Với nhiều năm giảng dạy Hóa học THCS, qua việc thực hiện các thí nghiệm Hóa học tôi đã tổng kết, đúc rút được "một số phương pháp hướng dẫn học sinh thực hành thí nghiệm môn
Trang 1PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
A- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hóa học là một trong các môn khoa học cơ bản có đóng góp quan trọng vào
sự phát triển của xã hội Quá trình phát triển của khoa học công nghệ đòi hỏi sự ra
đời của các vật liệu mới, thuốc chữa bệnh Bên cạnh những vai trò của hóa học
với nền khoa học kĩ thuật thì hóa học còn giúp học sinh giải thích được nhiều hiện
tượng thú vị trong đời sống hàng ngày như sự biến đổi của các chất khi chế biến
thức ăn Tại sao bột nở lại làm cho bánh xốp hơn? Sắt để ngoài không khí bị gỉ
do đâu? có hàng nghìn câu hỏi dạng như vậy xuất hiện trong đầu học sinh đang
cần giải đáp
Môn Hóa học có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo nói
chung, của trường THCS nói riêng Môn Hóa học ở trường THCS có những đặc
trưng riêng Nội dung kiến thức của môn học này luôn luôn gắn liền với sự vật và
hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hàng ngày Việc khám phá và tiếp thu kiến thức
phụ thuộc rất nhiều vào các thí nghiệm bởi đặc điểm của khoa học Hóa học vốn là
khoa học thực nghiệm và nguyên tắc dạy học là nguyên tắc trực quan “học đi đôi
với hành”
Làm các thí nghiệm Hóa học có tác dụng to lớn trong việc phát triển nhận
thức của học sinh, phù hợp với nguyên lý giáo dục, giúp các em quen dần với
phương pháp nghiên cứu khoa học, vì qua đó các em được tập quan sát, tư duy
biên chứng, rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì, góp phần giáo dục kỹ năng sống,
chuẩn bị cho học sinh tham gia hoạt động thực tế Do được tự mình tiến hành các
thao tác thí nghiệm… các em có thể nhanh chóng làm quen với những dụng cụ và
thiết bị dùng trong đời sống và sản xuất sau này
Trong chương trình Hóa học 8, học sinh đã làm quen với các thao tác thí
nghiệm đơn giản, tập đưa ra “Dự đoán’’ và được giáo viên hướng dẫn làm thí
nghiệm để kiểm tra tính đúng đắn của dự đoán Lên lớp 9 phương pháp này được
phát triển và được nâng cao hơn, học sinh thường xuyên đưa ra nhiều dự đoán khác
nhau về cùng một hiện tượng, tự lực đề xuất các phương án thí nghiệm, và thực
hành thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của giáo viên Như vậy, bên cạnh nhiệm vụ
trang bị kiến thức và những hiểu biết cần thiết, trong mỗi bài học Hóa học cần
nâng cao khả năng tự tiến hành thí nghiệm (thực hành) của học sinh, rèn luyện và
phát triển ở các em những kĩ năng, năng lực nhận thức và góp phần hình thành
những phẩm chất, nhân cách phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện nay
Với nhiều năm giảng dạy Hóa học THCS, qua việc thực hiện các thí nghiệm
Hóa học tôi đã tổng kết, đúc rút được "một số phương pháp hướng dẫn học sinh
thực hành thí nghiệm môn Hóa học THCS". Tôi trình bày trong bản sáng kiến
Trang 2kiến cho tôi để tôi hoàn thiện đề tài này, giúp cho việc thực hành, thí nghiệm môn
Hóa học được thành công và làm cho học sinh tin tưởng vào chân lí khoa học, từ
đó các em hứng thú học tập môn Hóa học
B- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Đề tài nghiên cứu các phương pháp dạy thực hành Hóa học nhằm “phát huy
tính tích cực chủ động, sáng tạo và năng lực tự học, tự làm của học sinh ”
Mục đích cơ bản của đề tài là: Làm thế nào để học sinh có thể làm thí
nghiệm thực hành đúng thao tác dưới sự hướng dẫn của giáo viên nhằm giúp học
sinh hình thành và củng cố vững kiến thức, học sinh yêu thích học môn Hóa học
từ đó nâng cao được chất lượng dạy và học Đồng thời có thể giúp các giáo viên
dạy Hóa học nghiên cứu kĩ hơn các loại thí nghiệm Hóa học, các bước tiến hành
làm thí nghiệm và các phương pháp dạy thí nghiệm để từ đó tìm ra các cách thức
áp dụng cho từng bài dạy cụ thể
Thiết lập hệ thống thí nghiệm, qua đó làm nổi bật mối liên hệ giữa các kiến
thức với nhau, giúp học sinh vận dụng kiến thức nhiều lần để các em nhớ kỹ và
hiểu kiến thức vững chắc, sâu sắc hơn
Hình thành và củng cố tư duy hóa học về sự biến đổi chất, các hiện tượng
hóa học đặc trưng, dự đoán hiện tượng thí nghiệm …
C- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Tìm hiểu bằng cách đọc, nghiên cứu tài liệu về phương pháp dạy thí
nghiệm Hóa học
-Thu thập các tư liệu có liên quan đến đề tài: Sách giáo khoa Hóa học, các
bài học có làm thí nghiệm, các sách tham khảo về phương pháp dạy Hóa học
2 Phương pháp điều tra sư phạm
- Điều tra trực tiếp bằng cách dự giờ phỏng vấn
- Điều tra gián tiếp bằng cách sử dụng phiếu điều tra
3 Tham khảo ý kiến cũng như phương pháp giảng dạy Hóa học của đồng
nghiệp thông qua các buổi họp chuyên đề,dự giờ thăm lớp
4 Lấy thực nghiệm việc giảng dạy Hóa học ở trên lớp đặc biệt là những bài học
Hóa học có thí nghiệm để tìm ra hướng rèn kĩ năng làm thí nghiệm cho các em học
sinh
Áp dụng sáng kiến vào dạy học thực tế từ đó thu thập thông tin để điều
chỉnh cho phù hợp
Trang 3PHẦN II :NỘI DUNG
A- TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Qua nhiều năm giảng dạy môn Hóa học tại trường THCS Đoàn Thị Điểm tôi
đã thường xuyên sử dụng các biện pháp nhằm thực hiện thành công các thí nghiệm,
từ đó làm cho học sinh hứng thú hơn trong học tập môn Hóa học Tôi áp dụng
những biện pháp này trong tình hình thực tế như sau:
I CƠ SỞ LÝ LUẬN:
- Thí nghiệm hóa học là nguồn gốc, xuất xứ của kiến thức, qua quan sát thí
nghiệm, học sinh thấy được hiện tượng, từ đó có nhận xét và rút ra kết luận vấn đề
đang nghiên cứu, tức là từ thực tiễn đi đến tư duy lôgic có cơ sở khoa học
- Qua thí nghiệm tạo cho học sinh hứng thú học tập, nâng cao lòng yêu khoa
học , phát huy được khả năng sáng tạo, tính tò mò ham học hỏi
- Thí nghiệm hóa học giúp học sinh làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các sự vật,
giải thích được bản chất của các quá trình xảy ra trong tự nhiên, trong sản xuất và
đời sống của con người
- Thí nghiệm hóa học còn giúp học sinh có khả năng vận dụng những kiến
thức đã học được trong nhà trường, trong phòng thí nghiệm vào các lĩnh vực hoạt
động của con người
- Thí nghiệm hóa học có tác dụng phát triển tư duy, giáo dục thế giới quan
duy vật biện chứng, củng cố niềm tin vào khoa học của học sinh, giúp học sinh
hình thành những đức tính tốt của con người mới: làm việc khoa học, thận trọng,
ngăn nắp, gọn gàng Vì vậy việc hướng dẫn học sinh kĩ năng thực hành trong môn
hóa học ở trường THCS, khi các em mới bước đầu làm quen với môn hóa học là
nhiệm vụ hết sức quan trọng của người thầy
II CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1- Về học sinh:
Học sinh còn rất lúng túng khi tiến hành thí nghiệm Các em làm thí nghiệm
rất chậm đôi khi còn không theo đúng trình tự thí nghiệm dẫn đến kết quả thí
nghiệm chưa được chính xác, làm mất nhiều thời gian, ảnh hưởng rất nhiều đến
chất lượng của tiết học
Vì hóa học là môn học khá mới và là một môn học khó, trừu tượng, nhiều
hiện tượng phức tạp nên phần lớn các em có tâm lí sợ học bộ môn Bên cạnh đó theo
chương trình đổi mới sách giáo khoa Hóa học như hiện nay phần lớn các tiết dạy
Hóa học đều có thí nghiệm học sinh rất thích làm thí nghiệm nhưng kĩ năng thực
hành và xử lí kết quả thí nghiệm của các còn rất lúng túng, thậm chí có thể bị nguy
Trang 4hiểm do hóa chất và dụng cụ bị vỡ Từ lí thuyết áp dụng vào thực tế còn chưa tự tin,
chưa thành thạo
2- Về giáo viên:
Một số giáo viên thì ngại dạy môn Hóa học vì nó có nhiều thí nghiệm mà
giáo viên nghiên cứu chưa kĩ các phương pháp dạy thí nghiệm Hóa học nên vẫn
còn lúng túng trong cách tổ chức hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm Một số giáo
viên khác lại ngại không cho học sinh thực hành thí nghiệm mà chỉ giáo viên làm
cho học sinh quan sát vì kĩ năng làm của các em quá chậm ảnh hưởng đến thời
lượng 45 phút của tiết học
Ở một số thí nghiệm giáo viên làm không thành công từ đó làm học sinh
hoang mang tiếp thu kiến thức một cách bị thụ động ép buộc
3- Về cơ sở vật chất:
Một số thiết bị và hóa chất thí nghiệm qua một thời gian sử dụng đã bị hỏng
không còn đáp ứng được yêu cầu của bộ môn nên có một số thí nghiệm giáo viên
chỉ thông báo kết quả, học sinh không được trực tiếp làm thí nghiệm
Nhà trường đã có phòng học bộ môn rất thuận lời cho việc tổ chức các tiết
học có thực hành, thí nghiệm
Trước những tình hình đó, tôi cố gắng phát huy những thuận lợi của nhà
trường, đồng thời khắc phục khó khăn, tìm mọi biện pháp để các thí nghiệm Hóa
học được thành công
B- NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT:
Tôi đã tổng hợp các thí nghiệm Hóa học lớp 8, 9 và phân chia các thí
nghiệm thành các loại thí nghiệm, với mỗi bài lại tìm ra các hình thức tổ chức khác
nhau đối với mỗi thí nghiệm:
1- Phân loại thí nghiệm: phân theo mức độ hoạt động tích cực của học sinh
- Thí nghiệm biểu diễn; (ít tích cực): GV hoặc 1 HS thực hiện TN biểu
diễn – HS quan sát hiện tượng nhưng chỉ để chứng minh có phản ứng xảy ra hoặc
một tính chất, một quy luật mà GV đã nêu ra
- Thí nghiệm thực hành (Rất tích cực): Nhóm HS trực tiếp thực hiện,
nghiên cứu thí nghiệm
2- Các hình thức tổ chức thí nghiệm thực hành:
- Thí nghiệm thực hành đồng loạt;
Trang 5- Thí nghiệm thực hành cá thể;
- Thí nghiệm thực hành ở ngoài lớp
Trong đề tài này tôi sẽ trình bày các điểm cần lưu ý và những ví dụ minh hoạ đối
với mỗi loại thí nghiệm, với mỗi hình thức tổ chức thí nghiệm
C- PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH:
I- CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN THÍ NGHIỆM HÓA HỌC
