Theo Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 Marine Insurance Act - 1906 một đạo luật đã được nhiều nước thừa nhận là tiêu chuẩn pháp lý quốc tế cho ngành bảo hiểm hàng hải trên thế giới thì hợ
Trang 1CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ
Từ nhiều năm nay, bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường biển là một
trong những dịch vụ trọng yếu trong hoạt động thương mại quốc tế vì bảo hiểm
cung cấp sự bảo vệ cho hàng hoá trước những tổn thất luôn thường xuyên đe
doạ các hành trình hàng hải, bảo toàn vốn cho các nhà kinh doanh ngoại thương
và nhờ thế mở rộng phạm vi kinh doanh của họ
Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường biển là một nghiệp vụ kinh doanh
quốc tế có tính chất tin cậy, ổn định và an toàn giữa các bên hữu quan trong
hoạt động ngoại thương, cũng như với người vận chuyển và ngân hàng Ngoài
ra bảo hiểm cũng chính là một hoạt động xuất khẩu vô hình rất quan trọng
trong nền ngoại thương quốc gia, cạnh tranh rất cao, nó còn là một công cụ tài
chính của thương mại quốc tế Cùng với sự phát triển của kỹ thuật vận tải biển,
bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường biển cũng có những bước phát triển liên
tục Tuy nhiên, bảo hiểm hàng hoá là một nghiệp vụ truyền thống lâu đời nhất
và là một lĩnh vực hoạt động hết sức phức tạp
1.1 Đối tượng của bảo hiểm
Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản nói chung bao giờ cũng phải có một tài
sản hoặc một vật thể dễ bị đe doạ bởi các rủi ro, tài sản hay vật thể đó được gọi
là "đối tượng bảo hiểm" Theo Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 (Marine
Insurance Act - 1906) một đạo luật đã được nhiều nước thừa nhận là tiêu chuẩn
pháp lý quốc tế cho ngành bảo hiểm hàng hải trên thế giới thì hợp đồng bảo
hiểm hàng hải được định nghĩa là "một hợp đồng trong đó người bảo hiểm
nhận bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất hàng hải theo cách
thức và mức độ đã được hai bên thoả thuận trên hợp đồng, nghĩa là các hậu
Trang 2quả tổn thất của hành trình hàng hải" (Điều 1) Điều 3 - Luật bảo hiểm Hàng
hải Anh 1906 quy định rõ đối tượng của hợp đồng bảo hiểm hàng hải là những
hành trình hàng hải hợp pháp và định nghĩa hành trình hàng hải là;
- Tàu, hàng hoá hay các động sản khác ở trong tình thế có thể bị đe doạ
bởi rủi ro hàng hải
- Việc thu cước phí vận tải, hoa hồng, tiền lãi, hay các chi phí có thể bị
hiểm nguy khi tàu và hàng hoá bị đặt trong tình thế có thể bị đe doạ bởi rủi ro
hàng hải
- Trách nhiệm đối với người thứ ba của chủ tàu, chủ hàng hay người nào
đó có quyền lợi hay trách nhiệm trên tàu hay hàng hoá đó Ví dụ người chuyên
chở phải chịu trách nhiệm về hàng hoá đảm nhận chuyên chở, người thuê tàu
có trách nhiệm trong thời gian hợp đồng
Theo điều 573 Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định: "Đối tượng bảo hiểm
bao gồm con người, tài sản, trách nhiệm dân sự và các đối tượng khác theo
quy định của pháp luật."
Điều 201.1 quy định "Đối tượng bảo hiểm hàng hải có thể là bất kỳ
quyền lợi vật chất nào liên quan đến các hoạt động hàng hải mà có thể quy ra
tiền, bao gồm; tàu biển, hàng hoá, tiền cước vận chuyển, tiền công vận chuyển
hành khách, tiền thuê tầu, tiền thuê - mua tầu, tiền lãi ước tính của hàng hoá,
các khoản hoa hồng, chi phí tổn thất chung, trách nhiệm dân sự và các khoản
tiền được đảm bảo băng tàu, hàng hoá hoặc tiền cước vận chuyển."
Trong bảo hiểm hàng hoá "đối tượng bảo hiểm" nói chung là hàng hoá
và được định nghĩa trong Phụ bản thứ nhất, mục 17 phần quy tắc giải thích đơn
bảo hiểm của Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 có ghi rõ từ "hàng hoá" có
nghĩa là hàng hoá với tính chất thương mại và không bao gồm đồ đạc cá nhân
Trang 3hay lương thực dự trữ để dùng trên tàu Nếu không có tập quán trái ngược
hàng hoá chở trên boong và súc vật không thể gọi chung là hàng hoá" Điều 90
- Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 định nghĩa thêm về hàng hoá như sau:
"động sản có nghĩa là mọi tài sản hữu hình ngoài con tàu và bao gồm cả tiền
bạc và những chứng khoán có giá trị và các tài liệu khác" Điều 16.3 Luật bảo
hiểm Hàng hải Anh 1906 có quy định rõ giá trị bảo hiểm của hàng hoá là tài
sản bảo hiểm lúc ban đầu (giá gốc) cộng với những chi phí về việc xếp hàng và
những chi phí về bảo hiểm đối với toàn bộ tài sản
Điều 1.c - Quy tắc Hague 1924 cũng định nghĩa " hàng hoá gồm tài sản,
đồ vật, hàng hoá và vật phẩm các loại, ngoại trừ súc vật sống và hàng hoá theo
hợp đồng chuyên chở được khai là xếp trên boong và thực sự được chở như thế
"
Theo quy định của Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 thì đối tượng bảo
hiểm phải được chỉ định rõ trên đơn bảo hiểm, tính chất và phạm vi quyền lợi
của người được bảo hiểm (toàn thể hay bộ phận) Điều 26 - Chỉ định đối tượng
bảo hiểm:
1- Tên đối tượng bảo hiểm phải được miêu tả trong đơn bảo hiểm hàng
hải một cách rõ ràng hợp lý
2- Tính chất và mức độ quyền lợi của người được bảo hiểm đối với đối
tượng bảo hiểm không cần thiết phải ghi rõ trên đơn bảo hiểm
3- Nếu đơn bảo hiểm miêu tả đối tượng được bảo hiểm theo những điều
kiện chung thì đơn bảo hiểm đó sẽ được giải thích để áp dụng vào những đối
tượng mà người được bảo hiểm dự kiến sẽ bảo hiểm
4- Áp dụng mục này phải chú ý đến một tập quán chi phối việc chỉ định
đối tượng bảo hiểm"
Trang 4Về nội dung, nhìn chung các quy định về đối tượng bảo hiểm của Bộ luật
Hàng hải Việt Nam không có gì khác biệt lớn so với Luật bảo hiểm Hàng hải
Anh
Điều 200.1- Bộ luật Hàng hải Việt Nam 1990 định nghĩa " Hợp đồng
bảo hiểm Hàng hải là hợp đồng được ký kết giữa người bảo hiểm và người
được bảo hiểm theo đó người bảo hiểm thu phí bảo hiểm do người được bảo
hiểm trả và người được bảo hiểm được người bảo hiểm bồi thường tổn thất của
đối tượng bảo hiểm do các rủi ro hàng hải gây ra theo mức độ và điều kiện
thoả thuận với người bảo hiểm"
1.2 Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm hàng hải
1.2.1 Quyền lợi có thể bảo hiểm
Quyền lợi có thể bảo hiểm là nguyên tắc đầu tiên trong bốn nguyên tắc
cơ bản cuả bảo hiểm Hàng hải: quyền lợi có thể bảo hiểm, trung thực tối đa, bồi
thường và thế quyền Theo Luật bảo hiểm Hàng hải 1906 của Anh sẽ là vi
phạm nếu người nào thực hiện một hợp đồng bảo hiểm mà không có quyền lợi
có thể bảo hiểm trên đối tượng bảo hiểm hoặc không dự kiến hợp lý để tiếp
nhận quyền lợi ấy Điều 5 - Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 định nghĩa
quyền lợi có thể bảo hiểm như sau:
1- Theo những quy định của luật này, người có quyền lợi có thể bảo
hiểm là người liên quan đến một hành trình đường biển
2- Một người được coi là liên quan đến một hành trình đường biển khi
ấy có liên quan hợp pháp hoặc công bằng đối với hành trình hoặc bất cứ tài
sản có thể bảo hiểm nào chịu rủi ro trong hành trình đó mà theo đó người ấy
có thể hưởng lợi nếu tài sản có thể bảo hiểm ấy được an toàn hay về được đến
Trang 5bến đúng hạn, hoặc có thể bị thiệt hại nếu tài sản đó bị tổn thất hay tổn hại,
hay bị cầm giữ hoặc thể chịu trách nhiệm về những tổn thất đó"
Tóm lại người chịu thiệt hại về mặt tài chính một khi đối tượng bảo
hiểm bị tổn thất được coi là "người có quyền lợi bảo hiểm" quyền lợi của người
này sẽ bị phương hại nếu đối tượng bảo hiểm bị tổn thất và ngược lại sẽ được
bảo đảm khi an toàn Khác các nghiệp vụ bảo hiểm khác, theo hợp đồng bảo
hiểm hàng hải người được bảo hiểm không nhất thiết phải có quyền lợi có thể
bảo hiểm khi tiến hành bảo hiểm, tuy nhiên họ phải có dự tính hợp lý về việc
tiếp nhận quyền lợi ấy Tham chiếu vụ Andersen kiện Morice (1876) hàng hoá
