1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH

291 307 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 291
Dung lượng 6,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Hội thảo vùng “Khuynh hướng tiếp cận dựa trên hệ sinh thái trong lập kế hoạch bảo tồn ĐDSH ứng phó với BĐKH” do Ngân hàng Phát triển Châu Á, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Quỹ Bảo tồn Độ

Trang 1

+ Diễn đàn khu vực đầu tiên về chủ đề “Xây dựng khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu cho vùng ven biển” tại Trường Đại học Burapha, tỉnh Chanthaburi, Thái Lan do Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), phối hợp với Quỹ Phát triển Bền vững, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức, Quỹ Nghiên cứu Thái Lan, Đài Truyền hình Thái PBS

và Đại học Burapha (Thái Lan) tổ chức (28/2 – 2/3/2012)

+ Khóa đào tạo các tập huấn viên trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường sức chống chịu với biến đổi khí hậu của vùng ven biển Đông Nam Á ở 5 tỉnh trọng điểm thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long” do IUCN tổ chức (4-6/4/2012)

+ Hội thảo quốc gia “Nâng cao tính chống chịu trước biến đổi khí hậu” do Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh tổ chức, 2012 + Hội thảo “Áp dụng quy hoạch không gian biển và vùng bờ biển tại Việt Nam – Cách tiếp cận quản lý dựa trên hệ sinh thái” diễn ra trong 2 ngày 30-31/5/2013 tại Hải Phòng do Bộ Tài nguyên

và Môi trường và TP Hải Phòng tổ chức Đây là diễn đàn đầu tiên trong khuôn khổ chương trình

“Rừng ngập mặn cho tương lai” do IUCN tại Việt Nam điều phối, thảo luận về việc áp dụng quy hoạch không gian biển tại Việt Nam

+ Hội thảo vùng “Khuynh hướng tiếp cận dựa trên hệ sinh thái trong lập kế hoạch bảo tồn ĐDSH ứng phó với BĐKH” do Ngân hàng Phát triển Châu Á, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Quỹ Bảo tồn Động vật Hoang dã và SIDA đồng tổ chức tại Hà Nội, 15-16/10/2013…

Giải pháp thích ứng với BĐKH dựa vào HST đáp ứng được các vấn đề ưu tiên quốc gia – phát triển kinh tế bền vững, xóa đói giảm nghèo, bảo tồn ĐDSH

Như vậy, có thể thấy rằng, chúng ta đã nghiên cứu và triển khai ứng dụng cách tiếp cận HST trong thực tế từ lâu Tuy nhiên, những kết quả đạt được còn hạn chế, chỉ dừng lại trong khuôn khổ những đề tài/dự án, giới hạn trong từng hợp phần của hệ, những hệ thành phần, mà chưa có những nghiên cứu tổng thể cho toàn hệ thống, nhất là hệ sinh thái – xã hội Điều này có thể do mấy lý do:

+ Nghiên cứu về sinh thái học nói chung và HST nói riêng ở Việt Nam còn mỏng

+ Cách tiếp cận liên ngành/xuyên ngành trong tất cả các khâu của hệ thống quản lý Nhà nước,

từ hoạch định chính sách, đến tổ chức thực hiện, giám sát đánh giá, còn chưa được quán triệt đi vào cuộc sống

+ Những hạn chế khác về mặt nhận thức và đầu tư tài chính…

4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái đã được phát triển từ những năm 90 Lúc đầu, chỉ nhằm mục đích phục vụ cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo tồn ĐDSH, sau đó được áp dụng rộng rãi cho PTBV và hiện nay cho ứng phó với BĐKH, theo nguyên tắc xây dựng/tăng cường tính chống chịu-thích ứng của các hệ sinh thái – xã hội

Ở Việt Nam, cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái được bắt đầu nghiên cứu và triển khai khá sớm trong quản lý tài nguyên và hiện nay đang là cách tiếp cận được thử nghiệm trong nhiều chương trình, dự án thích ứng với BĐKH Tính chống chịu và thích ứng với BĐKH, đây đó đã được xây

Trang 2

dựng, nhưng mới chỉ giới hạn ở từng khía cạnh, từng bộ phận, từng hợp phần của các hệ thống,

mà chưa có cách nhìn và cách làm tổng thể, liên ngành, cho toàn hệ thống và ở các cấp

Để có thể áp dụng hiệu quả hơn cách tiếp cận này trong thực tế, có một số khuyến nghị như sau: + Tăng cường nghiên cứu và đào tạo về sinh thái học theo nghĩa: hệ sinh thái vừa là đối tượng nghiên cứu (cấu trúc, chức năng, dịch vụ, các chu trình sinh-địa-hóa, dòng năng lượng, diễn thể,

tính chống chịu, tính thích ứng), vừa là cách tiếp cận khoa học (ecosystem-based approach) vừa

là giải pháp (ecological engineering solutions) để giải quyết vấn đề, như là các giải pháp chủ đạo

trong nhóm giải pháp phi công trình, mang tính chiến lược Trong đó, chú ý các vấn đề có thể

tích hợp cao và xuyên suốt (dịch vụ HST, tính chống chịu – thích ứng (adaptive-resisiliance),

kinh tế sinh thái…) của các hệ thống, bao gồm HST tự nhiên và đặc biệt là hệ sinh thái – xã hội

và các giải pháp tổng hợp để duy trì và tăng cường nó trong từng điều kiện cụ thể

+ Đấy mạnh công tác nghiên cứu và triển khai khoa học – công nghệ để xây dựng cơ sở khoa học cho quá trình hoạch định và thực thi các thể chế chính sách

+ Ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực trong hai lĩnh vực mới: BĐKH và Khoa học bền vững, đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ ứng phó với BĐKH và PTBV

+ Xây dựng cơ sở khoa học và quy trình kỹ thuật hướng dẫn triển khai cách tiếp cận HST trong thực tế ở các cấp, các lĩnh vực và tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 ACCCRN – Việt Nam, 2010 Dự án Mạng lưới các thành phố châu Á có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu ACCCRN – Việt Nam Hà Nội

2 Alexander W., P Stedman-Edwards and J Mang, 2000 The Root Causes of Biodiversity Loss Earthscan Publication Ltd, London and Sterling, VA

3 Andrade Pérez A., B Herrera Fernández and R Cazzolla Gatti (Eds.), 2010 Building Resilience to Climate Change: Ecosystem-based Adaptation and Lessons from the Field IUCN Grand, Switzerland

4 Chính phủ, 2011 Quyết định số 2139/QĐ-TTg, ngày 05/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ

về phê duyệt Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu

5 Chính phủ, 2012a Quyết định số 432/QĐ-TTg, ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ

về phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020

6 Chính phủ, 2012b Quyết định số 1092/QĐ-TTg, ngày 16/8/2012 về phê duyệt Chương trình

hỗ trợ Ứng phó với biến đổi khí hậu: Khung ma trận chính sách năm 2012

7 Chính phủ, 2012c Quyết định số 1393/QĐ-TTg, ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ

về phê duyệt Chiến lược Tăng trưởng xanh

8 Truong Quang Hoc, 2008 Linkage between Biodiversity and Climate Change in Viet Nam

In: Proceedings, The 2nd Viet Nam – Japan Symposium on Climate Change and the

Sustainability, 11/2008 Viet Nam National University Press, Ha Noi: pp 53-58

Trang 3

9 Trương Quang Học, 2010 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đa dạng sinh học của Việt Nam Kỷ yếu Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ III Hà Nội

10 Trương Quang Học, 2013 Cơ sở sinh thái học cho phát triển bền vững và ứng phó với biến

đổi khí hậu Trong: Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Năng cao sức chống chịu trước

biến đổi khí hậu” Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội: tr 3-24

11 Truong Quang Hoc et al., 2006 Biodiversity – Human Wellbeing Linkage (a Case Study in

DaKrong District, Quang Tri Province, Viet Nam) The International Workshop on Biodiversity – Human Wellbeing Linkage, Costa Rica (lecture)

12 Trương Quang Học và Võ Thanh Sơn, 2008 Tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý tài nguyên

thiên nhiên Trong: Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững: Tuyển tập các công trình

khoa học và Kỷ niệm 20 năm thành lập VACNE 1988-2008 NXB Khoa học và Kỹ thuật,

Hà Nội

13 IPCC, 2007 Báo cáo đánh giá lần 4 của UBLCPVBĐKH: Nhóm I: Khoa học vật lý về biến đổi khí hậu, Nhóm II: Tác động, thích ứng và khả năng bị tổn thương, Nhóm III: Giảm nhẹ biến đổi khí hậu

14 Millennium Ecosystem Assessement (MEA), 2005 Ecosystems and Human Well-being MEA, Malaysia and United States

15 McLeod E and R.V Sain, 2006 Managing Mangroves for Resilience to Climate Change The Nature Conservancy, IUCN

16 Pirot J.-Y., P.J Meynell and D Elder (Eds.), 2000 Ecosystem Management: Lessons from Around the World A Guide for Developement and Conservation Practionners IUCN Grand, Switzerland and Cambridge, UK

17 Phạm Bình Quyền và Trương Quang Học, 1998 Nghiên cứu những nguyên nhân sâu xa về

kinh tế-xã hội của sự suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam Trong: Tuyển tập các báo cáo

tại Hội nghị Môi trường toàn quốc năm 1998 Tr 1079-1098

18 Shah F and F Ranghieri, 2012 A Workbook on Planning for Urban Resilience in the Face

of Disasters: Adapting Experiences from Viet Nam’s Cities to Other Cities The World Bank

19 Shepherd G., 2004 Tiếp cận hệ sinh thái: Năm bước thực hiện Ấn phẩm về quản lý hệ sinh thái Số 3 IUCN

20 Shepherd G và Ly Minh Đăng (Biên tập), 2008 Tổng quan về áp dụng tiếp cận hệ sinh thái vào các khu đất ngập nước tại Việt Nam IUCN

21 Smith A.D and E Maltby, 2003 Using the Ecosystem Approach to Implement the Convention on Biological Diversity: Key Issues and Case Studies Ecosystem Management Series No.2 IUCN – The World Conservation Union

22 Sumi A., N Mimura and T Masui, 2011 Climate Change and Global Sustainability: A Hoclistic Approach UN University Press Tokyo – New York – Paris

Trang 4

23 Hoàng Văn Thắng, 2005 Đa dạng sinh học, các chức năng chính và một số nhân tố tác động lên hệ sinh thái đất ngập nước khu vực Bàu Sấu, Vườn Quốc gia Cát Tiên Luận án Tiến sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội

24 United Nations, 2012 The Future We Want: Outcome Documents Adopted at RIO+20 Http://www.un.org/en/sustainablefuture

25 WB, 2010 Convenient Solution to an Inconvenient Truth: Ecosystem-Based Approaches to Climate Change The World Bank

Abstract RESEARCH AND DEVELOPMENT

OF ECOSYSTEM-BASED APPROACH IN VIET NAM

Truong Quang Hoc

Centre for Natural Resources and Environmental Studies, VNU

Ecosystem approach/ecosystem-based approach (proposed by the Convention on Biodiversity in 1995), was initiated as a strategy for the integrated management of natural resources (land, water and living organisms) and it has been widely adopted for sustainable development in the context of climate change In Viet Nam, the ecosystem- based approach has been studied and implemented since the late 90s, and employed in the conservation of biodiversity/natural resources Recently, this approach has been implemented in the field of integrated management of natural resources and adapted to climate change as well as in the process of policy formulation and implementation in practice Although the initial results have been achieved, there are still difficulties and challenges that need to be further studied in order to widely apply this to sustainable development in the context of current climate change

Trang 5

SỬ DỤNG KHÔN KHÉO ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ ĐỀ XUẤT

CÁC GIẢI PHÁP SỬ DỤNG KHÔN KHÉO ĐẤT NGẬP NƯỚC

VỊNH TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

Nguyễn Xuân Dũng và Tô Thúy Nga

Nghiên cứu sinh, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường,

Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt

Thực tế cho thấy, đa dạng sinh học vịnh Tiên Yên đang bị suy giảm, các hoạt động khai thác, sử dụng đất ngập nước (ĐNN) vẫn chưa được kiểm soát một cách chặt chẽ và vai trò của các cơ quan chức năng chưa hoạt động đủ mạnh Bảo tồn theo cách truyền thống vẫn

tỏ ra chưa thực sự mang đến những kết quả mong muốn Nhu cầu thực tế đặt ra đối với quản lý ĐNN là cần phải có những cách tiếp cận mới, phù hợp và hiệu quả Sử dụng khôn khéo ĐNN được đề xuất áp dụng trong bối cảnh đó và nhấn mạnh việc khai thác, sử dụng tài nguyên ĐNN theo hướng vừa phát triển kinh tế, vừa bảo vệ các giá trị vốn có của nguồn tài nguyên này Các hình thức khai thác, sử dụng các vùng ĐNN phải phù hợp với bản chất tự nhiên của chúng để không gây suy thoái tài nguyên và môi trường, đặc biệt trong giới hạn cho phép có thể phục hồi và gắn với sự tham gia, chia sẻ lợi ích với các bên liên quan Trên cơ sở các nội dung, tiêu chí sử dụng khôn khéo và điều kiện thực tế địa phương, 5 nhóm giải pháp và 22 hoạt động cụ thể được đề xuất, cũng như bước đầu đề xuất áp dụng thí điểm 2 mô hình tại 2 trong số 4 vùng môi trường tại khu vực ĐNN vịnh Tiên Yên

và thực vật, trong đó có nhiều loài quý, hiếm Ở Việt Nam, ĐNN rất đa dạng, với diện tích xấp xỉ 58.100 km², chiếm khoảng 8% diện tích toàn bộ các vùng ĐNN của châu Á (Lê Diên Dực, 1989) Tuy nhiên, ĐNN của thế giới cũng như tại Việt Nam đang bị suy giảm khá mạnh cả về chất và lượng do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân do tác động của các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội của con người cùng với các vấn đề về quản lý và sử dụng khôn khéo Nhu cầu thực tế đặt ra đối với quản lý ĐNN cần phải có những cách tiếp cận mới, phù hợp và hiệu quả Bảo tồn theo cách truyền thống vẫn tỏ ra chưa thực sự mang đến những kết quả mong muốn Thực tế cho thấy, đa dạng sinh học (ĐDSH) vẫn đang bị suy giảm, hoạt động khai thác,

sử dụng ĐNN vẫn chưa được kiểm soát một cách chặt chẽ và vai trò của các cơ quan chức năng chưa hoạt động đủ mạnh Một số công trình nghiên cứu cho thấy, một khu vực mặc dù giàu có về các nguồn tài nguyên, nhưng hiệu quả khai thác kinh tế thấp, nhu cầu khai thác tiếp tục gia tăng,

Trang 6

trong khi tài nguyên đã suy giảm, các hoạt động phát triển đã gây nhiều tác động tiêu cực đến môi trường Do đó, việc quản lý ĐNN một cách khôn khéo, sao cho vừa sử dụng hợp lý những tài nguyên của ĐNN để phục vụ cuộc sống của người dân và cho xã hội, nhưng vẫn duy trì được các chức năng và thuộc tính của ĐNN, đang trở thành mối quan tâm của các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và ban hành các quyết định liên quan đến ĐNN Công ước Ramsar đã có các quy định cụ thể về bảo tồn và sử dụng khôn khéo các vùng ĐNN đối các quốc gia thành viên (Công ước Ramsar, 2007a, 2007b) Việt Nam cũng đã ban hành những quy định pháp luật liên quan đến bảo tồn và sử dụng khôn khéo ĐNN Bên cạnh việc áp dụng các biện pháp quản lý, bảo tồn ĐDSH truyền thống, đến nay, Việt Nam đã cố gắng vận dụng một số phương pháp tiếp cận mới, hiện đại trong việc sử dụng khôn khéo ĐNN như: tiếp cận hệ sinh thái (HST), quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng, đồng quản lý, quản lý tổng hợp đới bờ, quản lý dựa trên HST Các phương pháp nêu trên đều hướng đến việc sử dụng khôn khéo ĐNN, mang tính tổng hợp, toàn diện và đang được áp dụng nhiều trong công tác bảo tồn ĐDSH trong thời gian gần đây Vì vậy, việc nghiên cứu chi tiết, hệ thống hóa, đề xuất lựa chọn và ứng dụng một hướng tiếp cận phù hợp, có tính khoa học và ứng dụng cao là vô cùng cấp thiết

Vịnh Tiên Yên là một vịnh biển lớn của tỉnh Quảng Ninh Các vùng ĐNN ven biển vịnh Tiên Yên là nơi có hoạt động kinh tế hết sức sôi động, có vai trò rất quan trọng trong Chiến lược Phát triển kinh tế quốc gia cũng như trong khu vực, đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo tồn ĐDSH, bảo

vệ môi trường và phòng tránh thiên tai Khu vực vịnh Tiên Yên có sự đa dạng về địa chất, địa mạo, có tài nguyên phong phú, các hệ sinh thái đặc thù như rừng ngập mặn (RNM), thảm cỏ biển, sự đa dạng về thành phần loài cao, đặc biệt là các loài đặc sản như sá sùng, bông thùa, sò huyết, ngao, ngán Chính vì vậy, các nguồn tài nguyên của khu vực đang được đẩy mạnh khai thác một cách mạnh mẽ, phục vụ phát triển kinh tế, như nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, phát triển cảng biển, du lịch và khai thác khoáng sản Tuy nhiên, hiện nay ĐNN vịnh Tiên Yên đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc khai thác, sử dụng và quản lý ĐNN Sức ép của sự gia tăng dân số, các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội và sự suy thoái tài nguyên, môi trường do khai thác quá mức đang ngày càng đe dọa nghiêm trọng đến diện tích, chức năng, giá trị và dịch

vụ, cũng như chất lượng của ĐNN tại khu vực này Ngoài ra, việc sử dụng ĐNN tại đây cho nhiều mục đích phát triển kinh tế vẫn diễn ra manh mún, thiếu quy hoạch đồng bộ, hệ thống Thực tiễn tại vịnh Tiên Yên cho thấy, các cách tiếp cận mới, khoa học, phù hợp với thực tiễn địa phương trong quản lý ĐNN là rất cần thiết Câu hỏi đặt ra cho việc quản lý ĐNN tại đây là, làm thế nào để sử dụng một cách khôn khéo ĐNN, sao cho vừa khai thác hợp lý những tài nguyên của ĐNN phục vụ cuộc sống của người dân địa phương, vừa duy trì được các chức năng và thuộc tính của ĐNN Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, các tác giả đã nghiên cứu về sử dụng khôn khéo ĐNN và đề xuất các giải pháp sử dụng khôn khéo ĐNN vịnh Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Điều tra và tham vấn cộng đồng

2.1.1 Điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi

Mục đích điều tra tham vấn cộng đồng là xin ý kiến các nhà quản lý và người dân địa phương tại khu vực nghiên cứu về các giải pháp để sử dụng khôn khéo ĐNN vịnh Tiên Yên Nghiên cứu áp

Trang 7

dụng với 300 mẫu phiếu điều tra (với nội dung áp dụng cho 2 nhóm khác nhau) trong phạm vi 5/15 xã ven biển khu vực nghiên cứu, được lựa chọn ngẫu nhiên Kết quả nghiên cứu được nhập

và xử lý bằng phần mềm Excel và soi chiếu lại với các luận điểm, luận cứ lý thuyết đã đề ra ban đầu để hiệu chỉnh lại cho phù hợp với thực tế

2.1.2 Tham vấn cộng đồng

Trên cơ sở nội dung của bảng hỏi, bên cạnh các thông tin thu được từ phiếu hỏi, tác giả trực tiếp phỏng vấn sâu một số cán bộ địa phương, những người dân lớn tuổi ở đó lâu năm hoặc những người trực tiếp sử dụng vùng ĐNN về các vấn đề liên quan đến ĐNN vịnh Tiên Yên Nội dung phỏng vấn được 2 bên tương tác trực tiếp nhằm trao đổi, thảo luận chi tiết, sâu sắc hơn về các nội dung về ĐNN tại Tiên Yên, đồng thời tác giả cũng trực tiếp trao đổi các quan điểm, các vấn đề

đề xuất

Quá trình tham vấn cộng đồng được áp dụng trong toàn bộ quá trình đề xuất giải pháp, bắt đầu từ việc đánh giá hiện trạng ĐNN vịnh Tiên Yên Tham vấn cộng đồng được áp dụng để xác định các đe dọa và xếp hạng mức độ đe dọa đến ĐNN vịnh Tiên Yên, đồng thời đánh giá thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức đối với việc sử dụng khôn khéo ĐNN theo mô hình SWOT Cùng với đó, quá trình tham vấn cộng đồng được thực hiện tiếp cho việc đánh giá, giám sát hiệu quả các giải pháp sau quá trình áp dụng

Ngoài ra, tác giả đã tổ chức thảo luận nhóm với các chuyên gia, để phân tích và đưa ra các nhận định nghiên cứu, dựa trên kết quả tham vấn, quan sát thực địa, thông tin thứ cấp thu thập được và kinh nghiệm của chuyên gia về phân tích các bên liên quan, sử dụng khôn khéo ĐNN tại vịnh Tiên Yên

2.2 Phương pháp phân tích các bên liên quan

Phương pháp phân tích các bên liên quan (stakeholder analysis) được sử dụng nhằm mục đích

xác định được các bên liên quan tại vịnh Tiên Yên trong quá trình bảo tồn, khai thác và sử dụng ĐNN, tầm quan trọng, mức độ quan tâm, ảnh hưởng của họ đối với quá trình này và đặc biệt là vai trò của cộng đồng địa phương trong việc khai thác, quản lý và bảo tồn ĐNN tại vịnh Tiên Yên Để có được các kết quả phân tích, tác giả đã xác định các bên liên quan, trực tiếp điều tra, phỏng vấn tìm hiểu, đồng thời hệ thống hóa các thông tin và lập Bảng ma trận đánh giá Kết quả cuối cùng là phân nhóm các đối tượng, nhằm mục đích có được sự can thiệp, điều chỉnh, đảm bảo hài hòa theo mức độ “ảnh hưởng” đến khai thác, sử dụng ĐNN vịnh Tiên Yên

Trong quá trình nghiên cứu, từ việc đánh giá hiện trạng quản lý ĐNN, phát hiện vấn đề và đề xuất giải pháp, đều có sự tham vấn chặt chẽ, đồng thuận giữa các bên liên quan này Khi các bên liên quan được tham gia, được chia sẻ lợi ích đối với tài nguyên ĐNN vịnh Tiên Yên, ý thức và trách nhiệm của họ đối với bảo tồn, quản lý ĐNN được nâng lên Quá trình tham vấn với các bên liên quan thông qua việc tổ chức họp với đại diện các bên liên quan, thảo luận, thống nhất các nội dung giải pháp sử dụng khôn khéo ĐNN cho vịnh Tiên Yên Các cuộc họp cộng đồng được

tổ chức liên tục, từ việc đề xuất ý tưởng, xác định các vấn đề giải quyết của mô hình, xác định mục tiêu, đến các nội dung và hoạt động Đặc biệt, trong tổ chức thực hiện mô hình, việc đề xuất ban quản lý cộng đồng và quy chế phối hợp, quản lý và bảo tồn, chia sẻ lợi ích từ các dịch vụ HST ĐNN được công khai thảo luận, thống nhất giữa các bên liên quan tại các cuộc họp này

Trang 8

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Sử dụng khôn khéo đất ngập nước

Kể từ khi khái niệm sử dụng khôn khéo ra đời, ngôn ngữ bảo tồn đã có nhiều bước phát triển và thay đổi với những thuật ngữ tương tự Thuật ngữ “sử dụng hợp lý” được Ủy ban về Rừng của

Hoa Kỳ (U.S Forest Service) đưa ra năm 1910 để mô tả khái niệm về khai thác bền vững tài

nguyên thiên nhiên (TNTN) Năm 1987, Ủy ban này đã định nghĩa rằng, phát triển bền vững là phát triển nhằm đạt được nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của thế hệ tương lai để đạt được nhu cầu của chúng Hội nghị các bên tham gia Công ước lần thứ 6 (COP6) đã xem việc sử dụng khôn khéo như là một cơ chế phát triển bền vững (PTBV) (United State Department of the Interior, 1994) Một định nghĩa khác lại cho rằng, sử dụng khôn khéo liên quan đến sử dụng bền vững ĐNN cho hoạt động con người, trong khi vẫn giữ được cân bằng tổng hợp tự nhiên và sinh học của ĐNN Sử dụng khôn khéo tạo nên tình huống các bên đều có

lợi (win – win) giữa con người và tự nhiên (William và Gosselink, 2011) Tiếp theo đó, Chương

trình Phát triển thiên niên kỷ lại định nghĩa rằng, sử dụng khôn khéo tương đương với duy trì dịch vụ HST nhằm duy trì lâu dài ĐDSH cũng như sự thịnh vượng và xóa đói nghèo Bên cạnh

đó, một số định nghĩa tương tự định nghĩa sử dụng khôn khéo đã được sử dụng, như: sử dụng hợp lý tài nguyên cũng đồng nghĩa với sử dụng bền vững TNTN là khai thác, sử dụng loại tài nguyên này với khối lượng nhỏ hơn hoặc bằng lượng TNTN khác hoặc nhân tạo, có thể thay thế được hoặc trong giới hạn tự khôi phục được Theo Nghị định số 109/2003/NĐ-CP về Bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN: “PTBV các vùng ĐNN là các hoạt động sử dụng, khai thác hợp lý các tiềm năng về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong giới hạn cho phép nhằm duy trì chức năng sinh thái và bảo vệ môi trường các vùng ĐNN”

Để đảm bảo rằng, định nghĩa Công ước Ramsar là cập nhật và cùng một “ngôn ngữ chung”, năm 2002, các quốc gia thành viên yêu cầu Ban Khoa học và Kỹ thuật của Công ước đánh giá lại các định nghĩa sử dụng khôn khéo ĐNN đã có, ứng dụng của chúng và sự tương đồng với mục tiêu PTBV và đề xuất định nghĩa cập nhật nếu cần thiết Tại Hội nghị các bên tham gia lần thứ 9 (COP9) tại Kampala, Uganda, định nghĩa sử dụng khôn khéo ĐNN đã được cập nhật và thông qua năm 2005 là: duy trì đặc tính sinh thái, đạt được thông qua việc thực hiện tiếp cận HST trong bối cảnh PTBV (Ramsar Convention, 2013)

Không thể đưa ra câu trả lời hoàn chỉnh, cuối cùng về làm thế nào để đạt được sử dụng khôn khéo ĐNN Sử dụng khôn khéo ĐNN trong trường hợp đặc biệt hay tại vùng ĐNN cụ thể có thể không phải là sử dụng khôn khéo cho các trường hợp khác và những thay đổi theo thời gian có thể thay đổi từ sử dụng khôn khéo thành không khôn khéo Vì thế, sử dụng khôn khéo là câu hỏi lớn, chú trọng vào cách tư duy, quy hoạch, tổ chức, thay đổi và điều chỉnh quản lý theo thực tế sử dụng Một số định hướng về nguyên tắc bảo tồn ĐNN theo Isozaki và nnk (1992) như sau: khai thác

sử dụng ĐNN một cách khôn khéo có nghĩa là không làm biến đổi các chức năng, dịch vụ và quá trình sinh thái của chúng; tiến hành quản lý tổng hợp, nhất là quản lý TNTN dựa vào cộng đồng; xây dựng thể chế, chính sách, quy hoạch, căn cứ pháp lý cũng như cơ sở khoa học để sử dụng khôn khéo, có hiệu quả và bền vững các vùng ĐNN; quy hoạch và triển khai các hoạt động bảo

vệ các vùng ĐNN quan trọng và các HST ĐNN là điểm nóng cần được bảo tồn; lồng ghép quản

lý ĐNN vào kế hoạch phát triển kinh tế địa phương, nghĩa là phải xem ĐNN là một trong những

Trang 9

tài nguyên quốc gia phục vụ cho phát triển; đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ về nghiên cứu, bảo tồn và sử dụng khôn khéo các HST ĐNN trên cơ sở bảo tồn để PTBV; tạo những thu nhập thay thế, giúp cộng đồng giảm sức ép lên ĐNN, gắn hoạt động phát triển kinh tế với bảo tồn ĐNN; đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục môi trường, nâng cao nhận thức về ĐNN nói riêng và môi trường nói chung 12 mục đích cụ thể của quản lý ĐNN là: duy trì chất lượng nước; giảm xói mòn; chống lũ lụt; tạo hệ thống tự nhiên để xử lý chất ô nhiễm từ không khí; tạo một vùng đệm giữa đô thị đông dân với khu vực công nghiệp, nhằm cải thiện khí hậu và tác động vật

lý như tiếng ồn; duy trì vốn gen của thực vật đầm lầy và cung cấp những quần xã tự nhiên hoàn chỉnh điển hình; hỗ trợ về thẩm mỹ và tâm lý cho con người; tạo ra động vật hoang dã; kiểm soát côn trùng; tạo sinh cảnh đẻ trứng cho cá và những sinh vật làm thực phẩm khác; tạo ra thực phẩm, tơ sợi và thức ăn gia súc, như gỗ; xúc tiến những chương trình khoa học (Lê Diên Dực và Hoàng Văn Thắng, 2012)

Ngoài ra, liên quan đến sử dụng khôn khéo, còn có khái niệm “phục hồi hệ sinh thái”, được hiểu

là sự tái tạo HST hay quần xã hiện không còn tồn tại ở đó, thường được gọi là phục hồi Tuy nhiên trong thực tế, thuật ngữ “phục hồi” hiện đang được sử dụng một cách rộng rãi hơn, việc quản lý một cách khôn khéo một vùng ĐNN đã bị tổn hại, nay cũng thường được gọi là phục hồi Như vậy, sử dụng khôn khéo ĐNN được hiểu là việc khai thác, sử dụng tài nguyên ĐNN theo hướng vừa phát triển kinh tế, vừa bảo vệ các giá trị vốn có của nguồn tài nguyên này, hay nói cách khác là các dịch vụ HST Các hình thức khai thác, sử dụng các vùng ĐNN phải phù hợp với bản chất tự nhiên của chúng, để không gây suy thoái tài nguyên và môi trường, đặc biệt trong giới hạn cho phép, có thể phục hồi và gắn với sự tham gia, chia sẻ lợi ích với các bên liên quan Song song với quá trình khai thác trong giới hạn cho phép là quá trình phục hồi, phát triển, nhằm đảm bảo tính hài hòa giữa sử dụng, khai thác để phát triển kinh tế và bảo tồn các kiểu ĐNN, duy trì ĐDSH và bảo vệ môi trường

3.2 Đề xuất các giải pháp sử dụng khôn khéo đất ngập nước

3.2.1 Nguyên tắc đề xuất các giải pháp

Các giải pháp về sử dụng khôn khéo ĐNN phải đảm bảo đáp ứng được 5 nguyên tắc cơ bản sau: (1) Tuân thủ các yêu cầu về sự tham gia của cộng đồng địa phương và người bản địa theo Hướng dẫn quản lý khu bảo tồn thiên nhiên của IUCN Việt Nam (2008): cộng đồng địa phương, người dân bản địa là các đối tác bình đẳng và đối tượng hưởng lợi; tôn trọng tất cả các quyền của cộng đồng địa phương và người dân bản địa; phân cấp, tham gia, minh bạch và trách nhiệm; chia sẻ một cách công bằng và đẩy đủ các lợi ích; quyền của cộng đồng địa phương gắn với trách nhiệm quốc tế (2) Được xây dựng dựa vào sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo tồn ĐDSH; đảm bảo tính liên ngành, dân chủ công khai, sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là các ban ngành của các huyện khu vực nghiên cứu và cộng đồng dân cư sống trong và xung quanh các vùng ĐNN

(3) Kết hợp hài hòa giữa yêu cầu phát triển của cả nước với yêu cầu phát triển của các vùng, các địa phương, các ngành, đồng thời có sự điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với lợi ích của vùng, địa phương và ngành

Trang 10

(4) Thể hiện tính liên thông, liên kết phát triển không gian kinh tế, xã hội trong từng ngành, trong từng vùng, khắc phục tình trạng cát cứ bởi địa giới hành chính

(5) Phù hợp với nguyên tắc phát triển bền vững ĐNN trong Nghị định 109/NĐ-CP ban hành ngày 23/9/2003 về Bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN và các nguyên tắc sử dụng khôn khéo ĐNN theo Công ước Ramsar và tiếp cận HST (Chính phủ, 2004)

3.2.2 Các nhóm giải pháp sử dụng khôn khéo đất ngập nước

Trên cơ sở nghiên cứu về ĐNN vịnh Tiên Yên, thông qua việc xác định các đe dọa đến suy thoái ĐNN, nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng và các tác động, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp để bảo tồn ĐNN vịnh Tiên Yên, gồm:

(1) Bảo tồn ĐDSH tại các khu vực nhạy cảm, có ĐDSH cao, đồng thời kết hợp với việc khai thác, sử dụng bền vững, hiệu quả các lợi thế, dịch vụ HST phục vụ sinh kế cộng đồng ven biển (2) Xây dựng cơ chế quản lý hợp tác trong bảo tồn và chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan, đặc biệt là sự tham gia cộng đồng, nhằm hạn chế và giải quyết tốt các xung đột xã hội nảy sinh do khai thác sử dụng ĐNN vịnh Tiên Yên

(3) Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển, suy thoái ĐDSH do các hoạt động phát triển kinh tế, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác không bền vững, cũng như chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu

(4) Tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức cộng đồng và các bên liên quan trong quản lý tài nguyên ĐNN vịnh Tiên Yên

(5) Thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu, hợp tác, xây dựng cơ sở hạ tầng, góp phần quản lý hiệu quả tài nguyên ĐNN vịnh Tiên Yên

Thông qua việc điều tra, khảo sát bằng phiếu hỏi và tham vấn cộng đồng tại vịnh Tiên Yên cho thấy, các giải pháp được đưa ra đều được người dân tán thành, tuy nhiên mức độ ủng hộ đối với từng giải pháp lại có sự khác nhau 83% người dân thống nhất cao đối với các giải pháp tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức cộng đồng; 63% người dân được hỏi đồng tình với các giải pháp cơ chế quản lý hợp tác trong bảo tồn và chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan, đặc biệt là sự tham gia cộng đồng, đây là các nhóm giải pháp khá cấp thiết và bản thân cộng đồng dễ dàng nhận ra Trong khi đó, giải pháp thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu, hợp tác, xây dựng cơ sở hạ tầng lại chỉ có 50% số người dân ủng hộ, do các giải pháp này có tính chất lâu dài, khó, phức tạp

và đòi hỏi nhiều nguồn lực, vì thế tỷ lệ lựa chọn giải pháp này thấp nhất trong các nhóm giải pháp được đưa ra

3.2.3 Đề xuất các giải pháp sử dụng khôn khéo đất ngập nước ven biển vịnh Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh theo tiếp cận hệ sinh thái

Các nhóm giải pháp sử dụng khôn khéo ĐNN vịnh Tiên Yên được đề xuất thông qua các giải pháp sử dụng ĐNN ở nước ta nói chung, có xác định mức độ ưu tiên đối với từng nhóm giải pháp và được cụ thể hóa phù hợp với đặc điểm thực tế cụ thể tại vịnh Tiên Yên

(a) Nhóm giải pháp thứ nhất: Tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức cộng đồng và các bên

liên quan trong quản lý tài nguyên ĐNN vịnh Tiên Yên

Trang 11

Mục tiêu: Các cán bộ được tăng cường năng lực quản lý TNTN và ý thức bảo tồn ĐDSH của cộng đồng địa phương được nâng cao

(i) Các giải pháp tăng cường năng lực quản lý TNTN:

Hoạt động 1.1 Tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo cho các cán bộ quản lý về công tác bảo tồn ĐDSH Hoạt động 1.2 Phát hành các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật quản lý, bảo tồn cho các cán bộ quản lý liên quan tại vịnh Tiên Yên

Hoạt động 1.3 Tham quan, học tập các mô hình bảo tồn và sử dụng khôn khéo ở các địa điểm khác như Xuân Thủy, Rạn Trào, Cần Giờ

Hoạt động 1.4 Đầu tư, xây dựng các trụ sở cộng đồng, trang thiết bị phục vụ công tác quản lý, bảo tồn của vịnh

(ii) Các giải pháp nâng cao ý thức bảo tồn ĐDSH của cộng đồng địa phương:

Hoạt động 1.5 Tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông về bảo tồn ĐDSH vịnh Tiên Yên Hoạt động 1.6 Tăng cường lấy ý kiến, họp cộng đồng góp ý cho các chính sách của Nhà nước về bảo tồn ĐDSH

(b) Nhóm giải pháp thứ hai: Xây dựng cơ chế quản lý hợp tác trong bảo tồn và chia sẻ lợi ích

giữa các bên liên quan, đặc biệt là sự tham gia cộng đồng nhằm hạn chế và giải quyết tốt các xung đột xã hội nảy sinh do khai thác sử dụng ĐNN vịnh Tiên Yên

Mục tiêu: Quy chế quản lý hợp tác, bảo tồn và chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan, đặc biệt là

sự tham gia cộng đồng tại vịnh Tiên Yên được xây dựng và triển khai thực hiện

(i) Các giải pháp liên quan đến việc xây dựng và triển khai Quy chế phối hợp bảo tồn ĐDSH và chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan:

Hoạt động 2.1 Xác định các dịch vụ HST chủ yếu theo từng vùng

Hoạt động 2.2 Xác định vai trò, trách nhiệm, cam kết tham gia và lợi ích của từng bên liên quan theo các nhóm tại các vùng ưu tiên bảo tồn ĐDSH của vịnh Tiên Yên

Hoạt động 2.3 Xác định cơ chế chia sẻ lợi ích (hình thức chia sẻ lợi ích, mức chia sẻ, cơ chế quản lý ) giữa các bên và sự tham gia trong bảo tồn ĐDSH, ưu tiên cho một số loại hình dịch vụ môi trường tại vùng ưu tiên bảo tồn ĐDSH

Hoạt động 2.4 Xây dựng Quy chế phối hợp bảo tồn ĐDSH và chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan (lấy ý kiến thống nhất giữa các bên và trình cơ quan thẩm quyền ký ban hành) và tổ chức thực hiện (ii) Các giải pháp về thành lập tổ tuần tra, giám sát cộng đồng kiểm tra các hoạt động trên vịnh (phân theo các vùng cụ thể):

Hoạt động 2.5 Thành lập Ban quản lý cộng đồng của vịnh trên nguyên tắc có sự tham gia của các bên liên quan

Hoạt động 2.6 Thành lập các tổ, đội tuần tra, giám sát chung theo các vùng ưu tiên bảo tồn ĐDSH

Trang 12

(c) Nhóm giải pháp thứ ba: Phân vùng môi trường, tăng cường bảo tồn ĐDSH tại các khu vực

nhạy cảm, có ĐDSH cao, đồng thời kết hợp với việc khai thác, sử dụng bền vững, hiệu quả các lợi thế, dịch vụ HST, phục vụ sinh kế cộng đồng ven biển

Mục tiêu: Vịnh Tiên Yên được phân vùng và có giải pháp quản lý và sử dụng khôn khéo phù hợp với đặc điểm đặc thù của từng vùng

Hoạt động 3.1 Phân vùng môi trường, trong đó có vùng ưu tiên bảo tồn ĐDSH

Các tiêu chí phân vùng môi trường: đảm bảo sự hài hòa, công bằng giữa các nhóm lợi ích, tránh xung đột môi trường, ưu tiên việc đảm bảo sinh kế cho cộng đồng nghèo ven vịnh, sống dựa vào nguồn tài nguyên thủy sản của vịnh; phù hợp với đặc điểm các nguồn tài nguyên của vùng, đặc biệt là tài nguyên sinh vật và vai trò sinh thái của chúng, nhằm bảo tồn ĐDSH và các dịch vụ HST; đáp ứng khả năng khai thác, sử dụng tài nguyên ĐNN, cũng như bảo tồn cho nhu cầu phát triển; loại trừ hay giảm thiểu việc sử dụng tài nguyên hay các hoạt động có ảnh hưởng xấu đến tài nguyên và gây khó khăn cho công tác quản lý của vịnh Tiên Yên; phù hợp với các phương thức sử dụng tài nguyên của cộng đồng và người dân địa phương, thúc đẩy các hoạt động khai thác các dịch vụ HST tại vịnh; phù hợp với các quy hoạch phát triển đã có và đang thực hiện liên quan đến vịnh Tiên Yên và phù hợp với các chính sách, kế hoạch liên quan của địa phương Căn cứ vào các tiêu chí đó và tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã có, khu vực vịnh Tiên Yên có thể đề xuất phân chia thành bốn vùng chức năng môi trường khác nhau Bốn vùng chức năng môi trường này thuộc bốn kiểu môi trường là: cửa sông, bãi triều, vũng vịnh, biển hở ven bờ của

hệ môi trường biển ven bờ Mỗi một vùng môi trường cũng được đề xuất định hướng ưu tiên sử dụng khôn khéo phù hợp, cụ thể các vùng như sau:

+ Vùng ưu tiên bảo tồn ĐDSH, cảnh quan ĐNN – “vùng lõi” Đồng Rui, cửa sông Tiên Yên (vùng 1)

+ Vùng bảo tồn kết hợp với khai thác nuôi trồng thủy sản (NTTS) hạn chế – “vùng đệm” Tiên Yên – Hải Hà (vùng 2)

+ Vùng bảo tồn thiên nhiên kết hợp với nuôi thủy sản lồng bè, khai thác thủy sản hạn chế Núi Cuống – Hòn Miều (vùng 3)

+ Vùng phát triển công nghiệp, dịch vụ và cảng biển vịnh Tiên Yên (vùng 4)

Đối với từng vùng, định hướng sử dụng khôn khéo ĐNN lại có những điểm khác nhau Vùng 1

ưu tiên thúc đẩy nghiên cứu và hợp tác, xây dựng vùng thành khu bảo tồn ĐNN/khu bảo tồn biển, khu Ramsar, khu di sản ASEAN ; tăng cường bảo vệ các HST RNM, duy trì quản lý RNM dựa vào cộng đồng đã được xây dựng tại xã Đồng Rui, trồng bổ sung trên diện tích RNM

đã có, trồng mới trên các đầm tôm bị bỏ hoang; xây dựng mô hình quản lý TNTN dựa vào cộng đồng, nhằm duy trì mật độ khai thác hợp lý, không khai thác vào mùa sinh sản và xây dựng các tuyến du lịch sinh thái kết hợp giáo dục môi trường Vùng 2 có thể phát triển NTTS và đánh bắt hải sản, phát triển công nghiệp chế biến thủy hải sản và dịch vụ nghề cá; xây dựng mô hình quản

lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng cho các xã; tuy nhiên, đình chỉ các hoạt động khai thác ilmenit ở bãi triều Đông Ngũ, Đông Hải và không phát triển hoạt động khai thác tại các bãi triều khác; cải tạo RNN có chất lượng kém; giảm mật độ nuôi ngao sò; xây dựng và triển khai đúng kế hoạch quản lý hoạt động khai thác thủy sản của cả vùng Các hoạt động ưu tiên của

Trang 13

vùng 3 là hạn chế đánh bắt thủy sản, quy định rõ mùa vụ khai thác, các loài và kích thước loài được khai thác; phát triển NTTS và đánh bắt hải sản, đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến

và dịch vụ nghề cá; có thể phát triển thủy sản lồng bè ở phần phía Đông; phát triển du lịch sinh thái Vùng 4 có thể phát triển cảng Mũi Chùa, song phải chú ý thận trọng, không để ảnh hưởng đến môi trường nước khi nạo vét vũng tàu, luồng cảng và vật liệu san lấp; xây dựng quy trình thu gom chất thải rắn, chất thải nguy hại; xây dựng hệ thống và quy trình phòng ngừa sự cố môi trường như tràn dầu, rò rỉ hóa chất; xây dựng trạm quan trắc môi trường biển tổng hợp tại khu vực Hòn Miều

Hoạt động 3.2 Cải tạo, phục hồi các HST, cảnh quan ĐNN bị suy giảm, tác động:

+ Xác định các khu vực cảnh quan, các HST bị tác động, bị ảnh hưởng, đặc biệt tại vùng 2 + Huy động sự tham gia cộng đồng trong việc trồng mới RNM tại các khu vực bị suy giảm tại các vùng 1, 2 và 3

+ Thiết lập khu bảo tồn ĐNN/khu bảo tồn biển vùng lõi tại vùng 1, đồng thời đề xuất các danh hiệu bảo tồn cho vùng này: khu bảo tồn ĐNN có tầm quan trọng quốc tế (khu Ramsar), khu di sản ASEAN và khu dự trữ sinh quyển

+ Phát triển du lịch sinh thái của địa phương tại vùng 1 và 4 và các mô hình sinh kế cho cộng đồng tại vùng ven vịnh

Hoạt động 3.3 Tăng cường các hoạt động bảo tồn ĐDSH tại vịnh Tiên Yên:

+ Lập kế hoạch/mô hình bảo tồn ĐDSH có sự tham gia cộng đồng tại các vùng, đặc biệt vùng 1 + Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong các mô hình khai thác TNTN (như NTTS) tại vùng 2, 3

+ Kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại tại các vùng 1, 2 và 3

(d) Nhóm giải pháp thứ tư: Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển, suy thoái ĐDSH do các hoạt

động phát triển kinh tế, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác không bền vững, cũng như chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu

Mục tiêu: Các nguồn ô nhiễm môi trường biển vịnh Tiên Yên được kiểm soát và kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu được xây dựng và áp dụng

(i) Xây dựng Mô hình kiểm soát hiệu quả các nguồn ô nhiễm môi trưởng biển vịnh Tiên Yên tại các vùng môi trường, đặc biệt tại vùng 4:

Hoạt động 4.1 Xác định các nguồn gây ô nhiễm và các tác động của hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên ĐNN đối với ĐDSH đến các vùng trong vịnh Tiên Yên (khai khoáng, xây dựng cảng biển, giao thông biển, ô nhiễm từ đất liền chuyển đổi sử dụng đất sang NTTS)

Hoạt động 4.2 Thực hiện đầy đủ các giải pháp bảo vệ môi trường đối với các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên ĐNN tại các vùng 2, 3, và 4

Hoạt động 4.3 Thực hiện quan trắc chất lượng môi trường nước mặt, ĐDSH và các nguồn ô nhiễm vùng 2, 3 và 4

Trang 14

(ii) Xây dựng kế hoạch thích ứng với BĐKH:

Hoạt động 4.4 Đánh giá tác động, ảnh hưởng của BĐKH đến ĐDSH vịnh Tiên Yên theo 4 vùng

đã xác định

Hoạt động 4.5 Các giải pháp thích ứng với BĐKH tại 4 vùng môi trường đã xác định

(e) Nhóm giải pháp thứ năm: Thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu, hợp tác, góp phần quản lý

hiệu quả tài nguyên ĐNN vịnh Tiên Yên

Mục tiêu: Cơ sở dữ liệu về ĐDSH ĐNN và các chương trình hợp tác trong và ngoài nước về bảo tồn ĐDSH vịnh Tiên Yên được xây dựng và triển khai thực hiện

Hoạt động 5.1 Xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu về ĐDSH ĐNN vịnh Tiên Yên

Hoạt động 5.2 Xây dựng và triển khai các chương trình hợp tác trong và ngoài nước về bảo tồn ĐDSH vịnh Tiên Yên

3.2.4 Phương án tổ chức thực hiện các giải pháp

Với 5 nhóm giải pháp và 22 giải pháp cụ thể nêu trên, để đảm bảo tính khả thi, phù hợp của các giải pháp này đối với khu vực vịnh Tiên Yên, cần thiết phải nghiên cứu đề xuất áp dụng các giải pháp này phù hợp với điều kiện thực tế mỗi vùng môi trường Ở giai đoạn đầu, đề xuất tập trung vào 2 vùng là vùng 1: vùng ưu tiên bảo tồn ĐDSH, cảnh quan ĐNN – “vùng lõi” Đồng Rui, cửa sông Tiên Yên; và vùng 4: vùng phát triển công nghiệp, cảng biển Tổng hợp các giải pháp áp dụng tại 2 vùng này là 2 mô hình bảo tồn và sử dụng khôn khéo ĐNN được thử nghiệm, áp dụng nhóm các giải pháp sử dụng khôn khéo đã đề xuất nêu trên Sau quá trình áp dụng tại 2 vùng này, sẽ tiến hành đánh giá hiệu quả áp dụng và đề xuất nghiên cứu tiếp theo cho toàn bộ vùng vịnh trên tất cả 4 vùng

(a) Mô hình bảo tồn RNM dựa vào cộng đồng tại "vùng lõi" Đồng Rui – cửa sông Tiên Yên:

(i) Mục tiêu mô hình: bảo tồn ĐDSH, HST RNM vùng cửa sông Tiên Yên

(ii) Vị trí, phạm vi mô hình: Vùng bao gồm diện tích bãi triều của xã Đồng Rui (Tiên Yên) và Đài Xuyên (Vân Đồn), với diện tích khoảng 5.000 ha, trong đó RNM chiếm 2.800 ha

Đặc điểm khu vực này là bãi triều rộng, phân bố dọc theo hai nhánh Voi Lớn và Voi Bé của sông

Ba Chẽ, diện tích RNM lớn giới hạn từ cửa sông Ba Chẽ đến cửa sông Tiên Yên Đặc điểm khu vực này là RNM nguyên sinh ven sông với các cây ngập mặn hàng trăm năm tuổi Vùng này có ĐDSH cao, với nhiều loài thực vật ngập mặn, các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao và đa dạng

về sinh cảnh, hàng năm, mang lại lợi ích rất lớn từ các dịch vụ HST Theo thống kê năm 2012, sản lương tôm Đồng Rui đạt 1,2 tấn (Cục Thống kê Quảng Ninh, 2013)

(iii) Các hoạt động của mô hình:

+ Xây dựng quy chế hợp tác bảo tồn RNM có sự tham gia của các bên liên quan và có cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng đồng, nhằm giải quyết tốt các xung đột xã hội nảy sinh do khai thác sử dụng ĐNN vịnh Tiên Yên:

− Xác định các dịch vụ HST từ HST RNM trong vùng

Trang 15

− Xác định vai trò, trách nhiệm, cam kết sự tham gia cụ thể, cũng như lợi ích của các bên liên quan tại vùng này trong việc bảo tồn ĐDSH vịnh

− Xây dựng quy chế hợp tác bảo tồn và cơ chế chia sẻ lợi ích (hình thức chia sẻ lợi ích (quỹ), mức chia sẻ, cơ chế quản lý ) giữa các bên và sự tham gia trong bảo tồn ĐDSH tại vùng này

− Thành lập Ban quản lý RNM cộng đồng tại vùng này

− Xin ý kiến thống nhất giữa các bên và trình cơ quan thẩm quyền ký ban hành và tổ chức thực hiện

+ Truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò, giá trị HST ĐNN ven biển đối với đời sống của nhân dân: Đối tượng truyền thông là học sinh, người dân và chính quyền địa phương, thông qua các hoạt động cụ thể: mở lớp tuyền truyền; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu vai trò, giá trị của HST RNM ven biển; thường xuyên đưa các thông tin lên bản tin của địa phương nơi xây dựng mô hình, kịp thời khen thưởng những cá nhân xuất sắc và có những hình thức nhắc nhở các đối tượng vi phạm trong khai thác quá mức hoặc phá hoại tài nguyên HST RNM

+ Trồng mới và trồng giặm các loài thực vật ngập mặn: Khảo sát xác định các vị trí và diện tích

có thể trồng mới và trồng giặm các loài thực vật ngập mặn; lựa chọn loài cây ngập mặn bản địa

để phục hồi và triển khai trồng bổ sung theo mật độ phù hợp cho cây sinh trưởng và phát triển; triển khai xây dựng vườn ươm cây, bao gồm: tổ chức lấy quả để ươm cây ngập mặn, chăm sóc, duy trì và bảo vệ cây con; triển khai trồng các loài cây ngập mặn; chăm sóc, bảo vệ rừng trồng và phát triển ĐDSH của HST RNM

+ Triển khai thực hiện các hoạt động nâng cao sinh kế cho người dân địa phương:

− Triển khai hoạt động trồng nấm: Tập huấn về kỹ thuật trồng nấm; xác định các hộ gia đình

có khả năng tiếp thu và làm chủ được kỹ thuật; lựa chọn các hộ gia đình để hỗ trợ giống và triển khai trồng nấm; thành lập câu lạc bộ trồng nấm để chia sẻ kinh nghiệm và nhân rộng hoạt động trồng nấm

− Triển khai hoạt động nuôi ong: Mở lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi ong; xác định các hộ gia đình có khả năng tiếp thu và làm chủ được kỹ thuật; lựa chọn các hộ gia đình để hỗ trợ về giống ong, tổ, chân cầu, máy quay mật và triển khai nuôi ong; thành lập câu lạc bộ nuôi ong để chia sẻ kinh nghiệm và nhân rộng các hộ nuôi ong

− Triển khai hoạt động chăn nuôi gia súc kết hợp xây dựng hầm biogas: Tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm, kết hợp với xây dựng hầm biogas; tiến hành khảo sát các hộ gia đình có tiềm năng triển khai các hoạt động chăn nuôi gia súc kết hợp xây dựng hầm biogas và lựa chọn hộ gia đình điển hình để hỗ trợ giống, kỹ thuật và vật tư cần thiết; hướng dẫn các kỹ thuật chăn nuôi và triển khai xây dựng hầm biogas; tổ chức các cuộc họp trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và phổ biến, nhân rộng trong cộng đồng của khu vực

− Nuôi trồng thủy sản trong HST RNM và quanh vùng rừng ngập mặn: Hướng dẫn kỹ thuật NTTS dưới và quanh vùng HST RNM của khu vực xây dựng mô hình; hướng dẫn cách thức khai thác, bảo vệ và phát triển bền vững các loài thủy sản

Trang 16

(b) Mô hình cộng đồng bảo vệ môi trường và bảo tồn ĐDSH tại “vùng phát triển công nghiệp, dịch vụ và cảng biển vịnh Tiên Yên”:

(i) Mục tiêu mô hình: Kiểm soát chặt chẽ các nguồn ô nhiễm môi trường do các hoạt động phát triển công nghiệp, dịch vụ và cảng biển tại khu vực đã được giới hạn

(ii) Vị trí, phạm vi của mô hình: Vùng phát triển công nghiệp - cảng biển Hải Hà: Khu công nghiệp - cảng biển Hải Hà được quy hoạch tại khu vực Hòn Miều với tổng diện tích là 5.000 ha, trong đó khu vực phát triển công nghiệp là 3.900 ha, khu vực phát triển cảng biển là 1.100 ha Khu vực công nghiệp được bố trí thành 6 cụm, bao gồm: khu vực nhà máy lọc dầu, hóa than và công nghiệp phụ trợ; khu vực luyện - cán thép; khu vực đóng tầu; khu vực nhà máy nhiệt điện;

và hai cụm cuối cùng là khu vực công nghiệp phụ trợ Khu vực phát triển cảng biển bao gồm hệ thống cảng container, cảng tổng hợp, cảng dầu, cảng quặng, cảng than và các cảng du lịch, dân

sự Phần không gian phía Bắc của vịnh, từ Hòn Miều đến Cửa Đại, được dành cho hoạt động của khu công nghiệp - cảng biển, phục vụ mục đích neo đậu, lai dẫn tàu thuyền ra vào cảng

Vùng phát triển cảng biển Mũi Chùa – Cửa Lân, vùng này bao gồm diện tích vịnh, từ Mũi Chùa đến Cửa Lân, luồng lạch sâu do sự bào mòn địa hình đáy của dòng chảy từ cửa sông Tiên Yên ra đến Cửa Lân, thuận lợi cho tàu bè ra vào cảng Trong khu vực, hiện đã có cảng Mũi Chùa và sẽ được mở rộng theo quy hoạch, với tổng diện tích là 6 ha, cụ thể là đến 2015, sẽ xây dựng 1 bến tàu dài 200 m, đến 2020 xây dựng thêm 2 bến tàu dài 200 m và đến 2030 sẽ xây dựng thêm 4 bến tàu dài 400 m Ngoài phát triển cảng, khu vực cửa sông Tiên Yên cũng là bến đậu tàu thuyền của

cư dân địa phương và một số nhà hàng nổi trên vịnh

(iii) Các hoạt động của mô hình:

+ Xây dựng quy chế hợp tác bảo vệ môi trường giữa các bên liên quan, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng và cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng đồng:

− Xác định các doanh nghiệp, loại hình phát triển trong vùng (khu vực nhà máy lọc dầu, hóa than và công nghiệp phụ trợ; khu vực luyện - cán thép; khu vực đóng tầu; khu vực nhà máy nhiệt điện; và hai cụm là khu vực công nghiệp phụ trợ) Khu vực phát triển cảng biển bao gồm hệ thống cảng container, cảng tổng hợp, cảng dầu, cảng quặng, cảng than và các cảng du lịch, dân

− Thành lập Ban giám sát môi trường cộng đồng tại vùng này, với sự tham gia của các bên liên quan nêu trên

− Xin ý kiến thống nhất giữa các bên và trình cơ quan thẩm quyền ký ban hành và tổ chức thực hiện

Trang 17

+ Kiểm soát các nguồn ô nhiễm môi trường:

− Trong giai đoạn thi công mở rộng và vận hành cảng Mũi Chùa, phải có các giải pháp bảo

vệ môi trường, như che chắn, tránh việc gia tăng độ đục bất thường khi nạo vét vũng quay tàu và luồng vào cảng, hạn chế việc rửa trôi vật liệu san lấp xuống biển Xây dựng quy trình thu gom,

xử lý chất thải rắn, chất thải độc hại (dầu mỡ) trong giai đoạn thi công và vận hành cảng

− Đối với khu công nghiệp - cảng biển, cần xây dựng quy trình thu gom và xử lý rác thải đồng bộ, đặc biệt đối với rác thải nguy hại, cần thiết quan trắc môi trường thường xuyên trong khu công nghiệp - cảng biển

− Xây dựng hệ thống và quy trình phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường cho khu vực, như sự cố tràn dầu, rò rỉ hóa chất

− Xây dựng trạm quan trắc môi trường biển tổng hợp, vị trí lựa chọn có thể là khu vực Hòn Miều Mục đích của trạm quan trắc là vừa đánh giá diễn biến môi trường vịnh, vừa đánh giá tác động của khu công nghiệp - cảng biển Hải Hà và khu cảng biển Mũi Chùa – Cái Lân đến môi trường vịnh Tiến hành quan trắc môi trường thường xuyên và định kỳ khi cảng đi vào hoạt động + Truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường cho các doanh nghiệp, chính quyền và người dân địa phương, đặc biệt chú trọng đến các doanh nghiệp tại vùng này

(c) Giám sát, đánh giá hiệu quả tác động của giải pháp sử dụng khôn khéo ĐNN vịnh Tiên Yên:

Căn cứ đề xuất các giải pháp sử dụng khôn khéo ĐNN vịnh Tiên Yên, trên cơ sở xác định các đe dọa và mức độ ưu tiên giải quyết các đe dọa với cộng đồng, tổ chức các cuộc họp cộng đồng, thống nhất với các đề xuất giải pháp để giải quyết các đe dọa này

Giám sát, đánh giá hiệu quả các giải pháp sử dụng khôn khéo ĐNN vịnh Tiên Yên được thực hiện định kỳ 6 tháng Các đe dọa và mức độ ưu tiên giải quyết các đe dọa thông qua các cuộc họp cộng đồng Kết quả so sánh với giữa các lần đánh giá theo định kỳ được áp dụng để giám sát, đánh giá hiệu quả tác động và có các điều chỉnh đối với các giải pháp phù hợp với thực tiễn

Để các giải pháp có hiệu quả trong thực tiễn, quan điểm tác giả cho rằng, một số những yếu tố cần tiến hành song hành với quá trình thực hiện các giải pháp, cụ thể như sau:

+ Chính quyền các cấp tại địa phương và nhân dân hiểu và nắm được nội dung và ý nghĩa của

sử dụng khôn khéo ĐNN Trên cơ sở hiểu ý nghĩa khoa học và thực tiễn của giải pháp, chính quyền và người dân đồng thuận và tham gia tích cực vào các hoạt động của giải pháp

+ Chính quyền trung ương và địa phương hỗ trợ chính sách cộng đồng tham gia, chia sẻ và hưởng lợi từ các hoạt động quản lý, bảo tồn và sử dụng hợp lý TNTN nói chung, tài nguyên ven biển nói riêng

+ Triển khai thực tế các hoạt động trong một khoảng thời gian ít nhất 1-2 năm, sau đó tiến hành tổng kết, đánh giá và điều chỉnh các giải pháp này

+ Cần có sự hỗ trợ không chỉ về nhân lực, kỹ thuật, mà còn cả vật chất và kinh phí (bước đầu)

để cộng đồng địa phương có điều kiện cần và đủ thực hiện triển khai các giải pháp

Trang 18

Vận dụng một số phương pháp tiếp cận mới, hiện đại trong quản lý và bảo tồn ĐNN, trên cơ sở các nội dung, tiêu chí sử dụng khôn khéo, xác định các đe dọa đến suy thoái ĐNN, nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng và các tác động tại địa bàn, 5 nhóm giải pháp và 22 hoạt động cụ thể, bước đầu đề xuất áp dụng thí điểm 2 mô hình tại 2 trong số 4 vùng môi trường khu vực ĐNN vịnh Tiên Yên, bao gồm:

(1) Tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức cộng đồng và các bên liên quan trong quản lý tài nguyên ĐNN vịnh Tiên Yên

(2) Xây dựng cơ chế quản lý hợp tác trong bảo tồn và chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng, nhằm hạn chế và giải quyết tốt các xung đột xã hội, nảy sinh

do khai thác, sử dụng ĐNN vịnh Tiên Yên

(3) Bảo tồn ĐDSH tại các khu vực nhạy cảm, có ĐDSH cao, đồng thời kết hợp với khai thác, sử dụng bền vững, hiệu quả các lợi thế, dịch vụ HST phục vụ sinh kế cộng đồng ven biển

(4) Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển, suy thoái ĐDSH do các hoạt động phát triển kinh tế, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác không bền vững, cũng như chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu

(5) Thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu, hợp tác, xây dựng cơ sở hạ tầng, góp phần quản lý hiệu quả tài nguyên ĐNN vịnh Tiên Yên

Hai mô hình thí điểm được đề xuất áp dụng:

(1) Mô hình bảo tồn RNM dựa vào cộng đồng tại “vùng lõi” – Đồng Rui, cửa sông Tiên Yên, áp dụng tại vùng bãi triều của xã Đồng Rui (Tiên Yên) và Đài Xuyên (Vân Đồn), với diện tích khoảng 5.000 ha, trong đó RNM chiếm 2.800 ha Mục tiêu mô hình là bảo tồn ĐDSH, HST RNM vùng cửa sông Tiên Yên

(2) Mô hình cộng đồng bảo vệ môi trường và bảo tồn ĐDSH tại “vùng phát triển công nghiệp, dịch vụ và cảng biển vịnh Tiên Yên” Mô hình áp dụng tại vùng phát triển công nghiệp, dịch vụ

và cảng biển Hải Hà và vùng phát triển cảng biển Mũi Chùa – Cửa Lân, với tổng diện tích ước tính khoảng 3.000 ha Mục tiêu mô hình là kiểm soát chặt chẽ các nguồn ô nhiễm môi trường do các hoạt động phát triển công nghiệp, dịch vụ và cảng biển tại khu vực đã được giới hạn

Trang 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chính phủ, 2004 Nghị định 109/2003/NĐ-CP, ngày 23/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về Bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước Hà Nội

2 Công ước Ramsar, 2007a Cẩm nang 1 Sử dụng khôn khéo đất ngập nước

3 Công ước Ramsar, 2007b Cẩm nang 6 Quản lý đất ngập nước có sự tham gia của cộng đồng

4 Cục Thống kê Quảng Ninh, 2013 Niên giám thống kê huyện Tiên Yên năm 2012 Quảng Ninh

5 Dugan P.J., 1990 Wetland Conservation: A Review of Current Issues and Required Action IUCN

6 Lê Diên Dực, 1989 Báo cáo tổng quan về đất ngập nước Việt Nam Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Hà Nội

7 Lê Diên Dực (Chủ biên) và Hoàng Văn Thắng, 2012 Đất ngập nước Tập I: Các nguyên lý

và sử dụng bền vững Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường NXB Nông nghiệp, Hà Nội: 336 tr

8 Isozaki H., M Ando and Y Natori, 1992 Towards Wise Use of Asian Wetlands Asian Wetland Symposium International Lake Environmental Committee Foundation: 285 p

9 IUCN Việt Nam, 2008 Hướng dẫn quản lý khu bảo tồn thiên nhiên: Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế IUCN Việt Nam, Hà Nội

10 Ramsar Convention, 2013 Http:/www.ramsar.org

11 United State Department of the Interior, 1994 Ecosystem Management in the BLM : From Concept to Commitment Bureau of Land Management: 16 p

12 William J.M and J.G Gosselink, 2011 Wetland 4th Edition John Wiley & Sons : 600 p

Abstract WISE USE OF WETLANDS AND PROPOSED SOLUTIONS FOR WISE USE

OF TIEN YEN BAY WETLANDS, QUANG NINH PROVINCE

Nguyen Xuan Dung and To Thuy Nga

Ph.D students, Centre for Natural Resources and Environmental Studies, VNU

The fact shows that the biodiversity in Tien Yen Bay has been declining The use and exploitation of wetlands has not been strictly controlled The functional authorities have not operated appropriately Traditional conservation method has proved to be not as effective as desired At present, as a matter of fact, we must have more appropriate and effective approaches to manage this wetland area Wise use of wetlands is proposed to be applied in this case Emphasis is also put on the importance of making use of wetlands for both economic development and conservation of the natural values Besides, the method of exploitation and use of wetlands must be consistent with their natural features to make sure that they do not cause degradation of natural resources and environment, being within the permissible limits and recoverable At the same time, exploitation must associate

Trang 20

with the collaboration and benefit sharing with stakeholders On the basis of the wise use

of resource and actual local conditions, 5 solutions and 22 specific activities have been initially piloted under 2 models in two of four environment regions in the wetland area of Tien Yen Bay

Trang 21

VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI

GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

hệ thống giao thông đường bộ nói riêng đã được đề cập đến trong nhiều chính sách của Chính phủ Tuy nhiên, việc thực hiện và áp dụng trong thực tế của các chính sách đó còn nhiều hạn chế

Để hướng tới việc phát triển một hệ thống giao thông đường bộ bền vững, sự tham gia của cộng đồng cần được tích hợp trong tất cả các giai đoạn thực hiện kế hoạch phát triển giao thông đường bộ

1 MỞ ĐẦU

Phát triển giao thông đường bộ, hay hệ sinh thái đường bộ bền vững, đang là xu hướng chung của thế giới.Hệ sinh thái đường bộ được xây dựng trước hết phục vụ các mục đích kinh tế, xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, các dịch vụ kinh tế liên quan đến con người và thứ đến là phục vụ nhiều mục đích cho các khu vực cảnh quan và các hoạt động giải trí Trên thế giới hiện nay, cách tiếp cận hệ sinh thái (HST) trong phát triển đường bộ đã trở nên phổ biến, giúp giải thích sự tương tác giữa đường bộ và hệ sinh thái, cảnh quan và các vùng sinh thái liền kề, cuối cùng đưa ra đánh giá môi trường đầy đủ hơn và giảm dấu chân sinh thái trong phát triển đường bộ (CBD, 2004; Davenport và Davenport, 2006)

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, việc xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó có hệ thống giao thông đường bộ, đang là một nhu cầu bức thiết và có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Gần đây, trong Báo cáo quốc gia của Việt Nam tại Hội nghị cấp cao của Liên Hợp Quốc về Phát triển bền vững (Rio+20, 6/2012) đã khẳng định: Quá trình thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam

là quá trình có sự tham gia của các bên liên quan, bao gồm Chính phủ, các tổ chức xã hội dân sự

và cộng đồng doanh nghiệp, bao gồm cả Nhà nước và tư nhân Trong quá trình hoạch định và thực hiện các chính sách phát triển, phải được toàn dân tham gia theo phương thức “dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra” (Nước CHXHCNVN, 2012)

Trang 22

Như vậy, có thể thấy vai trò của cộng đồng trong phát triển HST đường bộ ở Việt Nam đã bước đầu có sự nhìn nhận từ cấp cao nhất Tuy nhiên, việc triển khai và thực thi vẫn còn nhiều bất cập

so với chủ trương, định hướng

Nghiên cứu này dựa trên quan điểm tiếp cận HST, tiếp cận dựa trên cộng đồng trong quá trình phát triển HST giao thông đường bộ, trong đó chú trọng đặc biệt vào vai trò của cộng đồng đối với các yếu tố tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học Các HST giao thông đường bộ trong nghiên cứu cũng được xem xét ở mức độ vùng, miền của quốc gia, nơi việc phát triển ảnh hưởng nhiều tới yếu tố sinh thái học tự nhiên

Để hướng tới phát triển một HST giao thông đường bộ bền vững, sự tham gia của cộng đồng cần được quán triệt trong tất cả các giai đoạn phát triển giao thông đường bộ trên quan điểm phát triển bền vững mà Việt Nam đang theo đuổi

2 CÁCH TIẾP CẬN

2.1 Một số khái niệm

Sinh thái học đường bộ (road ecology) là một chuyên ngành của Sinh thái học, nghiên cứu mối

tương tác giữa sự phát triển đường, giao thông đường bộ và HST có liên quan (cấu trúc, chức năng) (Pirot và nnk., 2000; Forman và nnk., 2003, 2006; CBD, 2004; Dolan, 2004; Dolan và Whelan, 2004; Davenport và Davenport, 2006)

Cơ sở sinh thái học đường bộ (foundations of road ecology) (Forman và nnk., 2003) gồm các

hợp phần chính như sau:

+ Hệ thống đường bộ và đất đai

+ Các phương tiện giao thông

+ Quần xã sinh vật của HST liên quan (chủ yếu là thực vật và động vật)

+ Môi trường vô sinh (nước, đất, không khí và các yếu tố gây ô nhiễm)

+ Các yếu tố xã hội liên quan

Mục tiêu chung của nghiên cứu Sinh thái học đường bộ là định lượng các tác động sinh thái của con đường, mục đích cuối cùng nhằm tránh, giảm thiểu và bồi thường các tác động tiêu cực của chúng đối với cá nhân, dân số, cộng đồng và các hệ sinh thái (Van der Ree và nnk., 2011)

Các bên liên quan là bất cứ ai hưởng lợi hoặc chịu tác động bởi những gì đang xảy ra trong việc

phát triển giao thông đường bộ Ai sẽ chịu ảnh hưởng từ dự án, ai kiểm soát thông tin, những kỹ năng và tài chính cần huy động, ai trợ giúp và ai cản trở, không phải tất cả mọi yếu tố đều có vai trò như nhau Cần phân biệt để thấy được ai có tầm ảnh hưởng lớn nhất Trong quản lý tài nguyên dọc theo các tuyến đường giao thông, các chủ thể cùng tham gia quản lý bao gồm: (i) các

cơ quan Chính phủ; (ii) chính quyền địa phương; (iii) cộng đồng; (iv) các hộ dân, người dân; (v) các doanh nghiệp; và (vi) các tổ chức phi chính phủ (Davenport và Davenport, 2006; Trần Văn Ý

và nnk., 2010; Nước CHXHCNVN, 2012)

Cộng đồng là một nhóm người có những đặc điểm thái độ, cách ứng xử, tập quán sinh hoạt và

ước muốn tương đối giống nhau, cùng sống trong một bối cảnh tự nhiên, kinh tế-xã hội xác định Cộng đồng cũng có thể bao gồm những tổ chức xã hội do cộng đồng lập ra để đại diện cho các

Trang 23

quan điểm của họ Ở nhiều dân tộc thiểu số, già làng, trưởng bản là những người giàu kinh nghiệm, nắm vững phong tục tập quán của cộng đồng mình, đồng thời cũng là trung tâm của các cuộc hòa giải, những tranh chấp xung đột, được cộng đồng tôn trọng và tuân theo (Colchester, 1995)

Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là “một cách tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào

quản lý tài nguyên thiên nhiên tại địa phương” (Vandergeest, 2006) Quyền sử dụng đất, các quyền đối với đất và rừng là những yếu tố quan trọng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng Khi quyền về đất của cộng đồng bị suy giảm và quyền của từng cá nhân riêng rẽ được tăng cường, việc quản lý tài nguyên theo truyền thống bị ảnh hưởng tiêu cực (Colchester, 1995) Lynch

và Alcorn (1994) cho rằng, người dân địa phương có thể quyết định về tài nguyên trên thực tế ngay cả trong trường hợp nhà nước đã công bố quyền sở hữu, mặc dù quyết định của chính phủ

có thể làm mất đi động lực quản lý tài nguyên bền vững của cộng đồng Vì thế, cần bảo vệ quyền tài sản của cộng đồng Colchester (1995) nêu rõ, quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng có tác động tích cực đến đa dạng sinh học (Lynch và Alcorn, 1994; Colchester, 1995; USAID – EHP, 2003; Vandergeest, 2006)

Vai trò tham gia của cộng đồng được thế giới đánh giá rất cao Gần đây, theo quan điểm của Elinor Ostrom về phân tích kinh tế học (Đại học Indiana, Hoa Kỳ – Giải thưởng Nobel khoa học năm 2009), các cộng đồng địa phương (những người sử dụng) có thể tự mình quản lý công sản tốt hơn so với các quyền lực áp đặt từ bên ngoài, bởi các nhà quản lý quan liêu thường không có thông tin chính xác, còn các công dân và người sử dụng tài sản đó lại nắm rõ thông tin hơn ai hết Công sản là những tài nguyên mà nhiều người có thể sử dụng, nhưng việc tiêu dùng của người này làm giảm khả năng tiêu dùng của người kia, ví dụ như bãi cá, đồng cỏ, rừng, nước, không khí, đại dương… Theo quan điểm của Elinor Ostrom, muốn quản lý hiệu quả, cần phải dân chủ hóa quá trình ra quyết định, tức là đa số người sử dụng phải có quyền tác động tới việc điều chỉnh thay đổi quy định Chính quyền phải tôn trọng quyền của cộng đồng những người sử dụng tài nguyên (Ostrom và Schlager, 1992)

2.2 Cách tiếp cận

Để tiến hành nghiên cứu vai trò của cộng đồng trong phát triển giao thông đường bộ bền vững, cách tiếp cận hệ thống liên ngành dựa trên hệ sinh thái và cách tiếp cận dựa vào cộng đồng đã được áp dụng:

Tiếp cận dựa vào cộng đồng (community-based approach – CBA): Đề xuất các giải pháp, các

mô hình quản lý tài nguyên và môi trường có sự tham gia của cộng đồng tại khu vực dự án Đây

là cách tiếp cận từ dưới lên (Colchester, 1995; USAID – EHP, 2003) Tiếp cận dựa vào cộng đồng là một quá trình mà chính phủ và cộng đồng cùng nhận một số trách nhiệm cụ thể và tiến hành các hoạt động để cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng cho tất cả cộng đồng; đảm bảo cho những người chịu ảnh hưởng của dự án được tham gia vào việc ra quyết định của dự án; tìm và huy động các nguồn lực của cộng đồng, qua đó để tăng lợi ích cho cộng đồng dân cư, giảm các chi phí, tăng hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị cho nhà nước

Cách tiếp cận hệ sinh thái/dựa trên HST (ecosystem/ecosystem-based approach – EBA), do Công

ước Đa dạng sinh học (CBD) đề xuất, là một chiến lược quản lý tổng hợp tài nguyên thiên nhiên (đất, nước và sinh vật), nhằm tăng cường bảo vệ và sử dụng bền vững các dạng tài nguyên này một cách công bằng Gần đây, cách tiếp cận này đã được áp dụng rộng rãi trong phát triển bền

Trang 24

vững (PTBV), khi đặt con người và thực tiễn sử dụng tài nguyên là trung tâm của các hệ sinh thái (Pirot và nnk., 2000; WB, 2010; Trương Quang Học, 2012).Một cách khái quát, có thể định nghĩa cách tiếp cận hệ sinh thái là cách tiếp cận có sự liên kết các nguyên tắc sinh thái, kinh tế và

xã hội để quản lý các HST – xã hội, bao gồm hệ tự nhiên (sinh thái) và hệ xã hội, bằng cách bảo

vệ tính bền vững sinh thái của các hệ thống này một cách lâu dài/bền vững (MEA, 2005)

Nguồn: MEA, 2005; Trương Quang Học, 2012

Hình 2.1 Mối quan hệ giữa dịch vụ hệ sinh thái, phúc lợi của con người

và nguyên nhân biến đổi

Cách tiếp cận dựa trên HST được thực hiện trên 12 nguyên tắc cơ bản, có sự hỗ trợ, tương tác lẫn nhau (Smith và Maltby, 2003) và được tổng kết thành 5 bước thực hiện (Shepherd, 2004), đó là: (i) xác định những bên có liên quan và định biên hệ sinh thái; (ii) nghiên cứu cấu trúc, chức năng

và quản lý hệ sinh thái; (iii) xác định những vấn đề từ góc độ kinh tế; (iv) quản lý thích nghi theo không gian; và (v) quản lý thích nghi theo thời gian (Smith và Maltby, 2003; Shepherd, 2004)

Với quan niệm Con người là trung tâm của hệ sinh thái, cách tiếp cận dựa trên HST bao gồm và nhấn mạnh cả cách tiếp cận có sự tham gia của các bên có liên quan (stakeholders), đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng (community) theo nghĩa truyền thống (MEA, 2005)

Trang 25

Quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên là để tiếp cận bền vững hơn đối với phát triển đường

bộ Theo như cách tiếp cận sinh thái, quản lý phát triển giao thông đường bộ phải cố gắng quản

lý nguồn tài nguyên đầu vào, trung gian và đầu ra cần có trong phát triển hệ sinh thái đường bộ thông qua các giai đoạn quy hoạch, thiết kế, xây dựng, vận hành Các giai đoạn này được thực hiện hợp lý có thể giảm nhẹ khả năng của các tác động tiềm ẩn trong hệ sinh thái và mỗi biện pháp kỹ thuật cần tránh tiêu thụ quá mức, gây suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên (Dolan, 2004; Dolan và Whelan, 2004; Davenport và Davenport, 2006)

3 PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ VÀ CÁC TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

3.1 Hiện trạng giao thông đường bộ ở Việt Nam

Về mạng đường: Theo Cục Đường bộ Việt Nam, đến tháng 12/2008, tổng chiều dài mạng đường

bộ Việt Nam có 251.887 km, trong đó đường quốc lộ 17.395 km, chiếm 6,9%; đường tỉnh 23.138 km, chiếm 9,2%; đường huyện 54.962 km, chiếm 21,8%; đường xã 141.442 km, chiếm 56,2%; đường đô thị 8.535 km, chiếm 3,4% và đường chuyên dùng 6.415 km, chiếm 2,5% (Bộ GTVT, 2012; Viện KH&CN GTVT, 2012; Chính phủ, 2013)

Mật độ đường: Mật độ đường bộ trên toàn quốc chưa cao, trong đó mật độ đường quốc lộ còn

chiếm tỷ lệ rất thấp, đạt 0,053 km/km2 và 0,21 km/1.000 dân, thấp so với các nước khu vực (Trung Quốc: 0,2 km/km2, 1,44 km/1.000 dân; Hàn Quốc 1,01 km/km2, 2,1 km/1.000 dân; Thái Lan 0,11 km/km2, 0,9 km/1.000 dân) (Bộ GTVT, 2012; Viện KH&CN GTVT, 2012; Chính phủ, 2013)

Hệ thống giao thông đường bộ Việt Nam chủ yếu như sau:

3.1.1 Trục xuyên quốc gia

Hệ thống trục dọc xuyên quốc gia gồm có hai tuyến quốc lộ là quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh với tổng chiều dài khoảng 3.784 km Hai trục dọc chạy gần như song song với nhau theo suốt chiều dài lãnh thổ, khoảng cách trung bình giữa hai trục từ 20 km đến 40 km, những đoạn hẹp (khu vực miền Trung) khoảng 10 km Hai trục dọc này có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế-xã hội chung của đất nước, tạo điều kiện kết nối giữa ba vùng Bắc – Trung – Nam, và là hai trục để các trục ngang khu vực miền Trung – Tây Nguyên kết nối vào, tạo điều kiện tăng năng lực vận hành của cả hệ thống (Bộ GTVT, 2012; Viện KH&CN GTVT, 2012; Chính phủ, 2013)

3.1.2 Khu vực phía Bắc

(a) Hệ thống nan quạt: Hệ thống nan quạt gồm các quốc lộ 1B, 2, 3, 5, 6, 18, 18C, 32, 32B,

32C,70, Nội Bài – Bắc Ninh; tổng chiều dài khoảng 2.739 km Các trục nan quạt kết thúc tại các cảng biển, cửa khẩu biên giới hoặc nối vào các tuyến vành đai biên giới, đi qua trung tâm các tỉnh

và đều hướng tâm về Hà Nội (Bộ GTVT, 2012; Viện KH&CN GTVT, 2012; Chính phủ, 2013)

(b) Hệ thống đường vành đai biên giới, ven biển: Hệ thống đường vành đai biên giới gồm 3 vành đai

với tổng chiều dài 2.036,59 km, trong đó, vành đai 1 gồm các quốc lộ 4A, 4B, 4C, 4D, 4E, 4G, vành đai 2 (QL279) và vành đai 3 (QL37); tổng số km đường vành đai biên giới, có đầy đủ các cấp kỹ thuật từ cấp V đến cấp I và các loại kết cấu mặt bê tông xi măng, bê tông nhựa, láng nhựa, đá dăm và cấp phối Các tuyến vành đai xu hướng bắt đầu từ cảng và kết thúc tại các cửa khẩu; hệ thống vành đai chạy theo hướng vòng cung (song song với đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc, Lào)

Trang 26

Đường ven biển: gồm trục quốc lộ 10 và một phần quốc lộ 18 (đoạn từ Uông Bí (giao QL10) tới cửa khẩu Móng Cái – tỉnh Quảng Ninh)

(c) Hệ thống các quốc lộ khác: Hệ thống các quốc lộ khác bao gồm các quốc lộ 12B, 2B, 2C, 23,

21, 21B, 31, 34, 3B, 43, 38, 39, 12, 100, Láng – Hòa Lạc, Bắc Thăng Long – Nội Bài Các tuyến quốc lộ này kết nối vào các trục nan quạt, vành đai và kết nối các địa phương, tăng cường năng lực giao thông cho toàn mạng và đáp ứng nhu cầu giao thông của nhân dân giữa các địa phương (Bộ GTVT, 2012; Viện KH&CN GTVT, 2012; Chính phủ, 2013)

3.1.3 Khu vực miền Trung – Tây Nguyên

Khu vực miền Trung – Tây Nguyên có 30 quốc lộ, trong đó trục dọc có 3 quốc lộ (không kể 2 trục dọc chính thuộc trục dọc Bắc Nam là QL1, đường Hồ Chí Minh) là quốc lộ 15, 14, 14C, còn lại là các trục ngang (27 quốc lộ), gồm các quốc lộ 12A, 7, 8A, 8B, 9, 14B, 14D, 14E, 19, 24, 24B, 25, 1D, 26, 1-Hyunđai, 1C, 27, 27B, 28, 40, 45, 46, 47, 48, 49, 49B, 217 Tổng số km quốc

lộ khu vực này đạt khoảng 4.407 km, với đầy đủ các cấp kỹ thuật từ cấp V tới cấp I và đủ các loại kết cấu mặt đường

Các trục ngang có xu hướng xuất phát từ các cảng biển phía Đông hoặc từ QL1 chạy ngang sang phía Tây, cắt ngang hai trục dọc QL1 và đường Hồ Chí Minh và tiếp tục chạy về phía biên giới với Lào, Campuchia; trong đó có 5 quốc lộ (QL12A, 9, 19, 46, 49) xuất phát từ cảng biển và kết thúc tại cửa khẩu biên giới, 3 quốc lộ (QL7, 8, 217) xuất phát từ QL1 và kết thúc tại cửa khẩu biên giới, còn lại là các trục ngang kết nối qua 2 trục dọc, từ trục QL1 ra cảng biển hay kết nối với địa phương (Bộ GTVT, 2012; Viện KH&CN GTVT, 2012; Chính phủ, 2013)

3.1.4 Khu vực miền Nam

Khu vực miền Nam chia thành hai khu vực, khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long, hai khu vực này gồm các quốc lộ 51, 13, 1K, 20, 22, 22B, 30, 50, 53, 54, 55, 56, 57,

60, 61, 62, 63, 80, 91 Tổng chiều dài 2.371,16 km, có đầy đủ các cấp kỹ thuật từ cấp V tới cấp I

và các dạng kết cấu mặt từ bê tông xi măng, bê tông nhựa tới cấp phối Khu vực đồng bằng sông Cửu Long là có hệ thống kênh rạch chằng chịt, do vậy trên hệ thống quốc lộ có rất nhiều cầu; hiện tại còn một số vị trí chưa xây dựng được cầu (đặc biệt là các cầu lớn), như vị trí phà Hậu Giang (QL1), Mỹ Lợi (QL50), Đại Ngãi, Rạch Miễu, Cổ Chiên (QL60), Vàm Cống, Thới Hòa (QL80) (Bộ GTVT, 2012; Viện KH&CN GTVT, 2012; Chính phủ, 2013)

(a) Về cầu cống: Hiện nay, trên các quốc lộ và đường tỉnh có 7.213 cầu (có chiều dài trên 4 m),

với tổng 187.287 m dài, trong đó cầu vĩnh cửu chiếm khoảng 50%, còn lại là cầu bán vĩnh cửu

và cầu tạm Ngoài ra trên mạng quốc lộ và đường tỉnh, còn khoảng 115 bến phà và hơn 1.500 đường tràn (Bộ GTVT, 2012; Viện KH&CN GTVT, 2012; Chính phủ, 2013)

(b) Về hành lang an toàn giao thông: Là bộ phận quan trọng của kết cấu hạ tầng đường bộ, bảo

vệ an toàn công trình giao thông và an toàn giao thông vận tải, hành lang an toàn đường bộ thuộc phạm vi đất dành cho đường bộ được bảo vệ và nghiêm cấm xây dựng công trình khác, trừ những công trình thiết yếu Tình trạng vi phạm hành lang an toàn đường bộ ngày càng đa dạng, phức tạp, một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay là đấu nối đường ngang trái phép vào quốc

lộ Tình trạng quy hoạch đô thị sát dọc, kéo dài và lấy quốc lộ là đường trục đã trở thành phổ

Trang 27

biến, cũng gây ảnh hưởng không tốt đến mạng lưới giao thông (Bộ GTVT, 2012; Viện KH&CN GTVT, 2012; Chính phủ, 2013)

3.2 Các tác động môi trường chính trong phát triển đường bộ ở Việt Nam

Các tác động của việc phát triển giao thông đường bộ thể hiện qua các mặt kinh tế và xã hội Nhu cầu phát triển giao thông đường bộ ở Việt Nam từ nay đến năm 2030 sẽ gặp các vấn đề như: + Không đủ năng lực, công suất đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, hạn chế thu hút đầu

tư Hiệu quả thấp do thiếu đồng bộ, liên hoàn và phát triển không hợp lý giữa các phương thức Năng lực đường bộ tại nhiều khu vực sẽ bị quá tải vào năm 2030, một số vùng phụ cận các thành phố lớn quá tải vào năm 2015-2020 (Bộ GTVT, 2012)

+ Ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, tình trạng phát triển chênh lệch giữa các vùng miền, giữa đô thị – nông thôn Tai nạn giao thông ngày càng gia tăng do số lượng phương tiện vận tải ngày càng tăng cao

+ Thiếu quỹ đất cho phát triển lâu dài, ảnh hưởng đến công nghiệp hóa và đô thị hóa, ùn tắc giao thông ở các đô thị; chiếm đất sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến an ninh lương thực + Vấn đề tái định cư, giải phóng mặt bằng, vi phạm hành lang an toàn giao thông

Các tác động cụ thể về môi trường bao gồm:

Suy thoái môi trường không khí: Suy thoái chất lượng môi trường không khí là nguy cơ dễ nhận

thấy trong tương lai gần, đặc biệt là trong các khu vực đô thị, dọc các tuyến đường giao thông quan trọng, chủ yếu là do lưu lượng phương tiện hoạt động tăng lên nhanh chóng Theo Báo cáo Môi trường quốc gia 2010, ô nhiễm không khí, tiếng ồn, ùn tắc giao thông là những vấn đề nghiêm trọng tại các đô thị Việt Nam khi tốc độ tăng trưởng của các phương tiện cá nhân đang tăng cao Chất lượng nhiên liệu còn thấp, các cơ sở khả thi để phát triển năng lượng sạch, năng lượng thay thế còn nhiều hạn hẹp, các chương trình cải thiện chất lượng nhiên liệu còn gặp phải nhiều rào cản, điều này cũng có thể cho chúng ta nhìn nhận được một nguy cơ to lớn về suy thoái chất lượng môi trường không khí, đặc biệt là tại các khu đô thị, trong tương lai

Xâm phạm các hệ sinh thái: Suy thoái đa dạng sinh học và xâm hại các HST nhạy cảm là nguy

cơ rất lớn trong tương lai do các hoạt động phát triển giao thông vận tải Hiện nay, chúng ta đang

có nhiều dự án lớn về xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông vận tải đường bộ như: xây dựng đường sắt quốc gia, đường bộ cao tốc Bắc – Nam, kéo dài tuyến đường Hồ Chí Minh (giai đoạn 2), phát triển mạng lưới đường bộ ven biển, dọc biên giới và vươn đến những vùng sâu vùng xa khác, chính điều này sẽ tác động lớn đến các HST nhạy cảm và các khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng Hoạt động lâu dài của các loại phương tiện giao thông vận tải trên những tuyến giao thông đi xuyên qua hoặc đi gần cạnh các khu bảo tồn thiên nhiên, khu sinh thái nhạy cảm cũng sẽ tác động lớn đến các hệ sinh thái này

Ô nhiễm tiếng ồn, độ rung trong hoạt động và thi công đường giao thông: Theo Báo cáo Môi

trường quốc gia 2010, kết quả đo đạc trong 5 năm trên toàn quốc: tại hầu hết các điểm đo trên các đường giao thông đô thị lớn đều có giá trị vượt quy chuẩn Việt Nam (Bộ TN&MT, 2010)

Trang 28

Ngoài ra, trong thi công đường giao thông, việc sử dụng cưa máy để chặt cây trong hoạt động đốn hạ thảm thực vật có thể phát sinh độ ồn khoảng 82-85 dBA trong khoảng cách 15 m Nguồn phát sinh ồn lớn trong quá trình thi công tuyến đường còn do nổ mìn phá đá Mức âm đo được tại khu vực nổ có thể đạt 120 dBA ở khoảng cách 15 m và 75 dBA ở khoảng cách 1.900 m, trong điều kiện không có vật cản, che chắn Độ ồn cao sẽ làm các loài chim và thú trong khu vực bị hoảng sợ

Rung động do hoạt động vận chuyển nguyên vật liệu và nổ mìn phá đá tác động tiêu cực tới hệ sinh thái Với khối lượng thử nổ là 1 kg, bán kính ảnh hưởng của sóng xung kích trong môi trường không khí (nếu không có vật che chắn) sẽ là khoảng hơn 50 m

Xói mòn, sạt lở đất: Theo số liệu thống kê của Bộ Giao thông Vận tải về các khu vực xung yếu

dễ sạt lở trên quốc lộ:

+ 3/4 chiều dài các tuyến đường đi trên địa hình vùng núi và khoảng 30% các tuyến miền núi đó lại đi qua các vùng có cấu trúc địa chất phức tạp, chịu ảnh hưởng của các đới kiến tạo phá hủy,

do đó thường xảy ra sự cố sụt trượt về mùa mưa bão hàng năm

+ 1/4 các tuyến đi trên địa hình đồng bằng thì cũng có khoảng 30% đi trên các vùng trầm tích sông, biển, có cấu trúc từ đất yếu

Vấn đề kỹ thuật liên quan đến sự ổn định của nền đường bộ đắp trên đất yếu và hiện tượng sụt lở đất đá về mùa mưa luôn là những nội dung quan trọng trong khoa học công nghệ chuyên ngành

và là một trong những chủ đề thu hút sự quan tâm của các cấp, ngành giao thông vận tải trong những năm qua (Nguyễn Xuân Thành và nnk., 2008; Trần Văn Ý và nnk., 2010; Bộ GTVT, 2012; Viện KH&CN GTVT, 2012)

Bão lũ kết hợp với điều kiện địa hình và địa chất bất lợi đã gây ra các sự cố về đất sụt trên các tuyến đường miền núi ở Việt Nam Có thể nói rằng, hiện tượng đất sụt là một trong những sự cố nguy hiểm nhất mang tính quy luật thiên nhiên, chịu tác động trực tiếp của mưa bão, thường diễn

ra trên các tuyến đường miền núi về mùa mưa

3.3 Xu hướng phát triển hệ sinh thái đường bộ bền vững

Phát triển HST đường bộ đang trở thành loại hình sử dụng đất phổ biến nhất trên toàn thế giới, sẽ luôn giữ vai trò là thành phần thiết yếu trong cuộc sống hiện đại Hệ sinh thái đường bộ có thể kéo dài hàng nghìn kilômét đi qua các loại hình cảnh quan, khu vực, quốc gia và châu lục, dưới

bề mặt cửa sông và thậm chí cả các vùng biển Hệ sinh thái đường bộ được xây dựng trước hết phục vụ các mục đích kinh tế, xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, gồm có các dịch vụ kinh tế liên quan đến con người, và thứ đến là phục vụ nhiều mục đích cho các khu vực cảnh quan và các hoạt động giải trí Các ví dụ về hệ sinh thái đường bộ gồm: các đường trục chính như đường cao tốc, đường quốc lộ; đường tỉnh lộ hoặc cấp vùng; đường lâm nghiệp; đường nông nghiệp và đường xe tải nhỏ, đường tuần tra (Davenport và Davenport, 2006)

Trên thế giới hiện nay, cách tiếp cận sinh thái trong phát triển đường bộ đã trở nên phổ biến, giúp giải thích sự tương tác giữa đường bộ và HST, cảnh quan và các vùng sinh thái liền kề, cuối cùng đưa ra đánh giá môi trường đầy đủ hơn và giảm dấu chân sinh thái trong phát triển đường

bộ (CBD, 2004) Phân tích “dấu chân sinh thái” là một công cụ ước tính mức độ tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên và sự đồng hóa chất thải (khả năng tự làm sạch) do các hoạt động của con

Trang 29

người sinh ra (Wackernagel và Rees, 1996) Mặc dù đường bộ là một thành phần thiết yếu trong cuộc sống hiện đại, sự thiết lập HST đường bộ có thể ảnh hưởng đến tính bảo toàn của các HST

tự nhiên và bán tự nhiên Đường bộ có thể gây tác động bất lợi đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đến khả năng cung cấp dòng dịch vụ trong một cảnh quan Trong quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng cho phát triển đường bộ, một số nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể bị tiêu thụ nặng nề như đất, nước, không khí, ánh sáng và năng lượng cũng như bản thân đất đai ở đó

Hệ quả là các chức năng và dịch vụ sinh thái như chu trình dinh dưỡng và điều tiết dòng chảy bởi HST bán tự nhiên có thể bị tổn hại nghiêm trọng và hệ sinh thái ổn định ban đầu có thể bị chuyển hóa thành HST phụ thuộc cần được giảm nhẹ, hỗ trợ và duy trì ở những nơi không thể tránh khỏi các tác động bất lợi (CBD, 2004; Davenport và Davenport, 2006)

Xu hướng chung, cần có những con đường rộng hơn và cho phép di chuyển tốc độ cao như đường cao tốc để hỗ trợ các dịch vụ kinh tế Về mặt xã hội, hệ thống giao thông vận tải cần phải đáp ứng những nhu cầu thiết thực hằng ngày như vận chuyển hàng hóa, phục vụ đi lại, mua sắm,

đi học và giải trí Đường bộ cần phải an toàn và thuận tiện Mặt khác, hệ thống giao thông vận tải cần hài hòa với môi trường tự nhiên, gồm cả cảnh quan, môi trường sống và hệ sinh thái nội tại Một trong những bước để giảm tác động của một HST đường bộ mới là tránh né, thường được thực hiện trong giai đoạn quy hoạch Bước này thường bao gồm tránh các giải pháp lựa chọn tuyến đường mà có thể dẫn đến tiêu thụ quá mức và gây suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên Đây là một trong những giai đoạn quan trọng mà nhất thiết phải có sự tham gia của cộng đồng Khi không thể tránh né được, các biện pháp kỹ thuật giảm nhẹ được lựa chọn trong giai đoạn thiết kế để giảm dấu chân sinh thái của phát triển HST đường bộ thông qua việc phục hồi các chức năng và dịch vụ sinh thái và chất lượng cảnh quan Các biện pháp kỹ thuật giảm nhẹ được

sử dụng để quản lý mức độ tự nhiên của khả năng sản xuất và dòng dịch vụ giữa các HST cũng như giảm tối thiểu nguồn tài nguyên đầu vào như đất, thổ nhưỡng, nước, không khí, đa dạng sinh học (mất sinh cảnh và tai nạn trên đường) và sản phẩm thải đầu ra như dòng chảy trên bề mặt đường, bụi và ô nhiễm không khí Tại những nơi không thể tránh được và các biện pháp giảm thiểu không thể bù đắp cho việc mất hoặc có khả năng mất các nguồn tài nguyên thiên nhiên thì cần có các biện pháp đền bù Ví dụ, sự xáo trộn hoặc mất sinh cảnh là kết quả của phát triển HST đường bộ là không thể tránh khỏi Các biện pháp giảm thiểu không thể làm giảm sự mất mát, đe dọa hoặc thoái hóa sinh cảnh thì đền bù dưới dạng tạo ra sinh cảnh để đạt được “không mất mạng lưới” (Iuell và nnk., 2003), có thể là cách hồi đáp phù hợp nhất Để quá trình này được bền vững, sự thiết lập các biện pháp giảm nhẹ và đền bù cũng phải được đưa ra để phân tích dấu chân sinh thái (Forman và Alexander, 1998; Davenport và Davenport, 2006; Forman và nnk., 2006) Phát triển HST đường bộ theo hướng bền vững được xem xét hợp nhất với các mối quan tâm về kinh tế, xã hội và môi trường trong các quyết định về tính biến đổi liên quan đến con người Đáp ứng sự phát triển HST đường bộ hiện đại, có một số quy tắc tham gia vào các giai đoạn khác nhau trong phát triển đường bộ tăng lên Đó là các giai đoạn lập quy hoạch, thiết kế, xây dựng, vận hành/sử dụng, bảo dưỡng Mô hình chuẩn quốc tế đã chỉ ra rằng, phát triển sinh thái đường

bộ có thể cải thiện chất lượng và mức sống của con người, đồng thời giữ gìn và phục hồi chất lượng cảnh quan, các chức năng và dịch vụ sinh thái, góp phần vào bảo tồn sinh học và coi trọng những đặc trưng văn hóa và lịch sử của địa phương trong cảnh quan đó

Trang 30

Dựa trên quan điểm phát triển bền vững mà Việt Nam đã tham gia (Chương trình Nghị sự 21), cách tiếp cận sinh thái có thể xem xét các tiêu chí đánh giá phát triển giao thông đường bộ bền vững sau:

Bảng 3.1 Tóm tắt các tiêu chí, chỉ tiêu chung

1 Kinh tế Quy mô, năng lực, công suất

Tính kết nối, tính đồng bộ Tính hiện đại

Tính hiệu quả

2 Xã hội An toàn giao thông

Xóa đói giảm nghèo, phát triển công bằng giữa các vùng miền Quỹ đất, tái định cư, giải phóng mặt bằng

3 Môi trường Môi trường sống: không khí, tiếng ồn, đất…

Môi trường tự nhiên: đa dạng sinh học, cảnh quan

4 Tài chính Nguốn cấp vốn bền vững

5 Thể chế Quản lý Nhà nước chuyên ngành, quản lý địa phương

Quản lý hoạt động kinh doanh, khai thác

4 VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ BỀN VỮNG

Ở VIỆT NAM

4.1 Vai trò của cộng đồng trong các dự án giao thông đường bộ

Có thể thấy vai trò của cộng đồng trong quá trình phát triển giao thông đường bộ là hết sức quan trọng Theo quan điểm tiếp cận dựa trên HST, các tiêu chí trong cách tiếp cận đòi hỏi xác định các giá trị hữu hình và trừu tượng của con người đối với đa dạng sinh học và các đặc điểm trong cảnh quan đó Trong quản lý dựa vào HST, các nhà quản lý phải chuẩn bị đầy đủ tính đa dạng về các giá trị văn hóa và xã hội của con người (Dolan, 2004) Chính vì vậy, để đạt được mục đích thì các yếu tố cộng đồng cần được nhấn mạnh, xác định vai trò cụ thể trong các dự án phát triển giao thông đường bộ

Cộng đồng trong HST giao thông đường bộ ở đây được hiểu là các cộng đồng sinh sống tại khu vực, các nhà khoa học, các tổ chức chính trị xã hội và cả những người sẽ tham gia giao thông sau này trên con đường ấy

Một trong những vai trò của cộng đồng được thể hiện trong quá trình hình thành HST giao thông đường bộ ở quá trình lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) và báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) thông qua công tác tham vấn cộng đồng Ở châu Âu, người ta nhận ra rằng, những ứng dụng ĐTM phổ biến ở cấp độ dự án hoặc phạm vi HST cục bộ đã không còn khả năng xác định hoặc định lượng các tác động tích lũy ở diện rộng trong phát triển đường bộ

Vì thế, Liên minh Châu Âu đã ban hành chỉ thị sửa đổi về ĐTM (97/11/EEC), đòi hỏi đánh giá

Trang 31

tác động môi trường mang ý nghĩa rộng lớn hơn đối với các dự án đường chính để dự đoán các vấn đề môi trường tiềm ẩn từ quy hoạch và từ dự án (2001/42/EC), yêu cầu ưu tiên ĐMC trước khi thực hiện ĐTM ĐMC tiến hành trên khu vực rộng hơn, với nhiều hoạt động hơn, trong thời gian kéo dài hơn so với phạm vi ứng dụng của ĐTM đối với một khu vực lớn Vì thế, các ĐMC tiến hành đánh giá tác động môi trường trong phát triển sinh thái đường bộ, vì sinh thái đường bộ đan xen với các cảnh quan hoặc các vùng, hình thành nên sự tương tác và các tác động phức tạp trên diện rộng (Council of Europe, 2001)

Các bên liên quan tham gia là một yêu cầu quan trọng trong ĐMC (Irish EPA, 2002) ĐMC của các hoạt động giao thông vận tải có thể cung cấp các vấn đề về biến đổi khí hậu, chất lượng không khí, nước và đất, đa dạng sinh học và tiếng ồn và có thể bao gồm các vấn đề khác như tác động của việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng đất mang tính vùng miền rộng lớn Vì vậy vai trò của cộng đồng thông qua công tác tham vấn của quá trình lập ĐMC sẽ tăng được hiệu quả trong các dự án phát triển giao thông đường bộ (Council of Europe, 2001; Davenport và Davenport, 2006)

Trong Định hướng Phát triển bền vững, Việt Nam luôn giữ quan điểm nhất quán “con người” vừa là mục tiêu vừa là chủ thể của phát triển Do đó, thực hiện dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực và là một thành tố của PTBV, vì cho phép phát huy nguồn lực con người như là lợi thế cạnh tranh dài hạn, là yếu tố quyết định sự phát triển của một quốc gia Dân chủ càng cao thì đồng thuận xã hội càng sâu, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng được củng cố vững chắc (Dolan, 2004)

4.2 Sự tham gia của cộng đồng trong các giai đoạn của phát triển giao thông đường bộ bền vững

4.2.1 Giai đoạn quy hoạch của phát triển giao thông đường bộ

(a) Tầm quan trọng của quy hoạch có sự tham gia của cộng đồng: Người dân có quyền tham gia

vào việc ra quyết định vì kết quả của các quyết định trong cộng đồng sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của họ Sự tham gia của cộng đồng trong công tác quy hoạch là chức năng cao nhất, thể hiện cam kết của người dân và tăng tính hiệu quả của dự án như:

+ Sự tham gia của nhiều người được hưởng lợi giúp đảm bảo cho dự án sẽ đạt được các mục tiêu của nó

+ Tăng tính hiệu quả của dự án thông qua việc trao đổi ý kiến với những người được hưởng lợi trong suốt quá trình lập kế hoạch cũng như sự tham gia của họ trong công tác quản lý, thực hiện

và điều hành dự án

+ Sự tham gia của các nhà khoa học, các tổ chức chính trị xã hội, đảm bảo được sự minh bạch trong các dự án phát triển

(b) Lựa chọn tuyến đường: Là một quyết định then chốt nhất trong quy hoạch có liên quan đến

phát triển hệ sinh thái đường bộ, vì đây là quá trình chủ yếu mà nhờ đó có thể tránh được các tác động sinh thái đến sinh cảnh, như mất hoặc phân mảnh môi trường Việc xác định tính kinh tế và chi phí môi trường (về mặt tiêu thụ tài nguyên) của một hệ đường bộ cần được tính toán, các phương án cần được công khai trước công chúng, đặc biệt là những người dân sinh sống trong khu vực và các bên có liên quan đến tuyến đường, cũng như sự tham gia liên ngành của các nhà khoa học Trong quá trình lựa chọn, ảnh viễn thám là một công cụ hỗ trợ hiệu quả cho việc ra

Trang 32

quyết định, dựa trên cơ sở tính toán chi phí kinh tế và môi trường cũng như ảnh hưởng đến các

hệ sinh thái liền kề

Việc lựa chọn cần đưa ra các phương án xem xét, trong đó phải trình bày ra được các phương án

để có sự đóng góp của cộng đồng hay của các bên liên quan

(c) Quy hoạch phục vụ người sử dụng: Tùy thuộc vào năng lực của nhà quy hoạch, việc công nhận

hành lang đường bộ không chỉ đơn giản là một con đường từ điểm A đến điểm B mà còn là cách thể hiện giá trị nhân văn và sự am hiểu cảnh quan Cảnh quan có khả năng thay đổi nhiệm vụ của những người làm quy hoạch, thiết kế và duy trì hệ sinh thái đường bộ (Dolan và Whelan, 2004) Theo cách tiếp cận hệ sinh thái và quan điểm PTBV của Chương trình Nghị sự 21 mà Việt Nam tham gia nhấn mạnh tầm quan trọng của các giá trị thuộc về người dân và nhu cầu tham gia của các bên liên quan trong quá trình ra quyết định Các nhà quy hoạch và thiết kế cần xác định sự

ưu tiên của con người đối với các thành phần trong cảnh quan và kết hợp các thành phần được

ưu tiên vào cảnh quan đường bộ như là một phần của quá trình quy hoạch và thiết kế Các nhà quy hoạch và thiết kế đường bộ cũng cần tích hợp các đặc điểm bản địa để giữ lại các giá trị văn hóa, xã hội và các mối quan hệ trong cảnh quan đó như các đặc trưng địa phương và cảm quan

về địa điểm

4.2.2 Giai đoạn thiết kế có tính đến yếu tố bền vững

Các quyết định được đưa ra trong giai đoạn thiết kế đường bộ sẽ tạo nền tảng cho sự PTBV của một hệ sinh thái đường bộ hiện đại Bởi lẽ, khâu thiết kế quyết định chiều rộng, chiều cao và loại mặt đường, phạm vi lấp đất và lu lèn để làm mặt đường, chủng loại và khối lượng vật liệu xây dựng, các biện pháp giảm thiểu thiệt hại và đền bù phải có Trong thiết kế bền vững dựa trên hệ sinh thái, các bên liên quan phải được tham gia đóng góp ý kiến của mình, trong đó đặc biết nhấn mạnh các giá trị sinh thái, các yếu tố bản địa

Trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc PTBV, các giải pháp thiết kế phải được lựa chọn sao cho: (i) tiêu tốn nguồn tài nguyên thiên nhiên ở mức tối thiểu; (ii) giảm thiểu việc gây tổn hại sinh cảnh và phân mảnh môi trường sống, khôi phục các dịch vụ sinh thái; (iii) phục hồi chất lượng cảnh quan; và (iv) giảm thiểu các loại chất thải, dòng chảy tràn đường bộ, các khí thải Các quyết định được đưa ra trong giai đoạn thiết kế cũng quyết định nội dung của cam kết giữa chính quyền, cộng đồng địa phương, cơ quan quản lý với nhà thầu Bản thiết kế mô tả chi tiết các biện pháp giảm thiểu thiệt hại và đền bù phải có

Việc kết hợp ứng dụng phân tích hạ tầng sinh thái và ảnh hàng không có một vai trò quan trọng trong giai đoạn thiết kế, cụ thể: (i) giúp xác định các hành lang bảo tồn động vật hoang dã hiện

có và tiềm năng, vị trí của các loài mục tiêu thường băng qua đường trước khi công tác xây lắp được tiến hành; (ii) hỗ trợ xác định vị trí các ngân hàng hạt giống có nguồn gốc bản địa dọc hành lang đường bộ; (iii) hỗ trợ xác định những khu vực phù hợp để tập kết và trữ đất trước khi khởi công công trình; (iv) hỗ trợ nhận dạng các di chỉ khảo cổ học; và (v) hiệu chỉnh tài liệu về cảnh quan sinh thái trước và sau xây lắp

(a) Các loài mục tiêu: Khi xác định được từ một loài mục tiêu trở lên, việc sử dụng các công trình

qua đường cho nhiều đối tượng sẽ được xem xét, chẳng hạn có thể lắp đặt một đường cống ngầm khổ lớn hoặc một cây cầu vượt phù hợp với nhiều kiểu sinh cảnh Xác định loài mục tiêu cũng là một

cơ sở quan trọng để lập kế hoạch xây dựng quy trình giám sát nhằm đánh giá thành công của công

Trang 33

trình trong tương lai Việc điều tra các loài mục tiêu nên có sự tham gia của người dân địa phương, vừa tạo sự thành công dự án vừa có vai trò trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở khu vực

(b) Thiết kế cảnh quan mang tính bền vững: Cảnh quan ven đường có khả năng bảo tồn đa dạng

sinh học Thiết kế cảnh quan cần được xác định rõ trong các khâu thiết kế, thi công tới bảo dưỡng duy trì của quá trình xây dựng hệ sinh thái đường bộ Ai Len đã công nhận thiết kế cảnh quan ven đường là một trong những cơ hội bảo tồn đời sống hoang dã và trồng rừng lớn nhất trong lịch sử hiện đại của quốc gia này (Irish EPA, 2002; Davenport và Davenport, 2006)

Trong thiết kế cảnh quan sinh thái, việc chọn lựa công nghệ tái tạo thực bì dựa trên nền tảng của

sự hiểu biết và tôn trọng đối với các đặc thù mang tính lịch sử của khu vực thi công và các đặc điểm nổi bật của cảnh quan tại khu vực đó, góp phần đem bản sắc địa phương vào quá trình thiết

kế Sắp xếp theo thứ tự ưu tiên các yếu tố về sinh thái, lịch sử, xã hội được người dân sinh sống ven quốc lộ tham gia ý kiến và cả yếu tố người tham gia lưu thông xem xét Kết hợp các yếu tố này lại với nhau cũng giúp làm nổi bật tính địa phương trong quá trình thiết kế nhờ giữ lại các yếu tố cảnh quan đặc trưng của địa phương (Dolan và Whelan, 2004)

4.2.3 Giai đoạn thi công đảm bảo bền vững

Thi công đường bộ thường gây ra các tổn thương về mặt môi trường đối với các hệ sinh thái liền

kề vì nó là một tác nhân cơ bản trong sự thay đổi và xáo trộn (Forman và Alexander, 1998; Forman và nnk., 2003; Davenport và Davenport, 2006) và là nhân tố tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên mạnh mẽ Để chỉ ra các vấn đề PTBV, các hoạt động được thực hiện trong giai đoạn này của phát triển đường bộ phải hướng đến mục đích giảm thiểu: (i) sự tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên thông qua quản lý đất thích hợp và sử dụng bền vững nguyên vật liệu xây dựng; (ii) ô nhiễm ánh sáng và tiếng ồn; và (iii) quản lý các loài ngoại lai xâm hại Các đặc điểm kỹ thuật môi trường đối với các văn bản hợp đồng cho nhà thầu nên bao gồm quản lý lực lượng lao động, máy móc (tốc độ, tiếng ồn và việc đi lại), và phòng ngừa các sự cố xói mòn và ô nhiễm trong giai đoạn thi công

Sự tham gia của cộng đồng đặc biệt quan trọng khi tiến hành các hoạt động xây dựng ở nơi gặp phải các đặc trưng địa phương/khu vực như các đặc điểm về lịch sử, văn hóa và khảo cổ học Nơi những vật tìm thấy có giá trị quan trọng được khai quật, các nhà quản lý đường bộ có thể phải quyết định chọn một tuyến đường thay thế để bảo tồn các vật khảo cổ có tầm quan trọng quốc gia hoặc quốc tế

(a) Kiểm soát các loài thực vật ngoại lai: Các loài xâm nhập có thể tận dụng cơ hội do tình trạng

xáo trộn (xáo trộn và di dời đất) trong giai đoạn thi công Trước khi bắt đầu các công việc đào đắp, các loài ngoại lai xâm hại cần được quản lý thích đáng để tránh lan tràn dọc theo hành lang đường bộ Các đánh giá tác động môi trường phải nêu bật sự có mặt của các loài ngoại lai xâm hại

và lưu ý sự đánh dấu hoặc làm bẩn các khu vực, trước khi tiến hành các hoạt động đào đắp và hình thành cảnh quan Sự giúp đỡ của người dân trong việc phát hiện sẽ góp phần kiểm soát được các loài xâm hại ngoại lai

(b) Kiểm soát ô nhiễm: Việc chiếu sáng các văn phòng tại công trường và các hàng rào bao

quanh công trường cần được đưa ra để đánh giá hoặc có các biện pháp hợp lý như che chắn ánh sáng và kiểm duyệt ánh sáng để giảm khả năng ô nhiễm ánh sáng hệ sinh thái, đặc biệt trong các vùng lân cận của những khu vực được bảo vệ

Trang 34

Sự phát thải tiếng ồn bất thường và bất ngờ từ máy móc xây dựng có thể tạo ra các khu vực xáo trộn tạm thời đối với các loài động vật hoang dã vì các quá trình làm việc trong các khu vực tập trung dọc theo chiều dài của hành lang đường bộ Những tiếng ồn này có thể ảnh hưởng đến người dân địa phương trong các vùng phụ cận của hệ thống đường bộ Trong giai đoạn thi công, các quyết định có thể được đưa ra phải thể hiện sự tôn trọng cộng đồng sinh sống tại khu vực Ngăn sự rò rỉ nhiên liệu gây ra nhiễm bẩn cục bộ và trong các khu vực xây dựng, không để ảnh hưởng đến cảnh quan, cuộc sống của cộng đồng dân cư khu vực

(c) Sử dụng bền vững nguyên vật liệu xây dựng: Sử dụng các nguyên vật liệu có nguồn gốc địa

phương, từ dải đất dành cho đường đến khu vực chôn lấp, đường đắp, nền đường… để giảm các tác động đến chất lượng cảnh quan, và để giảm nguyên liệu đầu vào từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong phát triển hệ sinh thái đường bộ

4.2.4 Giai đoạn khai thác/vận hành bền vững

(a) Đối với người tham gia giao thông: Liên quan tới các vấn đề PTBV, người tham gia giao

thông có thể đưa ra những quyết định dựa trên hiểu biết về việc chọn lựa nhiên liệu, chủng loại lốp, ắc quy, bóng đèn, phương tiện, tái sử dụng phương tiện, quãng đường lưu thông hàng ngày, hàng tháng, hàng năm Luân phiên dùng chung phương tiện là một biện pháp giúp giảm thiểu quãng đường đi được trên một đơn vị thời gian, tương tự như sử dụng phương tiện vận tải công cộng Người tham gia giao thông cũng cần phải có ý thức không xả rác trên đường hay thu gom trái phép các phế liệu gia dụng và phế thải xây dựng trong phạm vi hệ sinh thái đường bộ; phải có trách nhiệm bảo dưỡng phương tiện định kỳ để giảm thiểu rủi ro phụ tùng của phương tiện rơi trên đường

(b) Phương tiện sử dụng nhiên liệu thay thế: Cộng đồng, xã hội cũng còn quyết định trong việc

sử dụng các phương tiện sử dụng nhiên liệu thay thế Đây là một xu hướng của tương lai Các phương tiện sử dụng nhiên liệu thay thế được công nhận là xả thải ít hơn các phương tiện sử dụng xăng và dầu diesel Phương tiện sử dụng nhiên liệu thay thế gồm xe chạy bằng pin nhiên liệu, xe chạy bằng êthanol, xe kết hợp động cơ điện và động cơ đốt trong Xe chạy bằng pin nhiên liệu là phương tiện chạy bằng điện, sinh điện bằng cách sử dụng chất xúc tác kết hợp với khí ôxy và hyđrô (hay còn gọi là nhiên liệu mêthanol) thay vì sử dụng ắc quy So với các phương tiện chạy bằng xăng, xe chạy bằng pin nhiên liệu hiệu quả gấp đôi và có nhiều triển vọng nhất trong việc sản xuất một dòng xe mới có hiệu suất sử dụng nhiên liệu cao, chạy êm, không phát thải (ngoại trừ nước và nhiệt)

5 KẾT LUẬN

Theo quan điểm của phát triển bền vững trong các Chương trình Nghị sự 21 địa phương, phát triển hệ sinh thái giao thông đường bộ bền vững đòi hỏi phải áp dụng cách tiếp cận dựa trên cộng đồng, tiếp cận hệ thống, liên ngành/tiếp cận dựa trên hệ sinh thái

Trong phát triển hệ sinh thái đường bộ, các bên tham gia được xem như “chìa khóa” đối với chất lượng, tính bao quát và tính bền vững của hệ thống giao thông Xác định mối quan hệ của con người với các giá trị dành cho các đặc trưng trong cảnh quan đường bộ chứng tỏ được tầm quan trọng của các bên tham gia, sự hợp tác và đồng thuận của các nhà hoạt động xã hội, đặc biệt là tầm quan trọng của sự hiểu biết về địa phương, sự tham gia của cộng đồng Đối với mọi người dân ở bất cứ đâu, họ cần phải tham gia như những công dân có thẩm quyền trong việc ra quyết

Trang 35

định và các quá trình ảnh hưởng đến cuộc sống của họ để đảm bảo rằng các phương diện về xã hội, môi trường cũng như kinh tế được tính đến trong quá trình phát triển

Để tiến tới phát triển hệ sinh thái giao thông đường bộ bền vững nói chung và của Việt Nam nói riêng, cộng đồng cần thực sự được tham gia và có tiếng nói của mình trong các giai đoạn phát triển của hệ thống giao thông đường bộ: (i) giai đoạn quy hoạch; (ii) giai đoạn thiết kế bền vững; (iii) giai đoạn thi công bền vững; và (iv) giai đoạn khai thác/vận hành đảm bào bền vững

Việc tham gia của cộng đồng không chỉ dừng ở sự tham gia của người dân sinh sống tại khu vực phát triển giao thông, mà còn mở rộng ra toàn xã hội, trong đó có sự tham gia của các nhà khoa học và các tổ chức chính trị xã hội Sự minh bạch, công khai trong phát triển giao thông đường

bộ sẽ đưa loại hình sử dụng tài nguyên đặc biệt này góp phần vào quá trình phát triển bền vững của xã hội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Giao thông Vận tải (Bộ GTVT), 2012 Nghiên cứu phát triển bền vững kết cấu hạ tầng giao thông vận tải ở Việt Nam Báo cáo tổng hợp (Đề tài cấp Bộ) Bộ GTVT, Hà Nội

2 Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT), 2010 Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia 2010: Tổng quan môi trường Việt Nam Bộ TN&MT: 201 tr

3 CBD, 2004 Convention on Biological Diversity: COP5 Decision V/6 Http://www.biodiv org/decisions/default.asp?lg=0&m=cop-05&d=06 (5/5/2005)

4 Chính phủ, 2013 Quyết định số 356/QĐ-TTg, ngày 25/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch Phát triển giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm

7 Davenport J and J.L Davenport (Eds.), 2006 The Ecology of Transportation: Managing Mobility for the Environment Springer Press, Netherlands

8 Dolan L.M.J., 2004 Roads as Ecosystems: A More Sustainable Approach to the Design of

Irish Rural Roadside Verges In: Davenport J and J.L Davenport (Eds.) The Effects of

Human Transport on Ecosystems: Cars and Planes, Boats and Trains Dublin, Royal Irish Academy: pp 15-16

9 Dolan L.M.J and P Whelan, 2004 Sustainable Road Landscapes I: An Ecological Landscape Design Approach to Irish Rural Roadside Verges Including Design for the Driver Within the Vehicle IENE Conference “Habitat Fragmentation due to Transportation Infrastructure” Brussels, Belgium, 13-15 Nov., 2003

10 Forman R.T.T and L.E Alexander, 1998 Road and Their Major Ecologycal Effects Annu Rev Ecol Syst., Vol.29: pp 207-231 + C2

Trang 36

11 Forman R.T.T et al., 2003 Road Ecology Science and Solution Island Press, Washington, D.C

12 Forman R.T.T et al., 2006 Good and Bad Places for Road: Effect of Varying Road and

Natural Pattern on Habitat Loss, Degradation and Fragmentation Proceeding of the 2005 International Conference on Ecology and Transportation Center for Transportation and Environment, North Carolina State University

13 Trương Quang Học, 2012 Việt Nam Thiên nhiên, môi trường và phát triển bền vững NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội: 484 tr

14 Irish EPA, 2002 Scope of Transport Impacts on the Environment (2000-DS-4-M2) Final Report Environmental RTDI Programme 2000-2006 Environmental Protection Agency, Ireland

15 Iuell B., G.J Bekker, R Cuperus, J Dufek, G Fry, C Hicks, V Hlavac, V Keller, B Rosell, T Sangwine, N Torslov and B.I.M Wandall, 2003 COST 341 – Wildlife and Traffic: A European Handbook for Identifying Conflicts and Designing Solutions KNNV Publishers, Brussels, Belgium

16 Jean-Yves P., P.J Meynell and D Elder (Eds.), 2000 Ecosystem Management: Lessons from Around the World A Guide for Developement and Conservation Practitioners IUCN, Grand, Switzerland and Cambridge, UK

17 Lynch O.J and J.B Alcorn, 1994 Tenurial Rights and Community-based Conservation, In: Western David and R Michael Wright (Eds.) Natural Connections: Perspectives in Community-based Conservation Island Press, Washington, D.C.: pp 373-392

18 Millennium Ecosystem Assessment (MEA), 2005 Ecosystem and Human Well-being: Syntesis Island Press, Washingtton, D.C.: 137 p

19 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (nước CHXHCNVN), 2012 Báo cáo quốc gia của Việt Nam tại Hội nghị cấp cao Liên Hợp Quốc về Phát triển bền vững (Rio+20)

20 Ostrom E and Schlager, 1992 Property – Rights Regimes and Natural Resources: A Conceptual Analysis Land Economics, Vol.68, No.3: pp 249-262

21 Shepherd G., 2004 Tiếp cận hệ sinh thái: Năm bước để thực hiện IUCN, Gland, Switzerland and Cambridge, UK: 30 tr

22 Smith A.D and E Maltby, 2003 Using the Ecosystem Approach to Implement the Convention on Biological Diversity: Key Issues and Case Studies Ecosystem Management Series No.2 IUCN – The World Conservation Union

23 Nguyễn Xuân Thành và nnk., 2008 Báo cáo Dự án Đánh giá mức độ suy thoái của hệ sinh thái dọc hai bên đường Hồ Chí Minh khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Nam do xây dựng đường và đề xuất giải pháp khắc phục Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Bộ NN&PTNT, Hà Nội

24 USAID – EHP (Environmental Health Project), 2003 Community-based Environmental Management for Urban Malaria Control in Uganda – Year 1, No.20, 11/2003 Http://www ehproject.org

Trang 37

25 Vandergeest P., 2006 CBNRM Communities in Action In: Stephen R Tyler (Ed.) Communities, Livelihoods and Natural Resources: Action Research and Policy Change in Asia, Ottawa International Development Research Centre: pp 321-346

26 Van der Ree R et al., 2011 Effects of Roads and Traffic on Wildlife Populations and

Landscape Function: Road Ecology is Moving Toward Larger Scales Ecology and Society, Australian Research Centre for Urban Ecology, Royal Botanic Gardens Melbourne, Australia

27 Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận tải (Viện KH&CN GTVT), 2012 Đánh giá tác động và xây dựng giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho giao thông đường bộ Việt Nam Báo cáo giai đoạn 1 Trung tâm Khoa học Công nghệ và Bảo vệ Môi trường Giao thông Vận tải, Hà Nội

28 Wackernagel M and W Rees, 1996 Our Ecological Footprint: Reducing Human Impact on the Earth New Society Publishers, Gabriola Island

29 World Bank (WB), 2010 Convenient Solution to an Inconvenient Truth: Ecosystem Based Approaches to Climate Change The World Bank

30 Trần Văn Ý và nnk., 2010 Nghiên cứu đề xuất mô hình thích hợp để quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường tuyến đường Hồ Chí Minh (Đề tài KC.08/06-10) Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ KH&CN, Hà Nội

Abstract THE ROLE OF COMMUNITIES IN DEVELOPMENT

OF SUSTAINABLE ROAD ECOSYSTEM IN VIET NAM

Pham Hoai Nam

Institute of New Technology, Army Scientific and Technological Institute

Truong Quang Hoc

Centre for Natural Resouces and Environmental Studies, VNU

Development of modern road traffic system (or sustainable road ecosystem) is a global trend Viet Nam is a developing country, where the construction of infrastructure, including road traffic system, is an urgent need, and is ultimately important for its sustainable development The role of communities in the socio-economic development in general and in the development of the road traffic system in particular has been mentioned

in many government’s policies However, the implementation and enforcement of the policies has faced a number of problems

Towards developing a sustainable road ecosystem, the community participation should be integrated into all phases of road traffic developmental plans

Trang 38

MỘT SỐ KẾT QUẢ BAN ĐẦU VỀ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ KHÔNG GIAN CÁC DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI

CỦA RỪNG NGẬP MẶN TẠI CÀ MAU

đồ không gian và lượng giá dịch vụ HST được sử dụng để đánh giá dịch vụ hệ sinh thái tại các khu vực và các cấp độ khác nhau nhằm hỗ trợ quá trình lồng ghép dịch vụ HST vào các quá trình ra quyết định

Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá sự thay đổi của dịch vụ hệ sinh thái tại Cà Mau dựa trên công cụ phân tích không gian, sử dụng mô hình lượng giá tổng hợp các dịch vụ

hệ sinh thái và đánh đổi (InVest) do dự án vốn tự nhiên (natural captial project) xây dựng

để lập bản đồ các dịch vụ hệ sinh thái của rừng ngập mặn (RNM) tại Cà Mau, thay đổi theo thời gian và theo các kịch bản khác nhau Kết quả nghiên cứu đã chứng minh vai trò của RNM trong việc duy trì các dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái, bao gồm dịch vụ hấp thụ cacbon, dịch vụ bảo vệ bờ biển và đóng góp đáng kể trong việc bảo vệ cộng đồng dân cư ven biển trước các tổn thương do xói lở và ngập lụt Nghiên cứu cho thấy tổng lượng cacbon lưu giữ năm 2005 cao hơn so với năm 2010 tương quan với mức độ suy giảm của RNM năm 2010 so với năm 2005 do chuyển đổi đất lâm nghiệp sang nuôi trồng thủy sản

Mô hình tổn thương đới bờ và bảo vệ khỏi xói mòn theo hai kịch bản (có RNM và không có RNM) cho thấy RNM có vai trò quan trọng trong việc giảm tính tổn thương ven biển, giảm sóng và gió, hạn chế tác động của các cơn bão

1 MỞ ĐẦU

Trên thế giới, các hệ sinh thái đang bị thất thoát và suy giảm ở mức báo động Đánh giá Hệ sinh Thái thiên niên kỷ (MEA) cho thấy, hơn 60% các dịch vụ hệ sinh thái (HST) toàn cầu đang ở tình trạng xấu hơn so với 50 năm trước (MEA, 2005) Điều này một phần do hạn chế thông tin

về giá trị thực mà thiên nhiên mang lại và các giá trị của thiên nhiên chưa được xem xét trong quá trình đưa ra các quyết định quy hoạch chính sách và trong các giao dịch kinh tế Không giống như những hàng hóa và dịch vụ “thông thường” được giao dịch trên thị trường và do đó có mức giá, hầu hết các dịch vụ hệ sinh thái đều là hàng hóa công cộng với quyền tiếp cận không

Trang 39

hạn chế Hiện vẫn còn thiếu thị trường và thiếu giá cả trao đổi cho các dịch vụ HST Quan điểm đánh giá thấp dịch vụ HST là nguyên nhân gây ra tổn thất đa dạng sinh học, chức năng của HST

và từ đó ảnh hưởng đến phúc lợi của con người, đặc biệt là những người nghèo

Theo hướng dẫn của Đánh giá HST Thiên niên kỷ, rất nhiều các công cụ khác nhau, bao gồm các công cụ lập bản đồ không gian và lượng giá dịch vụ HST đã được xây dựng và những công cụ này đã được áp dụng tại các khu vực khác nhau, theo các mức độ khác nhau Lập bản đồ và mô hình hóa dịch vụ HST cho phép các nhà ra quyết định đánh giá sự đánh đổi của các giải pháp lựa chọn khác nhau và xác định các khu vực ưu tiên cho bảo tồn và đầu tư vào nguồn vốn tự nhiên Lượng giá kinh tế là công cụ nhằm định lượng về mặt tiền tệ những lợi ích do các HST cung cấp Công cụ này giúp các nhà ra quyết định nhìn nhận rõ ràng mối quan hệ giữa sự thay đổi của hệ sinh thái đối với phúc lợi của con người Lượng giá kinh tế sử dụng các kỹ thuật để đánh giá giá trị xã hội “thực” cũng như những tổn hại kinh tế mất đi của các dịch vụ HST bằng cách làm cho chúng có thể định lượng được và so sánh được với các hàng hóa và dịch vụ có trên thị trường Sử dụng các công cụ lượng giá dịch vụ HST là phương pháp được chấp nhận rộng rãi sau khi báo cáo về nghiên cứu kinh tế về đa dạng sinh học và các hệ sinh thái (TEEB) được xuất bản vào năm 2010 Với các chuyên gia đầu ngành về kinh tế và đa dạng sinh học, các báo cáo về TEEB

đã được xuất bản cho các nhóm đối tượng mục tiêu khác nhau, bao gồm các nhà ra quyết định cấp khu vực và địa phương, cấp quốc gia và các nhà kinh doanh (TEEB, 2010)

Đất ngập nước nói chung và rừng ngập mặn (RNM) nói riêng đã và đang cung cấp các dịch vụ HST quan trọng, đóng góp trực tiếp vào phúc lợi của con người, bao gồm dịch vụ cung cấp (thức

ăn, nguyên vật liệu thô), dịch vụ điều tiết (lọc nước, bảo vệ bờ biển, hấp thụ và lưu giữ cacbon), dịch vụ văn hóa (du lịch, giải trí) và dịch vụ hỗ trợ (bãi đẻ, nơi cư trú của các loài)

Với tổng diện tích RNM lớn nhất cả nước (64.903 ha), RNM tại Cà Mau đang cung cấp các dịch

vụ HST đa dạng, hỗ trợ trực tiếp cuộc sống của người dân địa phương Việc đánh giá vai trò của các dịch vụ HST tại khu vực này do đó hết sức quan trọng, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị to lớn mang lại từ RNM

2 HIỆN TRẠNG KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện tự nhiên

Cà Mau là tỉnh cực Nam của Tổ quốc và nằm trọn trên bán đảo Cà Mau, phần đất liền có tọa độ

từ 8o30’ đến 9o10’ vĩ độ Bắc, 104o8’ đến 105o5’ kinh độ Đông Địa hình tỉnh Cà Mau có 3 mặt tiếp giáp với biển Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 533.163,53 ha được chia thành 9 đơn vị hành chính trực thuộc gồm TP Cà Mau và 8 huyện: Thới Bình, Trần Văn Thời, U Minh, Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân, Năm Căn và Ngọc Hiển

Nhìn chung địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, trong đất liền không có núi đá (ngoài biển cũng chỉ có một số cụm đảo gần bờ như Hòn Khoai, Hòn Đá Bạc), cao trình phổ biến từ 0,5-1 m

so với mực nước biển, các khu vực trầm tích sông hoặc sông - biển hỗn hợp có địa hình cao hơn; các khu vực trầm tích biển - đầm lầy hoặc đầm lầy có địa hình thấp hơn (trung bình và thấp trũng) chiếm tới 89%

Trang 40

Hình 2.1 Tỉnh Cà Mau và vị trí trong Việt Nam

2.2 Điều kiện kinh tế-xã hội

Trong giai đoạn 1996-2005, kinh tế tỉnh Cà Mau tăng trưởng khá nhanh Quy mô Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên địa bàn tỉnh năm 2005 gấp 2,5 lần so với năm 1995 (đạt 7.673,663 tỷ đồng

so với 3.092 tỷ đồng của năm 1995 theo giá so sánh năm 1994), tăng bình quân hàng năm giai đoạn 1996-2005 là 9,57%, giai đoạn 1996-2000 là 8% và giai đoạn 2001-2005 là 11,18% (UBND tỉnh Cà Mau, 2010)

Năm 2005, GDP giá hiện hành đạt 11.213,891 tỷ đồng, bình quân đầu người đạt 9,2 triệu đồng (tương đương 580 USD), cao hơn GDP bình quân đầu người vùng đồng bằng sông Cửu Long (khoảng 520 USD) nhưng thấp hơn so với bình quân cả nước (640 USD), đến năm 2009, GDP giá hiện hành đạt 20.494,091 tỷ đồng, bình quân đầu người đạt 17 triệu đồng (tương đương 1.030 USD) (Cục Thống kê tỉnh Cà Mau, 2009, 2010)

Năm 2010, tổng dân số của Cà Mau là 1.212.089 Mật độ dân số là 229 người/km2 Dân số thành thị trong khu vực là 260.475 người, chiếm 21.49% tổng dân số toàn tỉnh Dân số khu vực nông thôn là 951.614 người, chiếm 78.51% tổng dân số toàn tỉnh

Tổng diện tích đất lâm nghiệp của Cà Mau trong năm 2010 là 100.387 ha, chiếm 18,82% tổng diện tích toàn tỉnh, trong đó rừng sản xuất là 55.850 ha, rừng phòng hộ là 26.930 ha và rừng đặc dụng là 17.607 ha (UBND tỉnh Cà Mau, 2011a)

Ngày đăng: 30/10/2016, 15:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Ramsar Convention, 2005a. Background, Rationale and Fact Sheets for Ecological “Outcome-oriented” Indicators for Assessing the Implementation Effectiveness of the Ramsar Convention. Information Paper. Ramsar COP9 DOC.18: 48 p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Outcome-oriented
9. Ramsar Convention, 2005b. Ecological “Outcome-oriented” Indicators for Assessing the Implementation Effectiveness of the Ramsar Convention. Resolution IX.1 Annex D: 49 p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Outcome-oriented
1. Normander B., G. Levin, A.-P. Auvinen, H. Bratli, O. Stabbetorp, M. Hedblom, A. Glimskọr and G.A. Gudmundsson, 2012. Indicator Framework for Measuring Quantity and Quality of Biodiversity – Exemplified in the Nordic Countries. Ecological Indicators, Vol.13, No.1: pp. 104-116 Khác
4. European Environment Agency (EEA), 2007. Halting the Loss of Biodiversity by 2010: Proposal for a First Set of Indicators to Monitor Progress in Europe. EEA Technical Report 11/2007. Office for Official Publications of the European Communities, Luxembourg: pp. 1-38 Khác
5. Franklin J.F., K. Cromack, W. Denison, A. McKee, C. Maser, J. Sedell, F. Swanson and G. Juday, 1981. Ecological Characteristics of Old-Growth Douglas-Fir Forests. Genral Technical Report. PNW-GTR-118. Portland: 48 p Khác
6. Gregory R.D. and A. van Strien, 2010. Wild Bird Indicators: Using Composite Population Trends of Birds as Measures of Evironmental Heath. Ornithological Science, 9 (1): p. 3-22.31 Khác
7. Noss R.F., 1990. Indicators for Monitoring Biodiversity: A Hierarchical Approach. Conserv. Biol., 4: pp. 355-364 Khác
10. Rounsevell M.D.A., T.P. Dawson and P.A. Harrison, 2010. A Conceptual Framework to Assess the Effects of Environmental Change on Ecosystem Services. Biodivers Conserv.doi:10.1007/s10531-010-9838-5 Khác
11. Shahin A. and M.A. Mahbod, 2007. Prioritization of Key Performance Indicators: An Integration of Analytical Hierarchy Process and Goal Setting. Int J Prod Perform Manage 56: pp. 226-240 Khác
12. Pollard S., T. Cousins, D. Kotze, C. Davis, E. Riddell, D. Du Toit, E. Chuma, B.B. Mkhabela and S. Addy, 2009. Sustainability Indicators in Communal Wetlands and Their Catchments. Lessons from Craigieburn Wetland, Mpumalanga. Water Research Commision: 128 p Khác
13. Wright P.A., G. Alward, J.L. Colby, T.W. Hoekstra, B. Tegler and M. Turner, 2002. Monitoring for Forest Management Unit Scale Sustainability: The Local Unit Criteria and Indicators Development (LUCID) Test (Management Edition). Fort Collins, CO. USDA Forest Service Inventory and Monitoring Report No.5: 54 p Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Tỉnh Cà Mau và vị trí trong Việt Nam - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
Hình 2.1. Tỉnh Cà Mau và vị trí trong Việt Nam (Trang 40)
Hình 2.2. Biến động sử dụng đất giai đoạn 2005-2010 - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
Hình 2.2. Biến động sử dụng đất giai đoạn 2005-2010 (Trang 43)
Hình 3.1. Tổng lưu giữ cacbon trong năm 2005 và 2010 tại huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
Hình 3.1. Tổng lưu giữ cacbon trong năm 2005 và 2010 tại huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau (Trang 45)
Hình 3.2. Giá trị hấp thụ cacbon giai đoạn 2010 và 2005 tại huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
Hình 3.2. Giá trị hấp thụ cacbon giai đoạn 2010 và 2005 tại huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau (Trang 46)
Hình 3.4. Vai trò của rừng ngập mặn trong việc giảm năng lượng sóng và gió - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
Hình 3.4. Vai trò của rừng ngập mặn trong việc giảm năng lượng sóng và gió (Trang 47)
Hình 3.6. Hàm lượng Nitrit (NO 2 - ) khu vực rừng ngập mặn Cần Giờ qua 2 đợt khảo sát - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
Hình 3.6. Hàm lượng Nitrit (NO 2 - ) khu vực rừng ngập mặn Cần Giờ qua 2 đợt khảo sát (Trang 65)
Hình 3.8. Hàm lượng phôtphat (PO 4 3- ) khu vực rừng ngập mặn Cần Giờ qua 2 đợt khảo sát - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
Hình 3.8. Hàm lượng phôtphat (PO 4 3- ) khu vực rừng ngập mặn Cần Giờ qua 2 đợt khảo sát (Trang 66)
Hình 3.10. Các chỉ tiêu kim loại Zn của trầm tích tại rừng ngập mặn Cần Giờ - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
Hình 3.10. Các chỉ tiêu kim loại Zn của trầm tích tại rừng ngập mặn Cần Giờ (Trang 78)
Hình 3.12. Các chỉ tiêu kim loại Pb của trầm tích tại rừng ngập mặn Cần Giờ - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
Hình 3.12. Các chỉ tiêu kim loại Pb của trầm tích tại rừng ngập mặn Cần Giờ (Trang 79)
Hình 3.3. Trung bình Chỉ số sức khỏe đại dương toàn cầu - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
Hình 3.3. Trung bình Chỉ số sức khỏe đại dương toàn cầu (Trang 86)
Hình 2.1. Tổng lượng bức xạ Mặt trời chiếu lên Trái đất vào mùa đông và - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
Hình 2.1. Tổng lượng bức xạ Mặt trời chiếu lên Trái đất vào mùa đông và (Trang 123)
Hình 2.8. Năng lượng sinh khối - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
Hình 2.8. Năng lượng sinh khối (Trang 128)
Hình 3.1. Năng lượng gió biển - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
Hình 3.1. Năng lượng gió biển (Trang 131)
Hình 3.1. Sơ đồ lấy mẫu tại Khu Dự trữ Sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
Hình 3.1. Sơ đồ lấy mẫu tại Khu Dự trữ Sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ (Trang 155)
Hình 2.2. Điều kiện địa hình của Ba Vì - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT CANH TÁC LÚA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG XANH
Hình 2.2. Điều kiện địa hình của Ba Vì (Trang 282)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm