- Việc ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn là cần thiết Sự cần thiết của việc sử dụng CNTT vào dạy học môn Ngữ văn nói chung, dạy học TPVC nói riêng hiện nay đã có nhiều chuyển biến song
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ THỰC TRẠNG VÀ CÁCH ĐÁNH GIÁ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ KHI SOẠN GIẢNG TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở
TRƯỜNG THPT”
Trang 2A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
1. Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết
- Sự bùng nổ của CNTT và việc ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH
Sự bùng nổ của CNTT trên mọi lĩnh vực đang diễn ra hiện nay đòi hỏi ngành giáo dục cũng phải đổi mới theo hướng sử dụng những thành tựu của CNTT vào việc đổi mới PPDH, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, hiệu quả đào tạo
Đó là xu hướng tất yếu mang tính toàn cầu Chỉ thị 29/2001/CT-CGD-ĐT cũng
nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như là công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho việc đổi mới PPDH ở tất cả các môn học”.
- Việc ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn là cần thiết
Sự cần thiết của việc sử dụng CNTT vào dạy học môn Ngữ văn nói chung, dạy học TPVC nói riêng hiện nay đã có nhiều chuyển biến song vẫn còn khá dè dặt Theo quan điểm của tôi, sử dụng CNTT vào dạy học bộ môn Ngữ văn không còn là vấn đề bàn cải, quan trọng là sử dụng như thế nào để đạt hiệu quả dạy học tối ưu
- Tình hình nghiên cứu sử dụng CNTT vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT và việc đánh giá BGĐT
Vấn đề này đã được quan tâm từ những thập kỉ trước Nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết về vấn đề
này GS Phan Trọng Luận với bài viết “CNTT với việc giảng dạy bộ môn KHXH
- NV trong nhà trường” đã khẳng định việc đưa những thành tựu của CNTT vào dạy học Văn là hết sức cần thiết PGS.TS Đỗ Ngọc Thống với bài “Ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn”, tác giả Phong Lê với bài viết “Văn học và công cuộc đổi mới”,… đều nhấn mạnh vai trò của CNTT đối với việc đổi mới PPDH
môn Ngữ văn trong nhà trường hiện nay Một số khóa luận, luận văn thạc sĩ giáo dục học gần đây cũng đã nghiên cứu việc sử dụng CNTT vào dạy học Ngữ văn
Đề tài “Khai thác và sử dụng Internet trong dạy học Ngữ văn ở THPT”, tác giả
Trần Thị Ngà đã khẳng định vai trò tất yếu của CNTT trong dạy học bộ môn
Ngữ văn ở trường THPT hiện nay Đề tài “Sử dụng kết hợp câu hỏi tự luận và trắc nghiệm khách quan với sự hỗ trợ của PowerPoint trong dạy học Tiếng Việt 10” đều nhấn mạnh tính cấp thiết, tính khả thi của việc sử dụng CNTT vào giảng
dạy bộ môn Ngữ văn Nhìn chung các công trình nghiên cứu nói trên đều đi đến khẳng định vai trò quan trọng và tính cấp thiết của việc sử dụng CNTT vào dạy học trong nhà trường phổ thông hiện nay Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chỉ thiên về việc ứng dụng CNTT vào thiết kế BGĐT chứ chưa có công trình
Trang 3nào khảo sát thực trạng thiết kế BGĐT và định hướng cách đánh giá tính khoa học, tính sư phạm, tính thẩm mĩ khi thiết kế BGĐT dạy TPVH
- Một số GV dạy Văn kĩ năng thiết kế và đánh giá BGĐT còn hạn chế
Thực tế nhiều GV biết rằng dạy học bằng BGĐT là cần thiết, phù hợp với giáo dục hiện nay, nâng cao vẻ đẹp hiện đại của người GV Thế nhưng việc thiết kế một bài giảng là rất công phu, và mất nhiều thời gian thành ra lười đầu tư, dần dần
ít có kinh nghiệm và kĩ năng thiết kế BGĐT Một số GV trẻ thì có kĩ năng soạn BGĐT song lại chưa được trang bị nhiều về PPDH, kĩ thuật dạy học nên thiên về trình diễn kĩ thuật làm mất đi tính khoa học, tính sư phạm và thẩm mĩ trong soạn BGĐT Hơn thế nữa những GV dự giờ đánh giá góp ý cho GV dạy BGĐT cũng chưa có những sự thống nhất trong tiêu chí đánh giá Đôi lúc có rất nhiều GV có trình độ và kĩ năng sử dụng CNTT nhưng lúng túng khi thiết kế BGĐT
Đó là điều khiến tôi trăn trở để quyết tâm viết SKKN với đề tài: “ Một số
thực trạng và cách đánh giá Bài giảng điện tử khi soạn giảng tác phẩm văn chương ở trường THPT” Thiết nghĩ, đây là một vấn đề có ý nghĩa lí luận và
thực tiễn, giúp GV thoát khỏi tình trạng lúng túng trong thiết kế cũng như đánh giá một BGĐT khi soạn giảng TPVC như thế nào cho có hiệu quả nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Ngữ văn nói riêng, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường nói chung
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới
- Với học sinh: Từ việc thiết kế BGĐT khoa học hợp lý của người GV sẽ
tạo sự hứng thú, tích cực trong hoạt động nhận thức của HS
- Với GV: Từ việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất cách đánh giá BGĐT
giúp GV có thêm kinh nghiệm và hoàn thiện hơn kĩ năng thiết kế BGĐT
- Với người quản lý: Đây sẽ là tài liệu tham khảo thiết thực giúp cho
người quản lý chuyên môn khi dự giờ, đánh giá việc thiết kế BGĐT dạy học TPVC của GV khoa học hơn
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu thực trạng thiết kế BGĐT dạy học TPVC và đề xuất cách đánh giá khi thiết kế một BGĐT nhằm góp phần đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng dạy học TPVC nói riêng, bộ môn Ngữ văn nói chung
II. Phương pháp tiến hành
2.1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
2.1.1. Cơ sở lí luận của đề tài
2.1.1.1. Thế nào là Bài giảng điện tử (BGĐT) ?
Trang 4CNTT gồm có máy tính điện tử, giáo trình điện tử, BGĐT BGĐT chính là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của GV trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được Multimedia hoá một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học
2.1.1.2. Những ưu điểm và hạn chế chung khi soạn giảng TPVC bằng
BGĐT
Môn Ngữ văn với thuộc tính vừa là môn học (khoa học) vừa là nghệ thuật (ngôn từ) nhưng QTDH văn không chỉ sử dụng nghệ thuật ngôn từ như đã có quan niệm: dạy học văn không cần thiết phải sử dụng hoặc sử dụng nhiều đồ dùng dạy học trực quan Trong đó có phương tiện nghe nhìn mà chủ yếu là trực quan bằng ngôn ngữ là chính Điều này chí đúng một phần khi HS cần giảng giải, phân tích một khía cạnh nào đó mà HS cần hiểu, cần cảm thụ tinh tế Dạy học văn nhất thiết phải hướng vào thực hiện mục tiêu đa chức năng: giáo dục tri thức, tình cảm thẩm mĩ, rèn kĩ năng, phát triển các năng lực cho người học Thực tế cho thấy, nếu nội dung bài học chỉ được truyền đạt tới HS ở dạng văn bản thì sẽ không gây được nhiều hứng thú học tập như một bài giảng có ứng dụng CNTT
* Những ưu điểm khi thiết kế BGĐT dạy học TPVC
- CNTT góp phần đa dạng hóa quá trình dạy học
Quá trình dạy học là một hệ thống động bao gồm các thành tố cơ bản: mục đích và nhiệm vụ dạy học; PPDH, PTDH; thầy với hoạt động dạy; trò với hoạt động học; kết quả dạy học… Quá trình này diễn ra và tương tác qua lại, thâm
nhập, quy định lẫn nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ của hoạt động dạy - học,
nhằm hình thành và phát triển nhân cách của HS
Ưu thế nổi bật của CNTT so với các PTDH truyền thống, là tạo ra môi trường đa phương tiện, kết hợp những hình ảnh, video, camera, … được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa trong quá trình dạy học
Về phía HS, các em không chỉ được nghe thầy giảng, mà còn được xem
phim, ảnh, nghe nhạc, ngâm thơ… ; có thể tiến hành nhiều hoạt động đa dạng trong một tiết học dưới sự hỗ trợ của CNTT để được học cách học, học cách ứng
xử, cách giải quyết vấn đề, cách tự đánh giá, tự điều chỉnh mình,…
Về phía GV, có thể đa dạng hoá các hoạt động kiểm tra bài cũ, giảng bài
mới, củng cố, luyện tập kiến thức, ôn tập,… tạo sự mới mẻ, cuốn hút HS trong giờ học
- CNTT góp phần đổi mới phương pháp dạy học
CNTT là một phương tiện đóng góp phần lớn vào việc đổi mới PPDH trong
Trang 5nhà trường hiện nay, bởi lẽ CNTT ngày càng tỏ rõ những ưu việt mà các PTDH truyền thống không đáp ứng được Nó có khả năng minh họa, truyền đạt kiến thức một cách sinh động, hấp dẫn, GV sẽ có điều kiện đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS và thực hiện mô hình dạy học hợp tác hai chiều GV tiết kiệm được thời gian ghi bảng để có thời gian giới thiệu những thông tin ngoài SGK GV có thể sơ đồ hóa kiến thức bài học, tránh việc mang bảng phụ cồng kềnh hoặc những ví dụ dài có thể chép nguyên văn để HS tiện theo dõi đối sánh Dùng tư liệu để minh họa giọng đọc, ngâm, hát, phim để chứng minh, mở rộng nội dung GV cũng có thể phát huy tính tích cực, chủ động của HS bằng hệ thống bài tập đa dạng,
phong phú để các em tự nghiên cứu, thảo luận, tìm kiếm tri thức Hơn nữa GV có thể trình bày kiến thức bài học có hệ thống, đồng thời có thể lưu BGĐT lại thành
bộ đồ dùng dạy học, có thể chỉnh sửa, bổ sung hợp lý
- CNTT trong BGĐT tạo hứng thú nhận thức trong hoạt động học tập
và giúp phát triển năng lực của học sinh
Ứng dụng CNTT vào thiết kế BGĐT dạy học TPVC là mang lại giờ học không khí sinh động hấp dẫn, tạo tâm thế để HS phát huy trí tuệ học tập HS sẽ không chán nản mà thích học Qua CNTT có thể cung cấp cho HS nhiều kiến thức phong phú và sâu sắc, nâng cao hiệu quả đánh giá HS Việc sử dụng CNTT vào quá trình dạy học hợp lý sẽ giúp GV sẽ thuận tiện hơn rất nhiều trong việc khơi dậy hứng thú nhận thức ở HS so với sử dụng các PTDH truyền thống
Việc đánh giá BGĐT cũng căn cứ vào việc sử dụng CNTT trong dạy học, đồng thời khuyến khích HS sử dụng CNTT trong quá trình học tập, GV sẽ hướng dẫn HS tìm kiếm tri thức GV sẽ củng cố niềm tin vào bản thân các em, giúp các
em tự tin, phát huy năng lực sáng tạo, sự tích cực, chủ động trong học tập
* Những hạn chế khi thiết kế BGĐT khi dạy học TPVC
cảm xúc thẩm mỹ có tính hình tượng trong giờ học
- Khó duy trì và phát triển cảm xúc thẩm mỹ của HS khi người học bị cuốn vào hình
ảnh, hiệu ứng không hợp lý
-Hạn chế kỹ năng diễn đạt của học sinh
làm mất khả năng hình dung tưởng tượng về hình tượng VH mà HS chỉ có ấn hượng về hình ảnh, nhân vật được đưa lên trang trình chiếu
2.1.1.3. Quy trình cơ bản khi dạy học TPVC trong chương trình THPT
Trang 6Mỗi TPVC có phương thức riêng (tác phẩm thơ, truyện ngắn, kịch,…) nên PPDH cũng theo đó mà thay đổi Đề tài này tôi chỉ nghiên cứu về một số thực trạng thiết kế và đề xuất cách đánh giá BGĐT khi dạy học TPVC ở dạng chung nhất Quy trình cơ bản khi dạy học TPVC trong chương trình THPT thông thường được thiết kế theo các hoạt động sau:
- Giới thiệu về tiểu dẫn ( giới thiệu về tác giả, hoàn cảnh ra đời, định hướng
cơ bản về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm)
-Phần tìm hiểu văn bản ( phân tích các hình tượng nghệ thuật tuỳ vào từng thể loại)
-Phần đánh giá tổng kết
-Phần luyện tập củng cố và dặn dò HS học bài và làm bài ở nhà
Căn cứ trên các quy trình cơ bản khi dạy học TPVC, GV vận dụng những
ưu thế của CNTT để thiết kế BGĐT sao cho có hiệu quả nhất
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
Mặc dù phần lớn GV nhận thức được sự cần thiết sử dụng CNTT và cũng đã được dự các lớp tập huần CNTT vào soạn giảng TPVC, song việc thực hiện vẫn chỉ dừng lại ở tự học tự nghiên cứu Tôi tiến hành khảo sát 11 GV trong trường với các câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Xin cho biết, quý Thầy/Cô có thường xuyên sử dụng CNTT
vào soạn giảng TPVC không? Kết quả thu được:
%
%
%
%
Câu hỏi 2: Trong quá trình sử dụng CNTT vào soạn giảng TPVC, quý
Thầy/Cô gặp những thuận lợi nào? Kết quả thu được:
Câu hỏi
a BGH nhà trường tạo điều kiện thuận
lợi
b Cơ sở vật chất dạy học CNTT đầy
đủ
Trang 7c Bản thân có khả năng sử dụng
CNTT
Câu hỏi 3: Những khó khăn mà quý Thầy/Cô gặp phải trong quá trình
sử dụng CNTT vào dạy học TPVC là gì? Kết quả thu được:
Câu hỏi
a Không được tập huấn sử dụng
CNTT
Ngoài ra khi phỏng vấn một số GV làm công tác thanh tra với câu hỏi
“Anh đã từng tham gia lớp tập huấn kĩ thuật thiết kế và đánh giá BGĐT chưa?”
thì họ đều trả lời là có tham gia lớp tập huấn cách thiết kế BGĐT nhưng các tiêu chí để đánh giá BGĐT thì chủ yếu là đánh giá theo kinh nghiệm và theo tự học
Như vậy, kết quả điều tra cho thấy một thực tế: tất cả các trường THPT trên địa bàn Bình Định hiện nay đều đã tổ chức tập huấn cho GV kĩ năng sử dụng CNTT vào dạy học; hầu hết các trường cũng đều đã trang bị khá đầy đủ về cơ sở vật chất, thiết bị cần thiết để tạo điều kiện cho GV ứng dụng CNTT vào dạy học Tuy nhiên, một số giáo viên chưa thật sự thành thạo về khả năng sử dụng máy tính, chưa biết cách soạn một BGĐT như thế nào, chưa nắm rõ các tiêu chí về cách đánh giá một BGĐT nên vẫn còn nhiều lúng túng khi thiết kế một BGĐT dạy học TPVC nói riêng và dạy Ngữ văn nói chung
Tóm lại: Sử dụng CNTT vào dạy học là một yêu cầu có tính cần thiết và cấp
thiết hiện nay để đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT Theo đó, bộ môn Ngữ văn nói chung, dạy học TPVC nói riêng cũng cần được đổi mới theo tinh thần ấy
Những ưu thế nổi bật của CNTT đã cho thấy đây chính là một PTDH hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục hiện đại, bởi sử dụng CNTT trong BGĐT, GV sẽ tạo ra một môi trường có tính tương tác cao và đa chiều trong quá trình dạy học làm tăng khả năng tiếp thu kiến thức và kích thích hứng thú nhận thức ở HS, góp phần phát huy năng lực sáng tạo, sự tích cực, chủ động ở HS PPDH, nội dung chương trình Ngữ văn ở THPT có những nét đặc trưng cho thấy
sự phù hợp sử dụng CNTT vào dạy học.Tình hình sử dụng CNTT vào dạy học
Trang 8TPVC ở THPT hiện nay cũng là một cơ sở thực tiễn giúp chúng tôi nhận thấy rõ tính cấp thiết của đề tài này CNTT đã được đưa vào dạy học Ngữ văn nhưng chưa thật rộng rãi; một số tiết dạy có sử dụng CNTT nhưng chưa thành công Vì vậy việc đề xuất cách đánh giá BGĐT dạy học TPVC là một vấn đề có tính cấp thiết Thiết nghĩ để nâng cao chất lượng BGĐT cho GV dạy Ngữ văn nói chung cần đẩy mạnh công tác khuyến khích soạn BGĐT, đẩy mạnh công tác dự giờ góp ý BGĐT
để GV ngày càng hoàn thiện hơn kĩ năng thiết kế BGĐT
2.2. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp
2.2.1. Biện pháp nghiên cứu
-Tôi tiến hành tổng hợp các tài liệu, tư liệu liên quan đến đề tài để làm rõ những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài như vai trò của CNTT trong dạy học nhất là dạy học bộ môn Ngữ văn, những ưu điểm và hạn chế của việc ứng dụng CNTT trong thiết kế BGĐT dạy học TPVC
thi thiết kế BGĐT ở trường THPT Lý Tự Trọng nhằm xác lập cơ sở thực tiễn cho
đề tài để từ đó tiến hành phân tích thực trạng, phân tích những ưu điểm và hạn chế để có sở đề xuất việc đánh giá BGĐT có tính khoa học và khả thi nhất
- Tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm (thiết kế BGĐT và dạy) để chứng minh tính khả thi của những tiêu chí đánh giá đã được xác lập
2.2.2. Thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài
Trong ba năm qua (2010 - 2011 - 2012), tôi đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu về cách thiết kế BGĐT môn Ngữ văn, tiến hành dự giờ đồng nghiệp, tổ chức hội thi thiết kế BGĐT cấp trường và đã đúc kết được những kinh nghiệm và đề xuất các tiêu chí đánh giá việc thiết kế BGĐT cho phân môn đọc văn của bộ môn Ngữ văn chương trình THPT
Trang 9PHẦN NỘI DUNG
I. Mục tiêu
Đề tài thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
THPT
- Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng của việc sử dụng CNTT vào dạy học TPVC trong chương trình THPT hiện nay
- Tổ chức thực nghiệm dạy học và đánh giá tính khả thi, hiệu quả của việc
sử dụng CNTT vào dạy học TPVC ở THPT
II. Mô tả giải pháp của đề tài
2.1. Nguyên tắc xây dựng cách đánh giá BGĐT vào soạn giảng TPVC
2.1.1. Đánh giá khả năng vận dụng CNTT vào soạn giảng TPVC chính xác, khoa học, hướng tới dạy học hiệu quả, phát huy vai trò tự học, tự rèn cho học sinhTrong QTDH, lượng kiến thức cơ bản chuyển đến học sinh phải
chính xác và có hệ thống, phù hợp với tư duy nhận thức của HS GV cần có những cách vận dụng CNTT thật linh hoạt để phát huy những đối thoại và tương tác sư phạm trong dạy học Đồng thời rèn cho HS phương pháp tự học, tự nghiên cứu để khám phá kiến thức văn học bằng CNTT
2.1.2. Đánh giá khả năng vận dụng CNTT vào soạn giảng TPVC phù hợp đặc trưng thể loại văn bản
Mỗi thể loại văn học có một đặc trưng và khi dạy GV sẽ có những cách tiếp cận khác nhau, cách dạy khác nhau để khám phá chiều sâu nội dung kiến thức Vì vậy thiết kế và đánh giá BGĐT cần phải chú trọng vào PPDH của đặc trưng thể loại
2.1.3. Đánh giá khả năng vận dụng CNTT vào soạn giảng TPVC có tính thẩm mĩ
Trong BGĐT việc GV chọn font chữ, cỡ chữ, chọn những đoạn phim, những hình ảnh, màu sắc, âm thanh, những sơ đồ, mô hình, bảng, biểu, được đưa vào bài giảng không chỉ có tác dụng cung cấp kiến thức, mà còn tạo điều kiện cho HS tiếp thu kiến thức đó một cách hứng thú, say mê nhất Chúng không chỉ tạo sự hấp dẫn trong hoạt động lĩnh hội kiến thức mà còn thể hiệu khâu thẩm mĩ của GV trong ý
Trang 10tưởng thiết kế BGĐT.
2.1.4. Đánh giá khả năng sử dụng CNTT phù hợp tâm lý học sinh THPT
Sử dụng CNTT vào dạy học TPVC, GV luôn phải chú ý sự phù hợp giữa ý tưởng, kịch bản đề ra cho mỗi kiểu bài học với đặc điểm tâm lí, nhận thức của đối tượng HS THPT Cần đảm bảo những biện pháp, cách thức được thực hiện là vừa sức đối với HS, vừa phù hợp bài dạy vừa sinh động, hấp dẫn để thu hút HS vào bài
học; hoặc tổ chức các trò chơi nhỏ theo hình thức học mà chơi, chơi mà học,…
Không phù hợp với đối tượng HS thì mọi biện pháp, cách thức đề ra đều trở nên
vô nghĩa
2.2. Những thực trạng và cách đánh giá BGĐT khi soạn giảng TPVC
2.2.1. Thực trạng và cách đánh giá quy trình tổ chức chung dạy học TPVC trong quá trình dạy học
* Quy trình cơ bản của một tiết dạy một TPVC
Giờ học được tiến hành với các hoạt động cơ bản là: kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới, giảng bài mới, luyện tập củng cố kiến thức Với những ưu thế nổi trội, CNTT sẽ hỗ trợ GV trong việc xây dựng một kịch bản cho giờ học mà giờ học theo giáo án truyền thống không thể đáp ứng được Có thể hình dung toàn bộ bài giảng là một câu chuyện, được bắt đầu từ việc kiểm tra bài cũ, từ đó dẫn vào bài mới, tìm hiểu nội dung bài mới và kết luận bằng việc củng cố kiến thức Dưới
sự hỗ trợ của CNTT, theo tôi có thể tổ chức giờ học với các hoạt động nói trên một cách đa dạng, phong phú và hấp dẫn, khơi gợi được hứng thú, thái độ học tập tích cực, chủ động và sáng tạo ở học sinh
2.2.1.1. Đánh giá hoạt động kiểm tra bài cũ có vận dụng CNTT
- Trong giáo án truyền thống, hoạt động kiểm tra bài cũ thường được tiến hành bằng hình thức vấn đáp Hình thức này nếu lặp lại thường xuyên dễ gây tâm
lí nặng nề, nhàm chán Sử dụng CNTT, GV có thể tạo ra nhiều hình thức đa dạng cho hoạt động kiểm tra bài cũ
- Trong BGĐT thì hoạt động kiểm tra bài cũ cần được đánh giá khả năng vận dụng CNTT tạo ra sự đa dạng trong kiểm tra như tự luận, vấn đáp, trắc nghiệm… tạo tính trực quan và tạo tâm lý hứng thú thoải mái khi vào bài mới.
2.2.1.2. Đánh giá hoạt động giới thiệu bài mới có vận dụng CNTT
-Giáo án truyền thống có thể giới thiệu bài bằng cách nêu câu hỏi hoặc dùng bảng phụ song rất cồng kềnh Bằng CNTT, GV có thể giới thiệu bài mới bằng cách:
+ Chiếu một hình ảnh, một đoạn phim, nêu tình huống một chuyện vui có liên quan đến hình ảnh, đoạn phim hoặc cung cấp một văn cảnh liên quan cần nghiên cứu của bài mới, trên cơ sở đó đàm thoại, diễn giảng, hướng dẫn HS vào bài học