là gạo đã được bảo hiểm bởi người mua hàng, trong hợp đồng mua bán có quy
định là tài sản được chuyển giao khi toàn bộ hàng hoá đã được xếp lên tàu Tổn
thất của hàng hoá khi mới có ba phần tư hàng được xếp lên tàu đã được toà
quyết rằng người mua không có quyền lợi có thể bảo hiểm Ngược lại trong vụ
Colonial Insurance Company (1886) khi hợp đồng mua bán quy định rẳng rủi
ro được chuyển giao cho người mua khi hàng hoá được xếp lên tàu thì từng
phần của hàng hoá là lúa mì đều được bảo hiểm khi nó đã được bốc lên tàu
Tuy nhiên, người được bảo hiểm phải có quyền lợi có thể bảo hiểm vào thời
điểm có tổn thất, điều này đã được quy định bởi điều 6 của Luật bảo hiểm
Hàng hải Anh 1906 Để tránh ngộ nhận, vấn đề này cũng được ấn định rõ trong
điều 11 của Điều khoản Học hội bảo hiểm hàng hoá (Institute Cargo Clauses -
ICC 1982) - Điều khoản quyền lợi bảo hiểm:
1- Để có thể đòi bồi thường theo đơn bảo hiểm này, người được bảo
hiểm phải có quyền lợi có thể bảo hiểm đối với đối tượng được bảo hiểm vào
thời gian xảy ra tổn thất
Trang 62- Với điều kiện phải theo 11.1 trên đây, người được bảo hiểm sẽ có
quyền đòi bồi thường cho những tổn thất được bảo hiểm xảy ra trong thời gian
bảo hiểm này có hiệu lực, dù cho tổn thất này xảy ra trước khi hợp đồng bảo
hiểm được ký kết, trừ khi người được bảo hiểm là có tổn thất mà người bảo
hiểm thì chưa hay biết"
Điều khoản 11.2 liên quan đến một tập quán đặc biệt đã có từ lâu được
gọi là "tổn thất hay không tổn thất" được đề cập đến tại Quy tắc giải thích đơn
bảo hiểm số 1 - Phụ bản Luật bảo hiểm Hàng hải Anh, theo đó đơn bảo hiểm
đảm bảo những tổn thất được bảo hiểm xảy ra cho hàng hoá bắt đầu được vận
chuyển trước khi thực hiện hợp đồng bảo hiểm và hàng hoá đã bị tổn thất vì
những rủi ro được bảo hiểm mà người được bảo hiểm không biết vào lúc thực
hiện bảo hiểm Hiệu lực của điều khoản này làm cho đảm bảo của hợp đồng
được ký vào lúc hành trình đã bắt đầu có hiệu lực hồi tố từ khi bắt đầu hành
trình Trên thực tế thì khi hàng hoá đã được vận chuyển với hàng ngàn
container hay với hàng chục ngàn tấn hàng trên một con tàu thì việc người bảo
hiểm phát hiện ra hàng hoá của mình bị tổn thất sau khi đã được vận chuyển để
tiến hành trục lợi bảo hiểm là điều khó có thể thực hiện được, trừ những rủi ro
lớn được các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin nhưng điều đó lại rất dễ
bị phát hiện ra
Khi có khiếu nại thuộc đơn bảo hiểm, người bảo hiểm có thể buộc người
được bảo hiểm phải chứng minh quyền lợi có thể bảo hiểm của mình trên đối
tượng bảo hiểm vào thời điểm xảy ra tổn thất và nếu không chứng minh được
thì khiếu nại đòi bồi thường không được giải quyết Đối với hàng hoá chuyên
chở bằng đường biển, tất nhiên chủ hàng phải có một quyền lợi có thể bảo
hiểm, ngoài ra cũng với hàng hoá đó tồn tại những loại quyền lợi khác cũng có
thể đem ra bảo hiểm:
Trang 7(1) Lãi ước tính: Nếu hàng đến bến an toàn chủ hàng có thể bán lô hàng
đó với dự tính có lãi Lãi này được gọi là "lãi ước tính" và thường cộng thêm
vào chính số tiền bảo hiểm hàng hoá, mức ấn định là 10% giá trị CIF
(2) Thuế nhập khẩu: Nếu hàng hoá bị tổn thất toàn bộ trên đường vận
chuyển thì người nhập khẩu được miễn thuế Nếu đến cảng, hàng nhận chỉ bị
tổn thất bộ phận người nhập khẩu sẽ không được miễn thuế theo tỷ lệ hàng hư
hỏng, trong hầu hết các trường hợp đó đều phải nộp thuế đầy đủ Do đó thuế
cũng có thể được bảo hiểm mà chính người nhập khẩu có quyền lợi trong đó
cần bảo hiểm Tuy nhiên để có thể được bồi thường phần quyền lợi này phần
thuế nhập khẩu phải được kê khai rõ trong giấy yêu cầu bảo hiểm và thể hiện
trên đơn bảo hiểm
(3) Giá trị tăng thêm: Nếu giá hàng trên thị trường tăng lên đáng kể
trong khi vận chuyển, và hàng hoá bị mất hoặc về tới bển trong trạng thái bị hư
hỏng thì người nhận hàng có thể bị thất thu về khoản trị giá tăng thêm của hàng
hoá Để tránh tổn thất ấy, trị giá tăng thêm đó có thể được bảo hiểm riêng rẽ
không nằm trong bảo hiểm gốc Để áp dụng điều này ICC 1982 - điều 14 quy
định về "Điều khoản trị giá tăng thêm":
14.1 Nếu người được bảo hiểm ký kết bất kỳ hợp đồng bảo hiểm nào về
trị giá tăng thêm cho hàng hoá đã được bảo hiểm thì trị giá thoả của hàng hoá
phải được coi như đã gia tăng tới tổng số tiền của bảo hiểm này cộng với số
tiền bảo hiểm về trị giá gia tăng…
14.2 Trường hợp bảo hiểm này, bảo hiểm trị giá tăng thêm phải áp dụng
điều khoản sau đây:
Giá trị thoả thuận của hàng hoá phải được coi như ngang với tổng số
tiền bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm ban đầu và tất cả các hợp đồng bảo hiểm
Trang 8giá trị tăng thêm mà người được bảo hiểm thực hiện cùng bảo hiểm cho tổn
thất đó…"
Điều 14.1 áp dụng cho đơn bảo hiểm ban đầu còn điều 14.2 cho đơn bảo
hiểm trị giá gia tăng, cả hai điều khoản đều cùng chung một mục đích đòi
người được bảo hiểm cộng các trị giá trên mỗi đơn bảo hiểm coi là một trị giá
áp dụng cho cả hai đơn Để nắm chắc điều này, người bảo hiểm có quyền được
biết các số tiền bảo hiểm và yêu cầu được biết thông tin này khi có khiếu nại
bồi thường Nếu không có quy định này về tổng số hai trị giá thì các chi phí tố
tụng, đề phòng tổn thất và các chi phí người được bảo hiểm chi trả để chứng
minh tổn thất sẽ do người bảo hiểm chính trả hết dù biết có đơn bảo hiểm trị
giá tăng thêm Với điều khoản này các chi phí trên sẽ được phân chia giữa các
người bảo hiểm đơn bảo hiểm chính và đơn bảo hiểm trị giá gia tăng và số tiền
đòi người thứ ba cũng sẽ được phân bổ như vậy
1.2.2 Trung thực tối đa - Nghĩa vụ khai báo
Trung thực tối đa là nguyên tắc cơ bản thứ hai của bảo hiểm hàng hải
Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 từ điều 17 đến điều 20 đề cập đến vấn đề
yêu cầu trung thực, tất cả các bên liên quan trong hợp đồng bảo hiểm hàng hải
phải thương lượng với nhau trên cơ sở chân thành tuyệt đối Trung thực tối đa
ngụ ý phải khai báo đầy đủ mọi sự kiện cần thiết đã biết hoặc coi như đã biết
Đặc biệt người được bảo hiểm phải kê khai và trình bày đúng tất cả các sự việc
cụ thể có liên quan đến hàng hoá được bảo hiểm, những sự việc mà họ biết
hoặc phải biết trong công việc thương mại bình thường Như thế người bảo
hiểm cũng được biết đầy đủ các thông tin cần thiết để giúp họ trong việc đánh
giá rủi ro, nhận hay từ chối bảo hiểm và tính giá phí hợp lý
Trang 9Bổn phận trung thực cũng ràng buộc cả người bảo hiểm Họ không thể
xui dục khách hàng thực hiện một hợp đồng bảo hiểm mà họ biết là không hợp
pháp hoặc họ không thể nhận một rủi ro mà họ đã biết là không còn nữa trong
khi người yêu cầu bảo hiểm chưa biết
Khác với các nghiệp vụ bảo hiểm khác, đối tượng bảo hiểm hàng hoá
được yêu cầu bảo hiểm có thể ở cách xa người bảo hiểm và người được bảo
hiểm cả ngàn dặm vào thời điểm tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng bảo
hiểm, do đó việc giám định trước khi nhận bảo hiểm là hầu như không thể thực
hiện được Vì thế người được bảo hiểm phải tự cung cấp các thông tin mà
người bảo hiểm đòi hỏi trước khi ký kết hợp đồng Nếu vi phạm nguyên tắc
trung thực thì phía bên kia (thông thường là người bảo hiểm) có quyền coi hợp
đồng là vô hiệu Nói cách khác, khi nào người được bảo hiểm không khai báo
những chi tiết quan trọng để đánh giá rủi ro, người bảo hiểm có thể huỷ bỏ hợp
đồng vào bất cứ lúc nào cho dù bất kể việc không khai báo đó là sơ ý hay cố ý
Trong nghĩa vụ khai báo các sự kiện cần thiết đã biết, người được bảo
hiểm được coi là biết mọi tình hình mà trong tiến trình thông thường của
nghiệp vụ họ phải biết Đồng thời khi không có yêu cầu thì cũng có những
thông tin không cần thiết phải khai báo, Luật bảo hiểm Hàng hải Anh điều 18.3
quy định rõ là
- Những tình hình làm giảm rủi ro
- Mọi tình hình mà người bảo hiểm được biết hay coi như là biết được đó
là những vấn đề mà ai cũng biết hoặc những vấn đề thuộc kiến thức thông
thường mà theo tiến trình nghiệp vụ thông thường người bảo hiểm phải biết
như tập quán thương mại, tuyến đường của tàu biển…
- Bất kỳ tình hình nào mà những tin tức đưa ra bị người bảo hiểm bác bỏ
Trang 10- Bất kỳ tình hình đặc biệt nào mà khai báo cũng là thừa vì đã có cam kết
công khai hoặc ngụ ý
Đối với người môi giới, nghĩa vụ khai báo còn nặng nề hơn Người môi
giới phải khai báo mọi sự kiện cần thiết mà người được bảo hiểm đã khai báo
(trừ khi điều đó biết quá chậm không kịp báo cho người môi giới) va mọi sự
kiện mà người môi giới được biết và được coi như biết Vi phạm nghĩa vụ này
người bảo hiểm có thể huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm và nếu có thể quy trách
nhiệm bồi thường cho khách hàng của họ về hợp đồng bị huỷ bỏ đó
Lời khai có thể là theo một sự kiện thực tế hoặc theo một sự kiện trông
chờ hay tin tưởng Lời khai sự kiện thực tế được coi là trung thực nếu tình hình
cụ thể là đúng như thế, có nghĩa là người bảo hiểm không thể khiếu nại khi lời
khai không đúng từng chữ Lời khai sự kiện trông chờ được coi là trung thực
nếu khai một cách trung thực dù rằng không đúng, bởi vì một người bảo hiểm
cẩn trọng không thể lầm lẫn bởi một lời khai đặc biệt như thế (điều 20) Lời
khai cần thiết là lời khai có thể ảnh hưởng đến sự phán đoán của người bảo
hiểm trong việc ấn định tỷ lệ phí bảo hiểm hay quyết định có nhận bảo hiểm
hay không Lời khai cần thiết thì phải chính xác nếu không người bảo hiểm có
thể huỷ bỏ hợp đồng
Điều 204 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 1990 quy định người được bảo
hiểm có nghĩa vụ cung cấp thông tin họ biết hoặc cần phải biết làm ảnh hưởng
đến quyết định của người bảo hiểm về việc xác định khả năng xảy ra rủi ro,
việc nhận hay không nhận bảo hiểm và các điều kiện bảo hiểm, trừ những
thông tin mà mọi người đều biết hoặc người bảo hiểm đã biết hoặc cần phải
biết Nếu người được bảo hiểm vi phạm điều này thì điều 207 cho phép người
bảo hiểm rút khỏi hợp đồng mà vẫn thu được đầy đủ phí bảo hiểm Cũng tại
Trang 11điều này Bộ luật Hàng hải Việt Nam quy định thêm nếu người được bảo hiểm
không có lỗi trong việc khai sai thì người bảo hiểm không có quyền rút khỏi
hợp đồng nhưng có quyền thu thêm phí ở mức độ hợp lý
1.2.3 Bồi thường
Bồi thường là nguyên tắc cơ bản quan trọng nhất của bảo hiểm nói chung
cũng như bảo hiểm hàng hải nói riêng và cũng chính vì mục đích này mà bảo
hiểm tồn tại Về khái niệm người ta có thể hiểu bồi thường là sự bảo vệ hoặc
đảm bảo cho thiệt hại hoặc tổn thất phát sinh từ trách nhiệm pháp lý, còn trong
bảo hiểm ta có thể coi bồi thường như là một cơ chế mà công ty bảo hiểm sử
dụng để cung cấp khoản bồi thường tài chính, với mục đích khôi phục tình
trạng tài chính ban đầu cho người được bảo hiểm sau khi tổn thất xảy ra Điểm
khác trong bồi thường của bảo hiểm hàng hải là bồi thường theo cách thức và
mức độ thoả thuận nghĩa là được xác định trên hợp đồng và theo quy định của
pháp luật, hay nói cách khác bồi thường không phải là thuần tuý mà là mang
tính chất thương mại
1.2.4 Thế quyền
Sau khi đã bồi thường tổn thất, người bảo hiểm có quyền đặt mình vào
địa vị người được bảo hiểm trong phạm vi quyền đòi bù đắp đối với bên có
trách nhiệm về tổn thất Đó được gọi là thế quyền, tức là người bảo hiểm có
cùng vị trí như người được bảo hiểm về việc đòi bồi thường tổn thất từ người
thứ ba Thế quyền là nguyên tắc cơ bản thứ tư của bảo hiểm hàng hải, nó là kết
quả tất yếu của nguyên tắc bồi thường vì nó ngăn ngừa một người có thể đòi
bồi thường từ hai nguồn về cùng một tổn thất và như thế là kiếm lời Với
nguyên tắc thế quyền này người bảo hiểm có quyền thay thế quyền hạn của
người được bảo hiểm để đòi bên có trách nhiệm bồi hoàn trong giới hạn số tiền
Trang 12bồi thường đã trả mà không cần có quyền sở hữu được chuyển qua cho họ Tuy
nhiên, trước khi thực hiện việc thế quyền, người bảo hiểm phải trả tiền bồi
thường cho người được bảo hiểm
1.3 Giá trị bảo hiểm
Do việc xác định giá trị hàng hoá được bảo hiểm thực tế không thể thực
hiện được vào thời gian và địa điểm xảy ra tổn thất hay tổn thất trong quá trình
vận chuyển, nên giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm có sự thoả thuận
về việc đánh giá hàng hoá trước khi ký kết hợp đồng bảo hiểm Trị giá hàng
hoá được xác định như vậy gọi là trị giá bảo hiểm thoả thuận Đơn bảo hiểm có
giá trị bảo hiểm thoả thuận được gọi là đơn bảo hiểm có định giá Về nguyên
tắc hầu như tất cả các đơn bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường biển đều là
đơn bảo hiểm có định giá Trị giá bảo hiểm thoả thuận như trên bị giới hạn bởi
hạn mức trị giá có thể bảo hiểm quy định tại điều 16 ở Luật bảo hiểm Hàng hải
Anh 1906 Theo đó, trong bảo hiểm hàng hoá, nó bao gồm giá thành của hàng
hoá, các phí tổn chuyên chở và chi phí bảo hiểm
Theo tập quán quốc tế về phí bảo hiểm, ngoài phí bảo hiểm chính còn có
phụ phí tàu già thu thêm khi hàng hoá được chuyên chở trên những chiếc tàu có
độ tuổi cao hơn một mức quy định nào đó (hiện nay quy định là 15 tuổi) Khi
hàng hoá được vận chuyển trên những chiếc tàu như vậy thì người thuê tàu
giảm được một phần cước phí vận tải nhưng họ lại tự làm tăng khả năng bị rủi
ro cho hàng hoá của mình, như vậy làm tăng rủi ro đối với người bảo hiểm và
họ phải nộp thêm phí bảo hiểm cho khả năng gia tăng rủi ro đó Vấn đề là phụ
phí tàu già có được tính vào giá trị bảo hiểm hay không còn tuỳ thuộc vào từng
trường hợp cụ thể
Trang 13Về nguyên tắc nếu phụ phí này làm tăng giá thành hàng hoá thì nó được
coi là một phần của giá trị bảo hiểm, ví dụ đối với các hợp đồng nhập khẩu
FOB khi người mua hàng phải thuê tàu và mua bảo hiểm, lúc này phụ phí tàu
già (nếu có) do người mua trả và chi phí đó được cộng vào giá thành Ngược
lại, đối với các hợp đồng nhập khẩu CFR hay CIF thì trị giá hoá đơn đã bao
gồm chi phí thuê tàu, lúc này phụ phí tàu già do người bán trả và nó không làm
tăng giá thành nên không được tính vào giá trị bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là giới hạn trách nhiệm của người bảo hiểm đối với mỗi
tai nạn và phí bảo hiểm được tính trên cơ sở số tiền đó Theo tập quán thông
thường thì số tiền bảo hiểm ấn định bằng giá trị bảo hiểm và một hợp đồng bảo
hiểm như vậy gọi là bảo hiểm đúng trị giá Nếu số tiền bảo hiểm vượt quá trị
giá bảo hiểm thì gọi là bảo hiểm trên trị giá, trong bảo hiểm hàng hoá số tiền
bảo hiểm dôi ra đó chỉ được chấp nhận khi coi nó là số lãi có thể của công việc
buôn bán và nó không lớn hơn 10%, số dôi hơn nữa sẽ không có hiệu lực Nếu
số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểm thì gọi là bảo hiểm dưới trị giá, và
người được bảo hiểm sẽ tự chịu lấy số tiền tổn thất ở phần trị giá không được
bảo hiểm
1.4 Thời gian đƣợc bảo hiểm
Trước kia, bảo hiểm chỉ bắt đầu khi hàng hoá được bốc lên tàu, không có
bảo hiểm cho khâu vận chuyển đến cảng bốc hàng cũng như trong thời gian
bốc hàng và cả ở trên xà lan tại cảng bốc hàng Bảo hiểm kết thúc khi hàng hoá
được đưa xuống bờ an toàn, khi dỡ hàng tại bến hay cầu tàu, bảo hiểm kết thúc
ngay khi hàng hoá được dỡ khỏi cần trục và nằm trên cầu cảng Nếu việc dỡ
hàng theo tập quán ở cảng đến là bằng xà lan lõng hàng ngoài biển để chuyển
Trang 14vào cảng thì hàng hoá trên xà lan được bảo hiểm các rủi ro cho đến khi đến
cảng đích (cảng đến)
Điều khoản “từ kho đến kho” được áp dụng từ khoảng cuối thế kỷ 19 và
được để trong điều khoản bảo hiểm hàng hoá của Hiệp hội khi viết lần thứ nhất
năm 1912 Đơn bảo hiểm SG (Ship-Goods) không ấn định giới hạn thời gian
nên theo tập quán đó, điều khoản này cũng không ấn định thời gian cho quá
trình chuyên chở và cũng không áp dụng thời gian cho giai đoạn trước khi bốc
hàng lên tàu biển Để động viên người được bảo hiểm rút hàng nhanh khi dỡ thì
nên có một giới hạn thời gian sau khi dỡ hàng Giới hạn này được thấy từ thực
tế trong chiến tranh thế giới 1939-1945 và được nâng lên là 60 ngày bởi điều
khoản “mở rộngthời chiến” Người bảo hiểm đã thoả thuận giữ giới hạn này
sau thời chiến bằng điều khoản “đảm bảo mở rộng” và rồi được đưa vào ICC
như một tiêu chuẩn Trong ICC 1963 “điều khoản vận chuyển” được đưa vào
để thay thế điều khoản “từ kho đến kho” và điều khoản “ bảo đảm mở rộng”,
nó được sửa đổi đôi chút cho rõ ràng hơn trong điều 8 - ICC 1982 “Điều khoản
vận chuyển”:
8.1 Bảo hiểm này bắt đầu có hiệu lực kể từ khi hàng rời khỏi kho hay nơi
chứa hàng tại địa điểm có ghi tên trong bảo hiểm để bắt đầu vận chuyển, tiếp
tục trong quá trình vận chuyển bình thường và kết thúc hoặc vào
Tuy nhiên trong điều khoản này còn có rất nhiều vấn đề tranh chấp về
thế nào là kho đi (kho người bán) và kho đến (kho người mua)
+ Kho đi là kho hàng hoá được đóng gói hoàn chỉnh, sẵn sàng đưa hàng
lên phương tiện vận tải để vận chuyển bằng đường bộ, sắt, thuỷ ra cảng để
xếp xuống tàu Nó có thể là kho hay nơi chứa hàng và thường được ghi tên, địa
điểm của kho này vào hợp đồng bảo hiểm Kho dùng để chế biến thêm hoặc
Trang 15đóng gói, đóng gói lại hàng hoá, kho tập kết hàng hoá tạm thời để vận chuyển
hàng tiếp tục đến một kho khác để chờ xếp hàng xuống tàu thì không thể coi là
kho đi
+ Kho đến là kho nhận hàng ở địa điểm cuối cùng ghi trên đơn bảo hiểm
Là kho thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của người được bảo hiểm và thường
là người được bảo hiểm đã tham gia tổ chức thực hiện việc vận chuyển hàng
hoá được bảo hiểm về kho của mình Kho đến bao gồm các loại kho sau:
- Kho người nhận hàng hay kho hoặc nơi chứa hàng cuối cùng khác tại
nơi nhận có ghi tên trong đơn bảo hiểm
- Bất kỳ một kho hay một nơi chứa hàng nào khác mà người được bảo
hiểm chọn nhằm mục đích lưu kho mặc dù trước khi tới hay tại nơi nhận có tên
ghi trong hợp đồng bảo hiểm
- Bất kỳ một kho hay một nơi chứa hàng nào khác mà địa điểm của
chúng không còn nằm trong quá trình vận chuyển nữa
- Bất kỳ một kho hay một nơi chứa hàng nào khác mà người được bảo
hiểm chọn nhằm dùng mục đích lưu kho, phân phối hoặc chuyển nhượng hàng
hoá được bảo hiểm
Việc mở rộng thêm không gian bảo hiểm “từ kho đến kho” đương nhiên
làm tăng phí bảo hiểm, hay nói cách khác đã tạo ra khả năng thoả thuận giảm
phí bảo hiểm cho người được bảo hiểm trong trường hợp họ muốn co hẹp
không gian này lại Trong thực tế người bảo hiểm đã chấp nhận những không
gian bảo hiểm hẹp hơn theo yêu cầu của người được bảo hiểm tuỳ theo từng
loại mặt hàng hay các địa điểm trong giao nhận và trong các giao dịch thương
mại để người bảo hiểm có thể giảm đến mức nhỏ nhất các chi phí của mình
Trang 16+ “Từ cảng đến cảng”: Xuất phát từ nhu cầu giảm các chi phí trong đó
có phí bảo hiểm, căn cứ vào những quy định về trách nhiệm đối với các chi phí
của người bán và người mua tại INCOTERM (ví dụ với hợp đồng bán CIF,
người bán chỉ chịu chi phí cho đến cảng đến), người ta đã đưa ra phạm vi bảo
hiểm này Theo đó trách nhiệm của người bảo hiểm chỉ bắt đầu khi hàng hoá
rời khỏi kho cảng đi bắt đầu được chuyển lên tàu và kết thúc khi hàng hoá được
giao vào kho cảng đến có ghi tên trên đơn bảo hiểm Như vậy thời gian hàng
hoá lưu kho tại các cảng nói trên không được bảo hiểm và thời hạn 60 ngày sau
khi dỡ hàng, về nguyên tắc cũng sẽ cũng chỉ giới hạn đến kho cảng Tuy nhiên,
phạm vi bảo hiểm này cũng làm phát sinh những vấn đề gây tranh cãi, ví dụ
như đối với container thì nó sẽ được xếp ở bãi container thay vì kho cảng và có
thể được chuyển từ bãi này qua bãi khác như vậy thì phạm vi bảo hiểm sẽ kết
thúc tại đâu Cho đến nay vẫn chưa có Luật hay án lệ nào quy định về điều này
mà nó chỉ được sử dụng như một tập quán
+ “Trách nhiệm qua lan can tàu”: Trong thực tế kinh doanh thương mại
có nhiều khi hàng đang trên đường vận chuyển đã được chuyển tay qua rất
nhiều chủ hoặc khi tàu về tới cảng thì hàng đã được bán toàn bộ cho chủ hàng
khác và giao cho chủ mới này ngay tại cầu cảng Như vậy trong trường hợp này
phạm vi bảo hiểm đến kho hàng cũng không cần thiết nữa mà người bảo hiểm
chỉ cần bảo đảm cho những tổn thất xảy ra trong quá trình vận chuyển mà thôi
Trách nhiệm của người bảo hiểm chấm dứt khi hàng được chuyển qua lan can
tàu tại cảng đến ghi trên đơn bảo hiểm Cũng giống các điều khoản trên, phạm
vi được thực hiện như một tập quán hoặc tuân theo các điều khoản phụ đính
kèm với đơn bảo hiểm chứ chưa có một văn bản Luật nào quy định nó
1.4.1 Bắt đầu vận chuyển
Trang 17Điều 42.1- Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 quy định “nếu đối tượng
được bảo hiểm theo một đơn bảo hiểm chuyến “tại và từ” hoặc “từ” một địa
điểm đặc biệt nào đó thì không nhất thiết là tàu phải ở địa điểm đó khi ký kết
hợp đồng nhưng có một điều kiện ngụ ý là hành trình phải bắt đầu trong một
thời gian hợp lý và nếu hành trình không bắt đầu đúng như vậy thi người bảo
hiểm có thể huỷ hợp đồng” Khi bảo hiểm theo hợp đồng bao, việc vận chuyển
hàng hoá có thể bắt đầu vào bất cứ lúc nào trong thời hạn của hợp đồng bao và
được bảo hiểm theo điều khoản vận chuyển cho đến khi giao hàng vào kho nơi
đến mặc dù nhận hàng sau khi hợp đồng bao mãn hạn Theo điều khoản vận
chuyển chỉ có bảo hiểm từ khi hàng hoá rời kho bãi để bắt đầu vận chuyển Vì
thế trừ khi có quy định đặc biệt, không có bảo hiểm trong khi bốc hàng lên
phương tiện vận chuyển tại kho hay trong bất cứ thời gian nào trước khi vận
chuyển thực sự bắt đầu ví dụ như vận chuyển tới hoặc từ nơi đóng gói
1.4.2 Quá trình chuyên chở bình thường
Theo điều khoản vận chuyển, bảo hiểm chỉ tiếp tục khi hàng hoá ở trong
quá trình vận chuyển “bình thường” Mọi hành động tách khỏi quá trình chuyên
chở bình thường đều đưa đến việc kết thúc bảo hiểm Từ “bình thường” được
coi là bao gồm phương thức chuyên chở theo tập quán phù hợp với loại hàng
hoá và tuyến đường trực tiếp nhất dẫn tới nơi đến Nó gồm cả thời gian chậm
trễ hàng chờ hải quan kiểm tra hoặc nhà chức trách tương tự và thời gian chờ
phương tiện hay tàu chở tiếp; nhưng không gồm mọi chậm trễ mà người được
bảo hiểm có thể tránh được hoặc thời gian lưu giữ thuộc kiểm soát của người
được bảo hiểm Như vậy nếu người được bảo hiểm sử dụng kho cảng để chứa
hàng thì coi như ngoài quá trình chuyên chở bình thường
1.4.3 Chậm trễ trong hành trình
Trang 18Luật bảo hiểm Hàng hải Anh - Điều 48 quy định hành trình phải được
tiến hành không có châm trễ bất hợp lý, và trừ khi lý do luật pháp người bảo
hiểm được miễn giải trách nhiệm từ lúc chậm trễ bất hợp lý Trong ICC 1982
điều 18 được đưa ra để đảm bảo sự khẩn trương hợp lý được áp dụng trong suốt
thời gian chuyên chở “ Điều kiện của bảo hiểm này là người được bảo hiểm
phải hành động một cách khẩn trương hợp lý trong mọi tình huống, trong phạm
vi kiểm soát của họ”
Tuy nhiên, quy định rằng chậm trễ phải là ngoài khả năng kiểm soát của
người được bảo hiểm thì người bảo hiểm vẫn tiếp tục bảo hiểm nhưng cần nhấn
mạnh tổn thất trực tiếp gây ra do chậm trễ không được bảo hiểm
1.4.4 Hành trình từ một cảng khác đến một cảng khác
Theo điều 43 và 44 Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 thì hành trình
được bảo hiểm đã được ấn định trong đơn bảo hiểm, tàu phải khởi hành từ cảng
đi và tới cảng đến đã được chỉ định, nếu không bảo hiểm sẽ không còn hiệu
lực Nếu tàu xuất phát từ một cảng khác hoặc đi đến một cảng khác với nơi đã
được ấn định thì đơn bảo hiểm không có hiệu lực
1.4.5 Thay đổi hành trình
Sự thay đổi hành trình là khi tàu đi từ cảng xuất phát chỉ định nhưng có ý
định thay đổi cảng đến Điều 45- Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 định nghĩa
về thay đổi hành trình như sau:
1- Nếu sau khi bảo hiểm bắt đầu, tầu tự ý thay đổi địa điểm đến khác với
địa điểm đã dự kiến trong đơn bảo hiểm thì gọi là thay đổi hành trình
2- Nếu tàu thay đổi hành trình thì người bảo hiểm được miễn trách kể từ
thời điểm có thay đổi đó, nghĩa là kể từ thời gian mà quyết định thay đổi được
Trang 19biểu hiện, và bất kể là tàu có thể đã không thực sự tách khỏi tuyến đường đã
ghi trong đơn bảo hiểm khi tổn thất xảy ra
Trách nhiệm của người bảo hiểm được giải trừ vào lúc quyết định thay
đổi được biểu hiện và bất kể là tàu đã không thực sự tách khỏi tuyến đường dự
định ghi trong đơn bảo hiểm khi tổn thất xảy ra Điều 10-ICC 1982 nhận bảo
hiểm trong trường hợp người được bảo hiểm thay đổi hành trình như sau: “Nếu
sau khi bảo hiểm này bắt đầu có hiệu lực mà người được bảo hiểm lại thay đổi
nơi nhận hàng thì bảo hiểm vẫn được giữ nguyên với phí bảo hiểm và điều kiện
thương lượng riêng nhưng phải có giấy báo gửi ngay cho người bảo hiểm”
Phải ghi nhận rằng bảo hiểm này được chi phối bởi việc thông báo của
người được bảo hiểm cho người bảo hiểm về sự kiện ngay sau khi có sự thay
đổi hành trình, không thể chờ đến khi có tổn thất mới báo cho người bảo hiểm
Nhận được thông báo, người bảo hiểm sẽ quyết định việc gia tăng rủi ro, cần
thay đổi điều kiện bảo hiểm và thu phí bổ sung
1.4.6 Thay đổi tuyến đường
Điều 46 Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 định nghĩa là có sự thay đổi
tuyến đường khi tàu không vì lý do pháp luật tách khỏi tuyến đường ấn định,
hoặc nếu không được thì tách khỏi tuyến đường hợp lý thông thường và tập
quán Tuyến đường hợp lý thông thường nói chung là con đường thẳng về mặt
địa lý, nó không nhất thiết phải là con đường ngắn nhất vì nó có thể thay đổi vì
những lý do hàng hải và nó còn phụ thuộc vào tập quán và tính chất của con
tàu Tham chiếu vụ Evans kiện Cunard năm 1912, con tàu dự định đi từ Bari
(Italia) đến Liverpool (Anh) nhưng thực tế nó đã đến Liverpool sau khi đã qua
Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) Toà đã phán quyết là con tàu này không đi chệch hướng
Trang 20vì con tàu loại đó, kinh doanh theo kiểu đó thì tập quán của nó là đi vòng như
vậy để lấy thêm hàng
Những thay đổi tuyến đường được coi là không hợp lý như để thay đổi
thuyền viên, cung cấp nhiên liệu hoặc tiến hành sửa chữa mà khi đó chưa cần
thiết ngay Đi chệch hướng để lấy thêm nhiên liệu cũng bị coi là bất hợp pháp
vì nhiên liệu phải được dự trữ đầy đủ để làm cho con tàu đủ khả năng đi biển
vào lúc bắt đầu hành trình (Timm and Son kiện Northumbrian Shipping Co.)
Hậu quả trên đơn bảo hiểm là trách nhiệm của bảo hiểm chấm dứt ngay khi tàu
thay đổi tuyến đường và người bảo hiểm không phải chịu trách nhiệm về mọi
tổn thất ngay cả khi tàu đã trở lại tuyến đường cũ
Hậu quả của việc thay đổi hành trình và thay đổi tuyến đường đối với
trách nhiệm của người bảo hiểm lại rất khác nhau, khi có thay đổi hành trình
người bảo hiểm không còn trách nhiệm từ thời điểm quyết định thay đổi được
biểu hiện, còn về thay đổi tuyến đường chỉ kết thúc bảo hiểm khi tàu đã thực sự
thay đổi tuyến đường, mà không ảnh hưởng về các trách nhiệm đã có trước khi
thay đổi tuyến đường tức là ý định thay đổi không quan trọng, cần có thay đổi
thực tế mới giải thoát trách nhiệm cho người bảo hiểm (theo điều 45-46 Luật
bảo hiểm Hàng hải Anh 1906)
Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 điều 49 có quy định một số miễn
trách cho các trường hợp đặc biệt của thay đổi tuyến đường và chậm trễ nhưng
khi lý do miễn trách không còn nữa thì tàu phải tiếp tục quy trình và tiến hành
hành trình với mức độ khẩn trương hợp lý Các trường hợp miễn trách là:
+ Cho phép bởi người bảo hiểm theo thoả thuận hoặc điều kiện đặc biệt
+ Ngoài vòng kiểm soát chủ tàu hay thuyền trưởng, ví dụ những biến
động xấu của thời tiết như bão, biển động hay hành động chêch hướng không
Trang 21cố ý như khi thuyền trưởng đã hành động một cách không khôn ngoan hoặc
theo sự điều khiển của chủ tàu Tham chiếu vụ Rickards kiện Forrestal Land
and Railways Co., Ltd năm 1941 Khi chiến tranh bùng nổ giữa Đức và Anh,
một tàu buôn của Đức chở hàng của chủ hàng Anh đã dỡ hàng xuống một cảng
trung lập theo yêu cầu của Chính phủ nước họ đã được phán quyết là hành
động nghĩa vụ đạo đức và sự thay đổi tuyến đường này được miễn trách
+ Khi cần thiết và hợp lý để thi hành một cam kết hoặc mặc nhiên, ví dụ
chậm trễ vào lúc bắt đầu một đoạn hành trình để làm cho tàu có khả năngđi
biển trong đoạn tiếp theo
+ Khi cần thiết và hợp lý cho sự an toàn của tàu hay đối tượng bảo hiểm
ví dụ vào cảng lánh nạn Sự an toàn này không bị giới hạn bởi rủi ro gây ra bởi
rủi ro được bảo hiểm
+ Để cứu vớt sinh mạng, hoặc trợ giúp một tàu bị lâm nguy mà sinh
mạng có thể bị nguy hiểm nhưng không phải là để cứu tàu vô chủ
+ Khi cần thiết và hợp lý để trợ giúp về thầy thuốc cho người ở trên tàu
+ Khi gây ra bởi manh động của thuyền trưởng hay thuỷ thủ
Bộ luật Hàng hải Việt Nam không quy định ảnh hưởng của thay đổi
tuyến đường đối với hợp đồng bảo hiểm hàng hải nhưng có quy định của việc
ảnh hưởng của việc này đối với hợp đồng vận chuyển hàng hoá nên cũng cần
quan tâm vì nó có thể được dẫn chiếu khi tranh chấp Trong đó điều 89 quy
định nếu không có thoả thuận nào khác thì người chuyên chở phải thực hiện
việc vận chuyển hàng hoá trong thời gian hợp lý theo đúng tuyến đường quy
định hoặc theo tuyến đường thường lệ Tàu đi chệch hướng được miễn trách
trong các trường hợp để cứu người và tài sản trên biển hoặc các nguyên nhân
chính đáng khác mà không ảnh hưởng đến hợp đồng vận chuyển
Trang 221.4.7 Chở quá cảng
Khi có trường hợp hàng hoá không được dỡ xuống tại cảng đến mà lại
chở quá cảng và được dỡ xuống trong hành trình chở về Đây là thay đổi tuyến
đường và bảo hiểm chấm dứt ngay khi tàu rời cảng đến mà còn chở hàng hoá
đó trên tàu
1.4.8 Chuyển tải / xếp lại hàng lên tàu
Điều 59- Luật bảo hiểm Hàng hải Anh 1906 quy định như sau về ảnh
hưởng của chuyển tải: “Nếu do một rủi ro được bảo hiểm mà hành trình bị gián
đoạn tại một cảng hoặc một điểm giữa đường thì trong hoàn cảnh đó, ngoài
những quy định đặc biệt trong hợp đồng vận chuyển-thuyền trưởng được quyền
dỡ hàng và xếp lại hàng hoá hoặc các bất động sản khác, hoặc chuyển tải,
hoặc gửi hàng tới địa điểm đến, thì trách nhiệm của bảo hiểm vẫn tiếp tục mặc
dù có dỡ hàng lên bờ hoặc có chuyển tải”
Theo Luật bảo hiểm Hàng hải Anh, việc tiếp tục bảo hiểm chỉ đối với
việc chuyển tải, xếp lại hàng trên tàu sau khi có tác động của một rủi ro được
bảo hiểm, còn điều 8.3-ICC 1982 thì tiếp tục bảo hiểm cả trong quá trình
chuyển tải hay bốc lại hàng lên tàu hoặc mọi thay đổi hành trình của chủ tàu,
người thuê tàu được phép hành động theo hợp đồng chuyên chở để phù hợp với
sự phát triển của ngành vận tải biển, đặc biệt là từ khi vận tải container ra đời
và phát triển
“8.3 Bảo hiểm này giữ nguyên hiệu lực (phụ thuộc quy định về kết thúc
nói trên và quy định trong điều 9 dưới đây) trong khi bị chậm trễ ngoài khả
năng kiểm soát của người được bảo hiểm, khi tàu chạy lệch hướng bất kỳ, khi
dỡ hàng bắt buộc, xếp lại hàng hoặc chuyển tải và trong khi có bất kỳ thay đổi
Trang 23nào về hành trình xuất phát từ việc thực hiện một quyền tự do mà hợp đồng
chuyên chở đã dành cho chủ tàu hoặc người thuê tàu.”
Qua đó ta thấy rằng cả Luật bảo hiểm Hàng hải Anh và ICC đều không
quy định cho trường hợp hàng hoá chuyển từ phương tiện này sang phương tiện
khác không phải là tàu Điều quan trọng là nếu người được bảo hiểm biết rằng
có chuyển tải mà không khai báo cho người bảo hiểm, vi phạm cam kết trung
thực cho phép người bảo hiểm khước từ hoàn toàn hợp đồng Điều khoản 8.3
ICC 1982 cũng quy định bảo hiểm tiếp nối trong trường hợp dỡ hàng bắt buộc,
điều này biểu thị trường hợp người chuyên chở không thể hoàn thành hành
trình và dỡ hàng trước khi tới nơi đến Đảm bảo trong trường hợp này được chi
phối bởi điều khoản kết thúc hợp đồng
1.4.9 Bảo hiểm sau khi dỡ hàng hoá bình thường từ tàu biển
Mục đích là bảo hiểm hàng hoá cho đến khi được giao đến kho cuối cùng
tại nơi có ghi trên đơn bảo hiểm Điều này dĩ nhiên là phải trong điều kiện
chuyên chở bình thường, nó gồm cả những chậm trễ thông thường tại cảng dỡ
hàng nhưng không gồm những chậm trễ thuộc kiểm soát của người được bảo
hiểm Mặc dù bảo hiểm được tiếp tục trong quá trình chậm trễ ngoài sự kiểm
soát của người được bảo hiểm song vẫn có một giới hạn thời gian 60 ngày kể từ
khi dỡ khỏi tàu biển Giới hạn thời gian này bắt đầu từ lúc hoàn thành công
việc dỡ hàng và nếu hàng hoá chưa được giao trong giới hạn thời gian ấy thì
bảo hiểm kết thúc vẫn sau 60 ngày, trừ khi người được bảo hiểm đã điều đình
nới lỏng giới hạn thời gian với người bảo hiểm
Điều quan trọng cần nhớ là việc nới rộng thời gian này không được bảo
hiểm theo quan điểm của ICC 60 ngày là giới hạn chứ không phải là thời gian
bảo hiểm do đó một khi hàng hoá đã được giao vào kho cuối cùng là bảo hiểm
Trang 24kết thúc dù chưa mãn hạn 60 ngày, ICC không bảo hiểm trong kho hàng cuối
cùng
+ Nơi chứa hàng theo lựa chọn của người được bảo hiểm Nếu người
được bảo hiểm chọn chỗ để hàng tại một nơi nào đó sau khi dỡ xuống, trước
khi đến kho hay nơi chứa hàng tại nơi đến thì chỗ này được coi là nơi đến cuối
cùng, dù chưa mãn hạn 60 ngày
+ Phân phối sau khi dỡ hàng khỏi tàu biển Nhiều khi hàng hoá gửi tới
nhiều nơi đến lại gửi cùng chuyến hàng tới một nơi tập trung sau khi dỡ, từ đây
hàng hoá được phân phối tới từng nơi đến cuối cùng Bảo hiểm sẽ coi hàng hoá
được giao vào nơi phân phối và không có bảo hiểm khi hàng hoá được phân
chia hay vận chuyển tiếp nếu không có dàn xếp trước với người bảo hiểm để
bảo hiểm tiếp tới nơi cuối cùng cho từng phần hàng hoá Để khiếu nại, người
được bảo hiểm phải chứng minh tổn thất xảy ra trước khi giao vào nơi phân
phối
+ Thay đổi nơi đến sau khi dỡ Khi hàng hoá không được gửi tới nơi đến
ghi trên đơn bảo hiểm, nhưng được dỡ bình thường tại cảng dự định thì vẫn áp
dụng thời hạn 60 ngày cũng như các giới hạn về chứa hàng chờ phân chia hay
phân phối, nhưng giới hạn thêm trong thời giản trước lúc chuyên chở đến nơi
mới Người được bảo hiểm cũng có thể yêu cầu người bảo hiểm tiếp tục bảo
hiểm đến nơi mới này Nếu nơi đến thay đổi trước khi dỡ hàng khỏi tàu biển thì
đây là thay đổi hành trình Khi hàng hoá được gửi trả lại người gửi hàng sau
khi đã dỡ hàng tại cảng quy định thì nơi gửi hàng trả về được coi là nơi đến
mới và bảo hiểm kết thúc theo điều 8.2 trừ khi người bảo hiểm chấp thuận bảo
hiểm tiếp
1.4.10 Kết thúc hợp đồng chuyên chở
Trang 25Hợp đồng chuyên chở được ký kết giữa người gửi hàng và người chuyên
chở cho phép giải trừ trách nhiệm của người chuyên chở về tổn thất của hàng
hoá khi không có lỗi hay sự đồng tình của họ và cho phép họ được dỡ hàng tại
cảng hay nơi nào đó giữa đường nếu họ không tiếp tuc hành trình để dỡ hàng
tại cảng hay nơi đến quy định (ví dụ như có đình công hay chiến tranh tại cảng
đến nên bắt buộc phải dỡ hàng tại một cảng khác Dù điều khoản 8.3 ICC 1982
tiếp tục bảo hiểm khi người chuyên chở sử dụng quyền thay đổi hành trình
nhưng nếu người chuyên chở kết thúc hợp đồng tại một cảng hay một nơi nào
đó giữa đường, trong tình trạng ngoài kiểm soát của người được bảo hiểm thì
điều 9 ICC 1982 “Điều khoản kết thúc hợp đồng vận chuyển” sẽ có hiệu lực
“ Nếu do tình huống ngoài kiểm soát của người được bảo hiểm mà hợp
đồng vận chuyển kết thúc tại một cảng hay một nơi không phải là nơi nhận có
tên ghi trên đơn bảo hiểm hoặc việc vận chuyển được kết thúc cách nào khác
trước khi giao hàng như quy định ở điều trên thì bảo hiểm này cũng sẽ kết thúc
trừ khi có giấy báo gửi ngay cho người bảo hiểm và yêu cầu tiếp tục bảo hiểm,
với điều kiện trả thêm phí nếu người bảo hiểm yêu cầu hoặc
9.1 Cho đến khi hàng được đem bán và giao tại cảng hay nơi nào đó,
hoặc trừ khi có thỏ thuận riêng khác, cho tới khi hết hạn 60 ngày sau khi hàng
bảo hiểm tới cảng hay nơi nào đó, tuỳ theo trường hợp nào đến trước, hoặc
9.2 Nếu hàng hoá được gửi đi trong phạm vi 60 ngày đó (hoặc bất kỳ
phạm vi mở rộng nào được thoả thuận) để tới nơi nhận hàng có tên ghi trên
đơn bảo hiểm hay tới bất kỳ nơi nhận hàng nào khác, thì cho tới khi kết thúc
bảo hiểm theo những quy định của điều 8 kể trên”
Theo điều khoản này bảo hiểm sẽ đương nhiên kết thúc trong những tình
huống như thế trừ khi người được bảo hiểm yêu cầu tiếp tục bảo hiểm Yêu cầu
Trang 26này phải làm ngay khi người được bảo hiểm biết được các tình huống này và
với điều kiện đóng phí bổ sung, người bảo hiểm sẽ thoả thuận tiếp tục bảo
hiểm Khi đã có thoả thuận tiếp tục bảo hiểm thì người được bảo hiểm có 60
ngày để hành động giải quyết hàng hoá nếu không bảo hiểm sẽ chấm dứt vào
thời hạn đó Thời hạn này có thể được nới thêm nếu người bảo hiểm thoả
thuận So với thời gian trong điều 8 thì thời hạn trong điều 9 bắt đầu từ lúc
hàng hoá “đến” cảng hay nơi chốn giữa đường trong khi điều 8 bắt đầu từ lúc
dỡ hàng xong, tuy nhiên trong ICC không nói rõ tại sao có khác biệt ấy và cũng
không định nghĩa từ “đến” Trong bộ các điều khoản ICC có định nghĩa từ
“đến cảng” tại điều 5 điều khoản chiến tranh (hàng hoá) tuy nhiên định nghĩa
này không có trong các điều khoản chính (A,B,C) nên khi có tranh chấp có thể
nó sẽ không được toà án chấp nhận
"Đến cảng" phải được coi như có ý nói tàu được neo buộc hoặc giữ chắc
theo cách khác tại một nơi nằm trong khu vực thuộc chức trách cảng Nếu
không phải là chỗ tàu đậu hay một nơi như vậy thì đến cảng được coi là đã thể
hiện trước khi con tàu được neo buộc hoặc được giữ chắc theo cách khác tại
cảng hay nơi dỡ đã dự kiến phải đến hoặc phía ngoài cảng hay nơi dỡ đó”
Nếu người được bảo hiểm quyết định bán hàng tại cảng giữa đường, bảo
hiểm kết thúc khi hàng hoá được giao cho người mua tại cảng hay nơi ghé qua
ấy với điều kiện là việc giao hàng cho người mua trong thời hạn 60 ngày Nếu
hàng hoá bán cho một người mua để giao tại một cảng khác thì điều 9.2 sẽ có
hiệu lực Điều khoản này liên quan đến trường hợp người được bảo hiểm quyết
định gửi tiếp hàng về bến gốc hay một bến nào khác Với điều kiện người được
bảo hiểm đã thỏa thuận với người bảo hiểm tiếp tục việc bảo hiểm về việc
chuyên chở đến nơi khác ấy bắt đầu trong thời hạn ấn định tại nơi khi hàng tới
nơi đến khác ấy
Trang 271.5 Luật và tập quán điều chỉnh
Trong tất cả các bộ điều khoản của ICC 1982- Điều 19 đều có “Điều
khoản luật và tập quán Anh”, trong đó ghi rõ: “Bảo hiểm này được điều chỉnh
bởi Luật và tập quán Anh”
Mục đích của điều khoản này là nhằm quy định một cơ sở về luật pháp
và tập quán, nó phù hợp với quan niệm của Uỷ ban kỹ thuật và điều khoản khi
soạn thảo các điều khoản này Nếu giải thích điều khoản dựa vào một luật hay
tập quán nào khác có thể dẫn tới sai lầm mà những người soạn thoả muốn tìm
cách tránh Khi điều khoản ICC 1982 được đính kèm với mẫu đơn bảo hiểm
nào thì quyền tài phán sẽ theo quy định trên đơn bảo hiểm ấy
Theo điều 12 khoản 3 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định, hợp đồng bảo
hiểm hàng hải được áp dụng theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, đối
với những vấn đề mà Bộ luật Hàng hải Việt Nam không quy định thì áp dụng
theo quy định của Luật này Như vậy đối với hợp đồng bảo hiểm hàng hải nói
chung và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển nói
riêng thì luật trực tiếp điều chỉnh là Bộ luật Hàng hải Việt Nam
CHƯƠNG II HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU CHỞ BẰNG
ĐƯỜNG BIỂN 2.1 Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm hàng hoá XNK bằng đường
biển
2.1.1 Khái niệm
2.1.1.1 Định nghĩa
Trang 28Cho đến nay trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hợp
đồng bảo hiểm Theo David Bland, hợp đồng bảo hiểm được hiểu "là một thoả
thuận giữa hai bên nhằm ràng buộc nhau về mặt pháp lý Một bên đưa ra đề
nghị và bên kia chấp nhận theo cùng các điều khoản Như vậy một bên thanh
toán (hoặc cam kết thanh toán) phí bảo hiểm còn bên kia cam kết bồi thường
trong những trường hợp thoả thuận."
Bộ luật Dân sự Việt Nam tại Chương II đã đưa ra 13 loại hợp đồng dân
sự thông dụng trong đó có hợp đồng bảo hiểm. Cụ thể Điều 571 - Bộ luật Dân
sự Việt Nam năm 1995 quy định "Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa
các bên theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm còn bên bảo hiểm
phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện
bảo hiểm."
Hợp đồng bảo hiểm theo quy định của Điều 12 của Luật Kinh doanh bảo
hiểm đuợc Quốc hội thông qua ngày 9 tháng 12 năm 2000 và có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2001 có quy định về hợp đồng bảo hiểm như
sau: "Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh
nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh
nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho nguời thụ huởng hoặc bồi thuờng
cho nguời đuợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm"
Theo Điều 200 Bộ luật Hàng hải Việt Nam thì "Hợp đồng bảo hiểm hàng
hải là hợp đồng được ký kết giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm mà
theo đó người bảo hiểm thu bảo hiểm phí do người được bảo hiểm trả và người
được bảo hiểm được người bảo hiểm trả bồi thường tổn thất của đối tượng bảo
hiểm do các rủi ro hàng hải gây ra theo mức độ và điều kiện đã thoả thuận với
người bảo hiểm"
Trang 29Do vậy hợp đồng bảo hiểm hàng hoá XNK bằng đường biển là một dạng
cụ thể của hợp đồng bảo hiểm nói chung, đó là sự cam kết giữa người bảo hiểm
và người được bảo hiểm, quy định quyền và nghĩa vụ các bên Hợp đồng bảo
hiểm hàng hoá XNK bằng đường biển có mẫu sẵn, quy định quyền và nghĩa vụ
các bên Hợp đồng bảo hiểm được coi là nguồn luật điều chỉnh quan hệ bảo
hiểm cụ thể theo hợp đồng đó Khi xảy ra tranh chấp, hợp đồng bảo hiểm hàng
hoá XNK bằng đường biển là căn cứ đầu tiên để cơ quan tài phán xét xử
Tuy nhiên hợp đồng bảo hiểm hàng hoá XNK bằng đường biển chỉ quy
định các điều khoản chung nhất như đặc trưng hàng hoá, điều kiện bảo hiểm,
các chỉ dẫn người được bảo hiểm khi tổn thất xảy ra luật dẫn chiếu Những
vấn đề mà hợp đồng không quy định sẽ được giải quyết theo pháp luật
2.1.1.2 Tính chất
Hợp đồng bảo hiểm có những tính chất chung trong khuôn khổ pháp luật,
ngoài ra còn có một số tính chất riêng biệt do đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của
ngành bảo hiểm chi phối
- Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng song vụ, mở sẵn Các bên ký kết hợp
đồng đều có quyền và nghĩa vụ với nhau Quyền của bên này là nghĩa vụ của
bên kia và ngược lại Nghĩa vụ của tham gia bảo hiểm là nộp phí bảo hiểm, là
đề phòng và hạn chế tổn thất… Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm là thực
hiện là thực hiện trách nhiệm bồi thường (hoặc chi trả bảo hiểm) khi có rủi ro
xảy ra thuộc trách nhiệm bảo hiểm
-Hợp đồng bảo hiểm mang tính tương thuận Với tính chất này, chỉ cần
hai bên chấp thuận là đi đến ký kết Việc đi đến ký kết dựa trên nguyên tắc tự
nguyện, bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật Tuy nhiên nội dung hợp đồng
Trang 30chủ yếu đều do doanh nghiệp bảo hiểm soạn thảo, người tham gia bảo hiểm sẽ
tự do lựa chọn cho phù hợp với yêu cầu của mình
- Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng có bồi thường Quyền và nghĩa vụ của
hai bên tham gia hợp đồng bảo hiểm thể hiện mối quan hệ tiền tệ rõ nét Tức là
người tham gia bảo hiểm phải trả bằng cách nộp phí bảo hiểm mới được đảm
bảo có quyền lợi kinh tế từ doanh nghiệp bảo hiểm Vì vậy dù hợp đồng đã
được ký kết, nhưng người tham gia bảo hiểm chưa nộp phí thì hợp đồng vẫn
chưa có hiệu lực và người tham gia chưa thể đòi hưởng quyền lợi của mình
- Hợp đồng bảo hiểm là loại hợp đồng may rủi Trong thời hạn hiệu lực
hợp đồng, nếu rủi ro thuộc trách nhiệm bảo hiểm xảy ra, bên tham gia bảo hiểm
sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hoặc chi trả Trái lại, nếu rủi ro
thuộc trách nhiệm bảo hiểm không xảy ra, mặc dù người được bảo hiểm đã nộp
phí bảo hiểm, nhưng người được bảo hiểm sẽ không nhận được bất cứ một
khoản hoàn trả nào từ phía doanh nghiệp bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm
chấp nhận rủi ro từ phía bên tham gia bảo hiểm chuyển giao cho họ, đổi lại
doanh nghiệp bảo hiểm nhận được phí bảo hiểm Nhưng rủi ro này mới tồn tại
ở trạng thái tương lai, có thể xảy ra, có thể không xảy ra Vì thế không xác định
được hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm khi ký kết hợp đồng và người ta quan
niệm là loại hợp đồng may rủi
2.1.1.3 Một số khái niệm dùng trong hợp đồng bảo hiểm hàng hoá
XNK bằng đường biển
-Giá trị bảo hiểm: Một hợp đồng bảo hiểm không thể không đề cập đến
giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm Đây là yếu tố cơ bản để tính phí và giải
quyết bồi thường Giá trị bảo hiểm của hàng hoá được bảo hiểm phải là giá trị
do người bảo hiểm khai báo và được người bảo hiểm thừa nhận Trong trường
Trang 31hợp nếu người bảo hiểm không khai báo được giá trị bảo hiểm thì có thể áp
dụng cách tính giá trị bảo hiểm như sau:
+ + Cước phí
vận chuyển
+ + Phí bảo hiểm
=
=
C CIF
Trừ khi có thoả thuận khác, trong giá trị bảo hiểm khai báo, người được
bảo hiểm có thể tính gộp cả tiền lãi ước tính Tuy nhiên, tiền lãi này không
vượt quá 10% giá trị bảo hiểm
Giá trị hàng hoá được bảo hiểm = CIF + lãi ước tính (10% CIF)
Nếu số tiền bảo hiểm hàng hoá nhỏ hơn giá trị bảo hiểm thì người bảo
hiểm sẽ bồi thường những mất mát, hư hỏng và các chi phí khác liên quan
thuộc phạm vi bảo hiểm trên cơ sở tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo
hiểm
Nếu số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm thì phần cao hơn đó không
được thừa nhận
-Số tiền bảo hiểm là toàn bộ hay một phần giá trị bảo hiểm, do người
được bảo hiểm yêu cầu và được bảo hiểm Về nguyên tắc, số tiền bảo hiểm chỉ
có thể nhỏ hơn hoặc bằng giá trị bảo hiểm Nếu số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị
bảo hiểm thì phần lớn đó sẽ không được tính Ngược lại, nếu số tiền bảo hiểm
nhỏ hơn giá trị bảo hiểm, tức là người được bảo hiểm tự bảo hiểm lấy một
phần, thì người bảo hiểm cũng chỉ bồi thường trong phạm vi số tiền bảo hiểm
Trong trường hợp tổn thất bộ phận, người bảo hiểm sẽ bồi thường theo tỷ lệ số
tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm
Trang 32-Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà người được bảo hiểm phải trả cho
người bảo hiểm để được bồi thường khi có tổn thất xảy ra cho đối tượng bảo
hiểm do các rủi ro đã thoả thuận gây nên Phí bảo hiểm được tính toán trên cơ
sở thống kê tổn thất nhằm đảm bảo trang trải tiền bồi thường và có lãi
Phí bảo hiểm đối với hàng hoá XNK được tính toán trên cơ sở tỷ lệ phí
bảo hiểm và phụ thuộc vào số tiền bảo hiểm hoặc giá trị bảo hiểm
I = R.A Nếu A < V
I = R.V nếu A = V
Khi XNK theo điều kiện FOB hoặc CFR thì :
I = R.CIF = R(C+F) (1-R)
Khi XNK theo điều kiện CIF (hoặc CIP) thì :
I = R.110% CIF (hoặc CIP)
- Rủi ro là những tai nạn, tai họa, sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu
nhiên hoặc những mối đe doạ nguy hiểm khi xảy ra thì gây tổn thất cho đối
tượng bảo hiểm, ví dụ tàu đắm hàng mất, hàng bị đổ vỡ, hư hỏng
- Tổn thất là những thiệt hại, hư hỏng, mất tài sản của đối tượng bảo
hiểm do rủi ro gây ra Nếu rủi ro là mối đe doạ, là nguyên nhân gây ra tổn thất,
thì tổn thất là cái xảy ra là hậu quả của rủi ro Tổn thất được chia thành nhiều
loại
+ Căn cứ vào mức độ, quy mô tổn thất:
Tổn thất bộ phận : là tổn thất một phần đối tượng bảo hiểm của một
hợp đồng bảo hiểm
Trang 33 Tổn thất toàn bộ : Gồm tổn thất toàn bộ thực tế (tổn thất do đối tượng
bảo hiểm bị phá huỷ hoàn toàn hay bị hư hỏng nghiêm trọng không còn là vật
phẩm như cũ hoặc người được bảo hiểm bị tước quyền sở hữu đối với đối
tượng bảo hiểm) và tổn thất toàn bộ ước tính (những tổn thất mà xét thấy không
sao tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực tế hay những chi phí để sửa chữa, khôi
phục và đưa đối tượng bảo hiểm về nơi đến bằng vượt quá giá trị của đối tượng
bảo hiểm
+ Căn cứ vào quyền lợi, trách nhiệm :
Tổn thất riêng: Là tổn thất của riêng từng quyền lợi bảo hiểm do thiên
tại, tai nạn bầt ngờ gây nên
Tổn thất chung: Là những thiệt hại xảy ra do những chi phí hy sinh đặc
biệt được tiến hành một cách cố ý và hợp lý nhằm cứu hàng hoá và cước phí
khỏi bị tai hoạ trong hành trình chung trên biển
Từ sự trình bày trên, ta thấy cách tính giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm,
phí bảo hiểm, cách xác định tổn thất trong hợp đồng bảo hiểm hàng hoá XNK
bằng đường biển có những đặc thù riêng Cách tính trên là hoàn toàn phù hợp
với thông lệ quốc tế, và cũng phù hợp với điều kiện thực tế của các doanh
nghiệp kinh doanh XNK, cũng như doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm của
Việt Nam và nước ngoài, nên đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này tham
gia vào thị trường bảo hiểm hàng hoá XNK bằng đường biển một cách thuận
lợi
Hiện nay do chưa có một văn bản nào quy định về mức phí bảo hiểm,
chính bởi vậy, các công ty bảo hiểm thường tự đặt ra mức phí bảo hiểm riêng
của mình để cạnh tranh với các công ty bảo hiểm khác Tuy nhiên để đảm bảo
quyền lợi của các doanh nghiệp bảo hiểm trước sự cạnh tranh đó, các doanh
Trang 34nghiệp bảo hiểm đã liên kết lại trong tổ chức "Hiệp hội bảo hiểm" để điều hoà
và giữ thế cân bằng trong kinh doanh trước hiện tượng giảm phí bảo hiểm, tăng
tỷ lệ hoa hồng; đồng thời liên kết dưới các hình thức liên doanh với các doanh
nghiệp bảo hiểm nước ngoài để tăng tiềm lực kinh tế , kinh nghiệm và mở rộng
thị trường
2.1.2 Các đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên
chở bằng đường biển
2.1.2.1 Chủ thể hợp đồng
Cũng giống như hợp đồng bảo hiểm thông thường, tham gia hợp đồng
bảo hiểm hàng hoá XNK chuyên chở bằng đường biển gồm có: Doanh nghiệp
bảo hiểm (người bảo hiểm), người được bảo hiểm, người hưởng quyền lợi bảo
hiểm, người đại lý, người môi giới v.v Tuy nhiên, hợp đồng bảo hiểm hàng
hoá XNK chuyên chở bằng đường biển có liên quan chặt chẽ đến một chủ thể
nữa là các công ty vận tải Vì vậy, trong phần dưới đây, khoá luận sẽ tập trung
vào phân tích ba chủ thể chính của hợp đồng này là người mua bảo hiểm, người
bảo hiểm và người chuyên chở
- Người mua bảo hiểm: Tuỳ theo điều kiện cơ sở giao hàng, người mua
bảo hiểm có thể là người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu, ví dụ người mua
FOB ký hợp đồng bảo hiểm cho lô hàng thì người mua bảo hiểm đồng thời là
người được bảo hiểm Người mua bảo hiểm là người nộp phí bảo hiểm khi ký
hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm Người mua bảo hiểm được coi
là đối lập với doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm phải có đủ ba
điều kiện sau:
+ Có năng lực hành vi dân sự tham gia bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm
Trang 35+ Có quan hệ thiết thân với tài sản của đối tượng bảo hiểm Luật pháp
không cho phép yêu cầu bảo hiểm cho những đối tượng không có mối quan hệ
thiết thân với bản thân mình mà chỉ hám lợi bồi thường
+ Có sự thoả thuận về nộp phí bảo hiểm
- Người bảo hiểm : còn được gọi là bên nhận bảo hiểm được hiểu là các
doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận việc bồi thường khi rủi ro xảy ra thuộc trách
nhiệm bảo hiểm trên cơ sở doanh nghiệp này được người mua bảo hiểm đóng
một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm cũng có nghĩa là
người kinh doanh bảo hiểm thông qua hoạt động bảo hiểm để kiếm thu nhập và
lợi nhuận Vì trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm rất quan trọng nên pháp
luật của các nước cũng có nhiều hạn chế về hình thức tổ chức doanh nghiệp
bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo đúng
pháp luật, không được vi phạm pháp lệnh, chính sách, chế độ của nhà nước
hoặc gây thiệt hại quyền lợi hợp pháp của người được bảo hiểm, nếu không sẽ
bị sử phạt về kinh tế, thậm chí có thể bị cưỡng chế đình chỉ hoạt động kinh
doanh bảo hiểm
Theo điều 59 Luật kinh doanh bảo hiểm thì "doanh nghiệp bảo hiểm bao
gồm doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước, công ty cổ phần bảo hiểm, tổ chức bảo
hiểm tương hỗ, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, doanh nghiệp bảo hiểm
100% vốn nước ngoài" Như vậy chúng ta có thể khẳng định rằng quy định về
chủ thể của pháp luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam vừa phù hợp với tính chất
đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, vừa phù hợp với thực tiễn của nền
kinh tế nước ta là "khuyến khích phát triển, đa dạng hoá hoạt động kinh doanh
bảo hiểm của các thành phần kinh tế và mở cửa hợp tác với nước ngoài…" 1
Vì vậy người bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập