I.Lý do chọn đề tài. Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại đại hội Đảng lần XI đã khẳng định rằng chúng ta cần phải Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo….” điều đó khẳng định việc đổi mới giáo dục là nhiệm vụ vừa cấp thiết vừa lâu dài đối với đất nước ta nói chung, ngành GD – ĐT nói riêng. Để đổi mới giáo dục, đổi mới PPDH thì việc đổi mới kiểm tra – đánh giá (KT ĐG) là một yêu cầu cần thiết, quan trọng và đó cũng là nhiệm vụ của mỗi giáo viên. Đánh giá được tầm quan trọng của việc đổi mới KT ĐG của các cấp học nói chung, của cấp THPT nói riêng bộ GD và ĐT đã tổ chức nhiều hội thảo, chuyên đề về đổi mới kiểm tra, đánh giá đồng thời đã phát hành nhiều tài liệu, các công văn hướng dẫn thực hiện. Là một giáo viên trẻ, với trách nhiệm và tâm huyết của mình tôi đã sớm ý thức được ý nghĩa của việc đổi mới phương pháp dạy học cùng với việc tiếp thu các kiến thức từ các chuyên đề do sở GD và ĐT Thanh Hóa tổ chức, nghiên cứu các tài liệu liên quan để áp dụng vào thực tiễn dạy học, đó chính là lí do thứ nhất để tôi chọn đề tài nghiên cứu này. Qua kinh nghiệm dạy học tôi nhận thấy rằng việc kiểm tra, đánh giá học sinh còn nhiều bất cập như: Ở một số lớp, một số bộ môn việc kiểm tra ở lớp chưa thực sự nghiêm túc tình trạng học sinh không tự giác, thiếu trung thực khi làm bài kiểm tra vẫn diễn ra. Việc biên soạn đề kiểm tra chưa được đầu tư thỏa đáng và có chiều sâu ở một số giáo viên…Những bất cập này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả đánh giá năng lực học tập của học sinh. Đánh giá thiếu khách quan, không chính xác năng lực học tập của học sinh sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hành vi, thái độ học tập của học sinh, ảnh hưởng đến niềm tin của học sinh trong học tập và quan trọng hơn ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách, con người học sinh. Ý thức được tầm quan trọng, ý nghĩa của việc kiểm tra để đánh giá đúng năng lực học sinh là động lực để tôi thực hiện nhiệm vụ giáo dục của mình và đó cũng chính là lí do thứ hai tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số hình thức đổi mới kiểm tra, đánh giá để nâng cao kết quả dạy học môn Toán THPT” . Kiểm tra như thế nào? Đánh giá ra sao? Để có được kết quả đúng, để có tạo được niềm tin và động lực học tập cho học sinh là hai câu hỏi thường trực mà tôi luôn tìm cách trả lời từ khi bắt đầu dạy học môn Toán THPT. Đối với môn Toán là môn học chính, quan trọng có ảnh hưởng đến nhiều môn học khác, ảnh hưởng đến việc hình thành hành vi, thái độ và tính cách của người học, hơn nữa môn Toán là một trong các môn chính trong các kỳ thi TN, thi tuyển vào các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp nên có nhiều ảnh hưởng đến việc lập nghiệp và định hướng tương lai của học sinh. Chính vì vậy việc tìm ra hình thức kiểm tra đánh giá sao cho phù hợp với đối tượng học sinh là việc làm rất quan trọng với giáo viên. Từ kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình dạy học môn Toán THPT đến kết quả đã và chưa đạt được chính là động lực và cũng là lí do thứ ba để tôi chọn đề tài nghiên cứu này.
Trang 1A.MỞ ĐẦU I.Lý do chọn đề tài.
Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại đại hội Đảng
lần XI đã khẳng định rằng chúng ta cần phải "Đổi mới căn bản, toàn diện nền
giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; đổi mới chươngtrình, nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục,phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo….” điều đókhẳng định việc đổi mới giáo dục là nhiệm vụ vừa cấp thiết vừa lâu dài đốivới đất nước ta nói chung, ngành GD – ĐT nói riêng Để đổi mới giáo dục,đổi mới PPDH thì việc đổi mới kiểm tra – đánh giá (KT- ĐG) là một yêu cầucần thiết, quan trọng và đó cũng là nhiệm vụ của mỗi giáo viên Đánh giáđược tầm quan trọng của việc đổi mới KT - ĐG của các cấp học nói chung,của cấp THPT nói riêng bộ GD và ĐT đã tổ chức nhiều hội thảo, chuyên đề
về đổi mới kiểm tra, đánh giá đồng thời đã phát hành nhiều tài liệu, các côngvăn hướng dẫn thực hiện Là một giáo viên trẻ, với trách nhiệm và tâm huyếtcủa mình tôi đã sớm ý thức được ý nghĩa của việc đổi mới phương pháp dạyhọc cùng với việc tiếp thu các kiến thức từ các chuyên đề do sở GD và ĐTThanh Hóa tổ chức, nghiên cứu các tài liệu liên quan để áp dụng vào thực tiễndạy học, đó chính là lí do thứ nhất để tôi chọn đề tài nghiên cứu này
Qua kinh nghiệm dạy học tôi nhận thấy rằng việc kiểm tra, đánh giá họcsinh còn nhiều bất cập như: Ở một số lớp, một số bộ môn việc kiểm tra ở lớpchưa thực sự nghiêm túc tình trạng học sinh không tự giác, thiếu trung thựckhi làm bài kiểm tra vẫn diễn ra Việc biên soạn đề kiểm tra chưa được đầu tưthỏa đáng và có chiều sâu ở một số giáo viên…Những bất cập này sẽ ảnhhưởng rất lớn đến kết quả đánh giá năng lực học tập của học sinh Đánh giáthiếu khách quan, không chính xác năng lực học tập của học sinh sẽ ảnhhưởng nghiêm trọng đến hành vi, thái độ học tập của học sinh, ảnh hưởng đếnniềm tin của học sinh trong học tập và quan trọng hơn ảnh hưởng đến việchình thành nhân cách, con người học sinh Ý thức được tầm quan trọng, ýnghĩa của việc kiểm tra để đánh giá đúng năng lực học sinh là động lực để tôithực hiện nhiệm vụ giáo dục của mình và đó cũng chính là lí do thứ hai tôi
chọn đề tài nghiên cứu: “Một số hình thức đổi mới kiểm tra, đánh giá để nâng
cao kết quả dạy học môn Toán THPT”
Kiểm tra như thế nào? Đánh giá ra sao? Để có được kết quả đúng, để cótạo được niềm tin và động lực học tập cho học sinh là hai câu hỏi thường trực
mà tôi luôn tìm cách trả lời từ khi bắt đầu dạy học môn Toán THPT Đối vớimôn Toán là môn học chính, quan trọng có ảnh hưởng đến nhiều môn họckhác, ảnh hưởng đến việc hình thành hành vi, thái độ và tính cách của ngườihọc, hơn nữa môn Toán là một trong các môn chính trong các kỳ thi TN, thituyển vào các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp nên có
-
GV: Trịnh Trọng Trung Trường THPT Hà Tông Huân 2
Trang 2-nhiều ảnh hưởng đến việc lập nghiệp và định hướng tương lai của học sinh.Chính vì vậy việc tìm ra hình thức kiểm tra đánh giá sao cho phù hợp với đốitượng học sinh là việc làm rất quan trọng với giáo viên Từ kinh nghiệm củabản thân tôi trong quá trình dạy học môn Toán THPT đến kết quả đã và chưađạt được chính là động lực và cũng là lí do thứ ba để tôi chọn đề tài nghiêncứu này.
II.Mục đích nghiên cứu:
Thông qua quá trình dạy học để tìm ra phương pháp phù hợp trong kiểmtra đánh giá học sinh từ đó nâng cao kết quả dạy và học môn Toán THPT
III.Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh THPT ( cụ thể đối tượng học sinh lớp 11A5, 11A6, 12 C6trường THPT Hà Tông Huân – Yên Định)
IV.Giới hạn của đề tài:
Đề tài tập chung vào các phương pháp, biện pháp cụ thể về đổi mới kiểmtra đánh giá áp dụng trong dạy học môn Toán THPT nói riêng, trong dạy họcnói chung
V.Nhiệm vụ của đề tài:
Đề tài sẽ trả lời cho các câu hỏi khoa học:
dạy học môn Toán THPT nói riêng?
môn Toán của học sinh?
VI.Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài, trong quá trình nghiêncứu người viết đã sử dụng, kết hợp nhiều phương pháp đó là:
+Nghiên cứu các loại tài liệu sư phạm, tâm lí có liên quan đến đề tài.+Phương pháp quan sát (công việc dạy và học của giáo viên và HS).+Phương pháp điều tra (nghiên cứu chương trình, đối tượng học sinh,…) + Phương pháp phân tích
+Phương pháp đàm thoại phỏng vấn (lấy ý kiến của giáo viên và HSthông qua trao đổi trực tiếp)
+Phương pháp thực nghiệm ( thống kê có đánh giá kết quả theo từng đốitượng, từng thời điểm… )
VII.Thời gian nghiên cứu:
Năm học 2009- 2010; 2010 – 2011
-
GV: Trịnh Trọng Trung Trường THPT Hà Tông Huân 2
Trang 3-B NỘI DUNG I: Cơ sở lí luận:
1.Cơ sở tâm lí học:
Theo các nhà tâm lí học: “Con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi nảysinh nhu cầu tư duy và đứng trước một khó khăn cần phải khắc phục” Vì vậy
GV cần phải để học sinh ý thức được nhiệm vụ và trực tiếp thực hiện nhiệm
vụ của mình, qua việc kiểm tra học sinh giáo viên sẽ tổng hợp kết quả để đánhgiá học sinh, phân loại khả năng học tập của học sinh từ đó tiếp tục tìm ranhững biện pháp phù hợp giáo dục học sinh
Đặc điểm tâm lý của học sinh lứa tuổi THPT đó là ý thích muốn chứng tỏmình trước bạn bè, thầy cô và người khác, muốn khám phá, tìm tòi những cáimới, muốn thể hiện khả năng chinh phục những khó khăn Tuy nhiên học sinhlứa tuổi này cũng rất dễ thiếu kiên nhẫn, bi quan sau những thất bại Vì lẽ đótrong việc kiểm tra học sinh giáo viên cần đưa ra những yêu cầu, thử thách đểhọc sinh tìm hiểu, khám phá Tuy nhiên nếu yêu cầu đưa ra quá cao mà nănglực của học sinh không đáp ứng để giải quyết được yêu cầu hoặc việc đánhgiá của giáo viên thiếu chính xác, thiếu khách quan sẽ rất dễ làm cho học sinhchán nản, thiếu tự tin từ đó giảm sút niềm tin trong học tập, trong cuộc sống…Những nhận định trên chứng tỏ rằng để đổi mới PPDH, đổi mới KT– ĐGkhông thể không tìm hiểu, nắm bắt tâm lý lứa tuổi của học sinh
2.Cơ sở giáo dục học:
Trong từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý định nghĩa kiểm tra là xemxét thực chất, thực tế Theo Bửu Kế, kiểm tra là tra xét, xem xét, kiểm tra làsoát xét lại công việc, kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhậnxét Còn theo Trần Bá Hoành, kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, nhữngthông tin làm cơ sở cho việc đánh giá
Như vậy, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểm travới nghĩa là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việcthực tế để đánh giá và nhận xét
Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống là quá trình thu thập và
xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục Căn
cứ vào mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hànhđộng trong giáo dục tiếp theo Cũng có thể nói rằng đánh giá là quá trình thuthập phân tích và giải thích thông tin một cách hệ thống nhằm xác định mức
độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục về phía học sinh Đánh giá có thể thựchiện bằng phương pháp định lượng hay định tính
Do vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh có thể xem làhai mặt của một vấn đề có quan hệ mật thiết với nhau Kiểm tra nhằm cung
-
GV: Trịnh Trọng Trung Trường THPT Hà Tông Huân 2
Trang 4-cấp thông tin để đánh giá và đánh giá thông qua kết quả của kiểm tra Haikhâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là kiểm tra- đánh giá.
3 Cơ sở thực tiễn:
Đánh giá chất lượng học tập các môn học của học sinh thực chất là xemxét mức độ hoàn thành mục tiêu giáo dục của môn học đó Bao gồm:Kiếnthức, kỹ năng, thái độ
Kiểm tra là công cụ, phương tiện, là hình thức chủ yếu quan trọng củađánh giá.Đổi mới kiểm tra đánh giá giúp cho người dạy đánh giá chính xáckết quả giáo dục một cách toàn diện từ đó điều chỉnh phương pháp dạy học đểkhông ngừng nâng cao chất lượng dạy học Đổi mới kiểm tra đánh giá giúpcho người học đánh giá chính xác thực lực của bản thân đối với từng môn,từng bài, từ đó giúp cho người học phấn đấu vươn lên trong học tập đồng thời
nó còn là động lực để thúc đẩy phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” Đổi mớikiểm tra đánh giá giúp cho công tác quản lý đánh giá đúng phong trào thi đuadạy và học của nhà trường
Đổi mới kiểm tra đánh giá giúp cho các nhà nghiên cứu giáo dục điềuchỉnh hợp lý nội dung phương pháp dạy học để đạt tới mục tiêu Đổi mớikiểm tra đánh giá là giải pháp thiết thực trong việc quán triệt cuộc vận động
“Hai không”
II: Thực trạng của đề tài:
Qua quá trình nghiên cứu để thực hiện đề tài, cùng với thực tiễn quátrình dạy học của bản thân Tôi nhận thấy rằng việc đổi mới KT – ĐG trongdạy học môn Toán THPT gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
1 Thuận lợi:
Được trang bị các trang thiết bị dạy học mới thuận lợi cho đổi mới PPDHnói chung, đổi mới KT – ĐG nói riêng như: Máy chiếu, máy tính có nốimạng…
Được cung cấp các tài liệu liên quan, được tiếp thu các chuyên đề về đổimới KT-ĐG do các nhà giáo dục, các nhà giáo có kinh nghiệm, chuyên môncao và tâm huyết hướng dẫn
Được sự ủng hộ, tạo điều kiện của Ban giám hiệu, của tổ chuyên môn,đồng nghiệp, học sinh và phụ huynh
Dễ dàng tiếp cận phương pháp dạy học mới, tài liệu, thông tin, số liệuhữu ích trong dạy học thông qua kho tài nguyên trên mạng Internet
2 Khó khăn:
Việc thực hiện đối mới KT – ĐG ở các trường nói chung, các bộ môntrong trường nói riêng chưa đồng bộ, quyết liệt dẫn đến khó khăn cho giáoviên khi thay đổi hình thức, phương pháp KT – ĐG
Thói quen đối phó, không tự giác trong các giờ kiểm tra của nhiều họcsinh được hình thành từ trước nên khó thay đổi trong một thời gian ngắn
-
GV: Trịnh Trọng Trung Trường THPT Hà Tông Huân 2
Trang 5-Đối với môn Toán THPT hàm lượng kiến thức rộng, có liên quan nhiềuđến kiến thức đã học ở các cấp học, lớp học trước nên thời gian dành chokiểm tra trong PPCT chưa đáp ứng được yêu cầu kiểm tra.
Việc nắm bắt kết quả tự KT – ĐG của học sinh khó bởi giáo viên không
dễ có được số liệu thật sự chính xác từ học sinh do tâm lý đối phó, thiếu tựgiác vẫn tồn tại và không dễ thay đổi ở nhiều học sinh
III: Các giải pháp giải quyết vấn đề:
Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu các giải pháp cụ thể để thực hiện đề tài.Thông qua quá trình thực tiễn dạy học môn Toán THPT tôi đã đúc rút và thựchiện có hiệu quả cá nhóm giải pháp sau:
1.Giải pháp 1: Kiểm tra ban đầu để đánh giá, phân loại học sinh.
Kiểm tra ban đầu (ngay từ những buổi học đầu tiên của năm học) khôngnằm trong PPCC nên không bắt buộc và cũng không dễ để thực hiện Bảnthân tôi nghĩ rằng việc kiểm tra ban đầu để đánh giá phân loại học sinh là việclàm cần thiết Bởi hoạt động này sẽ giúp giáo viên bước đầu đánh giá kháiquát năng lực học bộ môn của học sinh Việc đánh giá ban đầu và so sánh vớikết quả của năm học trước giáo viên sẽ đánh giá khái quát được việc ôn tập,củng cố kiến thức trọng tâm của học sinh sau khoảng thời gian nghỉ chuyểngiao năm học (nghỉ hè), đồng thời giáo viên bước đầu sẽ phân loại được nănglực học tập bộ môn của học sinh từ đó lên kế hoạch giảng dạy phù hợp với đốitượng học sinh Từ nhận định và suy nghỉ đó tôi đã thực hiện việc KT – ĐGnày như sau:
* Các bước tiến hành kiểm tra:
Bước 1: Lên kế hoạch về nội dung kiểm tra, hình thức kiểm tra và báo cáo chuyên môn nhà trường xin sắp xếp thời gian kiểm tra
+ Nội dung kiểm tra: Kiểm tra kiến thức trọng tâm môn toán đã học ởnăm học trước của học sinh các lớp 11 A5, 11 A6 và 12 C6
+ Hình thức kiểm tra: Kết hợp câu hỏi TNKQ và tự luận (4 điểm TNKQ,
6 điểm tự luận)
+ Thời gian: 2 tiết (không thuộc phân phối chương trình)
+ Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng: nhận biết (30 %), thông hiểu (40 %),vận dụng (30%)
Bước 2: Soạn đề kiểm tra theo yêu cầu về kiến thức, kỹ năng dự tính kiểm tra.
Bước 3: Thông báo cho học sinh chuẩn bị.
Ở bước này tôi tôi nêu rõ hình thức, nội dung và ý nghĩa của việc kiểmtra để học sinh hiểu được tác dụng của việc kiểm tra ban đầu đối với việc họccủa mình trong năm học Từ đó học sinh chuẩn bị và có tâm lý tự tin và sẵn
-
GV: Trịnh Trọng Trung Trường THPT Hà Tông Huân 2
Trang 6-sàng cho việc kiểm tra (kể cả với học sinh có năng lực học tập trung bình vàyếu).
Bước 4: Kiểm tra, chấm, trả bài.
Trong kiểm tra tôi quán triệt học sinh thực hiện nghiêm túc, tự giác theođúng quy chế thi Việc chấm bài, nhận xét bài làm, trả bài và thu thập số liệuđược thực hiện cẩn thận, khách quan ngay sau khi kiểm tra
* Các bước tiến hành đánh giá:
Bước 1: Thu thập số liệu, tổng hợp số liệu ( đo lường)
Ở bước này tôi tổng hợp kết quả kiểm tra và lập bảng so sánh với kết quảnăm học trước, từ đó bước đầu đánh giá, phân loại học sinh
Minh chứng 1: Bảng số liệu tổng hợp kết quả kiểm tra đầu năm.
Bước 2: Sử lí số liệu ban đầu (Lượng giá kết quả kiểm tra).
+Các lớp đều có tỉ lệ học sinh đạt điểm Yếu, Kém tăng hơn so với điểm
TB môn cả năm, ngược lại tỉ lệ học sinh đạt điểm Khá, Giỏi giảm
Bước 3: Đánh giá sau khi kiểm tra, thống kê và sử lí số liệu.
+ Việc thực hiện kiểm tra được tổ chức nghiêm túc ở cả ba lớp Tuyhọc sinh tự giác làm bài xong nhiều em vẫn có thái độ xem nhẹ, thậm chí coithường ý nghĩa của việc kiểm tra đầu năm
+ Các lớp 11 (11 A5, 11 A6) nhiều học sinh ít ôn tập, củng cố kiếnthức trong hè Một số học sinh đạt kết quả kém, không nắm được các kiếnthức cơ bản, trọng tâm trong chương trình toán lớp 10
+ Lớp 12 C6 số em học sinh đạt kết quả học tập Khá, Giỏi ở năm học
2009 – 2010 tích cực ôn tập, củng cố và mở rộng kiến thức, một số em họcsinh có kết quả TB không hoặc ít đầu tư thời gian ôn tập Số lượng học sinh
có kết quả Yếu, Kém so với điểm TB môn tăng hơn Tuy nhiên học sinh lớp
12 C6 vẫn có nhiều cố gắng hơn trong việc ôn tập, củng cố kiến thức so vớihọc sinh hai lớp 11 A5, 11 A6
Bước 4: Quyết định.
-
GV: Trịnh Trọng Trung Trường THPT Hà Tông Huân 2
Trang 7-Sau khi kiểm tra, tổng hợp và đánh giá kết quả tôi bước đầu đã tìm hiểuđược việc tự học, tự ôn tập của học sinh trong khoảng thời gian nghỉ hè Từ
đó tôi đã xây dựng kế hoạch dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh cáclớp Cụ thể một số biện pháp thực hiện như sau:
+ Tăng cường kiểm tra, đánh giá kịp thời các kiến thức cơ bản với các đốitượng học sinh có kết quả TB, Yếu, Kém
+ Đưa thêm những bài tập, tài liệu tham khảo nâng cao với đối tượng họcsinh Khá, Giỏi
+ Lên kế hoạch phụ đạo kiến thức cho đối tượng học sinh Yếu, Kém Bồidưỡng đối tượng học sinh Khá, Giỏi…
Mặc dù kết quả kiểm tra chỉ mang tính tương đối, tuy nhiên nếu thực hiệnnghiêm túc và theo đúng các bước tôi nghĩ rằng ít nhất giáo viên cũng nắmbắt được thái độ tự ôn tập, tự học kiến thức bộ môn của học sinh nói riêng, tậpthể học sinh nói chung Đây chính là một kênh khá quan trọng giúp ích chogiáo viên trong quá trình dạy học năm học mới
2 Biện pháp 2: Đổi mới các hình thức kiểm tra, đánh giá.
Kết quả việc KT – ĐG học sinh thường được thể hiện quả điểm số.Điểm số là số liệu không thể thiếu để đánh giá kết quả học tập của học sinh.Các môn học nói chung, môn toán nói riêng đều có các điểm kiểm tra miệng,kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm tra học kỳ… Hệ số của mỗicon điểm đều được quy định rất khoa học và chặt chẽ Chính vì thế nếu điểm
số của học sinh không phản ánh thực chất năng lực của học sinh đó sẽ dẫn đếnviệc đánh giá học sinh không đúng Kinh nghiệm qua một số năm trực tiếpgiảng dạy và qua quan sát, điều tra thực trạng giáo dục tôi nhận thấy một sốkhuyết điểm dẫn đến việc cho điểm học sinh không phản ánh đúng năng lựccủa học sinh như sau:
+ Điểm kiểm tra miệng: Giáo viên thường gọi học sinh lên bảng kiểm trabài cũ Do yêu cầu về thời lượng tiết học nên số học sinh được kiểm tra bài cũkhông nhiều Kết quả kiểm tra bài cũ được tính một điểm kiểm tra miệng,môn Toán thường được lấy 1 điểm KT miệng/ HS/ Học kỳ Vì thế có nhiềuhọc sinh khi được KT miệng và đạt điểm số cao hoặc vài điểm kém thường ítđược kiểm tra trong các lần khác điều này dẫn đến tình trạng học sinh đối phóvới việc kiểm tra miệng của giáo viên, nếu đã được tính điểm sẽ có tâm lý chủquan hoặc bi quan dẫn đến thiếu động lực trong việc học bài cũ Nếu vẫn tiếptục theo hình thức trên theo tôi sẽ dẫn đến tình trạng điểm KT miệng chỉ phảnánh kết quả nhất thời của học sinh đồng thời sẽ làm học sinh nảy sinh tâm lýđối phó và thiếu tự giác học bài cũ
+ Điểm kiểm tra thường xuyên (KTTX), kiểm tra định kỳ (KTĐK):Thường chỉ được tính điểm thông qua các bài kiểm tra Như vậy nếu một họcsinh rất tích cực xây dựng bài, tích cực học và làm bài tập xong nếu kết quảbài kiểm tra viết không tốt sẽ ảnh hưởng đến điểm TB môn của học sinh còn
-
GV: Trịnh Trọng Trung Trường THPT Hà Tông Huân 2
Trang 8-việc tích cực học tập, xây dựng bài trong cả một thời gian sẽ không được tínhtheo điểm.
+ Việc thực hiện nghiêm túc quy chế thi trong các giờ thi, kỳ thi ở nhiềugiáo viên vẫn chưa tốt Tình trạng học sinh sử dụng tài liệu, trao đổi bài vẫndiễn ra ở một số lớp, một số bộ môn Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đếnkết quả kiểm tra, kết quả thi của học sinh
Từ việc đánh giá một số hạn chế, nhược điểm tồn tại ở một số đồngnghiệp và cả bản thân tôi ở những năm học trước tôi nhận thấy cần thiết phảiđổi mới hình thức kiểm tra để đánh giá kết quả học tập của học sinh thực sựkhách quan, chính xác Cụ thể tôi đã thực hiện khi dạy học các lớp 11 A5, 11A6 và 12 C6 như sau:
2.1 Biện pháp đổi mới kiểm tra miệng:
Trong học kỳ 2 năm học 2010 – 2011 tôi đã thực hiện đổi mới hình thứckiểm tra miệng như sau:
Đối với mỗi lớp ngoài sổ ghi điểm cá nhân tôi lập một sổ riêng để tổnghợp kết quả sau các lần kiểm tra kiến thức đã học của học sinh Trong mộthọc kỳ mỗi học sinh ít nhất được kiểm tra 5 lần Việc kiểm tra bài cũ khôngcứng nhắc thực hiện kiểm tra chỉ ở những bài, tiết vừa học mà rộng hơn ởnhững bài cũ đã học trong chương, những kiến thức cơ bản đã học có áp dụngtrực tiếp vào bài học mới Số điểm bình quân sau các lần kiểm tra sẽ đượctính một điểm kiểm tra miệng Ngoài ra mỗi học sinh còn có một điểm kiểmtra miệng vào đầu các tiết học Việc làm này sẽ hạn chế tình trạng học sinhsau khi được kiểm tra miệng thường ít học bài cũ vì hoặc là tự mãn với kếtquả cao, hoặc là bi quan với kết quả thấp
Ghi chú: cột (*) = Số điểm kiểm tra miệng/ HS/ HK
Qua bảng số liệu tổng hợp được tôi nhận xét, đánh giá như sau:
-
GV: Trịnh Trọng Trung Trường THPT Hà Tông Huân 2
Trang 9-+ Phần trăm điểm KT miệng Khá, Giỏi ở học kỳ 2 thấp hơn ngược lại %điểm TB, Yếu – Kém cao hơn học kỳ 1 Tuy nhiên điểm số học kỳ 2 phản ánhtrung thực và toàn diện hơn bởi học sinh quan tâm nhiều hơn đến việc học bài
cũ, đến việc ôn tập kiến thức trọng tâm đã được học trong cả học kỳ
+ Những học sinh đạt được 1 điểm KT miệng cao vẫn tích cực học bài
cũ, ít tâm lý chủ quan Học sinh đạt 1 điểm KT miệng thấp tích cực hơn trongviệc học bài cũ
+ Hình thức kiểm tra này giúp đánh giá việc học bài cũ của học sinhđược thực hiện trong suốt học kỳ, việc đánh giá kết quả khách quan và chínhxác hơn
2.2 Biện pháp đổi mới kiểm tra thường xuyên.
Trong tập thể học sinh thường có sự phân hóa, có nhiều em kiến thức,năng lực tiếp thu tốt ngược lại có nhiều em còn kém Những học sinh có nănglực khá, giỏi thường xung phong chữa các bài tập, tích cực xây dựng bàingược lại học sinh có năng lực trung bình, yếu, kém thường tự ti, rụt rè ngạiphát biểu xây dựng bài trước tập thể Chính vì thế để tạo thêm động lực,khuyến khích học sinh chủ động, tích cực học tập tôi tăng cường việc kiểm trathường xuyên khi gọi ngẫu nhiên các em lên bảng chữa bài tập Kết quả củaquá trình thực hiện này sẽ được tổng hợp và quy điểm ( tính bình quân sốđiểm các lần kiểm tra) để tính vào điểm kiểm tra thường xuyên
Sau khi thực hiện hình thức đổi mới này tôi đã tổng hợp số liệu và đánhgiá tính hiệu quả như sau:
+ Học sinh có động lực, tích cực hơn trong việc làm bài tập ở nhà
+ Đối với học sinh có lực học trung bình ít biểu hiện tâm lý thụ động, tự
ti khi được gọi lên bảng chữa bài tập
+ Điểm kiểm tra thường xuyên phản ánh trung thực hơn kết quả học tậpcủa học sinh trong cả học kỳ
Giải pháp này theo tôi nếu thực hiện tốt và hiệu quả sẽ hạn chế được tìnhtrạng học đối phó với kiểm tra của học sinh đồng thời giúp giáo viên đánh giátương đối chính xác năng lực, thái độ học tập của học sinh Để thực hiện tốtđòi hỏi giáo viên phải thu thập, cập nhật số liệu thường xuyên, kịp thời.Thông qua cả quá trình dạy học để có biện pháp khích lệ, động viên, hướngdẫn, bồi dưỡng, phụ đạo cho từng đối tượng học sinh Trong việc kiểm tra nàynếu không sử lí khéo léo, phù hợp giáo viên rất dễ gây áp lực cho học sinhnhất là học sinh có lực học từ TB trở xuống
3 Giải pháp 3: Đổi mới công tác biên soạn các đề ôn tập, đề kiểm tra Thực hiện kiểm tra và đánh giá kết quả.
3.1 Đổi mới công tác biên soạn các đề ôn tập, đề kiểm tra:
Việc chuẩn bị và biên soạn các đề ôn tập, đề kiểm tra là rất quan trọng đốivới giáo viên, bởi đây là một công cụ hiệu quả nhất và thường được sử dụngnhất trong việc kiểm tra kết quả học tập của học sinh sau khi học xong mộtchủ đề, một chương, một học kỳ hay toàn bộ chương trình Nên nếu giáo viên
-
GV: Trịnh Trọng Trung Trường THPT Hà Tông Huân 2
Trang 10-không xác định rõ các mục tiêu dạy học về kiến thức, kỹ năng, -không xácđịnh rõ hình thức kiểm tra ( trắc nghiệm, tự luận hay kết hợp giữa trắc nghiệm
và tự luận), không xây dựng ma trận mục tiêu giáo dục và mức độ nhận thứctheo chuẩn kiến thức, không xây dựng được ma trận đề kiểm tra thì đề kiểm
sẽ khó đảm bảo được các yêu cầu giáo dục đặt ra
Đánh giá được điều đó cùng với việc được tiếp thu các chuyên đề về đổimới kiểm tra, đánh giá của Sở GD và ĐT tôi đã thực hiện công tác chuẩn bị
và biên soạn các đề kiểm tra theo các bước sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu giáo dục của đề kiểm tra bằng cách thiết lập
ma trận
Trước khi tiếp thu chuyên đề về “ biên soạn đề kiểm tra, xây dựng câu hỏi
và bài tập” do sở GD và ĐT tổ chức ở bước này tôi chưa nắm được cách thiếtlập ma trận về mục tiêu giáo dục, mức độ nhận thức đồng thời cũng chưa hiểuhết ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề này Trước đây ở bước này tôithường thực hiện bằng cách liệt kê mục tiêu kiểm tra chính, có đánh giá mức
độ kiến thức cần được kiểm tra song không được mã hóa bằng số liệu cụ thể.Ngay sau khi chuyên đề được tổ chuyên môn triển khai và áp dụng thực hiệntôi ngày càng nhận thấy được ý nghĩa của việc thiết lập này Cụ thể trong học
kỳ 2 – năm học 2010 – 2011 tôi đã thực hiện vấn đề này theo hướng dẫn của
tổ chuyên môn và qua tham khảo, nghiên cứu tài liệu
Minh chứng 3: Ma trận mục tiêu giáo dục và mức độ nhận thức theo chuẩn kiến thức, kĩ năng lớp 12, môn Toán, chủ đề ứng dụng đạo hàm.
Chủ đề hoặc mạch kiến thức,
kỹ năng
Mức cơ bản, trọng tâm của KT KN
Trọng số (Mức độ nhận thức của Chuẩn KT KN)
Tổng điểm
1 Sự liên quan giữa tính đơn
điệu của một hàm số và dấu của
điểm của hai đồ thị Sự tiếp xúc
giữa hai đường cong
Minh chứng 4: Ma trận mục tiêu giáo dục và mức độ nhận thức theo chuẩn kiến thức, kĩ năng lớp 12, môn Toán – chương trình cơ bản, chủ đề phương pháp tọa độ trong không gian.
-
GV: Trịnh Trọng Trung Trường THPT Hà Tông Huân 2
Trang 11-kỹ năng trọng tâm của
KT KN
(Mức độ nhậnthức của Chuẩn
Bước 2: Xác định mục tiêu dạy học và hình thức ra đề kiểm tra.
Trong những năm học trước đây tôi thường chọn hình thức kiểm tra tựluận, tuy nhiên nhược điểm của hình thức này đó là số lượng câu hỏi cần kiểmtra ít so với yêu cầu về kiến thức cần được kiểm tra điều này ảnh hưởng đếnviệc đánh giá, phân loại học sinh Năm học 2010 – 2011 tôi đã tiến hành ra đềkiểm tra theo hình thức kết hợp cả tự luận và trắc nghiệm Để so sánh và đánhgiá tính hiệu quả của hình thức kiểm tra tôi đã thực hiện hai hình thức kiểmtra (tự luận và kết hợp giữa tự luận với TNKQ) đối với hai tập thể lớp 11A5,11A6
Cụ thể trong biên soạn đề kiểm tra 1 tiết – Chương I – Đại số và giải tích11(Hàm số lượng giác và phương trình lượng giác) tôi tiến hành kiểm tra theohình thức tự luận với lớp 11A5, tự luận kết hợp với TNKQ với lớp 11 A6.Yêu cầu về kiến thức, kỹ năng: nhận biết (30 %), thông hiểu (40 %), vận dụng(30%) Sau khi chấm, tổng hợp kết quả tôi lập bảng so sánh với kết quả kếtquả lần kiểm tra trước (cụ thể kiểm tra đầu năm)
Minh chứng 5: Bảng tổng hợp kết quả kiểm tra 1 tiết – Chương I – Đại số 11 – Chương trình cơ bản.
+ Về việc tổ chức kiểm tra: Thực hiện nghiêm túc, đúng quy chế xong ởlớp 11A5 tình trạng trao đổi bài vẫn còn diễn ra, tình trạng này hầu như khôngdiễn ra ở lớp 11 A6
-
GV: Trịnh Trọng Trung Trường THPT Hà Tông Huân 2
Trang 12-+ Độ chênh lệch so với kết quả kiểm tra ban đầu ở lớp 11 A5 nhiều hơn
so với lớp 11 A6
Mặc dù kết quả kiểm tra ở lớp 11 A5 tốt hơn lớp 11 A6 (số học sinh đạtđiểm từ TB trở lên cao hơn) xong qua so sánh và đánh giá trên tôi vẫn nhậnđược kết quả thực nghiệm đó là: Hình thức kiểm tra kết hợp giữa tự luận vàTNKQ bao quát được nội dung câu hỏi cần kiểm tra hơn, phân loại khá chínhxác học sinh, hạn chế việc trao đổi bài của học sinh trong thời gian kiểm tra,thu được kết quả chính xác và trung thực hơn
Bước 3: Thiết lập ma trận đề kiểm tra.
Đây là một khâu rất quan trọng và cần thiết trong biên soạn đề kiểm tra.Việc thiết lập ma trận đề kiểm tra đã được các cấp quản lí giáo dục, các thầy
cô giáo đánh giá là một trong những hình thức đổi mới kiểm tra đánh giá, đổimới giáo dục cần thiết và hữu ích Ma trận đề kiểm tra có thể xem như mộttấm bản đồ quý của các nhà địa lý học Nếu không thiết lập ma trận hoặckhông coi trọng vấn đề này giáo viên rất dễ biên soạn một đề kiểm tra bị lạcchủ đề (giống như người đi đường bị lạc lối khi không có bản đồ vậy), không
có ma trận đề sẽ được biên soạn một cách chủ quan, định tính và rất khó đểphân loại học sinh, rất khó để bao quát chương trình, rất khó để thể hiện đượcmức độ trọng tâm kiến thức
Đánh giá được vai trò và ý nghĩa đó tôi đã rất nghiêm túc và thực hiệnđúng quy trình thiết lập ma trận cho đề kiểm tra Năm học 2010 – 2011 tôi đãthực hiện việc thiết lập ma trận từ các đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết, kiểm tra học
kỳ và cả các hệ thống câu hỏi ôn tập theo chương, học kỳ, cả năm học
Việc thiết kế ma trận được tiến hành theo các bước:
+ Liệt kê tên chủ đề chính cần kiểm tra
+ Quyết định tổng số điểm bài kiểm tra ( 10 điểm), tỉ lệ % tổng số điểmcủa các chủ đề
+ Tính số điểm cho mỗi chủ đề tương ứng với tỉ lệ %
+ Tính số điểm và quyết định số câu hỏi cho mỗi chuẩn tương ứng
+ Tính tổng số điểm và tổng số câu cho mỗi cột
+ Tính tỉ lệ % tổng số điểm phân phối cho mỗi cột
+ Đánh giá lại ma trận và chỉnh sửa nếu thấy cần thiết
Minh chứng 6: Ma trận đề kiểm tra 1 tiết – Chương I – Giải tích 12 Nội dung
1 0,25
1 0,25
3 1
-
GV: Trịnh Trọng Trung Trường THPT Hà Tông Huân 2