Khái quát tình hình đơn vị: Là một trường nằm ở địa bàn trung tâm xã, có đội ngũ giáo viên trẻ khỏe nhiệt tình trong công việc, lại có bề dày kinh nghiệm, nên có rất nhiều thầy cô đã là
Trang 1MỤC LỤC
Phần I : Thông tin tác giả kinh nghiệm 2
2.Lý do chọn kinh nghiệm 2 3.Mục đích nghiên cứu 4
5.Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lí 4
1.Thực trạng của kinh nghiệm 4 2.Nội dung của kinh nghiệm 6 Phần III : Kết luận và kiến nghị 12
Trang 2
Phần một : THÔNG TIN TÁC GIẢ KINH NGHIỆM.
- Họ và tên tác giả kinh nghiệm:
- Ngày, tháng, năm sinh:
- Chức vụ, đơn vị công tác:
- Trình độ chuyên môn:
- Đề nghị xét, công nhận kinh nghiệm :
- Lĩnh vực áp dụng: Học sinh trường
Phần hai: NỘI DUNG KINH NGHIỆM
Chương I: Những vấn đề chung
1 Khái quát tình hình đơn vị:
Là một trường nằm ở địa bàn trung tâm xã, có đội ngũ giáo viên trẻ khỏe nhiệt tình trong công việc, lại có bề dày kinh nghiệm, nên có rất nhiều thầy cô đã là giáo viên dạy giỏi cấp huyện,cấp tỉnh.Trong những năm qua trường cũng có rất nhiều học sinh giỏi cấp tỉnh và trường đạt nhiều danh hiệu suất xắc Trường THCS ngày càng lớn mạnh với tổng số cán bộ giáo viên nhân viên trong toàn trường 33 người,về cán bộ quản lý một hiệu trưởng, hai hiệu phó,cùng 33 cán bộ giáo viên và một nhân viên, Năm học 2016-2017 với học sinh trong toàn trường trên tổng số 16 lớp,trong đó
có 8 lớp được đưa vào học trương trình mới(VNEN) đội ngũ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn đào tạo của nhà trường đã đạt 100% Bên cạnh đó có 04 giáo viên đang được đào tạo trình độ đại học Đến nay, đã có 06 giáo viên đạt danh hiệu
giáo viên giỏi cấp huyện và cấp tỉnh Nhà trường đang được đầu tư cơ sở vật chất
tương đối đồng bộ, diện tích mặt bằng rộng (trên 3740m2), đầy đủ các phòng học để học hai ca; thiết bị, đồ dùng dạy học tương đối đầy đủ đáp ứng cho việc dạy - học
và đổi mới phương pháp dạy học cũng như các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
+ Thuận lợi:
Nhà trường có được đội ngũ cán bộ quản lý vững vàng về chuyên môn cũng như về công tác quản lý, quan tâm đến chất lượng dạy và học Có đội ngũ giáo viên có năng lực, nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công việc, có cơ sở vật chất, thiết bị dạy học tương đối đầy đủ
+ Khó khăn:
Với số lượng học sinh đông trên địa bàn rộng nên việc quản lý của nhà trường cũng như gia đình gặp không ít khó khăn, số học sinh dân tộc thiểu số đông, còn nhiều học sinh trong diện hộ nghèo,vùng 135, sống cùng ông, bà, ở trọ
……
2 Lý do chọn kinh nghiệm :
- Ngôn ngữ âm thanh trong một thời gian rất dài đã trở thành công cụ duy nhất để con người có thể truyền đạt cho nhau những kinh nghiệm sản xuất và đấu tranh Tuy nhiên việc sử dụng ngôn ngữ âm thanh không phải không có những hạn chế nhất định Ngôn ngữ âm thanh ( tức là lời nói ) chỉ có hiệu lực trong một phạm vi nhất định Ngoài phạm vi ấy, người này không thể nghe được tiếng nói của người kia Như vậy, ngôn
Trang 3ngữ âm thanh có sự hạn chế nhất định về mặt không gian Để khắc phục mặt hạn chế
đó, con người đã tìm ra một hình thức thông tin mới, thông tin bằng chữ Như vậy, chữ viết ra đời do nhu cầu thông tin liên lạc
- Chữ viết là hệ thống ký hiệu đồ hoạ đã được sử dụng để cố định hoá ngôn ngữ âm thanh Chức năng của chữ viết là đại diện cho lời nói So với lời nói thì chữ viết xuất hiện sau Vì vậy, chữ viết phải phụ thuộc vào lời nói Khi chữ viết và lời nói không có
sự phù hợp nữa thì phải cải tiến chữ viết
- Chữ quốc ngữ của người Việt ( Tiếng Việt ) là hệ thống chữ viết ghi âm Trong đó chính tả là sự chuẩn hoá hình thức của ngôn ngữ tiếng Việt Đó là một hệ thống các quy tắc về cách viết các âm vị, âm tiết, từ, cách dùng các dấu câu, lối viết hoa Từ đó, chính tả có vai trò rất lớn trong việc thể hiện thông tin của chữ viết Viết đúng chính tả
sẽ làm cho việc truyền đạt thông tin một cách chính xác đến người nhận, người nghe Ngược lại, trong một số trường hợp viết sai chính tả sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu sai lệch thông tin định chuyển tải, có khi dẫn đến sự hiểu nhầm tai hại
- Trong nhà trường, vai trò của chính tả rất quan trọng Một văn bản viết đúng chính tả thể hiện một nhận thức đúng đắn về tiếng Việt Viết đúng chính tả cũng là một phần góp cho sự trong sáng của ngôn ngữ tiếng việt Việc giữ gìn tiếng nói của dân tộc đã trở thành một tư tưởng có tính chất chính thống Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “ Tiếng nói là thứ của cải vô cùng quý báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó ngày càng phổ biến rộng khắp” Vì vậy giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là phải làm được những gì? Đó là điều trăn trở của những bậc làm thầy như chúng tôi Đặc biệt đối với Trường THCS Yên Hợp nơi tôi công tác, còn nhiều em phát âm không đúng,chưa chuẩn Từ việc phát âm không đúng, chưa chuẩn dẫn đến việc các em viết sai chính tả rất nhiều kể cả các em HS giỏi, HS tiên tiến.Việc trang bị cho các em một hệ thống tri thức ngôn ngữ của Tiếng Việt qua các
kĩ năng đọc, nói, viết để làm công cụ cho các môn khoa học khác, làm công cụ giao tiếp trong xã hội là hết sức quan trọng và cần thiết Bởi nếu viết sai chính tả sẽ dẫn đến hiểu sai nghĩa mà từ biếu thị điều này ảnh hưởng rất lớn tới kết quả học tập của các em ở môn Ngữ văn và các môn học khác Hạn chế khả năng giao tiếp, làm các em mất tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát
- Việc giúp học sinh giảm bớt lỗi chính tả nhằm mục tiêu đào tạo những chủ nhân tương lai năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển hiện nay
- Làm thế nào để các em biết phát âm đúng, viết đúng chính tả, viết đúng ngữ pháp tiếng Việt Biết phân biệt nghĩa của các từ đó là điều băn khoăn, lo lắng đối với người làm công tác giáo dục Vậy việc rèn luyện chính tả cho học sinh là vấn đề cần thiết nhất tạo cho học sinh viết đúng chữ Việt Hiện nay trình độ học sinh nắm và viết Tiếng Việt còn thấp Bên cạnh những học sinh viết đúng, nói rõ ràng mạch lạc, còn có học sinh chưa biết dùng từ, đặt câu, nhiều em phát âm sai, viết sai chính tả, nên lời nói, lời văn của các em còn rời rạc Tất nhiên là giáo viên ai cũng dễ dàng nhận thấy những sai sót đó Nhưng sửa lỗi cho các em như thế nào có hiệu quả mới là điều quan trọng nhất mà tôi đặt ra ở đây
Trang 4- Từ những lí do trên đây, khiến tôi chọn viết kinh nghiệm: “ Giải pháp giúp học sinh viết đúng chính tả tiếng Việt”
3 Mục đích nghiên c ứu:
- Nhằm nâng cao việc viết đúng chính tả cho HS trong trường THCS
- Rèn cho HS kĩ năng viết đúng chính tả, có ý thức trong việc rèn viết đúng, chuẩn chính tả
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp đàm thoại, vấn đáp; phương pháp gợi tìm, phương pháp tư duy, phương pháp điều tra khảo sát
- Để đạt kết quả cao nhất trong việc rèn viết đúng chính tả cho Học sinh Tôi chú trọng
hai phương pháp lớn:
a Phương pháp khảo sát điều tra:
- Phương pháp này nhằm phát hiện lỗi của học sinh thường hay mắc phải Thống kê lại toàn bộ những lỗi học sinh hay mắc phải, hay sai khi viết hoặc khi phát âm theo từng dân tộc, nói theo thói quen, theo kiểu “nói thế nào viết thế ấy”
b Phương pháp luyện tập:
Phương pháp này nhằm rèn luyện cho học sinh thành thạo về khâu phát âm đúng
để từ đó phát âm chuẩn sẽ viết đúng từ, câu Phân biệt được dấu hỏi (?) dấu ngã(~) và các vần dễ lẫn từ đó giúp các em viết đúng chính tả
5 Cơ sở khoa học và cơ s ở pháp lí:
Kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là điều kiện phương tiện cần thiết trong lao động học tập của học sinh Vì vậy trẻ em muốn nắm vững kĩ năng học tập, trước hết cần phải phát âm chuẩn,viết đúng Việc viết đúng chính tả và phát âm chuẩn mới truyền đạt được chính xác điều mình muốn nói, người đọc mới hiểu được ý đồ của người viết Viết đúng chính tả chứng tỏ là người có văn hoá trong giao tiếp, học tập mới có hiệu quả Vì vậy, việc rèn luyện viết đúng chính tả cho các em có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình môn Ngữ văn nói riêng và các môn học ở trường THCS nói chung góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, làm tiền đề cho việc học tập và rèn luyện sau này
Ch
ươ ng II: N ộ i dung
1 Thực trạng của kinh nghiệm.
Học sinh học chữ và rèn luyện viết chính tả ngay từ khi học lớp 1 Trong suốt thời gian học Tiểu học, công việc này diễn ra đều đặn và thường xuyên Trong chương trình Ngữ văn bậc trung học cơ sở không đề cập đến việc rèn chính tả cho học sinh nữa Điều đó cũng phù hợp với đặc điểm chương trình giáo dục Bởi việc viết chính tả chỉ tồn tại ở Tiểu học, lên bậc trung học cơ sở học sinh đã thành thạo chính tả từng con chữ Song, việc dừng hẳn không đề cập đến chính tả ở bậc học sau đã làm cho một số đông học sinh tuỳ tiện khi viết chữ
