Các cơ quan quản lý đất đai và các cơ quan thuộc hệ thống Nhà nước thực hiện qúa trình khoả sát, đo đạc và nghiên cứu thực địa để nắm được toàn bộ số lượng đất đai như tổng hợp diện tích
Trang 1LUẬN VĂN:
Một số vấn đề về Quản lý Nhà nước đối với đất đai của Thành phố Hà Nội
Trang 2
lời mở đầu
Đất đai là tiền đề ban đầu, là cái nôi của loài người và là cơ sở quan trọng nhất của sự
tồn tại và phát triển của xã hội loài người Trong lời nói đầu của Luật đất đai năm 1993 đã
nêu: “Đất đai là tài nguyên vô cùng qúy giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần
quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội và quốc phòng”
Hà Nội là thủ đô của nước CNXHCN Việt Nam, là một trong những trung tâm văn hoá, chính trí, kinh tế, xã hội lớn nhất của cả nước Trong nền kinh tế thị trường, vấn đề về quản lý và sử dụng đất đai luôn nhạy cảm và nó tác động trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô Đất đai ngày càng trở nên có giá khi Hà Nội ngày một phát triển
và dân số ở Hà Nội ngày một tăng (chủ yếu là tăng dân số cơ học), kéo theo nó sẽ phát sinh những phức tạp trong quản lý và sử dụng đất đai Vì thế, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về đất đai là vô cùng cần thiết và cấp bách Với sự cần thiết đó trong thời gian thực tập
tốt nghiệp em đã chọn nghiên cứu đề tài: “Một số vấn đề về Quản lý Nhà nước đối với đất
đai của Thành phố Hà Nội”
Đề tài nghiên cứu với mục đích nhằm nâng cao vai trò quản lý Nhà nước về đất đai
và sử dụng đất đai hợp lý hơn trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Ngoài lời mở đầu, kết luận và mục tài liệu tham khảo bài bài luận văn tốt nghiệp của
em gồm có 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về đất đai
Chương II: Nội dung quản lý Nhà nước về tình hình sử dụng đất ở Thành phố Hà Nội Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý tình hình sử dụng đất ở Thành phố Hà Nội
Trang 3Chương I
Lý luận chung về đất đai
I Đất đai và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế _ xã hội
1 Khái niệm
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước con người không tự sản sinh thêm và đặc
tinh sử dụng của nó là vô hạn Đất đai mang trong mình đặc tính mà không gì có thể thay thế được, là cái nôi, cái cơ bản ban đầu cho sự tồn tại và phát triển của muôn loài Thiếu đất
đai thì không thể có một sinh vật nào tồn tại được Cac Mac viết rằng: “Đất đai là tài sản
mãi mãi với loài người, là điều kiện cần để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất…”
Với đặc tính như vậy của đất đai thì việc tìm hiểu, sử dụng hợp lý đất đai ngoài ý nghĩa về kinh tế còn có ý nghĩa về bảo vệ, cải tạo nguồn tài nguyên vô cùng qúy giá này, để
nó mãi mãi là không khan hiếm, không mất đi cái giá trị vốn có của nó, vẫn mãi mãi là môi trường sống của muôn loài
2 Vai trò và vị trí của đất đai
Đất đai nó tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt Nhưng tuỳ theo mỗi ngành nghề khác nhau mà đất đai có những vị trí
Trang 4con người chỉ có một mẹ mà thôi Điều đó đã được Cac Mac khẳng định rằng: “Lao động là
cha, đất đai là mẹ của mọi của cải vật chất” diều đó nó nói lên được rằng thiếu đất đai thì
không thể có cái gì tồn tại
Vai trò của đất đai đối với sản xuất và đời sống thật to lớn và đa dạng Đùng như vậy
hội nghị các bộ trưởng châu Âu năm 1973 (họp tại Luân Đôn _ Anh) nhận định: “Đất đai là
một trong những cái qúy nhất của loài người, nó tạo điều kiện cho sự sống của thực vật, động vật và con người trên trái đất”
Dưới góc độ chính trị - pháp lý, đất đai là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia, gắn liền với chủ quyền quốc gia Không thể có quan niệm về quốc gia không có đất đai Sự tôn trọng chủ quyền quốc gia trước hết phải được thể hiện ở việc tôn trọng lãnh thổ quốc gia
Vì vậy, việc xâm phạm đất đai là xâm phạm lãnh thổ và chủ quyền quốc gia mà Nhà nước là người đại diện Để bảo vệ chủ quyền đó Nhà nước phải sử dụng công quyền thực hiện quản lý, bảo vệ đất đai, để chống mọi sự xâm phạm đất đai, xâm phạm lãnh thổ quốc gia Tôn trọng chủ quyền quốc gia, an ninh lãnh thổ cũng là một nguyên tắc hàng đầu của luật pháp quốc tế Lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam chính là lịch sử hào hùng của công cuộc mở đất, giữ đất của ông cha ta, lịch sử chiến thắng mọi thế lực thù địch xâm phạm bờ cỏi đất Việt Đất đai trở thành giá trị thiêng liêng,
là xương máu của bao thế hệ con người Việt Nam Đất đai và giải quyết vấn đề đất đai - từ vai trò quan trọng trên đã trở thành tâm điểm của các cuộc các mạng trong lịch sử Nhà nứoc XHCN ngay khi mới ra đời cũng đã đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề đất đai Ngay
từ khi cách mạng tháng mười thành công, V.L Lênin đã ký Sắc lệnh về ruộng đất, xác định quyền sở hữu duy nhất của Nhà nước Xô Viết đối với đất đai ở nước ta trong qúa trình lãnh đạo Cách mạng Đảng đã coi đất đai, giải quyết vấn đề đất đai là một trong những vấn đề cốt
tử Nhà nước ta, ngay khi ra đời sau thắng lợi của cách mạng tháng tám lịch sử đã ban hành nhiều Sắc lệnh, đạo luật để quản lý đất đai Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, bên cạnh việc ban hành các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, Nhà nước đã ban hành sắc lệnh giảm tô, giảm tức, đến ngày 4/12/1953 Quốc hội đã ban hành Luật cải cách ruộng đất nhằm xóa bỏ sở hữu đất đai của phong kiến và đế quốc Trong cách mạng XHCN, Đảng và
Trang 5Nhà nước luôn kiện toàn pháp luật về đất đai, cốt để quản lý tốt về đất đai, từ đó phát huy được vai trò vô cùng to lớn về nhiều mặt của đất đai Việc ban hành Luật Đất đai năm 1993
và các Luật sửa đổi, bổ sung, Bộ luật Dân sự và một loạt các văn bản pháp luật khác cho thấy rõ điều này
Vai trò quan trọng của đất đai chỉ có thể được phát huy suy cho cùng là phụ thuộc vào con người, vào sự tác động tích cực của con người một cách thường xuyên Ngược lại, đất đai sẽ không được phát huy được vai trò của mình nếu con người sử dụng đất một cách tuỳ tiện, chỉ khai thác, không thực hiện việc cải tạo bồi bổ đất Dưới chế độ tư bản, do chay theo lợi nhuận tối đa giai cấp tư sản đã làm cho đất đai ngày càng bị kiệt quệ Các Mác đã vạch
rõ: “Mỗi bước tiến của nông nghiệp tư bản chủ nghĩa là một bước tiến không những trong
nghệ thuật bóc lột người lao động mà còn là bước tiến về mặt làm cho đất đai bị kiệt quệ”
Ngược lại, dưới chủ nghĩa xã hội, và chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có khả năng bảo đảm được các điều kiện làm cho đất đai ngày càng phát huy được vai trò to lớn của nó; việc khai thác
và sử dụng các tài nguyên thiên nhiên, trong đó có đất đai đều phải tuân theo nguyên tắc phục vụ lợi ích xã hội; việc quản lý và sử dụng tốt đất đai trở thành nhiệm vụ của toàn xã hội; Nhà nước là người thay mặt xã hội thực hiện quản lý thống nhất đất đai
3 Đặc điểm đất đai và ý nghĩa kinh tế đối với việc sử dụng tài nguyên đất
a Đặc tính không thể sản sinh và có khả năng tái tạo của đất đai
Đất đai có vị trí cố định không di chuyển được, với số lượng có hạn trên phạm vi toàn cầu và phạm vi của từng quốc gia Tính cố định không thể di chuyển từ vị trí này sang
vị trí khác của đất đai đồng thời quy định tính giới hạn về quy mô theo không gian gắn liền với môi trường mà đất đai chịu chi phối (nguồn gốc hình thành, khí hậu, sinh thái với những tác động khác của thiên nhiên) Vị trí của đất đai có ý nghĩa lớn về kinh tế trong qúa trình khai thác sử dụng đất Những đất đai ở gần các đô thị, các đường giao thông, các khu dân cư được khai thác sử dụng triệt để hơn những đất đai ở vùng xa xôi hẻo lánh, và do đó có giá trị
sử dụng và giá trị lớn hơn Đất đai không thể sản sinh thông qua sản xuất
Độ phì là một thuộc tính tự nhiên của đất đai và là yếu tố Quyết định đến chất lượng của đất đai và cũng là một mặt biểu hiện tính kinh tế của đất đai trong qúa trình sử dụng nó
Trang 6Tính không thể sản sinh thêm nói lên được rằng phải sử dụng đất đai một cách hợp lý và đêm lại hiệu quả cao nhất, còn tính có khả năng tái tạo đo chính là tái tạo lại độ phì của đất đai và được sử dụng lại cho các lần canh tác tiếp theo Đất đai dùng để canh tác có khả năng tạo ra một khối lượng lương thực lớn hơn khối lượng đủ để duy trì sự sống của người lao
động Adam Smith đã dẫn: “ đất, trong hầu hết các tình huống, sản sinh ra một lượng lương
thực nhiều hơn so với số lượng đủ để duy trì sự sống của người lao động”
b Đất đai là một tư liệu sản xuất gắn liền với hoạt động của con người và nó tham gia vào tất cả các ngành sản xuất trong cuộc sống của con người
Trong qúa trình hoạt động sản xuất, đất đai trở thành tư liệu sản xuất không thể thiếu được Tác động của con người vào đất đai thông qua hoạt động sản xuất đa dạng phong phú với nhiều vẻ khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp nhằm khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên này vì lợi ích của mình Những tác động đó có thể làm thay đổi tính chất sử dụng của đất đai, từ đất đai hoang sơ thành đất đai canh tác được, hoặc đất đai từ mục đích
sử dụng này sang mục đích sử dụng khác Hoặc những tác động để cải tạo chất đất, làm tăng
độ màu mỡ của đất đai Tất cả những tác động ấy của con người làm cho đất đai vốn dĩ là sản phẩm của tự nhiên trở thành một sản phẩm của lao động Như Mac - Anghen đã dẫn:
“tuy có những thuộc tính tự nhiên như nhau nhưng một đám đất được canh tác có giá trị lớn
hơn một đám đất bỏ hoang”
Con người không tạo ra được đất đai, nhưng bằng những lao động của mình (lao động sống và lao động vật hóa) mà cải thiện đất đai, làm cho đất đai từ xấu trở thành tốt hơn
và làm tăng sản lượng ruộng đất
c Đặc điểm về sự chiếm hữu và sở hữu đất đai
Từ xa xưa, khi loài người còn sống thành bầy đàn, con người chuyển từ săn bắt sang trồng cây trên những đất đai chiếm được và trở thành sở hữu chung của cộng đồng
Cùng với tiến trình phát triển của xã hội loài người chế độ sở hữu và chiếm hữu đất
đai cũng phát triển theo nhiều kiểu khác nhau Tuy nhiên “Sở hữu ruộng đất khác với các
hình thái sở hữu khác ở chổ là, đến một trình độ phát triển kinh tế nhất định, nó trở nên
Trang 7thừa và có hại, ngay cả khi xét trên quan điểm của phương thức tư bản chủ nghĩa” ( trích
Mac - Anghen toàn tập, tập 25 phần II, trang 252 NXB Chính trị quốc gia, năm 1994)
d Tính đa dạng phong phú của đất đai
Tính đa dạng phong phú của đất đai trước hết do đặc tính tự nhiên của đất đai và phân bố cố định trên từng vùng lãnh thổ nhất định, mặt khác nó còn do yêu cầu và đặc điểm, mục đích sử dụng các loại đất khác nhau Một loại đất có thể sử dụng theo nhiều mục đích khác nhau Đặc điểm này của đất đai đòi hỏi con người khi sử dụng đất đai phải biết khai thác triệt để lợi thế của mối loại đất một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất của mỗi vùng lãnh thổ Để làm được điều đó phải xây dựng được một quy hoạch tổng thể và chi tiết sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước và từng vùng lãnh thổ
II Những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai
1 Quản lý về số lượng và chất lượng đất đai
a Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất đai
Điều tra , khảo sát, đo đạc đánh giá và phân hạng đất đai là những công việc hết sức quan trọng Trên cơ sở đó Nhà nước mới nắm chắc được toàn bộ vốn đất đai cả về số lượng lẫn chất lượng, mới có khả năng phát hiện được năng lực đất đai mỗi loại ở từng vùng, từng địa phương nhằm tiêu chuẩn hóa các loại đất phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế_xã hội của đất nước Đồng thời qua đó Nhà nước mới có những phương hướng và các chính sách
sử dụng, bảo vệ và cải tạo đất đai, có hệ thống có căn cứ khoa học trên phạm vi từng vùng từng địa phương và toàn quốc gia
Để nắm được số lượng đất đai, Nhà nước phải tiến hành điều tra, khảo sát đo đạc Nước ta có 7 vùng kinh tế-sinh thái tổng hợp, ở mỗi vùng tổng hợp lại có các tiểu vùng Các
cơ quan quản lý đất đai và các cơ quan thuộc hệ thống Nhà nước thực hiện qúa trình khoả sát, đo đạc và nghiên cứu thực địa để nắm được toàn bộ số lượng đất đai (như tổng hợp diện tích tự nhiên) và từng loại đất đai (như diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất xen khu dân cư, đất còn hoang hóa) của cả nước cũng như của các vùng, tiểu vùng, từng địa phương Đồng thời qua việc thực hiện qúa trình trên mà cho phép đánh giá về mặt kinh tế
Trang 8đất đai, có ý nghĩa là đánh giá chất lượng của đất đai: các tính chất sẵn có của đất đai về lý, hóa, sinh vật học tạo nên độ phì nhiêu của đất; kết cấu và độ bền vững của đất; mức độ thoái hóa của đất; mức độ chua mặn của đất
Việc đánh giá và phân hạng đất đai là một công tác khoa học rất phức tạp, nhằm xác định tác dụng sử dụng đất cụ thể cho từng vùng, từng diện tích đất Đây là việc làm hết sức cần thiết trong điều kiện nền kinh tế thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, sản xuất phát triển và ổn định đời sống của nhân dân Việc xác định giá cả của các loại đất đòi hỏi phải phân hạng đất, đồng thời phải xem xét cụ thể vị trí, địa hình, mục đích sử dung của từng đơn vị diện tích đất, cũng như xem xét quan hệ cung - cầu được hình thành trên thị trường bất động sản và xu hướng biến động của chúng Đó là cơ sở rất quan trọng cho việc tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, tính tiền khi giao đất, bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất, tính quyền sử dụng đất khi góp vốn liên doanh
Điều 12, Luật đất đai năm 1993 quy định: “Nhà nước xác định giá các loại đất để
tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất đai khi thu hồi đất Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng và theo từng thời gian”
Để đánh giá đất đai, Luật đất đai quy định việc chỉ đạo và tổ chức, lập bản đồ Địa chính như sau:
Chính phủ chỉ đạo và tổ chức viêc lập bản đồ địa chính thống nhất trên phạm vi cả nước Cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương ban hành quy trình kỹ thuật, quy phạm xây dựng bản đồ địa chính
Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố thực thuộc Trung ương chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc lập bản đồ địa chính ở địa phương mình
Bản đồ địa chính được lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn
Bản đồ địa chính gốc được giữ tại cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương Các bản sao được lưu giữ tại cơ quan quản lý đất đai tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, huyện, quận, thị xã, Thành phố thuộc tỉnh và Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn; bản sao có giá trị như bản gốc
Trang 9Để quản lý chặt chẽ đất đai, trên cơ sở bản đồ địa chính và hiện trạng sử dụng đất đai nhất thiết phải lập hồ sơ địa chính Mẫu để lập hồ sơ địa chính và nội dung của sổ địa chính
được quy định ở điều 34, Luật đất đai: “Sổ địa chính được lập theo mẫu do cơ quan quản lý
đất đai ở Trung ương quy định Nội dung của sổ địa chính phù hợp với bản đồ địa chính và hiện trạng sử dụng đất”
b Thống kê đất đai
Thống kê đất đai là công tác hết sức quan trọng nhằm nắm chính xác kịp thời những biến động về đất đai hàng năm, từng thời kỳ, cung cấp thông tin cần thiết cho công tác quy hoạch và kế hoạch hóa đất đai cũng như cho các công tác quản lý khác Do vậy, cần kiện toàn hệ thống đăng ký thống kê từ Trung ương xuống địa phương, trong đó khâu thống kê ở
cơ sở phải được đặc biệt coi trọng
Điều 35, Luật đất đai quy định: “ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức thực
hiện việc thống kê, kiểm kê đất đai ở địa phương mình Các cơ quan quản lý đất đai có trách nhiệm báo cáo kết quả thống kê, kiểm kê đất đai lên cơ quan quản lý đất đai cấp trên trực tiếp Viêc thống kê đất đai được thực hiện một năm một lần, việc kiểm kê đất đai được tiến hành 5 năm một lần Đơn vị thống kê, kiểm kê đất đai là đơn vị lập sổ địa chính: ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn”
Trang 10c Đăng ký đất đai
Việc sử dụng đất đai là do các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cụ thể thực hiện Nhà nước cho dân để sử dụng và trong qúa trình sử dụng luôn có sự biến đổi về chủ sử dụng, về diện tích cũng như các loại đất Thông qua việc đăng ký đất dai, cơ quan quản lý Nhà nước
có thể nắm được tỷ lệ chiếm hữu và sử dụng đất của các thành phần kinh tế và các ngành kinh tế, phát hiện được những việc sử dụng trái phép, kịp thời sửa chữa và phân phối đất đai cho phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân Đăng ký sử dụng đất là nghĩa
vụ và trách nhiệm của các chủ sử dụng đất và của các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai
Các trường hợp sau đây đòi hỏi các chủ sử dụng đất phải có trách nhiệm đăng ký sử dụng đất đai taị các cơ quan có thẩm quyền:
Khi Nhà nước giao quyền sử dụng đất
d Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai là giấy chứng nhận pháp lý xác nhận quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với quyền sử dụng đất của người sử dụng đất đai Cần phân biệt Quyết định giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyết định giao đất là cơ sở
Trang 11phát sinh quyền sử dụng đất, còn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở của mối quan
hệ pháp lý giữa Nhà nước với người sử dụng đất trong qúa trình quản lý và sử dụng đất đai
Điều 36, Luật đất đai quy định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương phát hành
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Quyết định giao đất thì cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trong trường hợp Chính phủ giao đất thì ủy ban nhân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trong trường hợp thửa đất có nhiều cá nhân không cùng một hộ gia đình hoặc không cùng một tổ chức sử dụng, thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp đến từng
tổ chức, từng hộ gia đình, từng cá nhân
Người sử dụng đất (các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân) được ủy ban nhân dân xã, phường xác nhận thì được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Diện tích đất đang sử dụng được ghi rõ trên bản đồ địa chính (hình dáng, kích thước của thửa đất, vị trí, ranh giới, loại, hạng đất ) và diện tích đang sử dụng được ghi vào sổ địa chính nếu đến nay chưa có sự biến đổi
Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ủy ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương cấp giấy chứng nhận cho các tổ chức mà mình giao đất; ủy ban nhân dân huyện, thị xã, Thành phố trực thuộc tỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân thuộc quyền sử dụng đất
2 Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai
a Những quy định về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch đất đai là sự tính toán, phân bố đất đai một cách cụ thể về số lượng, chất lượng, vị trí, không gian trên cơ sở khoa học nhằm phục vụ cho các mục đích kinh tế- xã hội Kế hoạch hoá đất đai là sự xác đình các chỉ tiêu về sử dụng đất đai, các biện pháp và thời hạn thực hiện theo quy hoạch đất đai Trong công tác quản lý đất đai, quy hoạch và kế
Trang 12hoạch hoá sử dụng đất đai có ý nghĩa to lớn Nó giúp việc sử dụng đất đai đúng mục đích, đạt hiệu quả cao và tiết kiệm, giúp Nhà nước quản lý chắt chẽ đất đai, giúp cho người sử dụng đất của Nhà nước có các biện pháp hữu hiệu và đạt kết quả cac trong qúa trình sử dụng đất
Luật Đất đai năm 1993 quy định cơ chế lập, nội dung và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Về lập quy hoạch đất, kế hoạch sử dụng đất, Điều 16 luật Đất đai quy định:
+ Chính phủ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong cả nước
+ Uỷ ban nhân dân các cấp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong địa phương mình trình Hội đồng nhân dân thông qua trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
+ Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn của mình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai do ngành, lĩnh vực mình phụ trách để Chính phủ xét duyệt
+ Cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương và địa phương phối hợp với các cơ quan hữu quan giúp Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
Như vậy, Luật Đất đai đã quy định trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Khoản 1 Điều 17, Luật Đất đai quy định nội dung quy hoạch đất đai như sau:
+ Khoanh định các loại đất: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng của từng địa phương và cả nước
+ Điêu chỉnh việc khoanh định cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương
Trang 13Khoản 2 Điều 17, Luật Đất đai quy định nội dung kế hoạch sử dụng đất đai là khoanh định việc sử dụng từng loại đất trong từng thời kỳ kế hoạch và điều chỉnh việc sử dụng đất đai cho phủ hợp với quy hoạch đất đai
- Xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là thực hiện quyền quản lý về đất đai của các cơ quan có thẩm quyền nhằm đảm bảo quy hoach, kế hoạch sử dụng đất đai của cấp dưới hợp lý, phù hợp với quy hoạch,kế hoạch chung, đồng thời đảm bảo quy hoạch, kế hoạch đó có hiệu lực pháp lý
Điều 18, Luật Đất đai quy định về thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai như sau:
- Quốc hội Quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong cả nước
- Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương
- Uỷ ban nhân dân cấp trên xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp
- Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai nào thì có quyền cho phép bổ sung điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch đó
b Những quy định về giao đất
Đất đai là một tài nguyên vô cùng qúy giá Quỹ đất đai có hạn, trong khi đó nhu cầu đất đai để phát triển sản xuất, phục vụ xây dựng và đời sống ngày càng tăng Vì vậy, việc phân phối và phân phối lại đất đai đảm bảo công bằng và hợp lý là một trong những nội dung quan trọng của chế độ quản lý đất đai Nhà nước Hoạt động của Nhà nước về phân phối và phân phối lại đất đai vì lợi ích quốc gia và lợi ích của người sử dụng đất
- Giao đất giao rừng:
Căn cứ pháp lý giao đất được quy định Điều 19, Luật Đất đai Đó là:
Trang 14+ Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
+ Căn cứ vào yêu cầu sử dụng đất được ghi trong luận chứng kinh tế-kỷ thuật và thiết kế đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc đơn xin giao đất
- Thẩm quyền giao đất
Điều 23, Điều 24, Luật Đất đai quy định thẩm quyền giao đất các cấp: Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trức thuộc Trung ương và Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, Thành phố thuộc tỉnh
Để quản lý thống nhất đất đai, ở nước ta đã tạo thành một hệ thống, trong đó Chính phủ là cơ quan có thẩm quyền cao nhất Quyết định những vấn đề quan trọng, Quyết định giao đất để sử dụng vào mọi mục địch trong những trường hợp cần thiết Cụ thể là:
+ Chính phủ xét duyệt kế hoạch hàng năm của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương về việc giao đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác
+ Chính quyền Quyết định việc cho các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài thuê đất
+ Chính phủ giao đất trên mức diện tích quy định cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định ở Khoản 3, Điều 23
Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương được giao thẩm quyền quyệt định giao đất để sử dụng vào mục địch không phải là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Cụ thể là:
Từ một ha trở xuống đối với đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị và từ 2 ha trở xuống đối với đất trồng, đồi núi trọc cho mỗi công trình chuyên dùng
Từ 3 ha trở xuống đối với đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị và từ 5 ha trở xuống đối với đất trồng, đồi núi trọc cho mỗi
Trang 15công trình đường bộ, đường sắt, đường điện, đê điều và từ 10 ha trở xuống đối với đất trồng, đồi núi trọc cho mỗi công trình xây dựng hồ chứa nước
Giao đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng để hộ gia đình, cá nhân làm nhà ở; đất chuyên dùng để sử dụng vào mục đích chuyên dùng khác hoặc để làm nhà ở; đất đô thị định mức do Chính phủ quy định
Kế hoạch giao đất khu dân cư nông thôn để Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, Thành phố thuộc tỉnh giao đất cho hộ gia đình cá nhân làm nhà ở
Giao đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp cho các tổ chức
Quyết định mức giao đất cho mỗi hộ nông dân được sử dụng làm nhà ở theo Quyết định của Chính phủ đối với từng vùng như khung giá 400m2/hộ
Quyết định diện tích giao đất cho nhà chùa, nhà thờ, thánh thất đang sử dụng
Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, Thành phố trực thuộc tỉnh có các thẩm quyền sau:
Giao đất cho các hộ gia đình và cá nhân sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp
Giao đất khu dân cư nông thôn cho hộ gia đình và cá nhân làm nhà trên cơ sở quy hoạch đã được xét duyệt của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương
Giao đất chưa sử dụng cho các tổ chức và cá nhân theo hình thức có thời hạn hoặc tạm thời
Các quy định về thẩm quyền giao đất như trên thể hiện tính chặt chẽ, rõ ràng và nghiêm túc nhằm quản lý tốt đất đai - nguồn tài nguyên vô giá
c Những quy định về cho thuê đất
Điều 29, Luật đất đai quy định: “Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc
cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất để sản xuất, kinh doanh theo quy định của
Trang 16Luật này và các quy định khác của pháp luật” Các điều 80 - 84 trong chương V của Luật
đất đai quy định về việc tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế thuê đất Như vậy, nhìn chung Luật đất đai mới quy định mang tính nguyên tắc về vấn đề thuê đất, còn những vấn đề như đối tượng được thuê đất, thời hạn cho thuê đất, quyền lợi và nghĩa vụ của người thuê đất được quy định trong Bộ Luật Dân sự năm 1995, pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Trên cơ sở đó, Chính phủ ra các Nghị định và các Bộ, Tổng cục có liên quan
ra các thông tư hướng dẫn về việc lập hồ sơ xin giao đất, thuê đất, về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được Nhà nước giáo đất, cho thuê, hướng dẫn việc thuê đất để thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
d Những quy định về chuyển quyền sử dụng đất
Việc chuyển quyền sử dụng đất về thực chất là công nhận chuyển từ chủ sử dụng đất
cũ sang chủ sử dụng đất mới là hợp pháp Thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đai cần phải được làm tại các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Từ điều 30 đến điều 32, điều 36, điêu
77, Luật đất đai quy định có tính nguyên tắc về chuyển quyền sử dụng đất đai, về quyền thừa kế và thế chấp quyền sử dụng đất đai Trên cơ sở đó, từ điều 690 đến điều 744 của Luật Dân sự quy định cụ thể việc chuyển quyền sử dụng đất đai Các trình tự, thủ tục, điều kiện, quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể được phép chuyển quyền và nhận quyền sử dụng đất đai đã được quy định rõ trong luật
Các trường hợp không được chuyển quyền sử dụng đất:
Trang 17+ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở do nhu cầu giá cả sản xuất và đời sống được chuyển đổi quyền sử dụng đất đai Thủ tục chuyển đổi được quy định như sau: ở nông thôn thì làm tại Uỷ ban nhân dân xã, ở đô thị thì làm tại Uỷ ban nhân dân quận, thị xã, Thành phố trực thuộc tỉnh
+ Hộ gia đình, cá nhân sử dung đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được chuyển quyền
sử dụng đất khi:
Chuyển đi nơi khác
Chuyển làm nghề khác
Không có khả năng sản xuất
+Đối với đất ở, các hộ gia đình cá nhân được quyền chuyển nhượng ở các trường hợp sau:
Chuyển đi nơi khác
Không còn nhu cầu ở
+ Hộ gia đình cá nhân được thừa kế quyền sử dụng đất dai thoe điều 76, Luật đất đai + Hộ gia đình, cá nhân được thế chấp quyền sử dụng đất đai được thực hiện theo điều
77, Luật đất đai
+ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản trong những trường hợp khó khăn và được chính quyền địa phương xác nhận, thì được quyền cho thuê đất theo thời hạn và mục đích quy định
Trang 18Thu hồi đất
Để đảm bảo quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai, Nhà nước thực hiện biện pháp thu hồi đất trong những trường hợp cần thiết Điều 26, điều 27 và điều 28, Luật đất đai quy định các trường hợp bị thu hồi đất, thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước trong việc thu hồi đất và các nguyên tắc khi thu hồi đất
3 Các quy định về kiểm tra, giám sát việc quản lý và sử dụng đất đai của Nhà nước
Kiểm tra, giám sát việc quản lý và sử dụng đất đai là một trong những nội dung của chế độ quản lý Nhà nước về đất đai Thông qua việc kiểm tra, giám sát, phát hiện những vi phạm, những bất hợp lý trong việc thực hiện pháp luật về đất đai của Nhà nước, trong việc quản lý và sử dụng đất đai
Điều 37, Luật đất đai quy định thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước trong tổ chức việc thanh tra đất đai:
Chính phủ tổ chức việc thanh tra đất đai trong cả nước, Uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức việc thanh tra đất đai trong địa phương mình
Cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương giúp Chính phủ; cơ quan quản lý địa phương giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp trong việc thực hiện thành tra đất
Nội dung thanh tra đất đai được quy định như sau:
Thanh tra việc quản lý Nhà nước về đất đai của Uỷ ban nhân dân các cấp
Thanh tra việc chấp hành Luật đất đai của người sử dụng đất
Giải quyết các khiếu nại, tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp Luật đất đai Quy định về quyền của thanh tra, thanh tra viên như sau: Tổ chức, hộ gia đinh, cá nhân có liên quan phải cung cấp tài liệu cần thiết cho việc thanh tra; quyết đinh tạm thời đình chỉ việc sử dụng phần đất không đúng pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về Quyết định đó; mặt khác phải báo cáo ngay với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Quyết
Trang 19định xử lý; xử lý theo thảm quyền hoặc kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử
lý các vi phạm về quản lý sử dụng đất đai
Về xử lý các sai phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai, tuỳ theo tính chất nghiêm trọng, mức độ tác hại và hậu quả của các trường hợp sai phạm mà các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện phương sách phù hợp Cụ thể là:
+ Người nào lấn chiếm đất, hủy hoại đất, chuyển quyền sử dụng đất không đúng quy định hoặc có hành vi khác vi phạm Luật đất đai thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà
bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
+Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn giao đất, thu hồi đất, cho phép chuyển quyền sử dụng đất trái với quy định của pháp luật, bao che cho các hành vi vi phạm pháp luật, Quyết định xử lý trái với pháp luật, có hành vi gây thiệt hại đến tài nguyên đất, vi phạm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, thì tuỳ theo mức độ nặng, nhẹ mà bị xử lý
kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
+ Người nào mà vi phạm Luật đất đai mà gây thiệt hại đối với người khác ngoài việc xử lý như trên còn cần phải bồi thường cho người bị thiệt hại
Trang 20Chương II Nội dung quản lý Nhà nước về tình hình sử dung đất ở Thành phố Hà Nội
I Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của Thành phố Hà Nội
1 Đặc điểm tự nhiên
Thành phố Hà Nội là thủ đô của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hà Nội nằm ở vị trí trung tâm Bắc Bộ, giới hạn trong khoảng từ 20053’ đến 21023’ vĩ
độ Bắc, 105044’ đến 106002’ độ kinh Đông, tiếp giáp với năm Tỉnh: Thái Nguyên ở phía Bắc, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía Đông, Vĩnh phúc ở phía Tây, Hà Tây và Hà Nam ở phía Nam Hà Nội có diện tích 927,39 km2, khoảng cách dài nhất từ phía Bắc đến phía Nam Thành phố trên 50 km và chỗ rộng nhất từ Tây sang Đông gần 30 km
Là một Thành phố lớn nằm ở hai bên bờ sông Hồng trên vùng đồng bằng trù phú và nổi tiếng từ lâu đời, Hà Nội có vai trò và địa thế đẹp và thuận lợi để trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trong nhất của nước ta
Về mặt hành chính, Hà Nội là Thành phố trực thuộc Trung Ương, bao gồm 7 quận nội thành (Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Thanh Xuân và Cầu Giấy) có diện tích
là 82,78 km2 (chiếm 8,9% diện tích toàn Thành phố) với 102 phường và 5 huyện ngoại thành (Sóc Sơn, Đônh Anh, Gia Lâm, Thanh Trì và Từ Liêm) có diện tích 844,61 km2(chiếm 91,1% diện tích toàn Thành phố) với 108 xã và 8 thị trấn Về mặt diện tích tự nhiên,
Hà Nội là đơn vị hành chính vào loại nhỏ nhất trong 61 tỉnh, Thành phố ( chỉ trên Bắc Ninh,
Hà Nam và Hưng Yên )
a Địa hình
Đại bộ phận diện tích Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với độ cao trung bình từ 5-10 m so với mực nước biển Còn lại chỉ có khu vực đồi núi ở phía Bắc
Trang 21và Tây Bắc của huyện Sóc Sơn thuộc rìa phía Nam của dãy núi Tam Đảo có độ cao từ 20 đến trên 400 m với đỉnh cao nhất là núi Chân Chim cao 462 m
Địa hình của Hà Nội thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Điều này đựơc phản ánh rõ rệt qua hướng dòng chảy tự nhiên của các dòng sông chính chảy qua Hà Nội
Dạng địa hình chủ yếu của Hà Nội là dạng địa hình đồng bằng được bồi đắp bởi các dòng sông với các bãi bồi hiện đại, bãi bồi cao và các bậc thềm Xen giữa các bãi bồi hiện đại và các bãi bồi cao còn có các vùng trũng với các hồ đầm (dấu vết của các lòng sông cổ ) Riêng các bậc thềm sông chỉ có ở phần lớn huyện Sóc Sơn và phía Bắc huyện Đông Anh, nơi có đía thế cao trong dạng địa hình đồng bằng của Hà Nội Ngoài ra, Hà Nội còn có các dạng địa hình núi và đồi tập trung ở khu vực Sóc Sơn với diện tích không lớn lắm
và mùa đông trong năm Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9, có đặc điểm nóng và mưa nhiều với gió thịnh hành hướng Đông Nam do chịu tác động mạnh mẽ của gió Tây Nam, của dải hội
tụ nhiệt đới và của các xoáy thuận nhiệt đới ( Bão, áp thấp nhiệt đới ) Trong thời kỳ này, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là tháng 7 (28,90C) và tháng có lượng mưa trung bình cao nhất trong năm là tháng 8 (318 mm)
Mùa Đông từ tháng 11 đến tháng 3, có đặc điểm là lạnh và ít mưa, tháng 1 là tháng
có nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm (16,40C); đồng thời cũng có lượng mưa trung
Trang 22bình thấp nhất trong năm (16,6 mm) với gió thịnh hành hướng Đông Bắc, do chịu sự chi phối của gió mùa Đông Bắc Hai tháng 4 và 10 được coi như tháng chuyển tiếp
Sự biến động thất thường của khí hậu Hà Nội chủ yếu do sự tranh chấp ảnh hưởng hoạt động của hai mùa gió và các qúa trình thời tiết, đặc biệt diễn ra trong mỗi mùa Vì thế
ở Hà Nội có năm rét sớm có năm rét muộn, có năm mùa nóng kéo dài, nhiệt độ cao nhất (tháng 5-1962) lên tới 42,80C, lại có năm nhiệt độ thấp nhất xuống tới 2,70C(tháng 1-1955)
c.Thuỷ văn
Hà Nội có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc với nhiều khúc sông mới chảy qua khu vực sông Hồng ở phía Nam Thành phố với các sông Đuống và sông Nhuệ, và lưu vực sông cầu ở phía Bắc với sông Cà Lô Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài hơn 93 km với lưu lượng nước bình quân hàng năm rất lớn, tới 2640 m3/s với tổng lượng nước chảy qua tới 83,5 triệu m3 Sông Đuống chỉ lưu quan trọng của sông Hồng trên địa bàn Hà Nội hàng năm cũng vận chuyển một lượng nước là 27,3 triệu m3 với lưu lượng bình quân 861 m3/s Các sông ở Hà Nội có thuỷ chế theo hai mùa rõ rệt: Mùa lũ thường kéo dài 5 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, cao nhất vào tháng 8, trên sông Hồng mực nước trung bình của tháng 8 lên tới 8,6m trong khi mực nước trung bình cả năm có 4,97 m, đặc biệt trong mùa lũ lịch sử 1971, mực nước cao nhất đo được ở Hà Nội là 14,13 m (ngày 22-8 1971) Mùa cạn thường kéo dài hơn, tới 7 tháng, từ tháng 11 đến tháng 5, với mức thấp nhất cả về mức nước lẫn lưu lượng nước vào tháng 3 Trên sông Hồng mực nước trung bình của tháng 3 là 2,56 m
Hà Nội có nhiều hồ, đầm tự nhiên và hệ thống sông, kênh để tiêu và tưới nước Do yêu cầu đô thị hoá, nhiều ao, hồ đã bị san lấp để lấy đất xây dựng Một số đầm và vùng trũng ở Thanh Trì, được cải tạo để thả cá hoặc kết hợp để trồng lúa.Khu vực nội thành tập trung khá nhiều hồ như hồ: Bảy Mẫu, Hoàn Kiếm, Thuyền Quang, Thủ Lệ, Văn Chương, Giảng Võ… đặc biệt có Hồ Tây nằm ở quận Ba Đình và quận Tây Hồ rộng gần 500 ha là một thắng cảnh đẹp của thủ đô và là nơi cung cấp thủy sản có giá trị
Hà Nội có nguồn nước ngầm khá phong phú hiện đang được khai thác để Thỏa mãn nhu cầu nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất, đặc biệt ở khu vực nội thành
d Thổ nhưỡng và sinh vật
Trang 23Hà Nội có 4 loại đất chinh đố là đất phù sa trong đê, đất phù sa ngoài đê, đất bạc màu
và đất đồi núi
Phần lớn đất đai của Hà Nội thuộc nhóm đất phù sa của các hệ thống sông Hồng và sông Cầu bồi đắp Đây là loại đất trồng trọt tốt nhất của Hà Nội với đặc tính ít chua đến trung tính, độ PH từ 6 – 7, hàm lượng mùn và chất dinh dưỡng khá phong phú, thành phần
cơ giới khá thích hợp với nhiều loại cây trồng Nhóm đất phù sa phân bố đều khắp các huyện, chiếm hầu hêt diện tích của huyện Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm
Nhóm đất bạc màu phát triển chủ yếu trên đất phù sa cổ tập trung nhiều hai huyện Đông Anh và Sóc Sơn là loại đất chua, nghèo dinh dưỡng, không kết cấu thành phần cơ giới nhẹ, rời rạc khi khô hạn, kết dính khi ngập nước, cho năng suất cây trồng thấp
Nhóm đất đồi núi tập trung ở huyện Sóc Sơn, bị sói mòn nghiêm trọng do cây rừng bị chặt phá, tầng đất mỏng, nhiều nơi trơ sỏi đá, tầng mùn hầu như không còn, đất chua độ PHthường dưới 4, nghèo chất dinh dưỡng
Các loại thực vật chỉ tự nhiên chỉ còn ở dạng thứ sinh, tập trung ở huyện Sóc Sơn Hiện nay ở đây chỉ còn hơn 6700 ha đất trống đồi trọc, để phục hồi thảm thực vật rừng, bảo
vệ môi sinh Do có rừng, gần đây đã thấy xuất hiện nhiều loại chim, thú rừng vốn có rất nhiều trước đây
Hà Nội vốn là vùng đất trù phú, có truyền thống sản xuất nông nghiệp từ lâu đời, đã cung cấp nhiều giống cây trồng, vật nuôi qúy, có giá trị và nổi tiếng trong cả nước Đáng chú ý là các huyện ngoại thành đã hình thành nên các vành đai rau xanh, vành đai thực phẩm tươi sống (thịt, cá, trứng, sữa….) phục vụ cho yêu cầu đô thị hoá ngày một cao của thủ đô Hà Nội và giành một phần để xuất khẩu
2 Đặc điểm kinh tế-xã hội
Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước Nền kinh tế của Thành phố phát triển mạnh và cơ cấu kinh tế phức tạp Điều này phụ thuộc vào sự hội tụ của nhiều nguồn lực về tự nhiên, kinh tế, xã hội, nhất là vị trí thủ đô của Hà Nội Nhìn chung cơ cấu kinh tế thủ đô đã có sự thay đổi về chất Tỷ trọng nông nghiệp giảm đi, tỷ trọng công nghiệp
Trang 24tăng lên đáng kể Năm 1991 cơ cấu kinh tế trong GDP của toàn Thành phố như sau: Công nghiệp và xây dựng: 25,9%, nông_lâm nghiệp: 8,1% và dịch vụ: 66% Đến năm 1997, tương ứng là 36,0%, 4,5% và 59,5% GDP của Hà Nội chiếm 7% GDP của cả nước
Về phân bố theo lãnh thổ, hiện nay Hà Nội có 9 khu tập trung công nghiệp là Minh Khai-Vĩnh Tuy, Thượng Đình, Đông Anh, Cầu Diễn-Nghĩa Đô, Gia Lâm-Yên Viên, Trương Định-Đuôi Cá, Văn Điển-Pháp Vân, Chiêm, cầu Bươu Nhìn chung các khu vực này đã xây dựng từ lâu (1960), phần lớn thiết bị thuộc loại cũ, nhiều lao động hiệu quả thấp Nhiều khu vực công nghiệp tập trung xen kẻ với các khu vực dân cư đông đúc (Thượng Đình, Minh Khai-Vĩnh Tuy, Trương Định-Đuôi cá), việc xử lý chất thải không tốt gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và đời sống dân cư Vì vậy ở các khu vực công nghiệp này, chủ yếu đầu tư theo chiều sâu, thay đổi thiết bị công nghệ, hiện đại hoá sản xuất
- Khu vặc Minh Khai-Vĩnh Tuy: có 3 xí nghiệp quốc doanh trung Ương và địa phương, với 3 ngành then chốt là dệt, chế biến lương thực-thực phẩm và cơ khí Các xí nghiệp lớn là dệt 8-3, liên hợp dệt sợi Hà Nội, bia Halida, kẹo Hải Hà, Hải Châu
- Khu vực Thượng Đình có 29 xí nghiệp quốc doanh với hai ngành công nghiệp chủ chốt là cơ khí và vật liệu xây dựng Ngành cơ khí công nghiệp đang được đầu tư theo chiều sâu theo hướng chuyên môn hoá: cơ khí dùng (phụ tùng xe đạp và xe đạp hoàn chỉnh), sửa chữa lắp ráp ôtô, động cơ điện Các nhà máy lớn: chế tạo thiết bị điện, động cơ điện Việt Hưng
- Khu vực Trương Định-Đuôi cá: có 13 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh với hai ngành chủ chốt là chế biến lương thực - thực phẩm và cơ khí Các xí nghiệp lớn ở đây là xí nghiệp đồ hộp xuất khẩu, mì Hoàng Mai, cơ khí 120
- Khu vực Pháp Vân-Văn Điển có 14 xí nghiệp quốc doanh với hai ngành then chốt là công nghiệp hoá chất và cơ khí Các xí nghiệp ở đây là hoá chất Văn Điển, pin, phân lân
- Khu vực Cầu Diễn - Nghĩa Đô: có 82 xí nghiệp quốc doanh với 2 ngành chủ đạo là chế biến lương thực - thực phẩm và hoá chất Các xí nghiệp 3 khu vực này mới hơn so với khu vực Thượng Đình,Trương Định - Đuôi Cá song thiết bị chưa hiện đại
Trang 25- Khu vực Gia Lâm - Yên Viên: có 21 xí nghiệp quốc doanh với 3 ngành then chốt là
cơ khí, chế biến gỗ và hoá chất Các nhà máy lớn: hoá chất Đức Giang, diêm Thống Nhất
- Khu vực Chèm: có 5 xí nghiệp quốc doanh với 2 ngành công nghiệp then chốt là vật liệu xây dựng và dệt
- Khu vực Cầu Bưu: có 5 xí nghiệp quốc doanh với 2 ngành then chốt là vật liệu xây dựng và dệt Các nhà máy lớn: cơ khí Giải Phóng, gạch… Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, Thành phố Hà Nội đã và đang hình thành các khu chế xuất và khu công nghệ tập trung kĩ nghệ cao Trước mắt, Thành phố tập trung phát triển các khu chế xuất và khu công nghiệp sau:
Khu chế xuất Sóc Sơn, nằm ở phía Bắc sân bay quốc tế Nội Bài, do Malaixia đầu tư tập trung sản xuất các loại sản phẩm điện tử của máy vi tính, sản phẩm quang học, đồ chơi, đồng hồ
Khu công nghiệp tập trung Sài Đồng - Gia Lâm nằm ở địa phận huyện Gia lâm
do công ty Daewoo (Hàn quốc) đầu tư, tập trung sản xuất bóng hình, công nghiệp nhẹ, thực phẩm, đồ uống
Khu công nghiệp tập trung Đông Anh nằm trên địa phận huyện Đông Anh tập trung sản xuất công nghiệp cơ khí máy móc giá trị cao, chế tạo lắp ráp đồ điện tử
Khu công nghiệp tập trung Nam cầu Thăng Long, tập trung các ngành công nghiệp kỹ thuật cao, ít hoặc không gây ô nhiễm
3 Tình hình, điều kiện đất đai của Thành phố Hà Nội
Nhìn chung, đất nông lâm nghiệp trên địa bàn Thành phố được sử dụng hợp lý dần theo hướng sản xuất nông, lâm nghiệp đô thị và sinh thái Trong 5 năm qua, giá trị sản lượng/ha đất canh tác đã tăng 23,2 triệu đến 40 triệu đồng Tuy nhiên việc sử dụng đất nông nghiệp còn hạn chế: diện tích các cây trồng có chất lượng và giá trị kinh tế cao chiếm tỷ trọng thấp, chưa hình thành các vùng kinh tế nông nghiệp phát triển bền vững với công nghệ cao trong điều kiện diện tích đất nông lâm nghiệp ngày càng bị thu hẹp do đô thị hóa
Trang 26Đối với đất đô thị: Nhà nước đã có hàng loạt các dự án cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới nhiều tuyến đường, nút giao thông quan trọng, đã phát triển nhiều khu đô thị mới và các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật khác làm cho bộ mặt của đô thị có những thay đổi tích cực Tuy nhiên, chất lượng hạ tầng kỹ thuật còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; diện tích đất ở, nhà ở, diện tích đất giao thông còn thiếu; phương tiện giao thông chủ yếu là cá nhân với mật độ cao nên dễ gay ra ùn tắc giao thông; khu công nghiệp còn xen kẽ trong khu dân cư, nhiều công trình sử dụng đất lãng phí; còn tình trạng lấn chiếm đất công chưa được xử lý
Đối với khu dân cư nông thôn: chủ yếu là các làng xóm lâu đời, chưa được đầu tư nhiều về hạ tầng kỹ thuật và gần đây có xu hướng phát triển ven các trục giao thông chính, chưa có sự chuyển biến mạnh mẽ theo hướng đô thị hóa và giữ vững tính truyền thống Theo đối tượng sử dụng đất đô thị, đất ở đất chuyên dùng thì hiện nay ở Hà Nội có:
- Về đất ở đô thị và nông thôn, theo số liệu kê khai đăng ký năm 2000 có:
+ Nhà ở tư nhân có 195.743 hộ sử dụng 1.121,88 ha đất
+Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước có 201.124 hộ sử dụng 1.682,82 ha đất
+Nhà ở khu dân cư nông thôn có gần 180.000 hộ sử dụng 8.703,634 ha đất
- Về đất các cơ quan tổ chức Theo số liệu kê khai sử dụng đất năm 2000, Hà Nội có 7.410 cơ quan Nhà nước, tổ chức doang nghiệp trong nước sử dụng 6.845,47 ha đất chiếm gần 7% diện tích đất tự nhiên của toàn Thành phố
Theo số liệu thống kê năm 1999, Hà Nội có gần 250 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động và sử dụng 1.177,2 ha đất
Thành phố Hà Nội với diện tích đất tự nhiện hiện có là 92.097,45 ha và nó được thống
kê chia ra theo từng loại đất như sau (Bảng số 1)
Trang 28Bảng số 1: Thống kê diện tích đất đai tự nhiên trên thành phố Hà Nội (tính đến ngày 1/10/2001)
Đơn vị: ha
Loại đất Mã
số
Tổng diện tích trong địa giới hành chính
Đất đai giao, cho thuê phân theo các đối tượng sử dụng Đất chưa
giao, cho thuê sử dụng Tổng số
Hộ gia đình cá nhân
Các tổ chức kinh tế
NN và liên doanh với
NN
UBND xã quản lý sử dụng
Các tổ chức khác
3 Đất trồng cây lâu năm 18 778.41 778.41 498.56 107.99 151.17 20.69
4 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 23 100.36 100.36 72.02 21.81 6.53
5 Đất có mặt nước nuôi trồng
thuỷ sản 26 3156.95 3156.95 748.60 903.06 51.78 924.92 528.06
II Đất lâm nghiệp có rừng 30 6107.87 6107.87 1242.02 3317.18 1961.17 181.50
1 rừng tự nhiên 31
Trang 31Dựa vào bản số liệu ta thấy cơ cấu phân phối đất chưa hợp lý lắm, nhưng nó cũng phần nào cải thiện với những chính sách sử dụng đất, những bảng quy hoạch
sử dụng đất mà Thành phố đề xuất và đang đi dần vào thực tiễn Và với xu hướng phát triển hiện nay, Thành phố đã có những các chiến lược sử dụng đất, chuyển một
số diện tích nông nghiệp, lâm nghiệp, đất chưa sử dụng sang đất chuyên dùng thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với cơ cấu, phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội Cũng chuyển dần một số diện tích đất ở nông thôn sang diện tích đất ở đô thị là do qúa trình đô thị hóa sự chuyển hóa từ nông thôn sang thành thị Với sự khảo sát thực tế và thống kê đất đai cho từng loại đất, Nhà nước có những chính sách để phân bố cải thiện lại cơ cấu sử dụng đất cho phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế - xã hội hiện nay Như chính sách sử dụng đất để xây dựng các khu chung cư cao tầng (khu cao tầng Định Công, khu Thành Công, khu Kim liên ) với các dự án xây dựng các khu nhà từ 9 đến 20 tầng mục đích nhằm cải thiện được chổ ở cho người dân và nhằm mục đích sử dụng đất đai một cách hợp lý và tiết kiệm Chính sách xây dựng khu công nghiệp Sài Đồng I, Sài Đồng II ở Gia Lâm, Xây dựng khu công nghệ cao Láng Hoà Lạc, Xây dựng cầu vượt (cầu vượt ở ngã tư Vọng, ở ngã tư Sở.)
Trang 32II Tình hình thực hiện các nội dung quản lý sử dụng đất đai trên địa bàn Thành phố
hà nội
1 Về công tác điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá, lập bản đồ địa chính và
định giá các loại đất
Theo số liệu thống kê đất đai qua các năm ở Thủ đô Hà Nội ta có
Biểu 2: Số liệu thống kê đất đai Hà Nội năm 1990, năm 1995, năm 2000
Đất ở 9.305,05 10,11 11.508,334 12,54 11.688,65 12,67 Đất chuyên dùng 20.271,78 22,02 19.305,695 21,03 20.534,39 22,3 Đất chưa sử dụng 11.284,94 12,56 10.410,258 10,34 10.134,39 10,3 Tổng DT (ha) 92.056,65 100 91.806,57 100 92.097,45 100 Nguồn: Báo cáo công tác thống kê qua các năm ở Phòng quản lý địa chính nhà đất
Hà Nội
Nguyên nhân của sự chênh lệch diện tích đất đất tự nhiên giữa các năm la do
phương pháp thống kê, kiểm kê các phường, xã, thị trấn thiếu diện tích, 1 số thửa
đất bị bỏ sót, tài liệu phục vụ thống kê của các kỳ khác nhau, như năm 1995 dùng
bản đồ theo chỉ thị 299/TTg, còn năm 2000 dùng bản đồ địa chính đã qua giao đất
nông nghiệp nên có chỉnh lý
Trang 33Nguyên nhân của sự tăng giảm giữa các loại đất là do sự chuyển mục đích sử dụng loại đất này sang mục đích sử dụng loại đất khác Cụ thể là:
(phân tích sự tăng giảm diện tích các loại đất của các năm 1995 và năm 2000)
Biến động tăng của đất nông nghiệp: Tổng số tăng 1.155,6304 ha
+ Do chuyển từ đất chuyên dùng sang: 135,6484 ha
+ Do chuyển từ đất ở sang: 120,6554 ha
+ Do chuyển từ đất chưa sử dụng sang: 542,3192 ha
+ Do thay đổi địa giới hành chính: 1,5313 ha
+ Do các nguyên nhân khác: 214,7261 ha
Biến động giảm của đất nông nghiệp: Tổng giảm là 1.408,4504 ha
+ Do chuyển sang đất lâm nghiệp: 14,1498 ha
+ Do chuyển sang đất chuyên dùng: 954,4862
+ Do chuyển sang đất ở: 254,5190 ha
+ Do chuyển sang đất chưa sử dụng: 132,0584 ha
+ Do các nguyên nhân khác: 128,6405 ha
Biến động tăng đất lâm nghiệp: Tổng tăng 15,0498 ha
+ Do đất nông nghiệp chuyển sang: 14,1498 ha
+ Do đất xây dựng chuyển sang: 0,9 ha
Biến động giảm đất lâm nghiệp: Tổng giảm 604,4697 ha
+ Do chuyển sang đất chuyên dùng: 19,3197 ha
+ Do chuyển sang đất ở nông thôn: 0,15 ha
+ Do chuyển sang đất đồi núi chưa sử dụng: 585 ha
Biến động tăng của đất chuyên dùng: Tổng tăng 1.796,1072 ha
+ Do chuyển từ đất nông nghiêph sang: 954,8862 ha
+ Do chuyển từ đất lâm nghiệp sang: 19,3197 ha
+ Do chuyển từ đất ở sang: 258,8863 ha
+ Do chuyển từ đất chưa sử dụng sang: 338,2648 ha
+ Do chuyển địa giới hành chính: 9,2815 ha
+ Do các nguyên nhân khác: 215,4687 ha
Biến động giảm của đất chuyên dùng: Tổng giảm là 567,3879 ha
Trang 34+ Do chuyển sang đất nông nghiệp: 135,6484 ha
+ Do chuyển sang đất lâm nghiệp: 0,90 ha
+ Do chuyển sang đất ở: 284,9865 ha
+ Do chuyển sang đất chưa sử dụng: 70,9973 ha
+ Do các nguyên nhân khác: 74,8557 ha
Biến động tăng của đất ở: Tổng tăng 666,0588 ha
+ Do chuyển từ đất nông nghiệp sang: 245,519 ha
+ Do chyển từ đất lâm nghiệp sang: 0,15 ha
+ Do chuyển từ đất chuyên dùng sang: 284,9865 ha
+ Do các nguyên nhân khác: 109,5325 ha
Biến động giảm của đất ở: Tổng giảm 485,7506 ha
+ Do chuyển sang đất nông nghiệp: 120,6554 ha
+ Do chyển sang đất chuyên dùng: 258,8663 ha
+ Do chuyển sang đất chưa sử dụng: 28,4863 ha
+ Do các nguyên nhân khác: 77,7426 ha
Biến động tăng của đất chưa sử dụng: Tổng tăng861,8486 ha
+ Do chuyển từ đất nông nghiệp sang: 132,0584 ha
+ Do chuyển từ đất chuyen dùng sang: 70,9973 ha
+ Do chuyển từ đất ở sang: 28,4863 ha
+ Do thay đổi địa giới hành chính: 7,0254 ha
+ Do các nguyên nhân khác: 38,2802 ha
Biến động giảm của đất chưa sử dụng: Tổng giảm 1.137,7175 ha
+ Do chuyển sang đất nông nghiệp: 542,3192 ha
+ Do chyển sang đất chuyên dùng: 338,2648 ha
+ Do chuyển sang đất ở: 25,8708 ha
+ Do các nguyên nhân khác: 231,2627 ha
Với công tác như vậy, tuy đã tiến hành điều tra, khảo sát để nắm chắc tình hình sử dụng, nhưng tình hình thực tế phản ánh công tác điều tra, khảo sát thực hiện không được tốt, có rất nhiều phần diện tích có sự chuyển biến qua lại lẫn nhau trong quá trình sử dụng, nhưng Thành phố vẫn chưa quản lý được Do không được điều
Trang 35tra, khảo sát thường xuyên, nên một số nguyên nhân gây ra tình trạng đó Thành phố
đã không cập nhật được
Theo chiến lược của ngành địa chính thì công tác điều tra phải được thực hiện thường xuyên hàng năm, hiện nay diện tích đất đai Hà Nội điều tra thống kê được là: 92.097,45 ha, trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp và đất chuyên dùng chiếm đến 70% diện tích đất tự nhiên của Hà Nội, đất nông nghiệp hàng năm được bồi thêm một lượng phù sa lớn nên nó đem lại hiệu quả kinh tế rất cao trong sản xuất nông nghiệp
Tình hình đo đạc và lập bản đồ thì Thành phố Hà Nội cũng đã thực hiện xong,
đã có bản đồ tổng hợp cũng như chi tiết phân định các loại đất trên địa bàn Hà Nội
Về loại đất Hà Nội cũng có 6 loại đất gồm: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở nông thôn, đất ở đô thị và đất chưa sử dụng
Công tác lập hồ sơ bản đồ địa chính: Năm 2000 đã cơ bản hoàn thành bản đồ Địa chính trên địa bàn toàn Thành phố Bản đồ Địa chính đã được bàn giao cho UBND tỉnh, quận, huyện, phường, xã, thị trấn để phục vụ quản lý đất và nhà
Định giá các loại đất về cơ bản năm 2000, Thành phố đã đưa ra các bản giá
về các loại đất mà trong qúa trình khảo sát đã định ra phù hợp với hiện trạng lúc đó
Hà Nội 451.966 379.101 376.361 Nội thành 88.896 76.478 63.786
Trang 36Đống đa 35.579 29.532 36.742
Sóc sơn 1.534.018 1.380.818 1.338.993 Đông anh 834.436 768.294 74.318 Gia lâm 654.224 583.826 561.271
Từ liêm 308.752 257.772 434.601 Thanh trì 510.486 480.457 481.393 Nguồn: Tính toán của Ban Công nghiệp, Thương mại, Dịch vụ, Viện CLPT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Với thực tế đã thực hiện việc thống kê, kiểm kê đánh giá các loại đất đai đã
có những bước đi đúng đắn nhằm giúp cho việc quản lý và sử dụng đất đai được hoàn thiện và đem lại hiệu quả tốt hơn, nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số mặt yếu kém còn tồn tại Để quản lý và sử dụng tốt hơn nữa quỹ đất đai thì ta cần khắc phục những yếu kém Những yếu kém đó là:
Tuyên truyền pháp luật và thực hiện chưa tốt, chưa thực sự đi vào lòng dân, biểu hiện: Lãnh đạo cấp cơ sở nắm pháp luật, chính sách, quỹ đất đai các loại đất chưa chắc, xử lý thiếu kiên quyết, thuyết phục kém dẫn đến quản lý đất đai còn yếu, còn lúng túng, gần đay còn có tình trạng cấp đất sai thẩm quyền Cho nên việc điều tra khảo sát, kiểm kê sẽ gặp khó khăn và sẽ cho những kết quả sai nếu như tình hình trên không được giải quyết và dẫn đến tình hình quản lý sử dụng sẽ gặ khó khăn và không đem lại hiệu quả cao
Công tác quản lý hồ sơ còn yếu kém, hồ sơ tài liệu thiếu hoặc kông lưu giữ, như bản đồ đo đạc, sổ địa chính, sổ khoán, bản đồ hiện trạng, số liệu thống kê đất đai hàng năm, số liệu thống kê đất đai 5 năm trước đây
Đất đai của Thành phố Hà Nội trong 5 năm qua có nhiều biến động lớn, nhưng theo dõi biến động chỉnh lý không kịp thời, thường xuyên, nhiều phường xã
Trang 37không chỉnh lý, cập nhật bổ sung biến động nên công tác kiểm kê gặp nhiều khó khăn
Tình trạng lấn chiếm đất công, làm nhà trên đất nông nghiệp vẫn còn xảy
ra ở một số nơi cả ở nội thành và ngoại thành, mặc dù Thành phố đã có quyết định quy định quyền hạng trong quản lý đất đai cho cấp quận, huyện, xã, phường, thị trấn nhằm kịp thời xử lý các vi phạm nhưng do sự buông lỏng quản lý nên không tránh khỏi những trở ngại xảy ra cho việc thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ
2 Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2000: Tính đến ngày 31/12/2000, đã thụ lý và trình cấp có thẩm quyền giao và cho thuê 741 ha đất, đạt 55,3% kế hoạch Nhìn chung công tác giao đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế_xã hội trên địa bàn Thành phố trong năm 2000 đã được cải thiện Tuy nhiên để đảm bảo tính khả thi thực hiện kế hoạch sử dụng đất trong những năm tới, cần tiếp tục cải cách hành chính, rà soát lại các thủ tục và yeu cầu phải thực hiện đồng bộ ở tất cả các khâu liên quan đến các ngành, các cấp và đảm bảo giải quyết đúng thời gian quy định
Phối hợp với UBND các quận, huyện đôn đốc các doanh nghiệp ký hợp đồng thuê đất thực hiện Chỉ thị 245/TTg ngày 22/4/1996 của Thủ tướng Chính phủ Đến nay đã ký được 1.501/3660 hợp đồng, với số tiền thuê đất hàng năm nộp ngân sách
là 53,039 tỷ đồng
Với sự phát triển ngày một nhanh của kinh tế _ xã hội Thành phố đã xây dưng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và đến năm 2020 và thông qua đó Thành phố cung đã xây dựng các kế hoạch sử dụng đất hàng năm, 5 năm Dự án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 sẽ chuyển mục đích sử dụng 22.001 ha đất sang phát triển đô thị và công nghiệp, phủ xanh 1.700 ha đồi trọc: trong đó:
Đất đô thị: tăng 12,951 ha so với năm 2000, sẽ chuyển 232 ha đất ở đô thị thành đất xây dựng cơ sở hạ tầng
Trang 38Diện tích đất đô thị tăng là do quá trình đô thị hoá đã chuyển dần một số diện tích đất nông nghiệp, đất ở nông thôn sang đất đô thị Phù hợp với quá trình đô thị hoá và quá trình phát triển kinh tế xã hội của Thành phố, Thành phố Hà Nội đã
sử dụng một số diện tích đất đô thị cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, như Nhà nước cho xây dựng các khu nhà ở chung cư cao tầng nhằm giải quyết về vấn đề nhà ở cho người dân, xây dựng các khu đô thị mới phù hợp với qúa trình đô thị hóa, hay xây dựng, sửa sang nâng cấp lại các tuyến đường giao thông (đường cao tốc Láng_Hoà Lạc, nút giao thông ngã tư Vọng, ngã tư Sở.)
Đất khu dân cư nông thôn: giảm 908 ha chủ yếu là do một số khu vực ở nông thôn trở thành khu vực đô thị (tăng nhanh hơn so với việc giãn dân hình thành các khu dân cư nông thôn mới)
Đất nông thôn giảm là do một số khu vực trở thành khu đô thị mới, Nhà nước đã đầu tư xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn, cải thiện được đồi sống nông thôn và sự phát triển của kinh tế xã hội đã đưa một số khu vực nông thôn hội nhập với thành thị Mọi qúa trình này đều đã được quy hoạch nên việc quản lý cũng
sẽ được dễ dàng
Đất nông nghiệp sẽ giảm 10.166 ha so với năm 2000 phấn đấu tăng tỷ trọng diện tích cây lâu năm, đồng cỏ chăn nuôi, giảm tỷ trọng đất trồng cây hàng năm, hình thành các vùng nông nghiệp đô thị - sinh thái phát triển bền vững với công nghệ cao
Đất lâm nghiệp: tăng 1.700 ha, chủ yếu trồng rừng mới ở Sóc Sơn, chuyển 125 ha thành đất chuyên dùng và đất ở
Diện tích đất lâm nghiệp tăng do ta tận dụng cải tạo được một số diện tích đất chưa sử dụng, và việc tăng diện tích đất lâm nghiệp nhằm cải thiện cho môi trường sống khi mà sự phát triển cuả xã hội gây nên những tác hại xấu cho môi trường
Đất chuyên dùng: tăng 9.050 ha, chủ yếu cho đất xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở các khu đô thị mới
Trang 39Qúa trình xây dựng cơ sở hạ tầng, các khu đô thị mới, các khu công nghiệp rồi xây dựng các tuyến đường giao thông đã lầm cho điện tích đất chuyên dùng tăng lên nhanh chóng, nhưng đất chuyên dùng tăng phù hợp với sự phát trển kinh tế xã hội của Thành phố
Đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá giảm 2.750 ha, về cơ bản được khai thác để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, chuyên dùng và đất ở, diện tích còn lại chủ yếu là sông suối
Kế hoạch giao đất xây dựng nhà ở:
+ tình hình giao đất để thực hiện dự án phát triển nhà ở thời kỳ 1998 - 2000:
Biểu 4 : Tình hình giao đất để thực hiện dự án phát triển nhà ở thời kỳ 1998 - 2000
Năm
Kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ duyệt (ha) Thực hiện Đạt tỷ lệ
(%) Tổng cộng Đất xây dựng
nhà ở
Diện tích (ha) Số dự án
2000 1.340 310 197,96 148 63,86 Nguồn: Báo cáo kế hoạch thực hiện các năm tới của Phòng Quản lý địa chính nhà đất thuộc Sở Địa chính - Nhà đất Hà Nội
Năm 2000 là năm thực hiện kế hoạch giao đất để phát triển nhà ở với diện tích đất và chỉ tiêu kế hoạch dật được cao nhất từ trước đến nay; trong đó có nhiều
dự án lớn phát triển khu đô thị mới đồng bộ hiện đại về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng
Trang 40xã hội như: khu đô thị mới trung Hoà - Nhân Chính giai đoạn I và giai đoạn II, khu nhà ở bắ Linh Đàm + Đại Kim, khu đô thị mới nam Trung Yên
+ Kế hoạch sử dụng đất để phát triển nhà ở thời kỳ 2001 - 2005:
Căn cứ tình hình thực hiện kế hoạch giao đất để phát triển nhà ở giai đoạn
1996 - 2000, các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội, kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 của Thành phố, chương trình 12/CTr-TƯ về phát triển nhà ở Hà Nội và nội dung quy hoạch sử dụng đất của Thành phố đến năm 2010; chỉ tiêu cơ bản về phát triển đất xây dựng nhà ở đô thị của kế hoạch sẻ dụng đất 5 năm 2001 - 2005 của Thành phố
dự kiến là 1.269 ha, trong đó diện tích ở 7 quận nội thành là 209 ha và 5 huyện ngoại thành là 1.060 ha
Với những quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà Thành phố đã đưa ra nó đã phần nào giải quyết được bài toán về tình hình sử dụng đất ở Thành phố hiện nay,
nó tạo ra được cái tiền đề, sự phân bố sử dụng đất đai một cách hợp lý Như vấn đề
về quy hoạch để xây dựng các khu chung cư cao tầng, các khu đô thị mới, các khu công nghiệp làm cho sự thiếu về đất ở giảm xuống và khai thác sử dụng đất hiệu quả hơn và cùng là tiền đề thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội trong tương lai
3 Công tác thực hiện kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất và thu
hồi đất:
Sở Địa chính - Nhà đất Hà Nội đã trình UBND Thành phố kế hoạch sử dụng đất để phát triển công nghiệp, đô thị của Thành phố năm 2001 là: 980 ha, đã được HĐND Thành phố thông qua và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 572/QĐ - TTg ngày 15/5 2001; trình UBND Thành phố có Quyết định số 3116/QĐ - UB ngày 1/6/2001 về viêc giao nhiêm vụ triển khai kế hoạch sử dụng đất năm 2001 trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Năm 2001, Sở Địa chính - Nhà đất đã thụ lý 380 hồ sơ, trình cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất với tổng diện tích là 912,33 ha, đạt 93,1% kế hoạch về diện tích đất Tạm giao 203 ha để thực hiện công tác giải phóng mặt bằng; thu tiền
sử dụng đất và tiền thuê đất năm 2001 nộp ngân sách 183,7 tỷ đồng, đạt 146,96% kế hoạch giao Nhìn chung công tác giao đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế_xã hội trên địa bàn Thành phố năm 2001 đã được cải thiện đáng kể do đã cải