùng; trình độ công nghệ ngân hàng; quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng; trình độ nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của cán bộ ngân hàng; công tác thẩm định và kiểm tra, giám sát khách hàng
Nhân tố thuộc về khách hàng là một trong những nhân tố khách quan mà ngân hàng không thể kiểm soát được như: năng lực tài chính của khách hàng, tài sản bảo đảm của khách hàng, đạo đức của khách hàng
Nhân tố thuộc về nền kinh tế như chính sách kinh tế vĩ mô, hệ thống pháp luật,
hệ thống chính trị, nền văn hóa - xã hội cũng là một trong những nhân tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN -
HÀ NỘI CHI NHÁNH HÀNG TRỐNG,HÀ NỘI GIAI ĐOẠN NĂM (2012-2014) 2.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội, chi nhánh Hàng Trống, Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
2.2.1.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội ( viết tắt là SHB) tiền thân là Ngân hàng TMCP Nông Thôn Nhơn Ái được thành lập ngày 13/11/1993 tại Cần Thơ
Trang 32Năm 2006 Ngân hàng Nhà nước chấp thuận cho Ngân hàng TMCP Nông Thôn Nhơn Ái chuyển đổi mô hình hoạt động lên Ngân hàng TMCP Đô thị và đổi tên thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội.
Ngày 22/7/2008 Ngân hàng Nhà nước đã ký quyết định chấp thuận việc NH TMCP Sài Gòn-Hà Nội chuyển địa điểm đặt trụ sở chính từ Cần Thơ ra Hà Nội Ngày 09/9/2008, SHB đã long trọng tổ chức lễ khai trương trụ sở mới tại số 77 Trần Hưng Đạo quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Việc đặt trụ sở chính tại Hà Nội sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho SHB tiếp cận các cơ hội phát triển và nâng cao vị thế của mình khi đây là trung tâm kinh tế, tài chính, chính trị của cả nước và là nơi hội tụ nhiều tổ chức kinh tế tài chính hàng đầu trong và ngoài nước Đồng thời đây cũng là đánh dấu bước ngoặc mới của SHB từ sau chuyển đổi NH TMCP nông thôn lên đô thị, tạo một trong những bước tiến đầu tiên trở thành tập đoàn tài chính đa năng vào năm 2015
Vốn điều lệ ban đầu khi mới thành lập là 400 triệu đồng Sau đó do nhu cầu phát triển SHB tiếp tục tăng vốn điều lệ lên nhiều lần Năm 2010 SHB phát hành thành công 150 triệu cổ phiếu tăng vốn điều lệ lên 3.497,5tỷ đồng và chính thức triển khai hệ thống CoreBanking mới Intellect
- Năm 2011, SHB chuyển đổi thành công 1.500 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi
để nângvốn điều lệ lên 4.815,8 tỷ đồng
- Năm 2012 SHB đ thực hiện sáp nhập Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội (Habubank) đồngthời mở Chi nhánh nước ngoài tại Campuchia và Lào Đên hêt năm 2013 vốn điều lệ của SHB đã đạt con số 8865.8 tỷ đồng.Hội đồng quản trị đã lựa chọn chiến lược SHB sẽ là Ngân hàng bán lẻ đa năng hiện đại và tầm nhìn đến năm 2020 trở thành một tậpđoàn tài chính hiện đại, không ngừng phát triển và từng bước vươn ra hội nhập quốctế Để thực hiện mục tiêu này, SHB luôn hướng tới mở rộng thị trường và khách hàng,phát triển các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng bán lẻ, hiện đại nhằm đa dạng hóa cácsản phẩm dịch vụ theo hướng trọn gói, cao cấp và chuyên biệt, đón đầu xu thế chung của ngành tài chính Việt Nam và thế giới Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào công tác quản trị điều
Trang 33hành, phát triển sản phẩm dịch vụ vàquản trị rủi ro.
Chiến lược kinh doanh của SHB là chiến lược cạnh tranh bằng sự khác biệt nhằm tận dụng những cơ hội kinh doanh trên thị trường thông qua việc hoạch định chiến lược rõràng, lâu dài, chủ động công tác dự báo và điều chỉnh phù hợp cho từng giai đoạn Nềntảng công nghệ hiện đại, đội ngũ nhân sự trẻ, nhiệt huyết và chuyên nghiệp cùng vớisự đoàn kết trong quản trị và điều hành là nguồn lực tạo nên sức mạnh to lớn của SHB
Với chiến lược của một ngân hàng bán lẻ, Shb liên tục mở rộng các điểm giao dịch nhằm phát triển mạng lưới của mình Đến cuối năm 2013, SHB đã có mặt tại
32 tỉnh thành phố tại Việt Nam và đã mở chi nhánh ở 2 quốc gia là Lào và Campuchia Bên cạnh đó về phát triển mạng lưới, số điểm giao dịch của SHB năm
2013 đ đạt 386 điểm giao dịch, số lượng nhân sự đạt trên 5.000 người, số lượng sản phẩm dịch vụ Ngân hàngcũng gia tăng đáng kể Hơn 80% cán bộ nhân viên có trình
độ đại học và trên đại học Nhận thức được chất lượng đội ngũ nhân viên là sức mạnh của ngân hàng nên SHB luôn coi trọng công tác quản trị nhân sự SHB thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo trong và ngoài nướcnhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ cho nhân viên
Năm 2013 và những năm tiếp theo, SHB vẫn tiếp tục kiên trì chiến lược ngân hàng bán lẻ, phấn đấu đạt mức tăng trưởng về mọi mặt Môt trong những giải pháp quan trọng là phải tăng sức cạch tranh cho ngân hàng và phấn đấu phục vụ tốt nhất khách hàng, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội nói chung
2.1.2 Sự thành lập và phát triển của SHB Chi Nhánh Hàng Trống
Trang 34Ngày 28/08/2012, Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội chính thức sát nhập vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội Habubank Chi nhánh Hàng Trống được thay thế bởi SHB Chi nhánh Hàng Trống.
Hiện nay SHB Chi nhánh Hàng Trống chỉ có 1 Phòng giao dịch là PGD Cửa Bắc.Việc thành lập Habubank Chi nhánh Hàng Trống – nay là SHB Chi nhánh Hàng Trống là phù hợp với tiến trình thực hiện cơ cấu lại Ngân hàng mẹ, gắn liền với quá trình đổi mới toàn diện và phát triển vững chắc nhịp độ phát triển nhanh,
mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội nói chung
SHB Hàng Trống là chi nhánh của SHB, do đó chi nhánh Hàng Trống thực hiện tất cả các sản phẩm SHB cung cấp: Huy động và nhận tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức và cá nhân;
Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức và cá nhân; Thực hiện các giao dịch ngoại tệ, các dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế, chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; Kinh doanh vàng theo quy định của pháp luật; Bao thanh toán; Dịch vụ bảo quản tài sản và cho thuê tủ, két an toàn (bao gồm
cả dịch vụ giữ hộ,bảo quản vàng); Ủy thác cho vay và nhận ủy thác cho vay; Cấp tín dụng dưới h.nh thức chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác
2.1.4 Cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của SHB Chi Nhánh Hàng Trống
Ban Giám đốc
P Hành chính P Dịch vụ KH P QHKH CN
PGD Cửa Bắc P QHKH DN Phòng thẩm định
P Kế toán
Trang 35Ban giám đốc: gồm một giám đốc và một phó giám đốc, có nhiệm vụ đều hành hoạt động hàng ngày của chi nhánh, chịu trách nhiệm trước tôngr giám đốc và hội đồng quản trị Ban giám đốc phải quản lý, đôn đốc xử lý các hoạt động của các phòng ban và phòng giao dịch để đảm bảo chi nhánh hoạt động hiệu quả Đồng thời, xây dựng các chính sách, quy chế, quy trình, các chỉ tiêu kế hoạch áp dụng cho
cả chi nhánh, đề ra các chiến lược phát triển trình lên tổng giám đốc; Trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, quyết định và thực hiện các hoạt động đối ngoại trong thẩm quyền được phép; Trực tiếp xét duyệt và tham gia trong ban tín dụng để xét duyệt cho vay đối với khách hàng; Tổ chức đào tạo nâng cao kiến thức nghiệp vụ cho các cán bộ nhân viên, đề ra các kế hoạch mở rộng chi nhánh, đồng thời phải liên lạc chặt chẽ với Hội sở và các chi nhánh khác trong cùng hệ thống
Phòng dịch vụ khách hàng:
Chào đón khách hàng, giới thiệu, hướng dẫn, giải đáp cho khách hàng về các sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng Thu thập thông tin về khách hàng, cập nhật thay đổi bổ sung những thông tin về khách hàng
Thực hiện nghiệp vụ liên quan tiền gửi ( gửi tiền, chuyển tiền, ủy nhiệm chi,
ủy nhiệm thu…)
Đăng ký giao dịch mở tài khoản VNĐ, USD đối với khách hàng đến giao dịch trong hệ thống SHB
Hạch toán kế toán giao dịch khách hàng Thực hiện nghiệp vụ kho quỹ như thu chi và kiểm đếm bảo quản tiền, chỉ đạo chi nhánh cấp dưới và phòng giao dịch trực thuộc thực hiện nghiệp vụ kho quỹ
Phòng quan hệ khách hàng cá nhân:
Hướng dẫn và triển khai sản phẩm dịch vụ khách hàng cá nhân trong toàn chi nhánh Thực hiện nghiệp vụ cho vay cá nhân Phân tích món vay, lập kế hoạch cho vay, thu nợ tín dụng cá nhân tại chi nhánh
Kiểm tra giám sát tín dụng cá nhân của chi nhánh Đề xuất các điêu chỉnh thay đổi những quy định của ngân hàng không phù hợp với đối tượng khách hàng tại địa bàn, nhằm phục vụ khách hàng được tốt nhất
Trang 36Chỉ đạo, đôn đốc thu hồi nợ quá hạn đối với tín dụng cá nhân trong toàn chi nhánh.
Tổng hợp số liệu về cho vay, thu nợ thường xuyên và định kỳ hàng tháng để đối chiếu với số liệu kế toán và số liệu khách hàng Đánh giá phân tích tình hình hoạt động cho vay cá nhân tại chi nhánh và phòng giao dịch trực thuộc theo tháng, quý, 6 tháng và 1 năm
Phòng quan hệ khách hàng doanh nghiệp
Tìm hiểu nhu cầu khách hàng, nghiên cứu đề xuất chính sách tiếp thị theo từng đối tượng khách hàng, thực hiện các hình thức quảng cáo sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng đối với khách hàng doanh nghiệp Liên hệ để xúc tiến công tác tiếp thị của SHB.Tiếp xúc và hướng dẫn khách hàng, tư vấn góp ý và đề xuất sản phẩm dịch vụ phù hợp yêu cầu khách hàng Thu thập thông tin về khách hàng, theo dõi hoạt động của khách hàng, ngành nghề của khách hàng, phát hiện kịp thời những dấu hiệu tốt
và ngược lại
Tiếp nhận hồ sơ vay, bảo lãnh, mua bán ngoại tệ… của khách hàng Thẩm định và
có ý kiến đề xuất, lập tờ trình thẩm định trình Phòng tái thẩm định chi nhánh
Kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng sau khi đã giải ngân cho vay hoặc bảo lãnh Thường xuyên đánh giá lại khách hàng
và các món vay, đôn đốc thu hồi nợ, đề xuất điều chỉnh phù hợp hoặc giải chấp tài sản thế chấp cầm cố
Trang 37- Duy trì nội quy lao động Thiết lập hệ thống quản lý và lưu trữ hồ sơ, thông tin về nhân sự, các thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật đối với nhân sự thuộc thẩm quyền quyết định của Giám đốc theo quy chế quản lý nhân sự của SHB, tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Bộ Luật lao động.
- Phối hợp với phòng kế toán tài chính quyết toán tiền lương, tính toán lương, thưởng hàng tháng cho cán bộ nhân viên
- Tổ chức thành lập công đoàn, phối hợp với công đoàn tổ chức thực hiện việc chi quỹ phúc lợi cho cán bộ nhân viên theo thỏa ước lao động tập thể, tổ chức thăm viếng gia đình hiếu hỷ, ốm đau,… đối với người lao động
Thực hiện công tác tổ chức đối ngoại với các tổ chức có liên quan theo sự chỉ đạo của Giám đốc
Tổ chức quản lý tốt phương tiện ô tô, có kế hoạch phân công quản lý, sử dụng hợp lý, tiết kiệm
Thực hiện công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy cho toàn chi nhánh, phối hợp bộ phận kho quỹ đảm bảo an toàn kho quỹ trong toàn chi nhánh
Đảm bảo phương tiện di chuyển, vận chuyển tiền an toàn
Phòng hỗ trợ tín dụng:
Kiểm tra, kiểm soát hồ sơ trước, trong và sau khi giải ngân
Thực hiện giải ngân trên hệ thống phần mềm
Thông báo cho các phòng ban lịch trả nợ, các khoản vay đến hạn
Quản lý hồ sơ theo quy định
Phòng giao dịch Cửa Bắc:
Phòng giao dịch Cửa Bắc làm các nhiệm vụ sau:
-Huy động vốn: phòng giao dịch được huy động vốn dưới các hình thức khác nhau trong khuôn khổ các hình thức huy động mà chi nhánh Hàng Trống được phép huy động
-Cho vay: Phòng giao dịch thực hiện nhiệm vụ cho vay đối với khách hàng là
Trang 38cá nhân, doanh nghiệp trong phạm vi hạn mức quy định trong đó tập trung vào khách hàng cá nhân.
-Thực hiện nhiệm vụ thanh toán, chuyển tiền, thu đổi ngoại tệ, chi trả kiều hối
và các dịch vụ ngân hàng khác theo quy định của SHB
Phòng kế toán:
Hiện có 05 cán bộ nhân viên làm việc bao gồm: phụ trách phòng kế toán, kế toán thu chi, kế toán tổng hợp, kế toán thanh toán qua liên ngân hàng, kiểm soát viên, các công tác thanh toán lương, thưởng, chế độ phúc lợi cho toàn chi nhánh
- Theo dõi sổ sách kế toán, chứng từ thu chi tại đơn vị, giao dịch thanh toán với các đối tác, chuyển tiền đi, tiền đến, nộp và rút tiền mặt ngoại tệ từ tài khoản tiền gửi theo quy định quản lý ngoại hối của NHNN và SHB Báo cáo định kỳ với các cơ quan pháp luật quản lý
2.1.4 Kết quả kinh doanh của ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội,chi nhánh Hàng Trống giai đoạn 2012-014
Trong những năm 2012 -02014 với những biến động phức tạp về nền kinh tế trong và ngoài nước, đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng đang có những cải cách rõ rệt… đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như của chính nội tại ngân hàng Trước những khó khăn đó, SHB Hàng Trống đã đạt một số kết quả sau:
Trang 39khai thác triệt để Tổng số vốn huy động được của chi nhánh trong các năm gần đây như sau:
Tỷ trọng (%) Vốn huy
thanh toán 201.691 17,48 334.279 19,66 420.690 20,03Tiền gửi
khác 25.454 2,18 73.793 4,34 110.615 5,27
( Nguồn: Tổng hợp các báo cáo tình hình hoạt động của SHB Hàng Trống)
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy kết quả huy động vốn của SHB Hàng Trống tăng trưởng cao và ổn định trong giai đoạn 2021 -2014 Đó là nhờ chính sách huy động vốn hợp lí và hiệu quả của toàn hệ thống cũng như của Chi nhánh Hàng Trống Chi nhánh SHB Hàng Trống đã thực hiện rất tốt các chỉ tiêu về huy động vốn, không những hoàn thành chỉ tiêu đề ra mà còn vượt kế hoạch Ưu thế của chi nhánh Hàng Trống là nằm trên địa bàn phố cổ nên lượng tiền gửi của các hộ dân, các hộ kinh doanh là rất tốt Năm 2013, 2014, đây là thời điểm SHB Hàng Trống đã đi vào hoạt động ổn định nên số tiền huy động tăng lên khá đều đặn Cuối năm 2012 là năm hoàn thiện việc sát nhập Habubank vào SHB nên năm 2012 con số huy động không đạt như kỳ vọng Chi nhánh Hàng Trống luôn đóng góp một lượng huy động tương đối cao và ổn định trong tổng lượng huy động vốn của toàn hệ thống Ngân hàng đã thường xuyên thực hiện các đợt huy động tặng thưởng và dự thưởng như “ Tình yêu
Trang 40cho con”, “ Tiết kiệm đa lợi”… Trong năm 2012, các NHTM đua nhau tăng lãi suất
để tăng cạnh tranh trong việc huy động vốn Trước tình hình đó, SHB Hàng Trống thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt, điều chỉnh theo thị trường và nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút vốn, nhưng vẫn tuân thủ theo chính sách lãi suất của Ngân hàng nhà nước Vì thế, không những ngân hàng thu hút được một lượng vốn lớn phục vụ hoạt động cho vay mà còn giảm được chi phí trả lãi Năm 2013, do chính sách của Ngân hàng nhà nước thì các ngân hàng đã có sự giảm lãi suất huy động cũng như cho vay xuống
Trong sự tăng trưởng vốn huy động của toàn chi nhánh, tiền gửi tiết kiệm đóng góp một tỷ trọng lớn nhất Tăng từ 926.993 triệu đồng năm 2012 lên 1.292.226 triệu đồng năm 2013 và đạt 1.568.993 năm 2014 Tuy nhiên tỷ trọng vốn huy động từ tiền gửi thanh toán ở SHB Hàng Trống của các tổ chức và cá nhân còn thấp, chưa tương xứng Ngân hàng chưa thu hút hiệu quả tiền gửi của các doanh nghiệp trên địa bàn, đây là một nguồn vốn lớn và phải trả lãi suất rất thấp, đem lại nguồn lợi lớn cho ngân hàng Với tốc độ tăng nhanh và ổn định cả về số tuyệt đối
và tương đối, nguồn vốn huy động của SHB Hàng Trống có khả năng đáp ứng được
sự tăng trưởng của hoạt động tín dụng, đặc biệt là tín dụng tiêu dùng
2.1.3.2 Hoạt động tín dụng
Trong điều kiện nền kinh tế mở và liên tục tăng trưởng, những năm gần đây Việt Nam được coi là một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao hàng đầu thế giới Nhu cầu vốn tăng cao nên hoạt động tín dụng của các ngân hàng khá sôi động Bên cạnh sự nỗ lực tiếp thị, tìm kiếm khách hàng của chi nhánh là sự đôn đốc, hỗ trợ thường xuyên của ban giám đốc nên tốc độ phát triển tín dụng đạt mức khá, đặc biệt trong năm 2014 Tổng dư nợ cho vay của SHB Hàng Trống có giảm vào cuối năm 2012 và đầu năm 2013 khi Habubank thực hiện sát nhập SHB.Từ nửa cuối năm
2013 việc tăng trưởng tín dụng đã ổn định trở lại
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng Tình hình dư nợ tín dụng tại SHB Hàng Trống năm 2012 - 2014 như sau: