1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch ở Công ty kim khí Hà Nội

83 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 794,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ngày nay công tác lập kế hoạch Doanh nghiệp được xem là một quá trình xác định mục tiêu, các phương án huy động nguồn lựcbên trong và bên ngoài nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã

Trang 1

LUẬN VĂN:

Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch ở Công ty kim khí Hà Nội.

Trang 2

Lời nói đầu

Hơn 10 năm đã qua đi, đó là khoảng thời gian đất nước ta được hồi sinh, nhưng cũng

là khoảng thời gian khó khăn và thử thách đối với các doanh nghiệp nói chung và của các doanh nghiệp Nhà nước nói riêng vốn đã quen với cơ chế quản lý bảo hộ của Nhà nước, nay phải chịu sự sàng lọc khắc nghiệt của cơ chế thị trường để tồn tại và phát triển Sự đổi mới này đã tạo ra một bước cho sự phát triển kinh tế Việt nam Để đứng vững trong cơ chế mới, chúng ta không thể làm gì khác là phải giám tiếp nhận cái đúng, cái mới và xoá bỏ những tư tưởng trì trệ, bảo thủ, từ đó hình thành lên đồng bộ các yếu tố thị trường, tạo điều kiện cho thị trường phát triển hữu hiệu

Cơ chế thị trường nếu biết vận hành nó sẽ phát huy được những mặt tích cực mà chúng ta khong thể phủ nhận được Nhưng nó cũng đặt ra một yêu cầu: cơ chế quản lý kinh tế Nhà nước phải thực sự đổi mới Chuyển sang nền kinh tế thị trường đồng nghĩa với Nhà nước đã chuyển giao cho các Doanh nghiệp Nhà nước quyền lợi to lớn và gắn liền với

nó là những trách nhiệm nặng nề khi sự hỗ trợ của còn lại của Nhà nước là không đáng kể Chính vì vậy, để thích nghi được trong cơ chế thị trường, mỗi Doanh nghiệp phải tìm ra đáp án của 3 vấn đề kinh tế lớn, đó là: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? và sản xuất như thế nào? phù hợp với năng lực và nghành nghề của mình Điều quan trọng là Doanh nghiệp phải làm như thế nào để đáp ứng được một cách tốt nhất nhu cầu thị trường Đó là vấn đề sống còn của mỗi Doanh nghiệp, đó cũng chính là lý do tại sao mỗi Doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình một phương án sản xuất kinh doanh tối ưu

Vì vậy có thể nói, công tác lập kế hoạch là một công cụ chủ yếu, hữu hiệu để Doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển cho mình Trong những năm gần đây, công tác công tác lập kế hoạch đã có sự đổi mới Tuy nhiên sự đổi mới đó đặc biệt là về công tác lập kế hoạch Doanh nghiệp vẫn còn nhiều vấn đề cần được bàn bạc và tiếp tục được hoàn thiện trên nhiều phương diện từ nhận thức của người làm kế hoạch đến nội dung phương pháp làm kế hoạch

Trong thời gian thực tập tại Công ty Kim khí Hà Nội tôi đã tìm hiểu về công tác công tác lập kế hoạch và đi sâu nghiên cứu công tác lập kế hoạch và thực hiện đề tài:

Trang 3

“ Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch ở Công ty kim khí Hà Nội.”

Nội dung của đề tài bao gồm những phần sau:

Phần thứ nhất: Những vấn đề lý luận cơ bản của công tác xây dựng kế hoạch sản

xuất kinh doanh trong Doanh nghiệp

Phần thứ hai: Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh ở công

ty Kim khí Hà Nội

Phần thứ ba: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất

kinh doanh của Công ty Kim khí Hà Nội

Phần thứ nhất Những vấn đề lý luận cơ bản của công tác xây dựng

kế hoạch sản xuất kinh doanh trong Doanh nghiệp

I Sự cần thiết khách quan của công tác kế hoạch trong cơ chế thị trường

1 Quan niệm về kế hoạch

Khi các Doanh nghiệp tiến hành thực hiện sản xuất kinh doanh việc đầu tiên của họ

là lập kế hoạch cho việc thực hiện đó kế hoạch sản xuất kinh doanh là một công cụ quản

lý của các Doanh nghiệp và tổ chức kinh tế nhằm đem lại hiệu quả cho các Doanh nghiệp

và các tổ chiức đó

Cũng như mọi phạm trù quản lý khác, đối với công tác công tác lập kế hoạch cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau Mỗi cách tiếp cận đều xem xét kế hoạch theo một góc độ riêng và đều cố gắng biểu hiện đúng bản chất của phạm trù quản lý này

Cách tiếp cận theo quá trình cho rằng: kế hoạch sản xuất kinh doanh là một quá trình

có tính chất liên tục từ khi chuẩn bị xây dựng kế hoạch cho đến khi thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch để đưa Doanh nghiệp phát triển theo các mục tiêu đã xác định

Theo Steiner thì “ công tác lập kế hoạch là một quá trình bắt đầu từ việc thiết lập các mục tiêu và việc quyết định chến lược, các chính sách, kế hoạch chi tiết để đạt được mục tiêu Nó cho phép thiết lập các quyết định khả thi và nó bao gồm chu kỳ mới của việc thiết lập mục tiêu và quyết định chiến lược nhằm hoàn thiện hơn nữa”

Trang 4

Trong cách tiếp cận này, khái niệm hiện tượng tương lai, tính liên tục của quá trình,

sự gắn bó của hàng loạt hành động và quyết định để đạt được mong muốn đều đã được thể hiện

Công tác lập kế hoạch chến lược là một trạng thái ý tưởng, đó là sự suy nghĩ về sự tiến triển của Doanh nghiệp, về những gì mong muốn và cách thức để thực hiện chúng ngày nay công tác lập kế hoạch Doanh nghiệp được xem là một quá trình xác định mục tiêu, các phương án huy động nguồn lực(bên trong và bên ngoài) nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã xác định công tác lập kế hoạch chú ý đến tính phức tạp của các vấn đề: số lượng các bộ phận kế hoạch, tính chất đặc điểm, chức năng, thời hạn, đối tượng khác nhau cần được cân nhắc kỹ lưỡng

Công tác lập kế hoạch của các Doanh nghiệp nhằm mục tiêu sử dụng một cáchi hợp

lý nhất toàn bộ giá trị tài sản Nhà nước giao cho tập thể lao động trong xí nghiệp trực tiếp quản lý để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng xuất lao động, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế xã hội, tạo nhiều sản phẩm và sản xuất hàng hoá, dịch

vụ cần thiết cho xã hội, tạo nguồn thu cho ngân sách quốc gia và cải thiện từng bước đời sống công nhân viên chức.công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh nhằm xác định số lượng từng loại sản phẩm, giá cả, chất lượng sản phẩm để đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường và hiệu quả ngày càng cao

Cách tiếp cận theo nội dung và vai trò:

Theo HENRYPAYH, kế hoạch là một trong những hoạt động cơ bản của chu trình quản lý cấp công ty xét về mặt bản chất hoạt động này là nhằm xem xét mục tiêu các phương án kinh doanh, bước đi trình tự và cách tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh

Theo RONNEY: hoạt động công tác lập kế hoạch là một trong những hoạt động nhằm tìm ra con đường để huy động và sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả để phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh

Trong thời kỳ bao cấp, ở Việt nam quan niệm: công tác lập kế hoạch là tổng thể các hoạt động nhằm xác định các mục tiêu, các nhiệm vụ của sản xuất kinh doanh, về tổ chức đời sống và tổ chức thực hiện để đạt được các mục tiêu đó, trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan, các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ

Trang 5

Các khái niệm trước đây cho thấy công tác lập kế hoạch được đề cập chủ yếu thông qua các nội dung của nó mà chưa làm nổi bật đặc tính về thời gian, mức độ những nét đặc trưng của công tác lập kế hoạch

Có quan niệm lại cho rằng: kế hoạch là tập hợp các mục tiêu và các phương thức để thực hiện mục tiêu

Việc lập kế hoạch là quyết định trước xem trong tương lai phải làm gì? làm như thế nào? và làm bằng công cụ gì? khi nào làm? và ai làm?

Mặt dù ít tiên đoán được chính xác trong tương lai và những yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát có thể phá vở cả những kế hoạch tốt nhất đã có, nhưng không có kế hoạch thì các sự kiện xẩy ra một cáchi ngẫu nhiên và ta sẽ mất đi khả năng hành động một cách chủ động

2.Đặc điểm của thị trường và công tác xây dựng kế hoạch

Cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước mà nước ta đang hướng tới xây dựng đã và đang đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần phải được giải quyết Riêng trong lĩnh vực công tác lập kế hoạch, trong những năm chuyển đổi cơ chế vừa qua

đã tồn tại những ý kiến rất khác nhau, thậm trí trái ngược nhau về vai trò và sự tồn tại khách quan của công tác này Những cuộc tranh luận, trao đổi theo các hướng khác nhau

đã tương đối thống nhất với nhau Bài học thực tế, bài học và kinh nghiệm của các nước

có nền kinh tế thị trường phát triển, cùng với các kết quả ngghiên cứu bước đầu ở nước ta cho phép khẳng định sự tồn tại của công tác công tác lập kế hoạch trong cơ chế quản lý mới, cơ chế quản lý thị trường có sự quản lý của Nhà nước là một tất yếu khi quan Trong điều kiện này, công tác lập kế hoạch cần được tăng cường và đổi mới, bởi lẽ:

1.1 Về mặt lý luận

1.1.1 Những đặc trưng của nền kinh tế thị trường và ưu nhược điểm của nó

Sự vận động của thị trường dựa trên 3 quy luật sau :

- Quy luật giá trị : Tức trao đổi hàng hoá được tiến hành phù hợp với hoa phí lao động xã hội cần thiết để tạo ra nó Quy luật giá trị được biểu hiện trên thị trường thông qua quy luật giá cả biến động xoay quanh giá trị

- Quy luật cung, cầu : Tức sự thay đổi thường xuyên giữa nhu cầu với hàng hoá được cung cấp đã tạo ra một điểm cân bằng mới.Tại đó cung cầu và giá cả được xác định đối với

Trang 6

- Ưu điểm của nền kinh tế thị trường

Nền kinh tế thị trường có tính năng động và thích nghi rất cao trước các biến động của đời sống kinh tế, xã hội, chính trị ở đó tính cạnh tranh cao đòi hỏi các chủ thể kinh tế phải đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, đổi mới cung cách quản lý Cơ chế thị trường mở ra một môi trường thông thoáng, thuận lợi cho mọi người lao động và các tổ chức kinh tế phát huy tính tự chủ tự làm, tự chịu trước trách nhiệm trước các việc làm của mình đồng thời được đánh giá khên thưởng kỷ luật đúng với thực lực Các quan hệ kinh tế được mở rộng không chỉ giữa các tổ chức kinh tế trong nước với nhau và giữa nước ta với các nước trên thế giới, tạo điều kiện giúp đỡ nhau về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý

để phát triển Có thể nói rằng, kinh tế thi trường vừa là động lực vừa là phương tiện của sự phát triển

- Nhược điểm của nền kinh tế thị trường

Mặc dù mang trong mình những ưu điểm nổi bật Nhưng kinh tế thị trường cũng

có những khuyết tật của nó Đó là sự tự phát trong sản xuất kinh doanh, từ đó gây ra sự mất cân đối kinh tế nghành, kinh tế vùng, làm lãng phí nguồn lực, khủng hoảng thừa thiếu

về hàng hoá, phân hoá giàu nghèo Không những thế, nó còn gây ra những hậu quả về mặt

xã hội như làm xói mòn phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp của đân tộc Bởi tính thực dụng và mục đích kinh doanh là lợi nhuận đã được đề cao quá mức ở một số cá nhân hoặc tổ chức kinh tế… Do vậy, để có được sự phát triển lành mạnh thì cần phải có sự can thiệp của nhà nước bằng các công cụ chính sách hữu hiệu không chỉ riêng quốc gia nào

Đặc điểm của công tác lập kế hoạch

Công tác lập kế hoạch là hoạt động chủ quan có ý thức, có tổ chức của con người nhằm xác định các mục tiêu, phương án, buớc đi, trình tự và cách thức tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó kế hoạch là yêu cầu của bản thân quá trình lao động của con người và gắn bó với quá trình đó Nhân tố quan hệ sản xuất chỉ có tác động chủ

Trang 7

và mở rộng phân công hiệp tác lao động, phạm vi và trình độ kế hoạch này càng được nâng cao tương xứng Trên phương diện đó công tác lập kế hoạch là thành quả chung của mọi hình thái kinh tế xã hội

ở nước ta, xuất phát từ mô hình kinh tế mà chúng ta đang hướng tới xây dụng là

mô hình kinh tế hỗn hợp thích ứng với nó là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Kế hoạch được xác định là một trong những công cụ điều tiết để Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế

Như vậy, công tác lập kế hoạch là việc làm chủ quan của con ngưòi nhằm can thiệp và điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh với mong muốn chúng càng ngày càng có hiệu quả và ổn định nhưng công tác lập kế hoạch lại có nhược điểm lớn là luôn luôn có độ sai lệch Chỉ có điều là sai lệch ít hay nhiều tuỳ thuộc vào làm kế hoạch Bởi vì các phương án và quyết định kế hoạch thường dựa vào kết quả dự đoán, dự báo, về hiện tượng sẽ xẩy ra trong tương lai vì vậy tất yếu sẽ xẩy ra khoảng cách giữa thực tế và kế hoạch, điều này phải được tiến hành điều chỉnh kịp thời mà mọi sự thay đổi phương án kế hoạch thường kéo theo hậu quả ảnh hưởng tới lĩnh vực khác có liên quan

Từ đặc điểm của công tác lập kế hoạch và thị trường cho chúng ta thấy sự mâu thuẫn nhưng thống nhất của hai vấn đề chủ quan và khách quan do đó nhất thiết chúng phải được gắn kết với nhau để phát huy những thế mạnh và bù đắp thiếu hụt cho nhau vì mục tiêu đưa hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển nhanh và ổn định Thị trường

sẽ xuất hiện ở mọi khâu của kế hoạch nó là căn cứ xây dụng thực hiện đồng thời là tiêu chuẩn để đánh giá kế hoạch Ngược lại , kế hoạch làm lành mạnh hoá hoạt động thị trường biến chúng thành phương tiện hữu hiệu để thực hiện các mục đích chủ quan của con người 1.1.2 Về mặt thực tiễn

Trong những năm đầu chuyển đổi cơ chế, công tác kế hoạch không được coi trọng đúng mức Vì vậy, quản lý Doanh nghiệp bị cuốn hút và trôi nổi theo thị trường

Trang 8

Công tác lập kế hoạch không những không phát huy được tác dụng là điều chỉnh thị trường mà còn gây ra sự gò bó cứng nhắc thiếu linh hoạt trong quản lý biểu hiện cụ thể là những cơn sốt về nhà đất, ngoại tệ, vốn, thừa thiếu sắt thép, xi măng, sự tăng trưởng đột biến cũng như giảm nhanh các dịch vụ, du lịch trong khi công nghiệp, nông nghiệp phát triển ì ạch sự phát triển nhanh chóng và quá tải ở các thành phố lớn trong khi các thành phố khác vẫn là nền văn minh nông nghiệp người nông dân ở các tỉnh nghèo ùn ùn kéo ra thành phố kiếm sống từ người già đến trẻ em kéo theo nẩy sinh nhiều tệ nạn xã hội khác Nền kinh tế Việt Nam thực sự bị chao đảo trước cơn lốc thị trường Mặt khác, kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới đã chỉ ra rằng không chỉ để bàn tay vô hình điều khiển nền kinh tế từ vi mô đến vĩ mô mà phải có sự can thiệp của Nhà nước bằng nhiều cách trong đó có sử dụng công tác lập kế hoạch

Tóm lại : công tác lập kế hoạch vãn cần thiết và phải được phát huy trong cơ chế mới: cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Chỉ có điều khác trước là nó sẽ được đổi mới và ngày càng được hoàn thiện hơn về nội dung phương pháp và tổ chức để phù hợp với thực tiễn khách quan, phát huy được thế mạnh vốn có của một công cụ quản lý gián tiếp quan trọng

2 Vai trò của công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường

Trong cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, kế hoạch sản xuất - kinh doanh của các Doanh nghiệp cũng chỉ là những chỉ tiêu pháp lệnh mà Nhà nước giao cho các đơn

vị Cùng với các chỉ tiêu đó, Nhà nước quy định giá bán, địa điểm tiêu thụ

3 vấn để kinh tế cơ bản của Doanh nghiệp đều do Nhà nước quy định Do vậy nhiều Doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả, không có tính sáng tạo, tự chủ, không kích thích sản xuất phát triển

Khi chuyển sang mô hình kinh tế hỗn hợp, cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, kế hoạch là khâu đầu tiên, là bộ phận quan trọng của công tác quản lý Không

có kế hoạch một Doanh nghiệp, hay một tổ chức bất kỳ nào sẽ như con thuyền không lái

và chẳng ai biết nó sẽ đi tới đâu Hoạt động kế hoạch hoá sẽ giúp cho các Doanh nghiệp chủ động hoạch định các mục tiêu cũng như thực hiện chúng Nó giúp mọi người biết mục tiêu cần đạt được và cần phải làm gì để thực hiện mục tiêu đó Thiếu kế hoạch Doanh nghiệp sẽ không tiến tới mục tiêu một cách hữu hiệu, hơn nữa nó vạch ra những tác động

Trang 9

quản trị nhằm đối phó với những biến đổi Các phương án với sản phẩm khác nhau theo thời gian (tuỳ thuộc vào thời gian của chiến lược, chương trình, dự án, kế hoạch tác nghiệp…) là công cụ để điều hành chỉ huy sản xuất, là cơ sở để xác định nhiệm vụ và mối quan hệ cộng tác giữa các bộ phận và giữa người lao động trong quá trình thực hiện nhiệm

vụ sản xuất - kinh doanh kế hoạch hoá góp phần giúp các Doanh nghiệp thắng lợi trong cạnh tranh bằng cách xây dụng các kế hoạch nhằm khai thác triệt để lợi thế so sánh, tập trung tận dụng thế mạnh của Doanh nghiệp kế hoạch sản xuất - kinh doanh đảm bảo sự

an toàn chống rủi ro kinh doanh cho Doanh nghiệp thông qua việc định ra nhiệm vụ an toàn, trong đó khả năng rủi ro vẫn có thể xẩy ra nhưng chỉ là thấp nhất Các kế hoạch dự phòng cho phép ứng phó một cách nhanh nhạyvới những thay đổi mà không lường trước tuy vậy, cần tránh tu tưởng xây dụng kế hoạch theo kiểu “được ăn cả ngã về không“ Khi xây dụng kế hoạch người ta thường phải tính toán sao cho khắc phục được tình trạng dàn trải nguồn lực hoặc tránh không sử dụng hết nguồn lực nhằm khai thác tối đa nguồn lực của Doanh nghiệp kế hoạch là sự kết hợp giữa độ chín muồi với thời cơ, thể hiện những tham vọng trong tương lai nhằm đạt mục tiêu tồn tại và phát triển không ngừng của Doanh nghiệp

Lập kế hoạch là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý của Doanh nghiệp với việc phác thảo các mục tiêu và phương án thực hiện góp phần không nhỏ vào việc xác định đúng các mục tiêu hướng đi từ đó xác lập đánh giá, lựa chọn các phương án phối hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài để thực hiện có kết quả tốt các mục tiêu sản xuất - kinh doanh

II Phương pháp lập kế hoạch sản xuất - kinh doanh

1 Phân loại các chỉ tiêu kế hoạch

1.1 Các loại kế hoạch sản xuất - kinh doanh

Tuỳ theo các cách phân loại, theo những tiêu thức khác nhau mà kế hoạch sản xuất - kinh doanh được chia thành:

 Kế hoạch dài hạn (kế hoạch chiến lược )

Nhằm xác định các lĩnh vực đã tham gia, đa dạng hoá hoặc cải thiện hoạt động trên các lĩnh vực hiện taị, xác địng các mục tiêu chính sách Giải pháp dài hạn thường từ 4 – 5 năm, về mặt tài chính, đầu tư nghiên cứu phát triển con người

Trang 10

- kế hoạch trung hạn thường từ 2 – 3 năm nhằm phát thảo các chính sách, chương trình trung hạn để thực hiện các mục tiêu chính sách, giải pháp được hoạch định trong chiến lược lựa chọn

- Kế hoạch hàng năm: là sự cụ thể hoá nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh dựa vào mụa tiêu chiến lược, kế hoạch, kết quả điều tra, các căn cứ xây dựng kế hoạch phù hợp với điều kiện năm kế hoạch

Kế hoạch dài hạn, trung hạn, hàng năm có mối quan hệ hữu cơ với nhau Kế hoạch dài hạn giữ vai trò trung tâm, chỉ đạo trong hệ thống kế hoạch sản xuất - kinh doanh, là cơ sở để xây dựng kế hoạch trung hạn và hàng năm Nên những nhiệm vụ và nội dung của kế hoạch chiến lược được thể hiện trong nội dung và chiến lược hàng năm Mặt khác, thông qua việc lập kế hoạch hàng năm có thể phát huy được chỗ chưâ cân đối, không hợp lý của kế hoạch dài hạn để kịp thời điều chỉnh và có những biện pháp thích hợp Như vậy không có nghĩa là kế hoạch hàng năm là một bộ phận mang tính chất tỷ lệ đơn thuần máy móc của kế hoạch dài hạn

ở nước ta, nội dung, phương pháp xác định, chỉ tiêu biểu mẫu của kế hoạch hàng năm được thể hiện theo quyết định 217/ HĐBT ngày 14/11/1987 và các văn bản sửa đổi bao gồm:

- Kế hoach sản xuất và tiêu thụ sản phẩm: Là bộ phận chủ đạo và trung tâm của kế hoạch hàng năm, nó còn là căn cứ để tính toán các chỉ tiêu khác, kế hoạch sản xuất tiêu thụ gồm hai bộ phận là kế hoạch sản xuất và kế hoạch tiêu thụ Nội dung của kế hoạch sản xuất thể hiện qua các chỉ tiêu sản lượng, sản phẩm chủ yếu mà các loại sản phẩm tính bằng đơn vị hiện vật Nội dung của kế hoạch tiêu thụ được phản ánh qua các chỉ tiêu giá trị, sản lượng hàng hoá thực hiện và số lượng sản phẩm mỗi loại được tiêu thụ…

- Kế hoạch vật tư kỹ thuật: Là bộ phận tái sản xuất của Doanh nghiệp Nó phản ánh thu mua sử dụng hợp lý tiết kịêm nguyên liệu đẩm bảo có hiệu quả kế hoạch sản xuất tiêu thụ nội dung chủ yếu thể hiện qua các chỉ tiêu số lượng vật tư cần dùng, dự trữ, cần thu mua trong năm kế hoạch

- Kế hoạch lao động tiền lương là kế hoạch đảm bảo số lượng và chất lượng lao động nó thể hiện khả năng sử dụng có hiệu quả sức lao động, quỹ tiền lương, quỹ tiền thưởng…nội dung thể hiện qua năng suất lao động

Trang 11

-Kế hoạch nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật: là bộ phận quan trọng của kế hoạch sản xuất kinh doanh Kế hoạch phản ánh khả năng thực hiện có hiệu quả các mục tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh Nội dung của kế hoạch được thể hiện qua các đề tầi nghiên cứu khoa học, phương pháp áp dụng quy trình công nghệ tiên tiến, sử dụng máy móc thiết bị kỹ thuật mới

-Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản: Là bộ phận của kế hoạch đảm bảo phát triển và

mở rộng sản xuất kinh doanh trên cơ sở xác định hợp lý vốn đầu tư cơ bản và sửa chữa tài sản của Doanh nghiệp Nội dung cuả kế hoạch được thể hiện qua cấc chỉ tiêu về xây dựng

cơ bản

-Kế hoạch giá thành sản phẩm đảm bảo việc xác định phù hợp và tiết kiệm các loại chi phí sản xuất cho một đơn vị sản phẩm Nội dung bao gồm các chỉ tiêu như giá thành đơn vị chủ yếu, giá thành toàn bộ, tỷ lệ hạ giá thành…

+ Kế hoạch tài chính là kế hoạch tổng hợp toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp dưới hình thức tiền tệ Nó phản ánh tổng chi phí cho các dự án, hiệu quả kinh tế sẽ đạt được của dự án đó…nội dung gồm các chỉ tiêu khấu hao tài sản cố định, định mức vốn lưu động các chỉ tiêu luân chuyển vốn lưu động

+ Kế hoạch đời sống phản ánh mức độ cải thiện đời sống, sử dụng quỹ phúc lợi…các bộ phận kế hoạch trên có mối qua hệ chặt chẽ trên, vì vậy khi xây dựng cũng như chỉ đạo thực hiện phải chú ý tới mối quan hệ đó

Nếu căn cứ vào mối quan hệ gắn bó giữa các loại hoạt động công tác lập kế hoạch gồm:

- Bộ phận kế hoạch điều kiện hay hỗ trợ nhằm xác định các mục tiêu, giải pháp các phương án huy động, khai thác khả năng và nguồn lực nhằm xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh gắn liền với từng phương án được hoạch định

- Các kế hoạch, điều kiện hay hỗ trợ nhằm xác định các mục tiêu giải pháp phương

án huy động, khai thác các khả năng và nguồn lực nhằm thực hiện có hiệu quả các phương

án kế hoạch, mục tiêu Việc xác định các kế hoạch này căn cứ và gắn bó với kế hoạch , mục tiêu, giải pháp, điều kiện thực hiện các hoạt động kế hoạch hoá và quản lý Độ đài về thời gian và yêu cầu của kế hoạch, mục tiêu sẽ quyết định các vấn đề tương ứng của kế hoạch, điều kiện Hơn nữa việc xây dựng và thực hiện kế hoạch điều kiện là nhằm đảm

Trang 12

bảo và năng cao tính khả thi của các phương án và các chương trình kế hoạch của Doanh nghiệp

1.2 Hệthống chỉ tiêu kế hoạch

-Căn cứ vào tính chất phản ánh các chỉ tiêu phân thành:

+ Các chỉ tiêu định lượng phản ánh hướng phấn đấu của Doanh nghiệp về mặt quy

mô số lượng… của các hoạt động bao gồm giá trị tổng sản lượng, số lượng lao động, giá trị tài sản cố định

+ Các chỉ tiêu định tính bao gồm các chỉ tỉêu phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất - kinh doanh Chẳng hạn năng suất lao động, tỉ lệ lợi nhuận, tỉ lệ doanh lợi…

- Căn cứ vào đơn vị tính toán chia thành

+ Các chỉ tiêu hiện vật, đó là các chỉ tiêu được đo lường bằng các đơn vị tiền tệ( nội

tệ hoặc ngoại tệ)

- Căn cứ vào phân cấp quản lý các chỉ tiêu, hệ thống chỉ tiêu kế hoạch bao gồm + Các chỉ tiêu pháp lệnh là các chỉ tiêu Nhà nước giao kế hoạch cho các Doanh nghiệp Nhà nước đó là các chỉ tiêu được quy định thống nhất về nội dung phương pháp tính toán và có tính chất trong thực hiện Hiện tại Nhà nước giao cho các Doanh nghiệp từ

1 – 3 chỉ yiêu pháp lệnh Trong tương lai hệ thống chỉ tiêu này sẽ được thay thế bằng các đơn đặt hàng Nhà nước có điều kiện và các bộ luật tương ứng

+ Các chỉ tiêu hướng dẫn là các chỉ tiêu không có ý nghĩa bắt buộc trong thực hiện, song lại bắt buộc về nội dung và phương pháp tính toán

+ Các chỉ tiêu tính toán: đó là các chỉ tiêu từng Doanh nghiệp tự quy định và tính toán phục vụ công tác quản lý và công tác lập kế hoạch trong phạm vi Doanh nghiệp

2 Phương pháp luận xây dựng kế hoạch sản xuất - kinh doanh

2.1 Những yêu cầu đổi mới công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp

Công tác lập kế hoạch sản xuất trong cơ chế tập trung quan liêu có những lợi ích nhất định Nhưng khi chuyển sang cơ chế thị trường nó không còn phù hợp nữa do vậy yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với Doanh nghiệp là phải đổi mới công tác kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị mình cho phù hợp với cơ chế thị trường Quá trình đổi mới đó cần quán triệt các yêu cầu chủ yếu sau đây:

Trang 13

- Công tác kế hoạch hoá trong Doanh nghiệp, quán triệt yêu cầu hiệu quả Các Doanh nghiệp hoạt động đều hướng tới mục tiêu hiệu quả, nó là tiêu chuẩn hàng đầu cho việc xây dựng, lựa chọn và quyết định phương án kế hoạch của Doanh nghiệp

- Kế hoạch hoá Doanh nghiệp phải quán triệt yêu cầu hệ thống đồng bộ Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống thống nhất, bao gồm các phân hệ là các Doanh nghiệp Thực hiện yêu cầu này, trong các khâu công tác kế hoạch hoá phải đảm bảo cho mục tiêu hoạt động của Doanh nghiệp đồng hướng và góp phần thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu bao trùm của cả hệ thống

Công tác kế hoạch hoá Doanh nghiệp phải quán triệt yêu cầu” vừa tham vọng vừa khả thi” Mục tiêu lợi nhuận đòi hỏi các Doanh nghiệp công nghiệp phải xây dựng để thực hiện các phương án đó Tuy nhiên các kế hoạch này phải có khả năng thực thi

Công tác kế hoạch hoá Doanh nghiệp phải quán triệt yêu cầu” kết hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu tình thế “ Hay hệ thống mục tiêu kế hoạch phải được xây dựng

và điều chỉnh linh hoạt theo yêu cầu thay đổi của môi trường và điều kiện kinh doanh Công tác kế hoạch hoá Doanh nghiệp phải quán triệt yêu cầu kết hợp đúng đắn các loại lợi ích kinh tế trong Doanh nghiệp kể cả lơị ích xã hội Đây là động lực cho sự phát triển, là cơ sở cho việc thực thi có hiệu quả các phương án kinh doanh

2.2 Căn cứ xây dựng kế hoạch

a.Các định hướng phát triển, chính sách chế độ của Nhà nước

Mô hình kinh tế mới xây dựng theo tinh thần nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VII nêu rõ” nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Thì trước khi trực tiếp điều tiết thông qua các chính sách, pháp luật và công cụ quản lý vĩ mô khác Do vậy, mặc dù Doanh nghiệp lấy lại thị trường làm căn cứ vào chính sách chế độ quy định của Nhà nước là rất cần thiết, nó góp phần làm cho phương án kinh doanh của Doanh nghiệp hợp lý đúng hướng

b Kết quả điều ra nghiên cứu thi trường về nhu cầu đối với từng loại sản phẩm và dịch vụ của từng loại Doanh nghiệp, tình hình cạnh tranh sự biến động giá cả

Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả Kết quả nghiên cứu nhu cầu thị trường phải phản ánh được quy mô, cơ cấu đối với từng sản phẩm và dịch vụ của Doanh nghiệp, có tính đến tác động của các nhân tố làm tăng hoặc giảm cầu để đáp ứng yêu cầu

Trang 14

của công tác hoạch định Nhữnh kết quả nghiên cứu này có thể tập hợp theo mức giá để xác định mục tiêu kinh doanh phù hợp với phân đoạn thị trường hoặc theo khách hàng để đảm bảo sự gắn bó giữa sản xuất với các yếu tố hỗ trợ Căn cứ vào số lượng các đối thủ cạnh tranh, sự biến động giá cả trên thị trường sẽ làm tăng hiệu quả thực hiện của phương

d Hệ thống địng mức kinh tế kỹ thuật

Đây là căn cứ quan trọng làm cơ sở cho công tác hoạch đinh Môi trường kinh doanh biến đổi rấy nhanh đòi hỏi hệ thống này cần được hoàn thiện và sửa đổi sua mỗi chu kỳ kinh doanh Hệ thống định mức kỹ thuật của Doanh nghiệp phải gắn bó phù hợp với hệ thống định mức tiêu chuẩn của nghành và nền kinh tế quốc dân

e.kết quả nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ, hợp lý hoá sản xuất

Kết quả nghiên cứu là căn cứ hàng đầu cho hoạt động nghiên cứu triển khai, xác định phương án sản phẩm, họach định dự trữ và nâng cao hiệu quả kinh doanh Các kết quả nghiên cứu ứng dụng có liên quan đến đổi mới công nghệ thường gắn với phương án đầu

tư phát triển sản xuất trong thời kỳ dài Mặt khác đổi mới cũng có tác động khác nhau đối với sự biến đổi của nhu cầu thị trường điều đó cần được tính trong hoạch định sản xuất về mặt hiện vật

e Căn cứ vào sự phát triển kinh tế kỹ thuật

Căn cứ này có vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch của Doanh nghiệp, vì tốc

độ phát triển khoa học kỹ thuật trong nước và trên thế giới có ảnh hưởng sâu sắc đến sản xuất - kinh doanh trên các lĩnh vực như cơ cấu nghành công nghiệp, chất lượng sản phẩm,

Trang 15

cả và các ảnh hưởng khác; các nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân Doanh nghiệp trong các mặt năng lực sản xuất, lao động, khoa học kỹ thuật

2.3 Các bước hoạch định kế hoạch

Quá trình xây dựng kế hoạch trong các Doanh nghiệp bao gồm nhiều khâu từ khâu chuẩn bị đến khuâu kết thúc là tạo được một kế hoạch tối ưu được thông qua và áp dụng

Có thể mô tả kế hoạch theo các bước sau:

Bước 1: xác định và lựa chọn các cơ hội kinh doanh

Đây là bước khởi đầu của quá trình lập kế hoạch sản xuất - kinh doanh ở bước này người lập kế hoạch phải nhận thức rõ được trên thị trường có những cơ hội nào thuận lợi hoặc khó khăn cho Doanh nghiệp mình Từ đó lựa chọn các cơ hội để hoạch định kế hoạch một cách tối ưu Cơ hội đó có thể là một nhu cầu mới xuất hiện của người tiêu dùng hoặc những thông tin về thị trường, về cạnh tranh, về quy mô, về cơ cáu nhu cầu, điểm mạnh điểm yếu cungd với khả năng và nguồn lực của Doanh nghiệp

Bước 2: Xác định các mục tiêu của hoạt động sản xuất - kinh doanh

ở bước này các nhà hoạch định cần phải biết rõ các cơ hội kinh doanh của Doanh nghiệp mình và nắm được khả năng nguồn lực của Doanh nghiệp mình, từ đó đi tới các mục tiêu của chính sách Các mục tiêu này có thể là mục tiêu dài hạn(chiến lược) hoặc là các mục tiêu ngắn hạn như mục tiêu về tốc độ tăng trưởng kinh doanh, mục tiêu về lợi nhuận…

Bước 3: Xây dựng các phương án sản xuất - kinh doanh

Để đạt được mục tiêu có nhiều cách để đạt đến Đó là các phương án, mỗi phương án sản xuất - kinh doanh đều đưa đến các mục tiêu cần đạt được Các phương án sản xuất - kinh doanh này được lập ra dựa trên nhiều con đường Các con đường đó đều đi đến mục tiêu đã định

Bước 4: Lựa chọn phương án sản xuất - kinh doanh tối ưu

Trang 16

Khi đã xác định được các phương án sản xuất - kinh doanh ở bước 3 Các nhà hoạch định chính sách cần phải lựa chọn, xem xét xem các phương án nào là tối ưu nhất tức là các phương án nào đạt mục tiêu một cách hiệu quả nhất và nhanh nhất, ít tốn chi phí nhất, các phương án được lựa chọn tối ưu còn phải giải quyết được những vấn đề kinh tế – xã hội đang được đặt ra

Bước 5: Thông qua và quyết định sản xuất - kinh doanh

Khi các nhà hoạch định đã xác định được phương án tối ưu phương án tối ưu này phải được đưa ra hội đồng quản trị, hoặc các phòng ban có liên quan Sau đó các phòng ban này thông qua đồng ý với các phương án được lựa chọn và thực hiện phương án, quyết định và thể chế thành một kế hoạch sản xuất - kinh doanh cụ thể

 Khẳng định đường lối và các mục tiêu của cấp trên; nghiên cứu dự báo: 2 khâu này không nằm trong quá trình hoạch định kế hoạch mà là 2 khâu tiền hoạch định Trước khi hoạch định một kế hoạch nào đó các nhà hoạch định phải xem xét các đường lối, các mục tiêu tổng thể của cấp trên vì kế hoạch đặt ra cũng như các mục tiêu không thể mâu thuẩn với các đường lối và các mục tiêu của cấp trên các phương án được đánh giá chính xác và tối ưu thì phải tìm hiểu trong quá khứ đã xẩy ra những gì, những tình hình kinh tế – xã hội nào đã được diễn ra trong quá khứ , tìm hiểu các số liệu về tốc độ tăng trưởng GDP, thu nhập/đầu người, hoặc tình trạng thất nghiệp lạm phát…

Trang 17

Nghiên cứu và

dư báo

Xác định và lựa chọn các cơ hội kinh

doanh

Xác định các mục tiêu của hoạt động sản xuất - kinh doanh

Xây dựng các phương án sản xuất - kinh doanh

Lựa chọn các phương án sản xuất - kinh doanh

tối ưu

Thông qua và quyết

Trang 18

2.4 Phương pháp xây dựng kế hoạch sản xuất - kinh doanh

Trong thực tế người ta sử dụng nhiều phương pháp như cân đối quan hệ động, phương pháp tỉ lệ, phương pháp toán kinh tế… tuy nhiên phương pháp cân đối vẫn được

sử dụng rộng rãi nhất, phương pháp này được tiến hành qua các bước:

Bước 1: Xác định nhu cầu về các yếu tố sản xuất để thực hiện các mục tiêu kinh doanh dự kiến

Bước 2: Xác định khả năng( bao gồm khả năng đã có và chắc chắn sẽ có) của Doanh nghiệp về các yếu tố sản xuất

Bước 3: Cân đối giữa nhu cầu và khả năng của các yếu tố sản xuất

Trong cơ chế thị trường, phương pháp cân đối được xác định với những yêu cầu sau: Cân đối được thực hiện là cân đối động Cân đối để lựa chọn phương án không phải là cân đối theo các phương án đã được chỉ định Các yếu tố của cân đối đều là những yếu tố biến đổi, đó là yêu cầu thị trường và khả năng có thể khai thác của Doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch

-Thực hiện cân đối liên hoàn, tức là tiến hành nhiều cân đối liên tiếp nhau để bổ xung và điều chỉnh phương án cho phù hợp với thay đổi của môi trường

-Thực hiện cân đối trong những yếu tố trứơc khi tiến hành cân đối tổng thể các yếu tố Kết quả cân đối tổng hợp phải là căn cứ xác định năng lực sản xuất kinh doanh của

Trang 19

1 Thực hiện cơ chế tự chủ trong quá trình xây dựng, điều chỉnh, tổ chức thực hiện và đánh giá thực hiện kế hoạch của Doanh nghiệp

Các Doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường đều phải hướng vào các mục tiêu lợi nhuận và phục vụ khách hàng điều đó đòi hỏi các Doanh nghiệp phải tự nghiên cứu để nắm vững thị trường, xác định phương án kinh doanh trên cơ sở nhận thức các cơ hội và rủi ro trên thị trường Về nguyên tắc, trong điều kiện mới các Doanh nghiệp được ưuyền chủ động xây dựng và quyết định kế hoạch của mình trên cơ sở đảm bảo các chỉ tiêu pháp lệnh và các hợp đồng được ký kết, tuy vậy, phạm vi tự chủ và các biện pháp can thiệp của Nhà nước cần phải xác định cụ thể cho tường Doanh nghiệp

Đối với các Doanh nghiệp thuộc nghành: Điện lực, Bưu điện, Đường sắt, hàng không… là các nghành hạch toán phụ thuộc nên mức độ tự chủ ít Việc lập kế hoạch phải đầu tư mở rộng hoặc hiện đại hoá các Doanh nghiệp này trước mắt vẫn thuộc quyền Nhà nước nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia và ngăn chặn độc quyền có thể phát sinh

Đối với các Doanh nghiệp Nhà nước sản xuất các sản phẩm công cộng, thì trước mắt chỉ tiêu kế hoạch sản lượng sẽ được xác định tren 2 cơ sở: chỉ tiêu pháp lệnh về sản lượng

và đơn dặt hàng của Nhà nước để đảm bảo các nhu cầu chung của xã hội Ngoài ra Doanh nghiệp tự lập kế hoạch đáp ứng nhu cầu thị trường Trong tương lai, chỉ tiêu pháp lệnh cũng chuyển hoá thành đơn đặt hàng

Đối với các Doanh nghiệp khác, công tác kế hoạch là tự chủ, tức là tự chịu trách nhiệm và kinh doanh có lãi Hoạt động của Doanh nghiệp này chịu sự tác động của thị trường mà nhà nước đã điều tiết thông qua công cụ vĩ mô

Trang 20

Đối với các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh mục tiêu hoạt động là lợi nhuận tối đa nên việc thực hiện công tác lập kế hoạch và quản lý theo phương thức hạch toán kinh doanh là điều đương nhiên

Đối với các Doanh nghiệp Nhà nước để thực hiện cơ chế công tác lập kế hoạch theo phương thức hạch toán kinh doanh đòi hỏi phải xoá bỏ hiện tượng quan liêu bao cấp trong quá trình tính toán, lựa chọn và quyết định các vấn đề sản xuất - kinh doanh; đổi mới phương pháp xây dựng kế hoạch từ cân đối tỉnh sang cân đối động nhằm khai thác triệt để mọi khả năngvà nguồn lực, mọi cơ hội kinh doanh trên thương trường, nhằm làm cho công tác kế hoạch của Doanh nghiệp năng động, linh hoạt đáp ứng tốt nhu cầu thị trường

3 Tiếp tục đổi mới quan hệ kinh tế quốc dân tạo điều kiện để công tác lập

kế hoạch Doanh nghiệp và cần phải đổi mới theo hướng:

-Thực hiện đổi mới phương thức kế hoạch gián tiếp: chuyển hệ thống kế hoạch pháp lệnh về sản lượng thành đơn đặt hàng

-Tập trung nỗ lực công tác lập kế hoạch nền kinh tế quốc dân vào việc hoạch định chiến lược, quy hoạch nghành làm cơ sở hoạch định chính sách và định hướng cho các mục tiêu dài hạn của Doanh nghiệp

-Bảo đảm cơ chế tự chủ trong mối quan hệ công tác lập kế hoạch và quan hệ thị trường nhằm giải quyết các yếu tố đầu vào, đầu ra của Doanh nghiệp

Để đảm bảo sản xuất - kinh doanh của Doanh nghiệp đúng theo đường lối phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ cần phải thực hiện tốt các phương hướng trên nhằm phát huy được vai trò cuả kế hoạch và gắn kế hoạch Doanh nghiệp với nghành

và nền kinh tế quốc dân

Trang 21

1 Giới thiệu về công ty kim khí Hà Nội

1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty

Công ty kim khí Hà Nội được thầnh lập từ ngày1/7/1961, mới đầu Công ty Kim khí Hà Nội chỉ là một chi cục kim khí thuộc cục kim khí thiết bị thuộc tổng cục vật tư do

bộ thương mại và du lịch quản lý

Ngày 28/05/1993, Công ty Kim khí Hà Nội Công ty được thành lâp lại với tên gọi là Công ty Kim khí Hà Nội – tên giao dịch quốc tế là Hà Nội metal company, cơ quan cấp trên của Công ty là Tổng công ty Thép việt nam, Công ty kim khí Hà Nội được chuyển sang Tổng công ty này và trở thành một trong các thành viên quan trọng, lớn, của Tổng công ty

Trụ sở chính của công ty đóng tại nhà D2 Phố Tôn Thất Tùng, Phường Khương Thượng, Quận Đống Đa, Hà Nội

Trong việc cung cấp mặt hàng kim khí cho nền kinh tế quốc dân ở khu vực thủ đô Trong những năm trước đây, Công ty chủ yếu thực hiện chức năng cung cấp vập tư theo kế hoạch, chỉ tiêu Nhà nước cho 1300 đến 1500 nhà máy xí nghiệp, công ty, đơn vị thuộc các

bộ ngành trung ương, thành phố Hà Nội và quốc phòng

Từ một đơn vị cung ứng kim khí theo mệnh lệnh, với số nguồn nhập 95% là nguồn nhập ngoại, từ năm 1990, Công ty đã mở thêm hướng hoạt động tổ chức sản xuất một số mặt hàng quy cỡ kim khí bổ xung nguồn để thay thế một phần vật tư phải nhập khẩu Khi nền kinh tế quốc dân chuyển sang cơ chế thị trường, Công ty đã chuyển biến

từ nhận thức đến hành động Tổ chức lại kinh doanh và sản xuất để thích ứng và phát triển, khẳng định vị trí ổn định trên thị trường kim khí khu vực và trong cả nước

Trang 22

Hiện nay công ty là một đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập trong mạng lưới của Tổng công ty thép Việt nam thuộc Bộ Công nghiệp nặng

1.2 Nhiệm vụ, chức năng của Công ty

Với mục tiêu thực hiện tốt việc mua bán kim khí, đảm bảo việc đáp ứng đầy đủ, đồng bộ nhu cầu kim khí cho công nghiệp, xây dựng, quốc phòng và các nhu cầu khác của nền kinh tế ở thủ đô, đồng thời mở rộng thị trường trên phạm vi cả nước và phục vụ mọi thành phàn kinh tế, Công ty kim khí Hà Nội có những nhiệm vụ chính sau đây:

1/ Xây dựng và bảo vệ kế hoạch kinh doanh sản xuất, báo cáo cấp trên quản lý trực tiếp để thực hiện mục đích và nội dung hoạt động của công ty

2/ Quản lý và sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, bảo toàn và tăng trưởng vốn, tự trang trải về tài chính đảm bảo kinh doanh sản xuất có lãi

3/ Nắm bắt khả năng sản xuất, nhu cầu tiêu dùng của thị trường để cải tiến tổ chức và kinh doanh sản xuất nhằm tạo nhiều kim khí phù hợp thị hiếu

4/ Tuân thủ các hợp đồng đã kí kết bảo đảm tín nhiệm trong xã hội

5/ Đưa tiến bộ khoa học vào việc cải tiến tổ chức quản lý kinh doanh sản xuất, bảo quản, bảo vệ vật tư hàng hoá

6/ Chấp hành và thực hiện nghiêm chỉnh chính sách chế độ, pháp luật nhà nước về hoạt động kinh doanh sản xuất, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người lao động

1.3 Mô hình tổ chức của Công ty

Để đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ như trên, bộ maý của công ty ngày càng được tổ chức một cách hoàn thiện theo nguyên tắc hiệu quả, tiết kiệm, giảm thiểu nhửng

bộ phận không cần thiết Theo nguyên tắc này, Công ty đã bỏ phòng quản lý kỹ thuật Hiện nay, mô hình tổ chức của công ty gồm có:

Văn phòng công

ty Giám đốc và các phó giám đốc

Phòng thanh tra bảo vệ

Phòng tổ chức –hành chính

Phòng kế toán tài

XNGC

CB

XNKD kim

XNKD kim

Chi

nhánh

Xí nghiệp

XNGC

CB

Trang 23

a Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban, các bộ phận trực thuộc

Căn cứ vào quyết định số 255/TTg ngày 29/4/1995 của thủ tướng chính phủ về việc thành lập Tổng công ty Thép Việt nam và căn cứ vào điều lệ tổ chứcvà hoạt động của Tổng công ty Thép Việt nam được phê chuẩn tại nghị định số 03/CP của chính phủ, hội đồng quản trị Tổng công ty Thép Việt nam đã đưa ra điều lệ tổ chức và hoạt động của công

ty Kim khí Hà Nội như sau:

a 1 Văn phòng công ty

Giám đốc do hội đồng quản trị Tổng công ty bổ nhiệm, khen thưởng,kỷ luật theo đề nghị của Tổng giám đốc Tổng công ty Giám đốc là đại diện pháp nhân của công ty và chị trách nhiệm trước Tổng công ty và trước pháp luật về mọi hoạt động của công ty Giám đốc là người có quyền điều hành cao nhất trong công ty, có nhiệp vụ và quyền hạn:

+ Ký nhận vốn (kể cả nợ), đất đai và các nguồn lực khác của nhà nước do tổng giám đốc tổng công ty giao, có trách nhiệm quản lý sử dụng đạt hiệu quả theo các mục tiêu, nhiệm vụ tổng công ty giao

Trang 24

+ Điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Xây dựng trình tổng công ty phê duyệt kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản, đổi mới tài sản cố định, các định mức kinh tế kỷ thuật, đơn giá tiền lương, phương án huy động vốn, phương án liên doanh liên kết, tổng biên chế bộ máy quản lý và kinh doanh phục vụ của công ty… triển khai thực hiện các kế hoạch, định mức, đơn giá, phương án đã được tổng công ty phê duyệt

+ Đề nghị Tổng công ty quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, nâng xếp bậc lương… các chức vụ phó giám đốc, kế toán trưởng, trưởng các phòng nghiệp

vụ chuyên môn, trưởng các đơn vị trực thuộc và các chức danh từ chuyên viên chính, kỷ

sư chính trở lên Quyết định bổ nhiệm, miển nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, nâng xếp bậc lương… các chức vụ và các chức danh còn lại thuộc quyền quản lý của công ty

+ Chịu sự kiểm tra giám sát của tỏng công ty và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định cuả pháp luật

+ Được quyết định áp dụng các biện pháp vượt thẩm quỳên của mình trong trường hợp khẩn cấp (thiên tai ,dịch hoạ, hoả hoạn , sự cố) và chịu trách nhiệp về những quyết định đó; đồng thời phải báo cáo ngay cho tổng công ty và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết tiếp

Phó giám đốc công ty do tổng giám đốc tổng công ty bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng kỷ luật theo đề nghị của giám đốc công ty sau khi đã được hội đồng quản trị Tổng công ty thông qua Phó giám đốc là người giúp giám đốc điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của công ty theo sự phân công của giám đốc và phải chịu trách nhiệm trước giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công hoặc những công việc được giám đốc công ty uỷ quyền

a 2 Các phòng chuyên môn nghiệp vụ

Các phòng chuyên môn nghiệp vụ của công ty có chức năng tham mưu, giúp việc giám đốc trong quản lý điều hành công việc

Trang 25

+ Tổ chức thực hiện công tác hạch toán kế toán, thống kê phân tích hoạt động kinh tế theo pháp lệnh kế toán thống kê, tổng hợp kế toán định kỳ và quyết toán cuối năm với nhà nước

+ Làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách theo luật thuế của nhà nước

+ Xét duyệt quyết toán và tham gia quyết định phân phối lợi nhuận của công ty

Phòng kế hoạch kinh doanh

Phòng thanh tra bảo vệ

+ Tham mưu cho lãnh đạo công ty, kiểm tra giám sát các hoạt động trong nội bộ công ty (bao gồm cả các xí nghiệp và các đơn vị trực thuộc)

+ Giữ gìn bảo vệ vật tư tài sản, an ninh cho các phòng ban

+ Thực hiện các lệnh về quốc phòng, hậu cần địa phương, tuyển quân

a 3 Các đơn vị trực thuộc

Trang 26

Công ty Kim khí Hà Nội hiện có 6 xí nghiệp trực thuộcvà một chi nhánh công ty tại thành phố Hồ Chí Minh Các đơn vị này đều là các đơn vị hạch toán phụ thuộc, có tư cách pháp nhân không đầy đủ, có các bộ phận kế toán, thống kê, thủ quỷ, thủ kho và các nhân viên trực tiếp trực tiếp làm công tác kinh doanh dịch vụ có mối quan hệ mật thiết với nhau về kinh tế, tài chính,tiêu thụ… thông tin trong hoạt động kinh doanh sản xuất Các đơn vị này bao gồm:

+ Xí nghiệp kinh doanh khai thác vật tư Trụ sở giao dịch tại số 20- Tôn Thất Tùng –Quận Đống Đa Hà Nội

+ Xí nghiệp gia công kim khí

+Xí nghiệp gia công chế biến kim khí Đức Giang

+ Xí nghiệp gia công chế biến kim khí Văn Điển

+ Xí nghiệp kinh doanh kim khí và dịch vụ số 1, tại Văn Điển

+ Xí nghiệp kinh doanh kim khí và dịch vụ số 2, tại Đức Giang

Chức năng nhiệm vụ của các đơn vị

+ Tiếp nhận, quản lý, bảo quản, xuất cấp và điều chuyển các mặt hàng kim khí theo điều lệnh của công ty

+ Kinh doanh các mặt hàng kim khí, nguyên liệu phục vụ cho nghành thép theo kế hoạch được công ty giao

+ Kinh doanh các dịch vụ về giao nhận, vận chuyển kho bãi, các hoạt động phục vụ cho sản xuất kinh doanh và các đại lý ký gửi các mặt hàng thuộc phạm vi kinh doanh của công ty

a 4 Mạng lưới cửa hàng :

Công ty có mạng lưới cửa hàng trực thuộc các đơn vị xí nghiệp Hệ thống cửa hàng phân bố trên khu vực Hà Nội, tập trung quanh trụ sở công ty và Đức Giang, Văn Điển

+ Xí nghiệp kinh doanh khai thác vật tư: cửa hàng số 13, 17

+ Xí nghiệp khai thác gia công kim khí: Cửa hàng 19, 20

+ Xí nghiệp gia công chế biến kim khí Đức Giang cửa hàng số 23

+ Xí nghiệp gia công chế biến kim khí Văn Điển: không có cửa hàng

+ Xí nghiệp kinh doanh kim khí và dịch vụ số1: Cửa hàng 3, 4, 5, 8

+ Xí nghiệp kinh doanh kim khí và dịch vụ số 2: Cửa hàng số 25, 26, 27, 28

Trang 27

Các cửa hàng này có thể phục vụ nhu cầu của nhân dân cũng như các công trình xây dựng về mặt hàng mà công ty kinh doanh

1.2 Các lĩnh vực hoạt động của Công ty

Công ty mua bán các mặt hàng kim khí trong nền kinh tế quốc dân bao gồm:

+ Nhập khẩu các nguyên liệu thép, phôi thép

+ Sản xuất thép, các kim loại khác từ sản phẩm thép

+Kinh doanh và dịch vụ kinh doanh thép, các loại kim khí, nguyên vật liệu thép +Cho thuê kho bãi

2 Những đặc điểm kinh tế – kỹ thuật – tổ chiức chủ yếu của Công ty ảnh hưởng

đến công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh

2.2 Thực trạng cung cầu trên thị trường đối với sản phẩm của Công ty

Nguồn nhập khẩu của Công ty ngày càng tăng đáng kể Công ty đã nhập khẩu các sản phẩm, nguyên liệu về kim khí trong những năm gần đây tăng lên, các cơ sở sản xuất cũng sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn các năm trước do có các kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp

Nhu cầu về sản phẩm thép ngày một gia tăng do đòi hỏi sự phát triển của nền kinh tế Nhu cầu kế hoạchông chỉ đơn thuần trong lĩnh vực xây dựng mà trong cả công nghiệp, đặc biệt là nghành công nghiệp ôtô, đóng tàu, cơ khí…

Chúng ta có thể thấy thực trạng cung cầu của Công ty qua các năm như sau:

Trang 28

Những năm qua nhu cầu thép trên thế giới tăng chậm, giá thép ít biến động, trầm lặng

và có xu hướng hạ, nhất là vào quý IV năm 1997 Do các nước trong khu vực bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ, giá trị đồng Dolla tăng lên Làm cho giá thành nguyên liệu nhập và kim khí từ nước ngoài về cũng tăng lên Thị trường thép luôn ở tình trạng cung lớn hơn cầu Tuy vậy năm 1996 – 1997 sản lượng Công ty vẫn bán được nhiều hơn so với năm trước đó, đó là nhờ sự nổ lực của cán bộ công nhân viên trong Công ty và nhu cầu thị trường về sản phẩm kim khí trong nước cũng được tăng lên

Thị trường của Công ty ở những năm gần đây chỉ mới chủ yếu ở hai thành phố lớn trong nứơc đó là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Tương lai Công ty sẽ mở rông thị trường ra các tỉnh, thành phố khác Nhưng do đầu tư về vốn vẫn còn hạn chế vào những giai đoạn này nên thị trường sản phẩm của Công ty chưa được mở rộng Công ty cần được đầu tư vốn và công nghệ để mở rộng sản xuất kinh doanh và thị trường

2.4 Xuất nhập khẩu

Trong những năm bao cấp, Công ty chủ yếu nhập khẩu những loại hàng hoá của các nước xã hội chủ nghĩa Vào những năm gần đây Công ty đã tăng cường khả năng nhập khẩu để đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong nước Ta có thể thấy bảng số liệu về việc nhập khẩu kim khí của Công ty qua một số năm gần đây như sau:

Tổng giá trị nhập 15.052,4 33.767,7 44.735 83.898

Trang 29

2.5 Tổ chức lao động tiền lương

Nét nổi bật của Công ty trong công tác tổ chức mạng lưới bán hàng và tổ chức hoạt động là Công ty đã giảm bớt những khâu không cần thiết, từng bước hoàn thiện bộ máy tổ chức cụ thể là:

Xây dựng và được Tổng Công ty cho thành lập 2 xí nghiệp kinh doanh kim khí và dịch vụ số 1 và 2 trên cơ sở từ 2 cửa hàng Đức Giang và Văn Điển và đã xây dựng được quy chế hoạt động

Sát nhập 2 phòng kế hoạch kinh doanh và thị trường thành phòng kế hoạch kinh doanh

Sắp xếp lại cửa hàng bán lẻ, cửa hàng nào hoạt động không hiệu quả Công ty giải thể

từ 27 cửa hàng năm 1997 Công ty đã giải thể còn 13 cửa hàng năm 1999

Chúng ta có thể thấy tình hình tổ chức lao động tiền lương của Công ty qua các năm qua sơ đồ sau:

Về lao động: ( Đơn vị: Người)

Năm 1998 1999 2000(Ước tính)

-Lao động có mặt (đầu năm)

-Lao động có mặt(cuối năm)

-Số lao động giảm trong kỳ

Trang 30

2.296.328.553đ 622.314đ 2.959.626.728đ

2.700.000.000đ 750.000

2.6 Khoa học, công nghệ và môi trường

Trong mấy thập kỷ qua, thế giới đã và đang chiứng kiến sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệc là công nghiệp Nó tạo ra thế cạnh tranh mạnh mẽ nhất trên thương trường

Trong khi đó Công ty Kim Khí Hà Nội trực thuộc Tổng Công ty thép Việt Nam là một tập đoàn kinh tế, nhưng công nghệ còn lạc hậu được chắp nối từ nhiều nước như Nga, Đức, Trung Quốc,ấn độ Tuy nhiên những năm gần đây ngành thép nói chung và Công ty kim khí Hà Nội nói riêng đã kết hợp với Nhà nước đầu tư xây dựng mới và nâng cấp một

số dây chuyền công nghệ nhằm tăng năng lực sản xuất Đồng thời cũng đã đầu tư vào công tác nghiên cứu khoa học nhằm tìm ra giải pháp công nghệ, kỹ thuật để ổn định và nâng cao hiệu quả sản xuất gang thép

Dây chuyền công nghệ sản xuất thép là công nghệ phức tạp, cồng kềnh Trong sản xuất thép công nghệ quyết định hoàn toàn năng lực sản xuất Người ta không thể sản xuất thép thủ công bằng tay mà hoàn toàn phải bằng máy móc thành một dây chuyền khép kín Chính vì vậy muốn tăng năng lực sản xuất cần phải đầu tư nhiều vốn và công nghệ cho nghành thép

Trang 31

2.7 Khách hàng

Xuất phát từ nhu cầu thị trường, Công ty kim khí Hà Nội đã tạo lập được lực lượng khách hàng bao gồm nhiều thành phần Với các sản phẩm của mình Công ty đã đảm bảo cung ứng đầy đủ nhu cầu kim khí cho công nghiệp, xây dựng, quốc phongd và các nhu cầu khác của nền kinh tế thủ đô, đồng thời mở rộng thị trường ra cả nước và phục vụ cho mọi thành phần kinh tế Một số khách hàng của Công ty như là:

Các Công ty xây dựng của Nhà nước

Các nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, dụng cụ số I

Các nhà máy sản xuất có sử dụng vật tư là kim khí

Từ khi thành lập Công ty (1961) cho đến năm 1989, Công ty giữ vị trí độc quyền kim khí ở khu vực trung ương và Hà Nội Trong những năm gần đây do chính sách và cơ chế thay đổi, một số đơn vị dịch vụ mở ra kinh doanh kim khí, nhưng cũng chỉ là kinh doanh kim khí mang tính chất dịch vụ cũng chỉ kinh doanh một số quy cỡ kim khí nhất định chủ yếu là thép xây dựng quy cỡ nhỏ

Các Công ty kim khí điện máy trên địa bàn Hà Nội cũng chủ yếu kinh doanh các mặt hàng điện máy như ti vi, tủ lạnh và các sản phẩm được làm ra từ kim khí do nhà máy, xí nghiệp sản xuất mà nguồn vật tư chính chủ yếu là kim khí được mua chủ yếu từ nguồn bán của Công ty kim khí Hà Nội

Với sự quản lý không chặc chẽ của Nhà nước đặc biệt đối với nguồn nhập khẩu đã xuất hiện sự cạnh tranh tự phát, gay gắt gây không ít khó khăn cho Công ty

Trang 32

2.9 Đầu tư xây dựng cơ bản

Công ty không có chủ trương đầu tư lớn mà chủ yếu là tu bổ sữa chữa nhỏ hệ thống kho tàng, cơ sở sản xuất trong đơn vị nhằm duy trì khả năng sử dụng phục vụ cho kế hoạch sản xuất kinh doanh Đảm bảo chất lượng hàng hoá bán ra, tiếp tục thực hiện và xây dựng, hoàn thành đưa vào sử dụng dự án dây lưới thép Đức Giang, lắp đặt hệ thống máy kéo dây Xin ý kiến Tổng Công ty về dây chuyền mạ cho phù hợp với tình hình kinh tế đất nước, đặc biệt là nhu cầu sử dụng của thị trường Ngoài ra Công ty còn chú trọng xây dựng sữa chữa nhỏ, nâng cấp kho bãi phục vụ cho việc mở mang dịch vụ và bảo quản hàng hoá, nâng cao chất lượng của sản phẩm do Công ty sản xuất ra như đăng ký chất lượng sản phẩm với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng Nhà nước

2.10 Đặc điểm về lao động

Những năm vừa qua lực lượng lao động của công ty đã có sự biến động đáng kể để phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường Công ty đã tiến hành tinh giảm và nâng cao trình độ của lưch lượng lao động Cụ thể:

Biểu 2: Sự biến động lực lượng lao động của công ty theo cơ cấu trình độ những năm vừa qua:

Qua bảng trên ta thấy, những năm vừa qua công ty không chỉ tinh giảm đội ngũ cán

bộ công nhân viên mà còn không ngừng nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động

Cụ thể:

Trang 33

-Lực lượng lao động có trình độ đại học và cao đẳng ngày càng tăng cả về số lương lẫn tỷ trọng và chiếm moọt tỷ lệ khá cao trong lực lượng lao động của công ty (khoảng 25,3% )

-Lực lượng lao động có trình độ trung cấp và công nhân kỹ thuật vẫn chiếm phần đồn trong tổng số lực lượng lao động của công ty, nhưng đang giảm dần cả về số lượng lẫn tỷ trọng Tỷ lệ người có trình độ trung học (khoảng 49,6% ) đây vẫn là một tỷ lệ lớn và công nhân kỹ thuật ( khoảng 25,1% ) là khá nhỏ so với doanh nghiệp khác

Sở dĩ lực lượng lao động của công ty có sự biến động về cơ cấu trình độ như trên là do:

Thứ nhất: do đặc trưng của công ty hoạt động theo hướng kinh doanh là chủ yếu, hoạt động sản xuất không đáng kể Vì vậy công ty cần ít lực lượng công nhân kỹ thuật để làm việc trong các phân xưởng, đồng thời đòi hỏi lực lượng lớn cho các nhà quản lý và người làm việc ở các phòng ban chức năng chuyên môn, những người này đòi hỏi phải có trình độ nhất định

Thứ hai: do điều kiện thực tiễn và yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường, đòi hỏi các doanh nghiệp có đội ngũ cán bộ công nhân viên tới một mức độ hợp lý Nếu như trước kia đội ngũ các cán bộ các nhà quản lý đều mới chỉ được đào tạo ở bậc trung cấp và công nhân kỹ thuật ở chế độ quản lý cũ, còn lại thì giờ đây đội ngũ đó đã đến tuổi nghỉ hưu hoặc không còn phù hợp mà phải thay vào đó một lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao hơn Để làm điều đó, công ty đã thiết lập quy chế tuyển dụng lao động, ưu tiên lao động trẻ có trình độ chuyên môn cao, đồng thời áp dụng các hình thức đào tạo đa dạng như đào tạo tại chỗ, mở các lớp huấn luyện nghiệp vụ ngắn hạn, đào tạo hàm thụ đại học tại chức

Chính nhờ những nỗ lực trên mà công ty đã có được một lực lượng lao động có trình

độ ngày càng cao, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện tôt các kế hoạch của công ty

Tính đến ngày 31/12/1999 tổng lao động của công ty là 367 người, trong đó:

-Cán bộ công nhân viên trong biên chế là 240 người chiếm 65,4%

-Lao động hợp đồng 127 người chiếm 34,6%

Số lao động đó được biên chế vào các phòng ban, đơ vị trực thuộc như sau:

Biểu 3: Cơ cấu lao động trong các phòng ban và các đơn vị trực thuộc

Trang 34

Số lao động tính đến ngày

31/12/1999

Trong đó

Số lao động thực sự đi làm

Số lao động dôi dư chờ xếp lại Chờ

hưu

Chờ việc

Nghỉ khác -Văn phòng công ty

-XN kinh doanh khai thác vật tư

-XN khai thác và gia công kim khí

XN gia công chế biến Đức Giang

-XN gia công chế biến Văn Điển

Bên cạnh những mặt đã đạt được như trên, công ty còn có những tồn tại nhất định về công tác lao động Theo bảng trên sô lao động dôi dư chưa có việc làm, chờ xếp lại hay nghỉ khác của công ty chiếm tỷ lệ khá lớn là 60 người bằng 17,5%, trong đó số người chờ việc là 15 người được hưởng 50% lương, số còn lại công ty vẫn giải quyết đầy đủ lương hành tháng Đấy là gánh nặng trong công tác lao động tiền lương và hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

II Thực tiễn công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh ở Công ty kim khí Hà Nội

1 Xây dựng kế hoạch dài hạn

1.1 Căn cứ xây dựng

a Phương hứng chủ trương phát triển kinh tế xã hội của Đảngvà Nhà nước

Đại hội VIII của Đảng đã đề ra mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước từ nay đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp, tổng sản phẩm quốc nội(GDP) tăng từ 8 –10 lần so với năm 1990, năm 2000 là một năm rất quan trọngcủa thời kỳ phát triển mới đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Là năm

Trang 35

cuối cùng thực hiện kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 Nên năm 2000 cần phải thực hiện các mục tiêu:

Tốc độ tăng trưởng GDP 5- 6%

Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 3.5 – 4%

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 10.5 – 11.5%

Giá trị các nghành dịch vụ tăng 4.5 – 5%

Tổng kim nghạch xuất khẩu tăng 10%

Lạm phát khoảng 6%

Những dự báo cân đối lớn kế hoạch năm 2000

Tổng thu ngân sách tăng khoảng 12 – 16%

Vốn đầu tư toàn xã hội vào khoảng 120.000 tỷ đồng, chiếm 26,8% GDP tăng so với năm 1999 khoảng 9,1%; trong đó nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp khoảng 24 tỷ đồng Tổng kim ngạch xuất khẩu dự kiến 11 tỷ USD – tăng khoảng 10%, nhập khẩu dự kiến 12,4 tỷ USD – tăng khoảng 9% trong đó nhập khẩu thép thương phẩm 900.000 tấn và phôi thép 900.000 tấn

Nhu cầu sử dụng thép khoảng 2,3 – 2,4 triệu tấn – tăng 8% trong đó sản xuất trong nước 1,4 triệu tấn

Căn cứ vào chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước với chủ trương tăng cường

mở rộng hợp tác với các nước trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền hai bên cùng có lợi, tạo điều kiện cho Công ty hợp tác liên doanh với nhiều Công ty nước ngoài nhằm tiếp thu công nghệ, kinh nghiệm quản lý, kimh nghiệm xây dựng kế hoạch và hoà nhập với thị trường thép quốc tế

b Căn cứ vào phương hướng nhiêm vụ mục tiêu và chỉ tiêu mang tính chất thông tin của nghành

Tiếp tục phát triển các lĩnh vực công nghiệp đang có nhiều tiềm năng, sản phẩm sản xuất có thị trường tiêu thụ và có giá trị cao, nhất là các nghành công nghiệp hướng vào xuất khẩu và các nghành công nghiệp chế biến và các nghành công nghiệp then chốt đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế như: khai thác than, sản xuất thép, xi măng

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 10,5 –11,5%, sản xuất thép đạt từ 2,3 – 2,4 triệu tấn trong năm 2000 và 7 triệu tấn vào năm 2010 Hạn chế nhập khẩu kể cả thép đặc biệc dùng

Trang 36

c Căn cứ vào sư phát triển lĩnh vực kim khí trong nước, ở các quố gia trong khu vực

và trên thế giới

Khi xây dựng kế hoạch dài hạn mang tính chiến lược thì không chỉ căn cứ vào định hướng của Nhà nước và nghành mà phải xem xét trong mối quan hệ tương đồng với các quốc gia khác về lĩnh vực đó nhằm để học hỏi được những kinh nghiệm quý báu mà những nước này đã thành công Đây là cơ sở quý báu bước đầu cho việc lập kế hoạch chiến lược nghành ở bất kỳ quốc gia đang phát triển nào

Theo các chuyên gia hàng đầu về nghành kim khí Việt Nam cho biết đặc điểm nghành kim khí Việt Nam hiện nay giống như đặc điểm của nghành kim khí ở Nhật vào những năm sau 1945 để xây dựng thành công chiến lược phát triển nghành kim khí của mình vào những năm 60 của thế kỷ này

Đặc điểm đó là: Sau năm 1949 Nhật Bản chuyển từ nền kinh tế đóng sang nền kinh tế thị trường, sản lượng thép cán thấp từ 2 –3 triệu tấn/ năm (1948 - 1949), thiết bị cũ công nghệ lạc hậu, năng suất thấp, mức lương chỉ bằng 20% Mỹ

Nhằm khôi phục nghành thép nói chung, từ đầu năm 1950 chương trình hợp lý hoá trang bị công nghệ và thương mại Nhật Bản Ba chương trình này đã được thực hiện trong thời gian đó cụ thể là:

-Chương trình hợp lý hoá thứ nhất(1951 - 1955)

+ Nêu tầm quan trọng của của việc hiện đại hoá thiết bị cán

+ Giới thiệu công nghệ AMRCO trong việc vận hành nhà máy sản xuất thép băng cuộn

+ Đầu tư 128 tỷ yên( bằng 360 triệu USD)

- Chương trình hợp lý hoá thứ hai(1956 - 1960)

+ Hiện đại hoá thiết bị cán

+ Tập trung vào xây dựng mở rộng lò cao và lò luyện thép

Trang 37

+ Giới thiệu công nghệ vận hành nhà máy thép liên hợp

+ Đầu tư 546 tỷ yên (bằng 1,21 tỷ USD)

+Kết quả đuổi kịp Mỹ

- Chương trình hợp lý hoá thứ ba(1961 - 1965)

+Tiếp tục hiện đại hoá các nhà máy thép

+Xây dựng nhà máy thép liên hợp ở các vùng ven biển

+Đầu tư 859 tỷ yên(bằng 2,38 tỷ USD)

+Kết quả vượt năng suất của Mỹ

d Căn cứ vào chức năng nhiện vụ và năng lực của Công ty

Với mục tiêu thực hiện tốt mọi việc mua bán kim khí, đảm bảo đáp ứng đầy đủ cho công nghiệp, xây dựng, quốc phòng và các nhu cầu khác của nền kinh tế thủ đô, đồng thời

mở rộng trên phạm vi cả nước và phục vụ mọi thành phần kinh tế Với mục tiêu như vậy Công ty kim khí Hà Nội căn cứ vào khả năng, nhiệm vụ của mình để xây dựng kế hoạch dài hạn được tối ưu và khả thi

Công ty kim khí Hà Nội đã xây dựng kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 cho mình như sau:

I Kế hoạch kinh doanh

1 Khối lượng (Đơn vị: tấn)

Chỉ

tiêu

1996 1997 1998 1999 2000

KH % KH % KH % KH % KH % Muavào

Trang 38

tiêu

Tồn kho đầu kỳ 121.998 122.000 102.500 102.500 102.500 Nhập trong kỳ 331.500 331.500 370.500 390.000 429.000 Xuất trong kỳ 331.500 351.000 370.500 390.500 429.000 Tồn kho cuối kỳ 121.998 102.500 102.500 102.500 102.500 Tồnkhobình quân 122.000 112.250 102.500 102.500 102.500 Vthh tồn kho

bình quân

122.000 112.250 102.500 102.500 102.500

Phí tồn kho 5.500 5.000 5.000 5.000 5.000 Phí hàng hoá 3.500 5.500 6.500 6.500 6.500 Vốn cần thiết

Vốn cấp 70%

Vốn vay 30%

131.00 70.000 39.300

122.75 52.500 36.255

114.000 80.000 34.000

114.000 80.000 34.000

114.000 80.000 34.000 Vốn lưu động

bán)

361.250 382.500 403.750 425.000 467.500

Doanhsố(giá vốn) 331.500 351.000 370.500 390.000 429.000 Lãi gộp 29.750 31.500 33.250 35.000 38.500

Tỷ lệ lãi gộp 8.2% 8.2% 8.2% 8.2% 8.2%

Số tiền 24.565 24.862 26.243 27.625 30.387

Tỷ lệ 6.8% 6.5% 6.5% 6.5% 6.5% Thuế doanh thu 3.612 3.825 4.037 4.250 4.675 Thựclãi

Trang 39

75

250

3.825 1.406 4.200

75

250

4.037 1.485 3.800

75

250

4.250 1.562 3.800

75

250

4.675 1.716 3.800

vị sử dụng Một mặt tiếp tục kinh doanh hàng nhập khẩu, nhưng mặt khác tập trung chú trọng kinh doanh hàng sản xuất trong nước, muốn như vậy công ty cần giải quyết một số vấn đề:

Đối với hàng nhập khẩu phải có giá cạnh tranh đựơc, và các mặt hàng về thời gian phải đảm bảo tiến độ kế hoạch Vấn đề này trong những năm vừa qua chưa giải quyết được, do công ty hoàn toàn phụ thuộc việc nhập khẩu của tổng công ty Trong 5 năm 1996-2000 nếu việc xuất nhập khẩu không thay đổi thì công ty vẫn tiếp tục khó khăn -Đối với kế hoạch sản xuất, công ty tiếp tục mở rộng, phát triển, cố gắng tăng hàng năm từ 10-15% đến năm 2000, sản xuất đạt 15 tỷ đồng, nhằm đảm bảo một khối lượng

Trang 40

II.Các mặt công tác khác

1 Để đáp ứng cơ chế thị trường và sự phát triển của đơn vị, công ty luôn có phương hướng củng cố tổ chức bộ máy, bố trí sắp xếp và đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ khả năng hoàn thành các nhiệm vụ được giao Thực hiện tốt các chế độ quy định về công tác cán bộ

và lao động tiền lương

2 Đầu tư xây dựng cơ bản: Công ty không có chủ trương đầu tư lớn, mà chủ yếu tu

bổ sửa chữa nhỏ hệ thống kho tàng, cơ sở sản xuất trong toàn đơn vị Nhằm duy trì khả năng sử dụng phục vụ cho kế hoạch sản xuất kinh doanh đảm bảo chất lượng hàng hoá bán ra, giữ vững và nâng cao chất lương sản phẩm do công ty sản xuất như đăng ký chất lương với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng Nhà nước

3 Quản lý tốt vật tư hàng hoá và tiền vốn, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực xảy ra, công ty luôn quan tâm công tác thanh tra bảo vệ thường xuyên kiểm tra đôn đôc, rút ra bài học quản lý, nhằm đảm bảo các chế độ qui định chính sách của Nhà nước Xây dựng đơn

vị vững mạnh toàn diện, đảm bảo cho trật tự an ninh an toàn mọi mặt

4 Cùng với sự phát triển sản xuất - kinh doanh sẽ đảm bảo việc làm cán bộ công nhân viên Cũng từ đó đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện, để phát huy hết khả năng, ngoài trách nhiệm đối với công việc, cần duy trì và phát động phong trào thi đua có nội dung và hình thức phù hợp Từ việc chăm lo đời sống, động viên khuyến khích tạo cho cán bộ công nhân viên sự tin tưởng, gắn bó cùng toàn thể đơn vị hoàn thành nhiệm

vụ kế hoạch

5.Tạo điều kiện và phối hợp chỉ đạo thống nhất giữa đảng uỷ, công đoàn, đoàn thanh niên và chính quyền tập trung vào mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch Đảm bảo việc làm và nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên Giữ vững và phát huy truyền thống,

Ngày đăng: 30/10/2016, 13:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w