Trong số các loại rau quả được gieo trồng ở nước ta, cây cà chua Lycopersicon esculentum Mill.. Với điều kiện tự nhiên trên, việc nghiên cứu tuyển chọn các loài cây trồng phù hợp với từn
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Rau quả là loại thực phẩm không thể thiếu được trong bữa ăn hàng ngày của mỗi người Việt Theo IFPRI (2002) và ICARD (2004) thì hầu hết các hộ gia đình đều tiêu thụ lượng rau tăng hơn so với năm trước đó Các loại rau được tiêu thụ nhiều nhất là rau muống (95% số hộ), cà chua (88% số hộ)
Hộ gia đình Việt Nam tiêu thụ trung bình 71 kg rau quả/người/năm, trong đó rau chiếm 3/4
Trong số các loại rau quả được gieo trồng ở nước ta, cây cà chua
(Lycopersicon esculentum Mill.) là cây rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng và
cho hiệu quả kinh tế cao Nó cung cấp phần lớn các khoáng chất, vitamin và các chất dinh dưỡng như gluxit, lipit, protein… Ngoài việc cung cấp các khoáng chất nó còn là cây trồng nâng cao thu nhập và là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước
Cà chua là món ăn thông dụng từ lâu ở nước ta và hầu hết các nước trên thế giới Trong quả cà chua chín có nhiều đường, các vitamin A, C, B1, B2, B3
và nhiều chất khoáng như canxi (Ca), photpho (P), sắt (Fe) là những chất rất quan trọng cho cơ thể con người Quả cà chua có thể ăn sống, xào, nấu canh, trộn salat và còn sử dụng để trang trí trong các bữa tiệc Cà chua còn có thể chế biến thành các sản phẩm như tương cà chua, cà chua cô đặc, nước sốt, nước quả, cà chua đóng hộp
Bình Định là tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ, địa hình hẹp và dốc, có nhiều loại đất, đất nông nghiệp ít và phân tán, kém màu mỡ Với điều kiện tự nhiên trên, việc nghiên cứu tuyển chọn các loài cây trồng phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái, nhằm khai thác lợi thế của từng vùng, tạo ra sản phẩm hàng hóa cây trồng đa dạng là định hướng lâu dài cho phát triển nông nghiệp của tỉnh
Trang 2Vấn đề đặt ra là phải tìm được những giống cà chua có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, thích ứng với điều kiện thời tiết ở tỉnh Bình Định, cho năng suất cao, ổn định, đặc biệt là chất lượng dinh dưỡng cao mà giá thành sản xuất thấp phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: "Khảo nghiệm một số giống cà chua trong vụ Đông xuân năm 2010 tại Bình Định"
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Tuyển chọn được giống cà chua thích hợp trong vụ Đông Xuân cho năng suất cao, ổn định, khả năng chống chịu với một số bệnh hại chính và thích nghi với điều kiện sinh thái vụ Đông-Xuân tại tỉnh Bình Định
2.2 Yêu cầu
Tìm hiểu một số đặc trưng hình thái của các giống
Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống cà chua trong điều kiện vụ Đông-Xuân 2010
Đánh giá tình hình phát triển sâu bệnh hại trên các giống trong điều kiện vụ Đông-Xuân 2010
Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống
3 Ý nghĩa thực tiễn đề tài
Việc xác định được khả năng thích nghi của một số giống cà chua sẽ làm cơ sở để tuyển chọn giống cho sản xuất
Góp phần làm đa dạng bộ giống của tỉnh để đưa vào cơ cấu cây trồng hợp lý nhằm tăng thu nhập cho người sản xuất
Trang 34 Phạm vi nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ (ASISOV), khu vực 8, phường Nhơn Phú, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, trong vụ Đông-Xuân 2010 (Ngày gieo: 05/11/2010; Ngày thu hoạch: 14/12/2011) trên 11 giống cà chua đang được nghiên cứu phổ biến hiện nay
Trang 4CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc, lịch sử phát triển, và phân loại thực vật
1.1.1 Nguồn gốc, lịch sử phát triển
Cà chua có nguồn gốc ở vùng Nam Mỹ, là loại rau ăn quả quan trọng, được trồng phổ biến khắp thế giới, từ xích đạo đến bắc cực như Alaska Có rất nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của cà chua trồng Một số tác giả cho
rằng cà chua trồng có nguồn gốc từ L esculentum var pimpinellifolium, tuy nhiên nhiều tác giả lại nhận định rằng L esculentum var cerasiforme (cà chua
anh đào) là tổ tiên của cà chua trồng
Theo Luckwill (1943) cà chua từ Nam Mỹ được đưa vào châu Âu từ những năm đầu của thế kỷ XVI do những nhà buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha Từ châu Âu cà chua được mang sang châu Phi qua những người thực dân đi chiếm thuộc địa
Những ghi nhận đầu tiên cho thấy cà chua có mặt ở Bắc Mỹ vào những năm 1710 nhưng với quan niệm cà chua độc, có hại cho sức khỏe nên chưa được chấp nhận Mãi đến năm 1830, cà chua mới được coi là cây thực phẩm cần thiết như ngày nay
Cà chua được đưa tới châu Á vào thế kỷ XVIII, đầu tiên là Phillipin, Đông Java (Inđônêxia) và Malaysia từ châu Âu qua các nhà buôn và thực dân Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan Từ đây cà chua được phổ biến đến các vùng khác của châu Á Tuy có lịch sử trồng trọt lâu đời nhưng mãi đến nửa đầu thế kỷ XX, cà chua mới thực sự trở thành cây trồng phổ biến trên thế giới [7]
1.1.2 Phân loại thực vật
Cà chua có tên khoa học là Lycopersicon esculentum Mill, tên tiếng
Trang 5lycopersicon Tour được phân loại theo nhiều tác giả: Muller (1940), Daskalov
và Popov (1941), Luckwill (1943), Lehmann (1953), Brezhnev (1955, 1964)
Ở Mỹ thường dùng phân loại của Muler; ở Châu Âu, Liên Xô (cũ) thường dùng phân loại của Brezhnev Với cách phân loại của Brezhnev (1964), chi
Lycopersicon Tour được phân làm 3 loài thuộc hai loài chi phụ
- Subgenus 1-Eriopersicon: chi phụ này gồm các loài dại, cây dạng một năm hoặc nhiều năm, gồm các dạng quả có lông, màu trắng, xanh lá cây hay vàng nhạt, có các vệt màu antoxian hay xanh thẫm Hạt dày không có lông, màu nâu chi phụ này gồm hai loài và các loài phụ
1 Lycopersicon peruvianum Mill
1a L.Peruvianum var cheesmanii Riloey và var cheesmaniif.minor
C.H Mull (L.esc Var.minor Hook)
1b L.Peruvianum var dentatum Dun
2 Lycopersicon hirsutum Humb Et Bonpl
2a L hirsutum var glabratum C H Mull
2b L hirsutum var glandulosum C H Mull
- Subgenus 2-Eulycopersicon: các cây dạng một năm, quả không có lông, màu đỏ vàng, hạt mỏng, rộng chi phụ này gồm một loài
3 Lycopersiconesculentum Mill Loài này gồm 3 loài phụ
3a L.esculentum Mill ssp spontaneum Brezh: cà chua dại, bao gồm hai
dạng sau
- L.esculentum var pimpinellifolium Mill (Brezh)
- L.esculentum var racemigenum (Lange), Brezh
3b L.esculentum Mill ssp subspontaneum: cà chua bán hoang dại, gồm 5
dạng sau:
- L.esculentum var cersiforme (A Gray)Brezh - cà chua anh đào
- L.esculentum var pyriforme (C.H Mull)Brezh - cà chua dạng lê
Trang 6- L.esculentum var pruniforme Brezh - cà chua dạng mận
- L.esculentum var elongatum Brezh - cà chua dạng quả dài
- L.esculentum var succenturiatum Brezh - cà chua dạng nhiều ô hạt
3c L.esculentum Mill ssp cultum-cà chua trồng, có 3 dạng sau:
- L.esculentum var vulgare Brezh
- L.esculentum var validum (Bailey) Brezh
- L.esculentum var grandiflium (Bailey) Brezh [5]
1.2 Tình hình nghiên cứu cây cà chua ở trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà chua trên thế giới những năm gần đây vẫn tiếp tục gia tăng Sản lượng cà chua dùng cho chế biến năm 2008 ước tính đạt 655 ngàn tấn, tăng 20 ngàn tấn so với năm 2007 Diện tích cà chua cho chế biến ước đạt 8700 ha, tăng so với 8000 ha của năm 2007 Trung Quốc là nơi có tổng lượng cà chua tươi và cà chua chế biến nhiều nhất thế giới, nhưng lượng xuất khẩu ít hơn một số nước khác như: Mexicô, Thổ Nhĩ Kỳ, Canada…do có sức mua của thị trường nội địa lớn
Khoảng 85% tổng sản lượng cà chua được tiêu dùng tươi Trồng cà chua đòi hỏi phải có diện tích cánh đồng rộng và khí hậu thuận lợi, vì vậy mà việc trao đổi cà chua và các sản phẩm cà chua giữa các vùng sản xuất liên tục được mở rộng Xuất khẩu cà chua trên thế giới tăng 30% từ năm 2003 đến năm 2007, trong khi mức tăng trưởng của nhập khẩu cà chua là 40% Có diện tích cánh đồng lớn, Mexicô là nước xuất khẩu nhiều cà chua nhất thế giới Mỹ đứng đầu thế giới về lượng cà chua nhập khẩu, tiếp đến là Nga, EU Đặc biệt, lượng cà chua nhập khẩu vào thị trường Nga năm 2008 tăng gấp đôi so với năm 2007
Ngoài sử dụng để ăn tươi, cà chua còn được chế biến thành nhiều dạng sản phẩm khác nhau Lượng cà chua dùng chế biến đạt kỷ lục 5,2 triệu tấn và
Trang 7sẽ tăng trong thời gian tới Trên 80% cà chua dùng cho chế biến được dùng để chế biến bột nhão cà chua Với cà chua đóng hộp, Châu Âu luôn là khu vực xuất khẩu nhiều nhất trong khi Nhật Bản là nước nhập khẩu nhiều hơn cả Lượng cà chua cô đặc xuất khẩu của Trung Quốc luôn đứng đầu thế giới và
có mức độ tăng trưởng mạnh ở năm 2005, 2006 EU, Nga, Nhật Bản, Canada, Mexico là những nước nhập khẩu nhiều cà chua cô đặc
Sản phẩm bột cà chua (tomato powder), trên thế giới đã có 1 số nước
nghiên cứu và sản xuất thành công Điển hình là Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ … Sản phẩm của họ được sản xuất chủ yếu từ bột nhão cà chua (tomato pulp) hoặc cà chua cô đặc (tomato paste, tomato puree) với kỹ thuật sấy phun Đã
có rất nhiều thí nghiệm được tiến hành nhằm tìm ra điều kiện sản xuất tối ưu nhất sao cho bột cà chua thành phẩm vẫn giữ được màu sắc, hương vị tự nhiên, giàu lycopene của cà chua tươi [10]
Hiện nay nhiều Viện khoa học trên thế giới đang đi sâu vào nghiên cứu
di truyền phân tử, miễn dịch học trên cây cà chua; đồng thời việc chuyển nạp các gen chống chịu sâu bệnh vào các giống cà chua ưu tú; sử dụng ưu thế lai
để tạo giống lai (F1) có năng suất cao, chất lượng tốt để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của con người Hoặc bằng các nghiên cứu về dinh dưỡng, hiệu suất quang hợp trên cây cà chua; các nhà khoa học đã xây dựng công nghệ sản xuất cây cà chua che chắn và có thể đạt năng suất thực thu tương đương với
năng suất tiềm năng (từ 200-300 tấn/ha) [9]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Cà chua là loại rau ăn quả rất được ưa thích vì phẩm chất ngon và chế biến được nhiều cách Ở nước ta việc phát triển trồng cà chua còn có ý nghĩa quan trọng về mặt luân canh, tăng vụ và tăng năng suất trên đơn vị diện tích,
do đó cà chua là loại rau được khuyến khích phát triển
Trang 8Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng cà chua ở Việt Nam những năm gần đây (2000-2005)
(tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
(Nguồn: Vụ nông nghiệp, Tổng cục thống kê)
Qua bảng 1.1 về số liệu thống kê năm 2006 ta thấy: năng suất cà chua trong sáu năm qua là thấp và không ổn định nhưng do diện tích trồng tăng liên tục nên sản lượng vẫn tăng So với năng suất trung bình của thế giới thì còn thấp chỉ đạt khoảng 60-65 %
Những tỉnh trồng cà chua lớn đều là những nơi có năng suất cà chua khá cao và chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Hồng Các địa phương có diện tích trồng cà chua lớn nhất cả nước bao gồm: Nam Định (1959 ha); Bắc Giang (1300 ha); Hải Dương (1180 ha) Như vậy khả năng thâm canh phụ thuộc nhiều vào mức độ chuyên canh trong sản xuất Năng suất đạt 157,17 tạ/ha (2001) đã tăng lên 197,8 tạ/ha (2005) đó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho sản lượng cà chua năm 2005 tăng [7]
Theo Trần Khắc Thi (2003), sản xuất cà chua ở nước ta còn một số tồn tại chủ yếu: chưa có bộ giống tốt cho từng vụ trồng, đặc biệt là giống cho vụ thu đông, sản xuất chủ yếu tập trung ở vụ đông xuân (hơn 70%) từ tháng 12-
4, còn hơn một nửa thời gian trong năm trồng tình trạng thiếu cà chua Đầu tư cho sản xuất còn thấp đặc biệt là phân hữu cơ và thuốc bảo vệ thực vật Chưa
Trang 9có quy trình canh tác và giống hợp lí cho từng vùng Việc sản xuất còn manh mún, chưa có sản phẩm hàng hóa lớn cho chế biến công nghiệp Quá trình canh tác thu hái hoàn toàn thủ công [6]
Tuy nhiên so với các nước khác trong khu vực, sản xuất cà chua ở Việt Nam có lợi thế rõ rệt do khí hậu thời tiết đất đai ở nước ta, đặc biệt các tỉnh miền núi phía Bắc phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây cà chua nếu được đầu tư tốt năng suất cà chua sẽ rất cao Diện tích cho phát triển cà chua còn rất lớn vì trồng trong vụ đông, không ảnh hưởng đến 2 vụ lúa nhưng sản phẩm lại là trái vụ hơn so với Trung Quốc, nước có khối lượng cà chua lớn nhất thế giới (20 triệu tấn/năm) Các vùng trồng cà chua đều có nguồn lao động lớn, nông dân có kinh nghiệm canh tác nên nếu có thị trường sẽ thu hút nhiều lao động do giá nhân công rẻ nên giá thành có khả năng cạnh tranh cao Chính vì vậy có thể nói triển vọng phát triển cà chua ở nước ta là rất lớn [7]
1.2.3 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống cà chua ở Việt Nam
Cà chua đã có mặt từ hàng trăm năm trước và là đối tượng chính trong nghiên cứu giống rau ở Việt Nam
Cà chua là một trong những loại rau quan trọng và đa dụng: sản phẩm được sử dụng để ăn tươi, chế biến công nghiệp và xuất khẩu tươi Để đáp ứng yêu cầu trên, giống cà chua chọn tạo ra phải đạt năng suất cao, độ Brix > 4,5% và độ cứng tốt, có thể trồng trái vụ
Nghiên cứu chọn tạo cà chua có những phương pháp:
* Thu thập nguồn vật liệu khởi đầu: nguồn vật liệu là các giống địa phương, các loài hoang dại, các giống nhập nội từ khắp nơi trên thế giới
Đến nay chúng ta đã thu thập được 717 mẫu giống cà chua được lưu trữ tại Viện NCRQ, Viện CLT & CTP, Viện DTNN và tại trường Đại Học Nông Nghiệp
* Chọn lọc cá thể nhiều lần để thuần hóa giống và chọn dòng thuần từ
Trang 101.2.4 Tình hình nghiên cứu, sản xuất tại tỉnh Bình Định
Bình Định là tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh 602.443 ha, trong đó: diện tích đất nông nghiệp là 136.434 ha, đất lâm nghiệp 253.831, đất chưa sử dụng 153.750 ha Các loại đất chủ yếu trong vùng: đất phù sa, đất gley, đất cát ven biển, đất xám bạc màu (đồng bằng), đất feralít đỏ vàng (trung du) và đất đỏ bazan (núi cao)…phân bố ở độ cao từ 1-1.000 m so với mặt nước biển
Những năm qua việc đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nhất là đầu tư cho thủy lợi giải quyết nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp đã đẩy mạnh đáng kể Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Bình Định tăng cường
Trang 11công tác nghiên cứu khảo nghiệm, chọn tạo giống cây trồng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ tạo ra năng suất chất lượng cao phù hợp với điều kiện
tự nhiên của tỉnh Song, việc nghiên cứu, sản xuất rau, hoa chưa được quan tâm nhiều, diện tích nhỏ hẹp, phân tán, manh mún, tự phát nên sản phẩm các mặt hàng này chưa trở thành hàng hóa lớn và tạo thành nguồn thu nhập chính cho nông dân, mặc dù rau hoa được xem là mặt hàng cho lợi nhuận cao hơn nhiều so với trồng cây lương thực, thực phẩm [9]
Bảng 1.2 Cơ cấu sản xuất các loài rau ở tỉnh Bình Định năm 2008
Nhóm rau Loài rau
D.T đất NN b.quân /hộ (m 2 )
D.T trồng rau b.quân/
hộ (m 2 )
D.T b.quân theo nhóm (m 2 )
D tích b.quân theo loài (m 2 )
Tỉ lệ theo nhóm (%)
Tỉ lệ theo loài (%)
Trang 12Từ kết quả bảng 1.2 cho thấy, bình quân diện tích sản xuất nông nghiệp mỗi hộ 1507,7 m2, trong đó diện tích trồng rau chiếm tỉ lệ quá thấp 76,18 m2; tương ứng tỉ lệ 5,05% Diện tích chiếm nhiều nhất là nhóm rau ăn thân lá chiếm 39,78%; nhóm rau ăn quả 29,67%; nhóm rau gia vị chiếm tỉ lệ thấp 6,73% Trong đó thì diện tích trồng cà chua chiếm tỉ lệ cao nhất trong nhóm rau ăn quả (28,18%)
1.3 Giá trị của cây cà chua
1.3.1 Giá trị dinh dưỡng của cà chua
Trong quả cà chua chín chứa nhiều đường chủ yếu là đường gluco, các loại vitamin cần thiết cho sự phát triển bình thường của cơ thể như: vitamin
A, vitamin B1, vitamin B2, vitamin C, vitamin PP, vitamin E… trong đó nhiều nhất là vitamin E và các chất khoáng quan trọng như Ca, Fe, P…
Bảng 1.3: Bảng phân tích thành phần dinh dưỡng trong 100g cà chua (theo Aykroyd)
114 mg 0,19 mg
24 mg
38 mg
Vitamin A Thiamin Riboflavin Axít nicotinic Vitamin C
Ca
Mn Axít Oxalic
P
Fe
320.I.U 0,07 mg 0,01 mg 0,4 mg
( * 1 mg = 3330 I.U.)
Trang 13Do giá trị dinh dưỡng của cà chua là rất lớn và phong phú, cần thiết cho con người bởi vậy cà chua đã trở thành món ăn thông dụng của trên 158 nước trên thế giới và được trồng rộng khắp các châu lục, đáp ứng được nhu cầu cần thiết của con người
Ngoài ra cà chua còn có tác dụng về mặt y học Theo Võ Văn Chi (1998), cà chua có vị ngọt tính mát, giải nhiệt, chống hoại huyết, kháng khuẩn, lọc máu, nhuận tràng, giúp tiêu hóa tốt tinh bột Nước ép cà chua kích thích gan, tốt cho dạ dày Cà chua là loại quả có khả năng chống lão hóa mạnh nhất vì có chứa hàm lượng lycopene-một hợp chất không bị mất do nấu chín [2] Dịch quả cà chua dùng để uống chống suy nhược, ăn không ngon miệng, xơ cứng động mạch, thống phong, thấp khớp, thừa urê trong máu, sỏi niệu đạo và mật, táo bón, viêm ruột Ngoài ra cà chua còn dùng để làm mỹ phẩm, chữa trứng cá Lá cà chua còn được dùng để xua đuổi muỗi và ong vò vẽ
1.3.2 Giá trị kinh tế và sử dụng
Cà chua có giá trị sử dụng cao Cà chua là loại cây trồng cho sản phẩm vừa để ăn tươi, vừa để nấu nướng, và là nguyên liệu cho chế biến công nghiệp với sản phẩm đa dạng mà thị trường thế giới có nhu cầu cao như nước cà chua, cà chua cô đặc, bột, cà chua muối…
Sản xuất cà chua cho hiệu quả kinh tế cao so với các cây trồng khác
Về sản lượng cà chua chiếm 1/6 sản lượng rau hàng năm trên thế giới và luôn
ở vị trí số 1 Theo Ware G.W và Mc.Collum (1997), bình quân thu nhập trên
1 ha ở Mỹ như sau: cà chua 4.160 USD, lúa mỳ: 174 USD, lúa nước: 1.027 USD và các loại rau khác trung bình 2.537 USD [7]
Cây cà chua có thể cho năng suất cao, sinh trưởng nhanh, bảo quản được tương đối dài hơn so với các loại rau khác, quả có khả năng vận chuyển thuận lợi và đi xa
Trang 14Theo số liệu điều tra của phòng kinh tế thị trường (Viện NCRQ), sản xuất cà chua ở đồng bằng sông Hồng cho thu nhập bình quân 42,0-68,4 triệu/đồng/ha/vụ với mức lãi thuần 15-26 triệu đồng/ha cao gấp nhiều lần so với trồng lúa [7]
1.4 Đặc điểm hình thái của cà chua
1.4.2 Thân
Thân cà chua tròn, mọng nước, phủ nhiều lông và thẳng đứng, trên thân
có sự hình thành các đốt, số đốt của thân cà chua vào cuối thời kỳ sinh trưởng đạt tới vài chục đốt [8] Theo Tạ Thu Cúc (2004) quá trình sinh trưởng của cà chua thay đổi phụ thuộc vào giống, điều kiện ngoại cảnh (nhiệt độ), môi trường trồng trọt và quá trình chăm sóc (dinh dưỡng, nước…) [4] Thân cà chua có nhiều lông nhỏ và mịn Ở giai đoạn cây con thân có màu trắng hay tím tùy thuộc vào các giống khác nhau [7]
1.4.3 Lá
Lá cà chua đa số là dạng lá kép, các lá chét có răng cưa, có nhiều dạng khác nhau: dạng lông chim, dạng lá khoai tây, dạng lá ớt …tùy thuộc vào giống mà lá cà chua có có màu sắc khác nhau và kích thước khác nhau [7]
Trang 151.4.4 Hoa
Hoa cà chua là hoa hoàn chỉnh có đủ cả nhị đực và nhụy cái Hoa cà chua mọc thành từng chùm Có 3 dạng chùm hoa: dạng đơn giản, dạng trung gian, dạng phức tạp Số lượng hoa/chùm, số lượng chùm/cây rất khác nhau ở các giống Số lượng chùm/cây dao động từ 4 đến 20 chùm, số lượng hoa/chùm dao động từ 2-26 hoa Hoa đơn tính bầu dưới, đài hoa màu vàng, số đài và cánh tương ứng từ 5 đến 9 Hoa lưỡng tính, nhị đực liên kết nhau thành bao
hình nón, bao quanh nhụy cái
Cà chua thường có khả năng tự thụ cao, hoa cà chua dễ khử đực và thụ phấn Hệ số nhân giống cao với hàng trăm hạt/quả Tỷ lệ thụ phấn ở vùng ôn đới khác nhau từ 0,5 đến 4% [7]
1.4.5 Quả
Quả cà chua là một loại quả mọng, có 2-3 đến nhiều ngăn hạt Hình dạng và màu sắc quả phụ thuộc vào từng giống Ngoài ra màu sắc quả chín còn phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ, phụ thuộc vào hàm lượng carotene, lycopene Ở nhiệt độ 300C trở lên, sự tổng hợp lycopen bị ức chế, trong khi đó
sự tổng hợp B carotene không mẫn cảm với tác động của nhiệt độ, vì thế ở mùa nóng cà chua có màu quả chín vàng hoặc đỏ vàng Trọng lượng quả cà chua dao động rất lớn từ 3-200g thậm chí 500g phụ thuộc vào giống
Dưới điều kiện nhiệt độ và sự phát triển thích hợp cà chua sẽ hoàn thành vòng đời của mình trong khoảng từ 95-115 ngày tùy thuộc vào giống Hoa cà chua bắt đầu nở vào khoảng 7-8 tuần sau khi gieo hạt và quả bắt đầu chín sau đó khoảng 6-8 tuần [7]
1.4.6 Hạt
Hạt cà chua thường rất nhỏ, khối lượng hạt giống cà chua cần cho sản xuất 1 ha khoảng từ 1,5-3g tùy thuộc vào giống Cà chua dạng quả nhỏ (cherry tomato) thường có hạt rất nhỏ Trên hạt thường được bao phủ bởi lông
Trang 16nhung mềm và mịn tùy thuộc vào giống Những giống cà chua có khối lượng
1000 hạt lớn, có lông bao phủ thường có khối lượng nảy mầm và khả năng bảo quản tốt hơn những giống hạt nhỏ và không có lông Điều kiện thời tiết đặc biệt là nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng và màu sắc hạt Nhiệt độ thấp làm cho màu sắc hạt đen, tỉ lệ nảy mầm và năng suất thấp [7]
1.5 Yêu cầu sinh thái của cây cà chua
1.5.1 Nhiệt độ
Cà chua sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ấm và khô Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng giúp cây có được sản lượng cao và chín sớm Nhiệt độ tối hảo cho sự sinh trưởng và phát triển tốt là 21-240C [7] Nhiệt
độ lớn hơn 300C kéo dài, kết hợp với hạn đất, hạn không khí sẽ dẫn đến rối loạn quá trình đồng hóa, làm giảm hàm lượng vật chất khô trong trái và làm năng suất giảm sút nghiêm trọng [8]
Theo Trần Thị Ba và ctv (1999) ở điều kiện nhiệt độ cao sự tổng hợp lycopene chậm, quả có màu vàng thay vì màu đỏ Nhiệt độ còn đóng vai trò quan trọng trong sự nảy mầm của hạt, nhiệt độ tốt nhất để hạt nảy mầm và gầy cây con từ 20-250C, nhiệt độ đất dưới 150C làm sự nảy mầm kém và không đều [1]
1.5.2 Ánh sáng
Cà chua là cây ưa sáng mạnh, cường độ ánh sáng thấp nhất cho cà chua sinh trưởng và phát triển là 3.000 lux [1] Ánh sáng đầy đủ cây con sinh trưởng tốt, ra hoa quả thuận lợi, năng suất và chất lượng quả tốt Cây sinh trưởng trong điều kiện thiếu ánh sáng làm cho cây yếu ớt, lá nhỏ, mỏng, lóng vươn dài, cây bị vống, ra hoa quả chậm, năng suất và chất lượng quả giảm, hương vị kém Cường độ ánh sáng yếu làm cho nhụy bị co rút lại, phát triển không bình thường, giảm khả năng tiếp thu hạt phấn [4]
Trang 171.5.3 Ẩm độ
Ẩm độ cao trên 70% thường được chuộng vì nó thúc đẩy cây tăng trưởng đầy nhựa và mềm nhưng nó cũng tạo điều kiện lý tưởng để nhiều nấm bệnh phát triển Do đó ẩm độ từ 45-60% là thích hợp nhất
Ngoài ra điều kiện nhiệt độ cao và ẩm độ cao của vùng nhiệt đới sẽ gây trở ngại cho việc thụ tinh, thụ phấn nên cà chua khó đậu trái Còn trong điều kiện ẩm và lạnh, hàm lượng vitamin trong trái tích lũy nhiều hơn trong điều kiện nóng ẩm [3]
1.5.4 Đất
Cà chua đòi hỏi đất màu mỡ và rỏ nước tốt Đất nhiều cát hoặc quá nhiều sét đều không thích hợp Đất sét dễ bị dẽ đất và rễ không ăn sâu được Đất cát kém về khả năng giữ nước và những chất dinh dưỡng dễ thấm qua khỏi vùng
rễ Đất tốt nhất để trồng cà chua là đất cát pha Ngoài ra đất phù sa, đất bồi giữ
ẩm và thoát nước tốt cũng thích hợp [3]
1.5.5 Nước
Nước đóng vai trò quan trọng quyết định năng suất (ảnh hưởng đến các cường độ các quá trình sinh lý cơ bản như quang hợp, hô hấp, sinh trưởng và phát triển) [4] Cây cần nhiều nước nhất là lúc cây ra hoa đậu quả, lúc này thiếu nước thì hoa và trái non dễ rụng, thừa nước thì rễ bị tổn hại và mẫn cảm với sâu bệnh [1] Nếu khi trái chín gặp mưa nhiều thì trái chín chậm và bị nứt, dinh dưỡng trong đất bị rửa trôi và thiếu oxy cung cấp cho rễ [3]
1.5.6 Dinh dưỡng khoáng
Theo More (1978) để có 1 tấn cà chua cần 2,9 kg N, 0,4 kg P2O5, 4 kg K2O
và 0,4 5kg Mg Theo Becseev, để tạo một tấn quả cà chua cần 3,8 kg N; 0,6 kg
P2O5 và 7,9 kg K2O Theo Geraldson (1957) để đạt năng suất 50 tấn/ha cần bón
320 kg N, 60 kg P2O5 và 440 kg K2O L.H Aung (1979) khuyến cáo để cà chua đạt năng suất 40 tấn/ha cần bón 150 kg N, 30 kg P2O5 và 180 kg K2O Theo Kuo
Trang 18và cộng sự (1998) thì đối với cà chua vô hạn nên bón với mức 180 kg N, 80 kg
P2O5 và 180 kg K2O còn với cà chua hữu hạn thì lượng tương ứng là 120:80:150 Theo nguyên cứu của Trần Khắc Thi và cộng sự (1999) thì trong điều kiện Việt Nam lượng phân bón cho 1 ha cà chua là 25 tấn phân chuồng, 150 kg N, 90 kg
P2O5 và 150 kg K2O
Cũng như các cây trồng khác cà chua cần ít nhất 20 nguyên tố dinh dưỡng cho quá trình sinh trưởng phát triển bình thường của nó Trong các nguyên tố đa lượng cà chua cần nhiều kali hơn cả, sau đó là đạm và lân [7]
1.6 Kỹ thuật trồng
1.6.1 Kỹ thuật làm vườn ươm
1.6.1.1 Thời vụ
- Vụ sớm: gieo cuối tháng 7 đầu tháng 8, trồng cuối tháng 8 đầu tháng 9
- Vụ chính: gieo đầu tháng 9 đến đầu tháng 10, trồng đầu tháng 10 đến đầu tháng
11
- Vụ muộn: gieo tháng 11 đến giữa tháng 12, trồng tháng 12 đến giữa hoặc cuối tháng 1
- Vụ xuân hè: gieo tháng 1 đến đầu tháng 2, trồng tháng 2 đến đầu tháng 3 [7]
1.6.1.2 Kĩ thuật gieo hạt trong vườn ươm
Dùng giống có năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu bệnh cao Trước khi gieo xử lý hạt bằng thuốc tím hoặc nước nóng 500C Lượng hạt cần thiết khoảng 0,15-0,3 kg/ha tùy giống
Vườn ươm được chọn nơi thoáng, đủ nắng, có dụng cụ, thiết bị che chắn
để tráng mưa rào, nắng to
Hỗn hợp giá thể sử dụng cho vườn ươm như sau: đất bột (đất phù sa hoặc đất bùn ải phơi khô đập nhỏ) + mùn mục (hoặc phân chuồng hoai mục) + trấu hun hoặc xơ dừa theo tỉ lệ 1,0:0,7:0,3 Giá thể được xử lý thuốc trừ nấm, sâu bệnh
và bổ sung chất dinh dưỡng gồm: 10 kg vôi bột + 1,0 kg thuốc Basudin hoặc
Trang 19Vibam 5H + 1,0 kg Zineb + 1,0 kg đạm urê + 1,5 kg supe lân + 1,5 kg kali clorua cho 1000 kg hỗn hợp Giá thể được chuẩn bị 10-15 ngày trước khi sử dụng
Hạt được gieo vào các khay nhựa, khay xốp, hoặc túi bầu với kích thước 7x10 cm Gieo 1 hạt/ô khay (bầu) Gieo xong phủ lớp hỗn hợp giá thể nói trên vừa kín hạt, sau đó phủ một lớp trấu mỏng hoặc rơm khô chặt ngắn, khoảng 10
cm, tưới nước giữ ẩm cho đến khi hạt mọc đều và sau mọc 20-25 ngày (khi cây
có 5-6 lá thật) đem trồng Trong suốt giai đoạn vườm ươm cần bảo đảm tưới đủ
ẩm cho cây, phun thuốc trừ sâu bệnh hại kịp thời Nhổ bỏ cây sâu bệnh, cây yếu, cây lẫn tạp trước khi trồng [7]
1.6.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1.6.2.1 Làm đất, lên luống, mật độ, khoảng cách trồng
Đất được cày bừa kỹ, sạch cỏ dại và được xử lý bằng các loại thuốc như Basudin 10H hoặc Vibam 5H (27kg/ha)
Lên luống rộng 1,5 m cả rãnh, cao 25-30 cm, rãnh luống rộng 30 cm Dùng màng phủ nông nghiệp phủ luống sau khi lên luống và bón lót
Trồng 2 hàng/luống với khoảng cách 70 cm x 45-50 cm tùy giống đảm bảo mật độ 28.000-32.000 cây/ha
Lượng bón Bón lót
Trang 20Cách bón:
- Bón lót theo 2 rạch trồng, đảo đều phân với đất, lấp kín phân
- Bón thúc: chia làm 4 lần, hòa nước tưới hoặc bón theo hốc cách gốc cây 10cm Sau bón lấp kín phân, tưới nước đủ ẩm để hòa tan phân
+ Lần 1: 10-14 ngày sau trồng
+ Lần 2: cách lần 1 từ 2-3 tuần
+ Lần 3: cách lần 2 từ 2-3 tuần
+ Lần 4: sau thu lứa quả đầu
Nếu thấy cây sinh trưởng kém có thể tưới bổ sung NPK 16:16:8 nồng độ 5% tưới 5 ngày/lần
1.6.2.3 Tưới nước
Đảm bảo độ ẩm đất thường xuyên khoảng 70% độ ẩm đồng ruộng, có thể tưới theo hốc hoặc tưới rãnh, đảm bảo tháo sạch nước ở rãnh sau khi tưới để tránh lây bệnh, đặc biệt là bệnh héo xanh vi khuẩn
1.6.2.4 Cắm giàn
Sau trồng một tháng cần cắm giàn giúp cây đứng thẳng, đỡ cây, quả không chạm đất nhằm giảm sự gây hại của sâu bệnh Tùy thuộc vào dạng hình sinh trưởng mà làm giàn 2 hay 3 tầng Buộc thân cây vào giàn theo hình số 8 ở các tầng
1.6.2.5 Tỉa nhánh
- Tùy thuộc vào giống cũng như dạng hình sinh trưởng để 1-2 nhánh/cây, kết hợp tỉa lá già, lá bệnh tạo độ thông thoáng cho ruộng Công việc này được làm thường xuyên 2-3 ngày/lần
- Nếu cây có dạng hình sinh trưởng vô hạn, bấm ngọn sau khi đạt số quả yêu cầu [7]
Trang 211.6.3 Phòng trừ sâu bệnh
Theo dõi phát hiện và phòng trừ sâu bệnh theo hướng dẫn chung của ngành bảo vệ thực vật, áp dụng triệt để biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)
Cách phòng trừ một số loại sâu bệnh chính như sau:
1.6.3.3 Bệnh héo xanh vi khuẩn (Pseudomonas Solanacearum)
Cây bị bệnh đột nhiên héo rũ, lá vẫn còn xanh
Bệnh thường xuất hiện khi độ ẩm cao, ấm đặc biệt vào vụ cà chua sớm Bệnh tồn tại trong những tàn dư thực vật thuộc cây họ cà
Có thể tồn tại trong đất trong thời gian dài không có ký chủ
Bệnh xâm nhập vào rễ qua vết thương cơ giới, côn trùng, tuyến trùng và qua quá trình canh tác thông thường
Để phòng trừ tốt nhất luân canh cà chua với cây lúa nước Nhổ cây bị bệnh và dùng vôi bột rắc quanh gốc nơi có cây bị bệnh
Trang 221.6.3.5 Bệnh đốm lá
Xuất hiện chủ yếu trong thời kỳ nhiệt độ, ẩm độ cao ở vụ sớm và vụ cà chua xuân hè Có thể dùng các loài thuốc như Score 250 EC, Anvin 5 SC, Rovral 50WP để phun phòng và trừ
1.6.3.6 Sâu đục quả (Helicoverpa armigera Hubner)
Là loài sâu hại nguy hiểm nhất, sâu hại quả nặng ở vụ đông sớm và xuân
hè, khi tấn công nó tấn công vào hoa, quả và nụ, đục vào quả non làm cho quả rụng, chỉ có thể phòng trừ loại sâu hại này khi chúng chưa đục hẳn vào quả Dùng các loại thuốc hóa học như Padan, Sumicidin 20EC, Cymerin…
Trang 231.7 Điều kiện thời tiết ở Quy Nhơn-Bình Định vụ Đông Xuân 2010-2011
Thời tiết vụ trồng được trình bày trong bảng 1.4
Bảng 1.4: Điều kiện khí tượng Quy Nhơn -Bình Định
Số ngày mưa (ngày)
Nhiệt độ (0C) Tổng
số giờ nắng (giờ)
11/2010 89 67 1511,2 29 24,6 29,7 21,2 23,0 12/2010 81 58 27,3 16 24,5 31,3 19,5 135,1 1/2011 80 63 24,1 21 22,9 27,8 18,4 58,0
4 (5,5 mm)
Trang 24CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 11 giống cà chua, được thu thập từ Viện Nghiên cứu Rau quả, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm và một
số giống đang sản xuất phổ biến ở trong vùng nghiên cứu Cụ thể:
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của các giống
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của các giống
- Nghiên cứu khả năng chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh bất thuận
Trang 252.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 262.3.3 Phương pháp theo dõi thí nghiệm
2.3.3.1 Chỉ tiêu theo dõi
Cây theo dõi: mỗi ô chọn 5 cây theo đường zichzac, cột dây đánh dấu,
cứ 10 ngày thu thập chỉ tiêu sinh trưởng 1 lần sau khi trồng
* Chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển:
Ngày gieo
Ngày mọc
Ngày trồng
Ngày ra hoa:tính tại thời điểm bông hoa đầu tiên nở
Ngày thu hoạch lần 1 (ngày có khoảng 50% số cây trên ô có quả chín
có thể thu hoạch)
Ngày kết thúc thu hoạch (ngày thu hết quả thương phẩm)
Động thái tăng trưởng chiều cao cây: đo từ cổ rễ đến đỉnh sinh trưởng cao nhất, đo bằng thước dây (cm)
Động thái ra lá: đếm số lá trên thân chính, 10 ngày theo dõi 1 lần
Động thái và tốc độ tăng trưởng của đường kính gốc thân: dùng thước kẹp để đo, cách 10 ngày đo một lần
Khả năng phân cành cấp 1 (cành xuất phát từ thân chính): đếm số cành cấp 1 (cành xuất phát từ thân chính), 10 ngày theo dõi một lần
* Đặc điểm hình thái của các giống:
Màu sắc thân (màu tím, màu trắng)
Hình dạng quả (dẹt, tròn dẹt, tròn, tròn dài và dài)
Màu sắc quả xanh (xanh nhạt, xanh, xanh đậm)
Màu sắc quả chín (đỏ, hồng, vàng, màu khác)
Đường kính quả (cm)
Chiều dài quả (cm)
Trang 27 Số ngăn hạt (2, 2-4, 4-6, 6-8, >8)
* Theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất:
Tổng số quả/cây: số quả trung bình của các cây theo dõi
Khối lượng quả/cây (kg): khối lượng quả trung bình của các cây theo dõi
Khối lượng trung bình quả (gam)
Năng suất lý thuyết (tấn/ha):
NSLT = [{khối lượng quả/cây (kg)}*(số cây/m2)*10.000 m2]/1.000 kg
Năng suất thực thu (tấn/ha):
NSTT = [{khối lượng quả/ô (kg)}/5 m2*10.000 m2]/1.000 kg
* Theo dõi khả năng chống chịu sâu bệnh hại:
* Đối với bệnh virus, bệnh héo xanh do vi khuẩn và bệnh lở cổ rễ được xác định bằng phần trăm (%) số cây bị hại:
Số cây bị bệnh
Tỷ lệ bệnh= - x 100 (%)
Tổng số cây theo dõi
* Một số nấm bệnh khác được xác định theo thang điểm: Bệnh sương
mai (Phytophthora infestans) và bệnh đốm nâu (Clasdosporium fulvum) được
đánh giá theo thang điểm từ 0-5 (theo hướng dẫn của AVRDC)
Trang 282.3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu:
Số liệu thu được được xử lí bằng phần mềm STATISTIX 8.0 và
Microsoft Excel, bao gồm:
X n
r r msE dfE
x thì kết luận hai trung bình m i và m jbằng nhau
ii j
x thì kết luận hai trung bình m i và m jkhác nhau