Mỗi dạng bài toán Hình có những phương pháp giải bài tập khác nhau, tuy nhiên khi làm bài tập Hình, nếu học sinh có được cái nhìn ở các góc cạnh khác nhau thì sẽ hiểu sâu sắc bài tập Hìn
Trang 14/ Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ……… trang 5
Phần II: Nội dung
2/ Thực trạng vấn đề nghiên cứu ……… trang 6
Phần III: Kết luận và khuyến nghị
1/ Đánh giá cơ bản về SKKN ……… trang 27
2/ Các khuyến nghị đề xuất ……… trang 27
Tư duy là một hình thức nhận thức lí tính của con người Về mặt tâm
lí thì tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất,
Trang 2những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hịên
tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó con người chưa biết
Tư duy thể hiện sự phát triển của con người trong xã hội Tư duy không tự
nhiên mà có mà do quá trình rèn luyện lâu dài, muốn tư duy phát triển cần
được rèn luyện thường xuyên, học các môn các môn khoa học tự nhiên đặc
biệt là môn Toán sẽ phát triển tư duy rất tốt Lứa tuổi THCS đang phát triển
mạnh về tư duy nên giáo viên cần quan tâm không được xem nhẹ vấn đề
này
Mỗi dạng bài toán Hình có những phương pháp giải bài tập khác nhau, tuy
nhiên khi làm bài tập Hình, nếu học sinh có được cái nhìn ở các góc cạnh
khác nhau thì sẽ hiểu sâu sắc bài tập Hình và hơn nữa tìm được cái đẹp của
môn Toán Cái nhìn ở các phương diện khác nhau chính là cách thay đổi
bài toán có thể trở thành bài dễ hơn nhưng cũng có thể thành bài toán khó
hơn Khi làm được như vậy thì ý thức tự học của học sinh sẽ cao hơn,
những bài tập khó sẽ trở nên dễ hơn, và quan trọng nhất là học sinh có
được sự tự tin khi làm bài tập
Trong định hướng đổi mới phương pháp bậc THCS thì tự học là một yêu
cầu quan trọng đối với học sinh Tự học giúp cho HS say mê học tập, hiểu
sâu kiến thức và quan trọng hơn là phát triển óc sáng tạo Vấn đề đặt ra là
làm thế nào có thể giúp HS tạo hứng thú trong việc tự học, tìm thấy niềm
vui khi học toán Để làm được như vậy thì GV phải cung cấp cho học sinh
hệ thống bài tập từ dễ đến khó, cho học sinh nhìn thấy những bài toán khó
đều bắt đầu từ những bài toán cơ bản HS cảm thấy bản thân cũng có thể
tạo ra các bài toán có dạng tương tự như vậy
Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài này, giúp học sinh thay đổi cách nhìn
về bài toán, thay đổi phong cách học tập và tư duy cho phù hợp với lứa
tuổi, bằng cách nêu nên cách dạy một số bài toán Hình cơ bản trong sách
Trang 3giáo khoa, thay đổi, phát triển bài toán đó thành những bài toán khác nhau.
Làm được như vậy học sinh sẽ thấy tự tin hơn khi gặp bài toán lạ có khả
năng tự tìm lời giải cho bài toán, phát huy tính sáng tạo để đáp ứng nhu cầu
của cuộc sống hiện đại
2/ Mục đích nghiên cứu:
Đây là đề tài rộng và ẩn chứa nhiều thú vị bất ngờ thể hiện rõ vẻ đẹp
của môn Hình học và đặc biệt nó giúp phát triển rất nhiều tư duy của học
sinh, nếu vấn đề này tiếp tục được khai thác hàng năm và được sự quan tâm
góp ý của các thầy cô thì chắc hẳn nó sẽ là kinh nghiệm quý dành cho việc
dạy học sinh khá giỏi.Vì đây là đề tài rộng nên trong kinh nghiệm này chỉ
trình bày một vài chương của môn Hình lớp 9, chủ yếu là phần đường tròn
do chương này gần gũi với học sinh và xuất hiện nhiều trong các kì thi
Chỉ có thể thấy được sự thú vị của những bài toán này trong thực tế giảng
dạy, những bài toán cơ bản nhưng cũng có thể làm cho một số học sinh khá
lúng túng do chưa nắm được những bài toán cơ bản Khi đi sâu tìm tòi
những bài toán cơ bản ấy không những học sinh nắm sâu kiến thức mà còn
tìm được vẻ đẹp của môn Hình Vẻ đẹp đó được thể hiện qua những cách
giải khác nhau, những cách kẻ đường phụ, những ý tưởng mà chỉ có thể ở
môn Hình mới có, làm được như vậy học sinh sẽ yêu thích môn Hình Đó
là mục đích của bất kì giáo viên dạy ở môn nào cần khêu gợi được niềm
vui, sự yêu thích của học sinh ở môn học đó Nhưng mục đích lớn nhất
trong việc dạy học là phát triển tư duy của học sinh và hình thành nhân
cách cho học sinh.Qua mỗi bài toán học sinh có sự nhìn nhận đánh giá
chính xác, sáng tạo và tự tin qua việc giải bài tập Hình đó là phẩm chất của
con người mới
Trang 43/ Kết quả cần đạt:
Các bài tập Hình đều phát triển dựa trên những bài toán cơ bản trong
sách giáo khoa và sách bài tập nên mục đích cần hướng đến là HS trung
bình cần phải làm tốt những bài tập này
Sau đó GV phải giúp cho số học sinh đó hiểu được một số bài toán phát
triển từ bài toán cơ bản đó nhưng quan trọng hơn GV cần giúp cho học sinh
hiểu được hướng phát triển một bài toán Tại sao phải làm như vậy? Làm
như thế đạt được mục đích gì? Qua đó giúp các em say mê môn Toán, số
học sinh làm được điều này không nhiều vì đây là vấn đề khó cần sự kiên
trì và cố gắng của cả HS và GV mặc dù vậy tôi hướng đến 1/3 số học sinh
đạt được điều này, có thể học sinh sẽ không tạo ra những dạng mà thầy đã
làm vì vốn kinh nghiệm của học sinh còn rất hạn chế nên GV cần phải
động viên giúp các em tự tin hơn Việc sáng tạo đó không những cần có
kiến thức vô cùng chắc chắn học sinh cần có sự nhạy cảm của toán học
Điều này chỉ phù hợp với học sinh giỏi nên tôi chỉ áp dụng yêu cầu này
trong quá trình dạy học sinh giỏi Cho dù là học sinh giỏi hay học sinh
trung bình khi nhìn một bài toán dưới nhiều góc độ thì học sinh đó sẽ tự tin
hơn, thích thú hơn với môn học, yếu tố đó rất quan trọng trong quá trình tự
học, nó giúp quá trình rèn luyện hình thành tư duy cho học sinh tốt hơn
4/ Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài này được viết trong quá trình dạy và học, được rút ra từ một
số kinh nghiệm nhỏ trong quá trình dạy học ở trường THCS Vĩnh Phong và
trường THCS Nhân Hoà nên đương nhiên đối tượng là học sinh của các
trường đại trà không có nhiều học sinh khá giỏi Đối tượng chính là học
Trang 5sinh lớp 9 trường THCS Nhân Hoà Trường THCS Nhân Hoà có 2 lớp 9
với 90 học sinh nhưng chủ yếu là học sinh trung bình và khá, số lượng học
sinh giỏi rất ít nên việc đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi luôn là việc rất khó
khăn của nhà trường Chính đối tượng học sinh chiếm chủ yếu là học sinh
trung bình và khá cộng thêm với phạm vi nhỏ hẹp nên vấn đề được nghiên
cứu rất đơn giản, nâng cao từng cấp độ để phù hợp với từng đối tượng học
sinh
Phần II
1/ Cơ sở lí luận:
Do tư duy là thuộc tính của tâm lí, tư duy hình thành và phát triển theo
từng giai đoạn trong quá trình trưởng thành của con người Tư duy đặc biệt
phát triển mạnh ở giai đoạn thanh, thiếu niên Vì vậy giáo viên cần phải
quan tâm đến phương pháp giảng dạy nhằm phát triển tư duy cho học sinh
một cách tốt nhất Tất cả các môn học đều phát triển tư duy cho học sinh
nhưng môn toán có vai trò quan trọng hơn cả Giải bài tập toán là lúc học
sinh được thể hiện kĩ năng, tính sáng tạo, phát triển óc tư duy
Các bài tập Hình trong sách giáo khoa rất đa dạng nhưng làm sao để cho
phần lớn các học sinh khá và trung bình nhớ lâu, hiểu vấn đề đó mới là
quan trọng Do đặc điểm của môn Hình khó, phải tư duy trừu tượng và kèm
thêm việc vẽ hình phức tạp nên GV phải tạo cho học sinh kĩ năng vẽ hình
và hướng dẫn học sinh tư duy dựa trên những bài toán cơ bản
2 Thực trạng vấn đề cần nghiên cứu:
Trường THCS Nhân Hoà là một trường nhỏ không có lớp chọn, trường
có 8 lớp chia đều cho các khối Phần lớn học sinh học khá và trung bình, kĩ
Trang 6năng cơ bản không có Những học sinh xuất sắc của xã đều chuyển trường
khác nên trường rất khó có học sinh giỏi Việc dạy ôn thi học sinh giỏi là
trách nhiệm quan trọng của nhà trường Năm học này tôi được phân công
dạy 2 lớp 9 của trường Mỗi lớp có 45 học sinh trong đó quá nửa là học
sinh trung bình và khá Mục tiêu chính của trường chúng tôi là nâng cao
chất lượng đại trà, củng cố thêm cho học sinh giỏi, bên cạnh việc hình
thành cho học sinh ý thức của con người mới: sáng tạo và năng động
Trong quá trình dạy Hình tôi đã lựa chọn một phương pháp dạy cụ thể
nhằm nâng cao chất lượng cho học sinh Sau đây là nội dung tôi trình bày:
3/ Giải pháp thực hiện:
Bài toán 1: (Bài 11 SGK tập 1/ trang 104 – NXBGD 2005)
Cho đường tròn (O) đường kính AB, dây CD không cắt đường kính
AB Gọi H và K theo thứ tự là chân các đường vuông góc kẻ từ A và B đến
CD Chứng minh rằng: CH = DK
Gợi ý: Kẻ OM vuông góc với CD.
Vì đây là bài tập ở trong phần bài “đường kính
và dây của đường tròn” nên khi có hướng dẫn kẻ
OM vuông góc với CD thì học sinh sẽ nhận thấy CM = CD
Vậy để chứng minh CH = DK ta phải chứng minh điều gì?
Khi đó học sinh sẽ nghĩ đến việc chứng minh MK = MH
Việc chứng minh MK = MH không có gì khó khăn cả khi nhận xét được
ABKH là hình thang có OM là đường trung bình của hình thang
Thông thường học sinh sẽ vẽ hình như hình vẽ trên
C
DM
OH
K
Trang 7GV gợi ý nếu dây CD song song với AB thì việc chứng minh sẽ như
thế nào? Dễ hơn hay khó hơn?
Bài toán 2: Cho đường tròn (O) đường kính AB,
dây CD song song với đường kính AB Gọi H và
K theo thứ tự là chân các đường vuông góc kẻ từ
A và B đến CD Chứng minh rằng: CH = DK
Khi CD song song với AB thì không cần thiết phải kẻ OM vuông góc với
CD như bài tập 1 Nhận thấy ngay rằng ABDC là hình thang cân suy ra AC
= BD, Như vậy AHC = BKD suy ra HC = DK
Nếu dây CD cắt đường kính AB thì điều này còn đúng không? Hãy vẽ hình
và dự đoán Học sinh sẽ nhận ra bài toán sau:
Bài toán 3: Cho đường tròn (O) đường kính AB,
dây CD cắt đường kính AB Gọi H và K theo thứ
tự là chân các đường vuông góc kẻ từA và B đến
CD Chứng minh rằng: CH = DK
Bài tập này tương tự như bài toán 1, rất tự nhiên học sinh sẽ kẻ OM vuông
góc với CD Khi đó CM = DM, bây giờ chứng minh HM = DM
Đây là bài toán cơ bản của lớp 8:
Cho hình thang AHBK (AH//BK), O là trung
điểm của AB, M là điểm thuộc HK sao cho
OM song với AH Chứng minh HM = MK
BK
Trang 8Như vậy bài toán 3 đã chứng minh song.
Tuy nhiên việc chứng minh bài toán 3 bằng cách trên không phải đơn giản
vì bài tập hình 8 nêu trên là một bài khó đối với học sinh yếu lớp 9
GV cần khơi dậy cho học sinh sự tò mò tìm ra cách khác Để tránh phải
chứng minh dựa vào tính chất hình thang học sinh phải kẻ thêm đường kính
EF song song với CD
Ta có AOQ = BOP QO = PO
HM = MK mà MD = MC
nên CH = DK
Cách này chứng minh đơn giản hơn nhưng
phải kẻ thêm đường phụ
Qua bài toán 1 nếu thay đổi giả thiết bài toán, từ C và D kẻ vuông góc
với CD thì bài toán có gì đặc biệt?
HS sẽ nhận thấy được bài toán mới tương tự:
Bài toán 4: Cho đường tròn (O) và đường kính AB dây CD không cắt AB,
từ C và D kẻ các đường thẳng vuông góc với CD cắt đường thẳng AB lần
lượt tại H và K Chứng minh rằng: AH = BK
Tương tự như bài tập 1, rất tự nhiên học sinh sẽ nghĩ
đến việc kẻ OM vuông góc với CD
D
E
FPQ
C
OH
DKM
Trang 9Nếu CD // AB thì bài toán sẽ đơn giản hơn nhiều, tương tự như bài
tập 2, không cần kẻ thêm đường phụ OM CD ta cũng có thể chứng minh
được dựa vào các trường hợp bằng nhau của tam giác.
Khi CD cắt AB thì bài toán này còn đúng không? Hãy để cho học sinh
suy nghĩ, tự vẽ hình và dự đoán AH = BK? Khi đó GV cho học sinh làm
bài tập mới tương tự:
Bài toán 5: Cho đường tròn (O) và đường kính AB dây CD cắt AB, từ C
và D kẻ các đường thẳng vuông góc với CD cắt đường thẳng AB lần lượt
tại H và K Chứng minh rằng: AH = BK
Kẻ OM vuông góc với CD,
HC CD; DK CD HDKC
là hình thang vuông, vì OM CD
nên CM = DM OM là đường nối trung điểm hai đường chéo của hình
thang HDKC nên OH = OK Từ đó suy ra AH = BK
Cách khác:
Kẻ thêm đường kính EF song song với
dây CD, vì OM với dây CD nên
CM = MD FO = EO
HOF = KOE (g.c.g)
OH = OK AH = BK
Lại quay trở lại bài toán 1 ta thay đổi đề thành bài tập có dạng lạ hơn:
Bài toán 6: Cho đường tròn (O;R) đường kính AB, dây CD quay quanh
điểm I cố định trong (O) (I ≠O) sao cho dây CD không cắt đường kính AB
Vẽ AP CD, BQ CD Chứng minh: P, Q nằm bên ngoài (O)
C
OH
D
KM
C
OH
D
KM
EF
C
DIP
Q
Trang 10Bài toán này không có gì đặc biệt, rất dễ nhận
thấy sự tồn tại của bài toán nhưng chính sự hiển
nhiên này mà bài toán làm cho nhiều học sinh lúng
túng GV cần hướng dẫn chi tiết giúp cho học sinh
có thể giải quyết vấn đề thật tự nhiên và nhẹ nhàng:
Nối O với P và O với Q
Vì ABQP là hình thang nên góc A + góc B = 1800
Giả sử góc A ≤ 900 thì góc B 900
Xét OBQ có góc B 900 nên OQ > OB = R
vậy Q nằm ngoài đường tròn
ta lại có OPQ cân tại O nên OP = OQ > R
vậy P nằm ngoài đường tròn
Dây CD quay quanh điểm I thì kéo theo rất nhiều yếu tố thay đổi Khi đó
ta có bài toán mới hay hơn:
Bài toán 7: Cho đường tròn (O;R) đường kính AB, dây CD quay quanh
điểm I cố định trong (O) (I ≠O) sao cho dây CD không cắt đường kính AB
Vẽ AP CD, BQ CD Tìm vị trí của dây CD để AP + BQ lớn nhất
Ở bài toán 1 ta biết khi kẻ OM CD thì OM là
đường trung bình của hình thang ABQP
AP + BQ = 2OM ≤ 2OI
Vậy AP + BQ lớn nhất bằng 2OI, dấu ‘=’ xảy ra
khi CD với OI
C
DI
O
MP
Q
Trang 11Ta có nhận xét khi CD quay quanh I, độ dài của đoạn CD sẽ thay đổi,
như vậy ta có bài toán mới:
Bài toán 8: Cho đường tròn (O;R) đường kính AB, dây CD quay quanh
điểm I cố định trong (O) (I ≠O) sao cho dây CD không cắt đường kính AB
Tìm vị trí của dây CD sao cho dây cung CD có độ dài ngắn nhất
Theo tính chất mối quan hệ giữa dây cung
và khoảng cách từ tâm đến dây CD ngắn
nhất khi OM dài nhất
Xét OMI vuông tại M ta có:
OM ≤ OI CD ngắn nhất khi OM = OI
Vậy dây CD ngắn nhất khi CD OI
Bài toán 9: Cho đường tròn (O;R) đường kính AB, dây CD quay quanh
điểm I cố định trong (O) (I ≠O) sao cho dây CD không cắt đường kính AB
Tìm vị trí của dây CD sao cho dây cung CD có độ dài dài nhất
Nếu hình chiếu của điểm I trên AB nằm giữa
A và O thì vị trí để CD dài nhất là dây đi qua
I và B
Nếu hình chiếu của điểm I trên AB nằm giữa
B và O thì vị trí để CD dài nhất là dây đi qua
I và A
C
DI
OM
C
DI
O
MP
Q
Trang 12Khi dây CD cắt đường kính AB thì ta có hệ thống bài tập tương tự, đầu tiên
là bài tập sau:
Bài toán 10: Cho đường tròn (O;R) đường kính AB, dây CD quay quanh
điểm I cố định trong (O) (I ≠O) sao cho dây CD cắt đường kính AB Vẽ AP
CD, BQ CD Chứng minh: P, Q nằm bên trong (O)
Cách làm bài này tương tự như cách chứng minh
P, Q nằm ngoài đường tròn (O)
Yêu cầu học sinh về nhà làm bài tập này
Chúng ta xét bài toán tiếp theo
Bài toán 11: (Bài 30 SGK toán 9 tập 1 trang 116, NXBGD năm 2005)
Cho nửa đường tròn tâm O có đường kính AB (đường kính của một đường
tròn chia đường tròn đó thành 2 nửa đường tròn) Gọi Ax và By là các tia
vuông góc với AB (Ax, By và nửa đường tròn thuộc cùng một nửa mặt
phẳng bờ AB) Qua điểm M thuộc nửa đường tròn (M khác A và B), kẻ tiếp
tuyến với nửa đường tròn, nó cắt Ax và By theo thứ tự ở C và D Chứng
minh rằng: a, góc COD = 900
b, CD = AC + BD
c, Tích AC.BD không đổi khi M di chuyển trên nửa đường tròn
Rõ ràng đây là bài toán khó đối với học sinh
đại trà, giáo viên cần hướng dẫn chi tiết kể cả
lời giải để học sinh có thể học cách trình bày:
a, Theo tính chất 2 tiếp tuyến cắt nhau tại một
điểm ngoài đường tròn thì:
góc AOC = góc COM góc MOD = góc DOB
C
D
. IO
P
QM
x
y
MC
D
Trang 13mà góc AOB = 1800 nên góc COD = 1800 : 2 = 900
b, Theo tính chất của 2 tiếp tuyến cắt nhau ta có :
AC = CM và BD = DM
Từ đó suy ra AC + BD = CM + MD = CD
c, Vì tam giác COD là tam giác vuông tại O nên OM2 = CM.DM
AC.BD = OM2 = R2 ( không đổi)
Vậy khi điểm M di chuyển trên nửa đường tròn thì AC.BD không đổi
Giống như dạng bài toán 1, ta thay đổi đề bài tương tự như vậy ta có bài
mới như sau:
Bài toán 12:
Cho nửa đường tròn tâm O có đường kính AB (đường kính của một đường
tròn chia đường tròn đó thành 2 nửa đường tròn) Gọi Ax và By là các tia
vuông góc với AB (Ax, By và nửa đường tròn thuộc cùng một nửa mặt
phẳng bờ AB) Qua điểm M thuộc nửa đường tròn (M khác A và B), kẻ tiếp
tuyến với nửa đường tròn, nó cắt Ax và By theo thứ tự ở C và D
Hỏi điểm M ở vị trí nào thì CD ngắn nhất
Học sinh dễ dàng thấy ABDC là hình thang vuông
Kẻ CH BD nên AB = CH ≤ CD
Vậy CD nhỏ nhất khi CD = CH Mà CD là tiếp tuyến
từ M của nửa đường tròn (O)
Vậy M là điểm chính giữa của cung AB
Từ bài tập này ta có bài toán mới:
Bài toán 13:
Cho nửa đường tròn tâm O có đường kính AB (đường kính của một đường
tròn chia đường tròn đó thành 2 nửa đường tròn) Gọi Ax và By là các tia
vuông góc với AB (Ax, By và nửa đường tròn thuộc cùng một nửa mặt
y
x
MC
DH
Trang 14phẳng bờ AB) Qua điểm M thuộc nửa đường tròn (M khác A và B), kẻ tiếp
tuyến với nửa đường tròn, nó cắt Ax và By theo thứ tự ở C và D
Hỏi điểm M ở vị trí nào thì tứ giác ABDC có chu vi nhỏ nhất Tính chu vi
đó theo bán kính R của đường tròn (O)
Như bài tập trên học sinh có ngay
AC = AM và MD = DB
Vậy AC + BD = CD
Ta có chu vi của tứ giác ABDC là
AB + BD + DC + CA = AB + 2CD 3AB = 6R
Vậy chu vi của tứ giác ABDC nhỏ nhất bằng 6R
khi M là điểm chính giữa của cung AB
Bài toán 14: Cho nửa đường tròn tâm O có đường kính AB (đường kính
của một đường tròn chia đường tròn đó thành 2 nửa đường tròn) Gọi Ax và
By là các tia vuông góc với AB (Ax, By và nửa đường tròn thuộc cùng
một nửa mặt phẳng bờ AB) Qua điểm M thuộc nửa đường tròn (M khác A
và B), kẻ tiếp tuyến với nửa đường tròn, nó cắt Ax và By theo thứ tự ở C và
D AM cắt CO ở E và BM cắt DO ở F
Chứng minh rằng: tứ giác OEMF là hình chữ nhật
Đây là bài tập cơ bản, học sinh sẽ chứng minh
3 góc tại đỉnh E,M,F vuông dễ nhất
Thật vậy: Góc M = 900 ( góc nội tiếp chắn nửa
D