1 Thí nghiệm biểu diễn
1.1 Nguyên tắc thực hiện:
Thí nghiệm biểu diễn là thí nghiệm do giáo viên hoặc một (một vài) học sinh
trình bày ở trên lớp Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của các thí nghiệm biểu
diễn, bản thân tôi luôn có gắng thực hiện tốt các nội dung sau:
- Thí nghiệm phải đảm bảo thành công : Nếu thí nghiệm thất bại học sinh
sẽ mất tin tưởng vào bài học và ảnh hưởng xấu đến uy tín của giáo viên Muốn làm
tốt được điều này, giáo viên phải:
+ Am hiểu bản chất của các hiện tượng Hóa học xảy ra trong thí nghiệm
+ Nắm vững cấu tạo, tính năng, đặc điểm của từng dụng cụ thí nghiệm cùng
với những trục trặc có thể xảy ra để biết cách kịp thời khi phải sửa chữa Muốn
vậy, giáo viên phải làm trước nhiều lần trong khi chuẩn bị bài
+ Giáo viên phải làm trước thí nghiệm để đảm bảo thành công, tránh trường
hợp thí nghiệm thất bại do chất lượng hóa chất, dụng cụ…
- Thí nghiệm phải ngắn gọn một cách hợp lí : Nếu thí nghiệm kéo dài sẽ
khó tập trung sự chú ý của học sinh và dễ cháy giáo án Muốn vậy giáo viên phải
hạn chế tối đa thời gian lắp ráp thí nghiệm Thí nghiệm đảm bảo thành công ngay
không phải làm lại Nếu thí nghiệm kéo dài có thể chia ra nhiều bước, mỗi bước
coi như một thí nghiệm nhỏ
- Thí nghiệm phải đảm bảo cho cả lớp quan sát : Để làm tốt điều này, giáo
viên cần phải:
Chuẩn bị dụng cụ thích hợp, có kích thước đủ lớn, có cấu tạo đơn giản thể
hiện rõ được bản chất của hiện tượng cần nghiên cứu
Sắp xếp dụng cụ một cách hợp lí Điều này biểu hiện:
+ Chỉ bày những dụng cụ cần thiết cho thí nghiệm, không bày la liệt những
dụng cụ chưa dùng đến hoặc chưa dùng xong
+ Bố trí sao cho cả lớp đêu nhìn rõ Muốn như vậy nên sắp xếp dụng cụ trên
Trang 6phải đem đến tận bàn cho học sinh xem Giáo viên cũng cần chú ý không che lấp
thí nghiệm khi thao tác
- Sử dụng thí nghiệm đối chứng: Nhằm giúp học sinh rút ra kết luận một
cách chính xác nhất diện và toàn diện nhất về hiện tượng hoặc tính chất của chất
thể hiện trong thí nhgiệm
-Thí nghiệm phải đảm bảo an toàn cho người và dụng cụ thí nghiệm: Đối
với các chất dễ cháy, nổ phải để xa ngọn lửa và nếu nó bốc cháy thì phải dùng cát
hoặc bao tải ướt phủ lên Với những chất độc hại như clo, khí SO2 thì phải hết sức
thận trọng phải bố trí thí nghiệm ở nơi thoáng gió như cạnh cửa theo hướng hút gió
ra ngoài
- Để phát huy được tác dụng của thí nghiệm biểu diễn:
+ Thí nghiệm phải được tiến hành hữu cơ với bài học, tuỳ vào mục đích của
bài học mà đưa thí nghiệm đúng lúc
+ Thí nghiệm phải tiến hành kết hợp với phương pháp giảng dạy khác nhất
là phương pháp đàm thoại và vẽ hình
+ Thí nghiệm chỉ có hiệu quả tốt khi có sự tham gia tích cực, có ý thức của
học sinh Vì vậy giáo viên phải làm cho học sinh hiểu rõ mục đích của thí nghiệm,
cách bố trí thí nghiệm và các dụng cụ của thí nghiệm Học sinh trực tiếp quan sát
và rút ra kết luận cần thiết
1.2 Ví dụ minh hoạ:
Căn cứ vào mục đích, có thể chia thí nghiệm biểu diễn thành 3 loại:
1.2.1 Thí nghiệm nêu vấn đề
Thí nghiệm này nhằm nêu lên vấn đề cần nghiên cứu tạo ra tình huống có
vấn đề làm tăng hiệu quả của dạy học
Ví dụ 1:
BÀI 1: MỞ ĐẦU MÔN HÓA HỌC
Mục Hóa học là gì?
Trước khi vào bài này, để đặt vấn đề vào bài giáo viên có thể tổ chức làm thí
nghiệm sau đây:
Chuẩn bị:
Dụng cụ: Ống nghiệm
Hóa chất: Đinh sắt, dung dịch HCl
Trang 7Cách tiến hành thí nghiệm:
GV lấy đinh sắt cho vào ống nghiệm đựng dd HCl HS sẽ thấy đinh sắt tan
ra và xuất hiện bọt khí
Sau khi thí nghiệm được tiến hành giáo viên đặt vấn đề vào bài mới: Chất
lỏng này tại sao có thể hòa tan được sắt? Tại sao lại có khí sinh ra và sắt tan đi
đâu? Tất cả sẽ được giải đáp khi chúng ta học môn hóa học?
Vậy hóa học là gì? ngoài những hiện tượng tương tự như trên hóa học còn
nghiên cứu những vấn đề gì? Chúng ta cùng tìm hiểu bài
Cơ sở lí thuyết của thí nghiệm:
HCl tác dụng với Fe làm Fe tan ra tao thành muối FeCl2 và giải phóng khí H2
GV viên có thể tiến hành 2,3 thì nghiệm có hiện tượng nổi bật, đặc biệt là có
sự thay đổi màu sắc ví dụ: Cho mẩu Na vào cốc nước có sẵn phenol phtalein; đổ
dung dịch BaCl 2 vào dung dịch Na 2 SO 4
Dụng cụ: 2 ống nghiệm, giá, kẹp
Hóa chất: Fe dạng phoi bào, dd H2SO4 đặc, HNO3 đặc4
Thí nghiệm:
Thí nghiệm sắt tác dụng với HNO3 đặc, nguội và H2SO4 đặc, nguội GV nêu
vấn đề: Sắt tác dụng với HCl, H2SO4 loãng nhưng liệu sắt có (tác dụng) phản ứng
với HNO3 đặc nguội và H2SO4 đặc, nguội không?
Cách tiến hành thí nghiệm:
GV tiến hành thí nghiệm: cho mảnh sắt vào axit H2SO4 đặc nguội rồi yêu
cầu học sinh quan sát và nêu hiện tượng
HS: Không hiện tượng xảy ra Vậy không có PƯHH
GV: Vậy vấn đề được giải quyết Sắt không phản ứng với H2SO4 đặc, nguội
và tương tự nhưu vậy Fe không phản ứng với HNO3 đặc, nguội (vì có tính thụ
động)
Trang 81.2.2 Thí nghiệm giải quyết vấn đề:
Thí nghiệm thuộc bài này được thực hiện giải quyết vấn đề đặt ra sau phần
nêu vấn đề Bao gồm hai loại thí nghiệm:
1.2.2.1 Sử dụng thí nghiệm nghiên cứu có so sánh đối chiếu(Thí nghiệm đối
chứng) để rút ra tính chất hoá học của chất:
Là thí nghiệm tiến hành nghiên cứu vấn đề đặt ra thông qua đó giáo viên
hướng dẫn học sinh đi đến khái niệm cần thiết
Ví dụ 1:
Bài 39 : BENZEN
Phần III: Tính chất hoá học
Mục 2: Ben zen có phản ứng thế với brom không?
Chuẩn bị
Dụng cụ: Ống nghiệm, kẹp gỗ, ống nhỏ giọt, giá đựng ống nghiệm
Hoá chất: Benzen, dung dịch Brôm
- Thí nghiệm nghiên cứu
- Giáo viên giới thiệu thí nghiệm: cho 2ml brôm lỏng vào ống nghiệm chưa 3 ml
ben zen rồi cho 1 gam bột sắt vào ống nghiệm sau đó đun trên ngọn lửa đèn cồn
Học sinh quan sát thảo luận trả lòi câu hỏi:
? Màu sắc của brôm thay đổi như thế nào?