Năm học 2002 – 2003 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa việc luyện chính tả vào trung học cơ sở do bộ môn ngữ văn đảm nhiệm Điều này là một việc làm hết sức cần thiết và phù hợp với thực tế học sinh của chúng ta hiện nay
Trang 5Song, việc viết sai chính tả còn tồn tại ở số đông học sinh Qua thực tế giảng dạy
và chấm chữa bài cho học sinh, tôi nhận thấy rằng tình trạng viết sai chính tả là rất nhiều Các em học yếu, kém viết sai chính tả là một lẽ, ngay cả các em học sinh khá, thậm chí cả học sinh giỏi cũng viết sai chính tả Khi hỏi các em tại sao thì bản thân các
em đó không lý giải được hoặc cho là quen tay Bởi vì bản thân các em không hiểu được là sai hay đúng Việc viết sai chính tả của học sinh hiện nay chúng ta có thể bắt gặp bất cứ ở văn bản nào, bất cứ ở môn học nào dù đó là môn xã hội hay môn tự nhiên Đây là một thực trạng chung của nhiều trường trung học cơ sở Qua báo chí, qua các kỳ thi đại học, qua điều tra cụ thể, ta nghe nhiều lời phàn nàn về lỗi chính tả của các cô tú, cậu tú
Cụ thể ở trường THCS An Thịnh, nơi tôi đang công tác, việc học sinh mắc lỗi chính tả là nỗi băn khoăn, trăn trở của nhiều thầy, cô giáo, nhiều phụ huynh học sinh Trong đó, bản thân tôi là một giáo viên dạy văn, đã hết sức coi trọng việc sửa lỗi chính
tả cho học sinh
Vào đầu năm học 2015-2016 bản thân tôi đã tiến hành khảo sát trên một số bài tập trong các tiết luyện tập đặc biệt là trong tiết viết bài tập làm văn của 31 học sinh lớp 7D trường trường THCS An Thịnh cụ thể như sau:
* Trên các bài viết chính tả trong các tiết tiếng Việt:
- Thánh Gióng( nghe- viết)Từ Tráng sĩ mặc áo giáp đến lập đền thờ ngay ở quê nhà
- Sọ Dừa ( nghe- viết): Từ Một hôm, cô út vừa mang cơm đến dấu đem cho chàng)
- Em bé thông minh ( nghe- viết): từ Một hôm, viên quan đi qua cho đến một ngày được mấy đường
- Cây bút thần ( nghe - viết): từ đầu đến dày đặc các hình vẽ
- Êch ngồi đáy giếng ( nghe- viết): Cả bài
- Lợn cưới, áo mới ( nghe- viết): Cả bài
- Con hổ có nghĩa (nghe- viết): từ Hổ đực mừng rỡ đến làm ra vẻ tiễn biệt
* Trên các bài viết tập làm văn số 1 và tiết tiêng Việt ôn tập ngoài giờ.
Qua khảo sát, tôi đã phân loại các bài viết của học sinh theo mức độ mắc lỗi như sau: Tổng số
bài
Số lỗi trong một bài
Viết chính tả ( giờ tiếng Việt ôn thêm)
Tập làm văn
Số lượng bài Tỉ lệ Số lượng bài Tỉ lệ
31 Không có
lỗi
Kết quả thu được cho thấy tình trạng mắc lỗi chính tả ở học sinh thật đáng lo ngại
Tỉ lệ bài không mắc lỗi chính tả quá thấp Tỉ lệ bài mắc lỗi chính tả lại ở mức báo động đến 93% Từ đó, tôi phân loại lỗi chính tả của học sinh và tìm ra nguyên nhân mắc lỗi như sau:
- Về phía học sinh:
Trang 6+ Các em chưa có động cơ học tập, chưa có thái độ đúng đắn trong việc rèn luyện viết chính tả Khi viết các em ít tập trung, tự do viết một cách tùy tiện, cẩu thả Một số em chưa năm chắc các quy tắc chính tả đã được học ở Tiểu học Một phần lớn do cách phát âm sai ; có một số em phát âm sai một số âm đầu Ví dụ sai các tiếng có “thanh ngã” thành “thanh sắc”, các tiếng có phụ âm đầu dễ lẫn: l/n; d/gi/r; tr/ch…Việc viết hoa bừa bãi cũng còn tồn tại ở một số em Vì vậy nếu không được sửa chữa từ các lớp mầm non thì việc phát âm sai dẫn đến viết sai là không tránh khỏi Hơn nữa các em không thường xuyên luyện tập rèn viết thêm ở nhà
- Về phía giáo viên:
+ Giáo viên chưa chú trọng kĩ đến khâu hướng dẫn viết đúng, đặc biệt là trong tiết trả bài của học sinh Chưa thật sự chỉ rõ cho học sinh biết viết sai ở chỗ nào, cần sửa ra sao
+ Giáo viên còn tuân thủ theo sách giáo khoa và sách hướng dẫn, chưa mạnh dạn chọn những âm vần mà học sinh mình còn hay mắc phải
+ Một số giáo viên phát âm chưa được chuẩn, mang nặng tính địa phương
Từ thực trạng trên, tôi biết việc viết đúng chính tả là điều rất khó đối với học sinh ở vùng ven như trường chúng tôi Ý thức được điều đó, tôi đã mạnh dạn áp dụng việc vừa dạy kiến thức văn học vừa kết hợp việc rèn chữ cho học sinh qua từng bài dạy, tiết dạy, dạy phụ đạo, thông qua việc chấm, chữa bài cho các em Tôi tin rằng qua thời gian các em sẽ sửa được
2 Nội dung của kinh nghiệm:
2.1Giải quyết vấn đề:
Trên cơ sở khảo sát, phân tích thực trạng trên, từ những ý tưởng ban đầu, chúng tôi
đã thể nghiệm thành công một số giải pháp sau đây:
2.1.1 Tạo môi trường giao tiếp trong các hoạt động vui chơi, giáo dục ở trường THCS cho học sinh:
Trường học là nơi thường xuyên học sinh tiếp xúc với môi trường hoạt động, giao
tiếp có định hướng nên việc hình thành các kỹ năng trong sử dụng tiếng Việt có ý nghĩa quan trọng trong việc rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh Từ đó mới giúp học sinh hình thành nhanh kỹ năng nghe, nói, đọc, viết
2.1.2 Chính tả và một số đặc điểm của chuẩn chính tả:
a Đặc điểm đầu tiên của chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối của nó Đặc điểm này đòi hỏi người viết bao giờ cũng phải viết đúng chính tả Chữ viết có thể chưa hợp lý, nhưng khi đã được thừa nhận thì người cầm bút không được tự ý viết khác đi Ai cũng biết rằng viết “ ghế”, “ ghen” không hợp lý và tiết kiệm bằng “ gế”,
“gen” nhưng chỉ có cách viết thứ nhất mới được coi là đúng chính tả
Vì vậy, khi nói đến chuẩn chính tả là nói đến tính chất pháp lệnh Trong chính tả không có sự phân biệt hợp lý hay không hợp lý, hay– dở mà chỉ có phân biệt đúng– sai, lỗi– không lỗi Đối với chính tả, yêu cầu cao nhất là cách viết thống nhất, thống nhất trong mọi văn bản, mọi địa phương
Trang 7b Do chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối, cho nên nó ít bị thay đổi như các chuẩn mực khác của ngôn ngữ Nói cách khác, chuẩn chính tả có tính chất ổn định, tính chất cố hữu khá rõ
2.1.3 Một số quy định về chuẩn chính tả:
- Theo Uỷ ban khoa học xã hội và Bộ Giáo dục:
a Thống nhất viết nguyên âm
( Âm chính ) / i / bằng chữ cái i – Ví dụ: Lí luận, kĩ thuật, thẩm mĩ v.v
- Khi cần phân biệt “ uy” với “ ui” như “ tuý” với “ túi” thì vần uy vẫn viết như cũ Hoặc uy trong quy luật, quy tắc
+ i hoặc y đứng một mình hoặc đứng đầu âm tiết vẫn viết theo thói quen cũ Ví dụ: ý kiến, ỉ eo.v.v
b Khi trong thực tế đang tồn tại hai hình thức chính tả mà chưa xác định được một
chuẩn mực duy nhất thì chấp nhận cả hai hình thức ấy
Ví dụ: eo sèo / eo xèo; sứ mạng / sứ mệnh v.v
c Về cách viết hoa tên riêng tiếng Việt
c1 Tên người và tên nơi chốn
* Viết hoa tất cả các chữ cái đầu của từ mà không dùng gạch nối:
Ví dụ: Trần Quốc Toản; Bình Trị Thiên.v.v
c2 Tên tổ chức, cơ quan: Viết hoa chữ cái đầu trong tổ hợp từ dùng làm tên:
Ví dụ: Đảng cộng sản Việt Nam; Trường Đại học Bách khoa.v.v
d Về cách viết tên riêng không phải tiếng Việt
d1 Nếu chữ nguyên ngữ dùng chữ cái Latin thì giữ nguyên chữ viết như nguyên ngữ
Ví dụ: Paris
d2 Nếu chữ nguyên ngữ dùng một hệ thống chữ cái khác thì áp dụng lối chuyển từ chính thức sang chữ Latin
Ví dụ: Lomonoxov, Moskow
d3 Nếu chữ viết nguyên ngữ không phải là chữ ghi âm bằng chữ cái ( ghi từng âm 0 thì dùng một cách phiên âm chính thức bằng chữ cái Latin)
Ví dụ: Tokyo
d4 Những tên riêng đã có hình thức quen thuộc thì nói chung không cần thay đổi
Ví dụ: Pháp; Anh; Hi lạp; v.v
d5 Chỉ viết hoa âm tiết đầu
Ví dụ: Puskin
e Về việc dùng dấu nối
e1 Dùng dấu nối trong các liên doanh như: Khoa học– kĩ thuật; Môn hoá- dược; Quảng nam- Đà nẵng.v.v
e2 Dùng dấu nối khi chỉ giới hạn về không gian, thời gian, số lượng
Ví dụ: Chuyến tàu Hà Nội– Huế; Thời kỳ 1945 – 1954; Sản lượng 5 – 7 tấn.v.v e3 Khi phân biệt ngày, tháng, năm
Ví dụ: 02-9-1945; 30-4-1975.v.v
2.1.4 Một số lỗi chính tả thường gặp ở học sinh và biện pháp sửa chữa.
a Lỗi chính tả do sai nguyên tắc chính tả hiện hành
Trang 8a1 Lỗi do đánh sai vị trí dấu thanh điệu.
Ví dụ: “ hoá” thì viết là “ hóa”; “ quý” thì viết là“ qúy”
a2 Lỗi do không nắm được quy tắc phân bố các ký hiệu cùng biểu thị một âm
Ví dụ: nghành ( ngh không đi trước a ); kách ( k không đi trước a trừ kali ) a3 Lỗi do không nắm được quy tắc viết hoa
Ví dụ: Trần bình trọng; Nam định v.v
* Để khắc phục những lỗi này, chỉ cần cho học sinh ghi nhớ và tuân thủ những đặc
điểm và nguyên tắc kết hợp, quy tắc viết hoa của chữ viết
b Lỗi chính tả do viết sai với phát âm chuẩn
Đặc điểm phát âm đặc trưng cho từng dân tộc với phát âm chuẩn là nguyên nhân dẫn đến những cách viết sai chính tả Có thể quy những lỗi loại này thành ba dạng chủ yếu b1 Lỗi viết sai phụ âm đầu
- Lỗi do không phân biệt được tr và ch: Do cách phát âm của học sinh không phân biệt được tr – ch Có thể giúp các em nhớ một số quy tắc nhỏ để phân biệt tr – ch:
+ Tr không kết hợp với những vần bắt đầu bằng: oa, oă, oe, uê ( choáng, choai.v.v.) + Từ láy phụ âm đầu phần lớn là ch ( Những từ láy phụ âm đầu là tr rất ít: trơ trọi, trống trải.v.v.)
- Lỗi do không phân biệt s và x
+ Hiện tượng này cũng là do đặc điểm phát âm không phân biệt ở lỗi này cần cho học sinh hiểu và nhớ một số quy tắc phân biệt giữa s và x như sau:
+ S không kết hợp với các vần: oa, oă, oe, uê ( xuề xoà, xoay xở, xoen xoét.v.v.)
( Từ láy phụ âm đầu có cả s và x ) Từ láy bộ phận vẫn thường là x: loăn xoăn, loà xoà
+ Về nghĩa: Tên thức ăn thường viết là x: xôi, xúc xích, lạp xườn v.v
+ Những từ chỉ hơi ra: xì, xỉu, xọp, xẹp.v.v
+ Những từ chỉ sụp xuống viết với s: sục, sụp, sẩy.v.v
+ Những từ chỉ quan hệ ngữ pháp phần lớn là đi với s: sự, sẽ, sắp, sao v.v
- Lỗi do không phân biệt r, gi với d: Giúp học sinh nhớ một số quy tắc để phân biệt r,
gi với d như sau:
+ R và gi không kết hợp với những vần: oa, oă, uâ, oe, uê, uy
+ Xét về nguồn gốc, không có từ Hán Việt đi với r; Trong Hán Việt, D đi với thanh ngã và nặng, gi đi với thanh hỏi và sắc
+ Trong từ láy bộ phận vần: R láy với B và C, còn Gi và D không láy: bứt rứt, bủn rủn v.v R và D láy với l, còn Gi không láy: liu diu, lim dim v.v
Nếu một số từ có hai hình thức viết, một trong hai hình thức đó viết với tr thì từ đó cũng viết với gi: Giăng – trăng; giầu – trầu; giai – trai v.v
b2 Lỗi viết sai phần vần ( Viết sai âm cuối hoặc âm chính)
Ví dụ: yêu / iêu; ươu/iêu v.v
b3 Lỗi viết sai thanh điệu
Lỗi viết sai thanh điệu do sự phát âm không phân biệt giữa thanh hỏi và thanh ngã
Để khắc phục lỗi này có thể giúp học sinh nhớ hai quy tắc:
Trang 9Các chữ khởi đầu bằng nguyên âm chỉ mang dấu hỏi, không mang dấu ngã: ả, ỷ lại, ảnh v.v.( Trừ 5 từ ngoại lệ: ẵm, ễ mình, ễnh bụng, ễnh ương, ưỡn ngực )
Các chữ Hán Việt bắt đầu bằng các phụ âm m, n, nh, l, v, d, ng chỉ mang dấu ngã không mang dấu hỏi: mã lực, lãnh tụ, vĩ nhân v.v.( chỉ có một trường hợp ngoại lệ: cây ngải )
Phần lớn từ láy điệp vần mang thanh hỏi
2.1.5 Những việc làm cụ thể:
- Ta biết rằng trong Tiếng Việt đọc và viết là hai quá trình có sự thống nhất chặt chẽ với nhau bởi vì mỗi tiếng được viết thành một chữ, ngược lại mỗi chữ đọc thành một tiếng Như vậy cách đọc và cách viết phải thống nhất với nhau, có nghĩa là muốn viết đúng thì phải đọc đúng Do đó, để học sinh viết đúng chính tả giáo viên cần phải thường xuyên học tập, rèn luyện để nâng cao khả năng phát âm chuẩn và trình độ chính tả của bản thân Không phải chỉ trong giờ dạy mà ngay cả trong khi giao tiếp giáo viên phải phát âm chuẩn và viết chuẩn
- Giáo viên rèn luyện cho học sinh khả năng phối hợp các hành động nghe- nhìn- phát
âm chuẩn- nhớ và viết trong các giờ khác
- Giáo viên cần đặt các từ cần nhớ vào trong một ngữ cảnh ví dụ:
+ Một số từ chỉ người trong quan hệ gia đình họ hàng thường có phụ âm đầu viết ch: cha, chú, chị, cháu, chắt
- Thường xuyên kiểm tra vở ghi và vở bài tập của học sinh Mục đích là kịp thời uốn nắn, chỉ lỗi chính tả cho học sinh, giúp các em nhận ra những lỗi viết sai của mình, từ
đó tự sửa chữa ngay, tránh lặp lại
- Khuyến khích việc viết đúng, viết đẹp của học sinh
- Khi chấm bài kiểm tra, ngoài việc nhận xét nội dung bài làm, phải luôn trú trọng đến việc phát hiện ra lỗi chính tả và sửa cho các em , đồng thời ghi rõ yêu cầu học sinh phải sửa chữa ngay những lỗi trên
Ví dụ: ( Bài viết gồm 5 lỗi) Hướng dẫn các em trình bày cách sửa lỗi như sau:
* Lỗi thanh điệu: Mỉ mản = Mĩ mãn
* Lỗi phần vần: mát rựi = mát rượi
* Lỗi phụ âm đầu: sạch xẽ = sạch sẽ; cảm dác = cảm giác
Từ cách phát hiện lỗi chính tả và sắp xếp cho nó vào các lỗi thông thường nào đến việc sửa cho đúng chính tả mà học sinh sẽ nhớ để tránh viết sai
- Cần và rất nên có điểm thưởng, điểm phạt ở các bài kiểm tra về vấn đề trình bày và chuẩn chính tả Đây cũng là một trong những việc làm để khuyến khích học sinh viết đúng chính tả
- Ở các giờ thực hành tập nói ( Phân môn tập làm văn ), tôi đã rất chú ý rèn và sửa chữa cách phát âm cho đúng giữa s và x, tr và ch, d và r và phân biệt giữa thanh hỏi với thanh ngã
- Ra thêm các dạng bài tập rèn chính tả để học sinh có thể tự làm ở nhà đây là biện pháp rất có hiệu quả mà lại không mất thời gian trên lớp Biện pháp này vừa giúp học sinh viết đúng chính tả, vừa rèn luyện cho các em thói quen trình bày sạch, đẹp Biện
Trang 10pháp này đòi hỏi người giáo viên cần tận dụng thời gian các tiết trả bài, các buổi sinh hoạt lớp để giao bài tập chính tả cho học sinh
Các dạng bài tập thường là :
Dạng A : Dạng bài tập điền phụ âm đầu
Điền ch hay tr ?
a “ úng tôi đều úng tuyển” ( Chúng tôi đều trúng tuyển )
b “ Người ồng đang lo ồng cây” ( Người chồng đang lo trồng cây )
Điền s hay x ?
a “ ương uống đầy cả mặt ông” ( Sương xuống đầy cả mặt sông )
b “ Hôm nay có úp , có ôi , có bún áo nóng ốt mời các cậu học .inh ơi tạm “ ( Hôm nay có súp , xôi sáo xốt sinh xơi)
Điền R , D hay Gi ?
Chúng tôi ót ượu mời ông ám đốc
Dạng B : Dạng bài tập thanh điệu
Điền thanh sắc , thanh ngã cho phù hợp :
VD: Em bé ngá (ngã)
Dạng C : Dạng bài tập vần
Sửa lỗi cho câu: “ Anh ấy là tay nát riệu ( nát rượu )
Dạng D : Dạng bài tập tổng hợp:
Khoanh tròn vào chữ cái đầu của từ hoặc cụm từ viết đúng:
1 A Bản án ; B Bảng án 2 A án mây ; B áng mây
3 A Bàn quang ; B Bàng quang 4 A Dản dị ; B Giản dị
5 A Dán giấy ; B Gián giấy 6 A Về hiêu ; B Về hưu
( Các từ đúng là: 1A, 2B, 3B, 4B, 5A, 6B )
Ở dạng bài tập này học sinh phải phân biệt được rõ lỗi để sửa lại cho đúng
- Kết hợp với các giáo viên bộ môn để cùng giúp học sinh viết cho đúng hoặc tạo điều kiện để các em tự giúp nhau viết cho đúng chính tả
2.1.6 Kết quả nghiên cứu:
- Trong quá trình đứng lớp, tôi đã áp dụng các biện pháp trên và nhận thấy học sinh có tiến bộ rõ rệt Bản thân các em cũng ý thức hơn khi viết bài nên bài viết mắc lỗi chính tả có phần giảm Học sinh biết trình bày đẹp, đúng, biết giữ vở sạch, viết chữ đẹp Tuy rằng đây chỉ là kết quả hết sức khiêm tốn và việc làm thế nào để học sinh viết đúng chính tả là một quá trình lâu dài, song tôi cảm thấy rất vui vì công việc của mình làm bước đầu có kết quả
* Cụ thể: Qua kiểm tra viết chính tả trong các tiết ôn tập và bài TLV số 4 kết quả đạt
được như sau:
Tổng số bài Số lỗi trong
một bài
Viết chính tả ( giờ ôn tập thêm)
Tập làm văn
Số lượng bài Tỉ lệ Số lượng
bài
Tỉ lệ