- GV: thuyết trình kết hợp mô hình động biểu diễn sự thay đổi liên kết trong phân
tử benzen
PTHH: C6H6(l) + Br2(l) Fe t0 C6H5Br(l) + HBr(k)
đỏ nâu không màu
? Phản ứng trên thuộc loại nào?
Học sinh nghe và ghi nhớ: Benzen phản ứng thế với brom lỏng (màu đỏ)
Giáo viên : ? Còn dung dịch brom thì thế nào?
- Thí nghiệm đối chứng: Cho benzen vào dung dịch brom màu vàng da cam
Giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét hiện tượng và giải thích
Học sinh nhận xét: Không có hiện tượng gì xảy ra
Benzen không làm mất màu dung dịch brom
Giáo viên : ? Em có nhận xét gì về tính chất của benzen?
Trang 9 Học sinh rút ra kết luận: Benzen tham gia phản ứng thế với brom lỏng còn
không tham gia phản ứng cộng với dung dịch brôm (hay không làm mất màu dung
dịch brom)
Ví dụ 2:
Bài 19: SẮT
Nghiên cứu tính chất hoá học của sắt tác dụng với dung dịch muối
GV: Sắt tác dụng được với dd muối nào sau đây: CuSO4, MgSO4
HS dự đoán và sau đó kiểm tra bằng thực nghiệm thí nghiệm theo nhóm và
điền kết quả vào bảng sau:
Chuẩn bị: Đinh sắt (loại đinh 10), dây đồng, dung dịch CuSO4, FeSO4, Ống
nghiệm, giá
Tiến hành:
- Cho đinh sắt vào ống nghiệm (1) đựng dd muối CuSO4
- Cho dây đồng vào ống nghiệm (2) đựng dung dịch FeSO4
HS quan sat, nhận xét hiện tượng:
Ô1 - Có màu đỏ bám quanh đinh sắt
- Dung dịch màu xanh nhạt dần và xuất hiện màu lục nhạt
Ô 2 Không hiện tượng
PT: Fe(r) + CuSO4(dd) → FeSO4(dd) + Cu(r)
Trắng xám Xanh lam Lục nhạt Đỏ
Sau đó GV cho đại diện nhóm trình bày kết quả Viết PTHH GV hỏi: Có phải kim
loại sắt đều tác dụng với các dung dịch muối không?
Vậy điều kiện để phản ứng giữa sắt với dd muối thực hiện được là gì? Từ đó
dẫn đến kết luận về tính chất của sắt tác dụng với dd muối (Chú ý hoá trị của sắt)
Kết luận
Những kim loại mạnh có thể đẩy được kim loại yếu hơn ra khỏi dung dịch
muối
1.2.2.2 Thí nghiệm chứng minh
Là thí nghiệm dùng để chứng minh những giả thuyết được đặt ra
Ví dụ:
Trang 10Bài 26: CLO
Thí nghiệm chứng minh clo có tính chất hóa học của phi kim
Chuẩn bị: Dụng cụ và hóa chất: đèn cồn, 2 bình clo, dây đồng, dây sắt xoắn
hình lò xo, kẹp sắt
GV đặt vấn đề : để chứng minh clo có THHH của phi kim chúng ta tiến hành
làm một số thí nghiệm
Cách tiến hành thí nghiệm:
GV phát phiếu học tập cho học sinh Nội dung: nêu hiện tượng và lập
PTHH cho các phản ứng trong thí nghiệm sau:
TN 1: Đồng tác dụng với clo
GV dùng kẹp sắt kẹp dây đồng đốt nóng trên ngọn lửa đèn cồn rồi đưa
nhanh vào bình đựng clo
TN 2: Sắt tác dụng với clo
GV thao tác tương tự như trên
HS: TN1; dây đồng cháy sáng sinh ra khói trắng
PT: Cu + Cl2 -to> CuCl2
TN 2: Dây sắt cháy sáng và sinh ra khói màu đỏ nâu
PT: 2Fe + 3Cl2 -to> 2FeCl3
GV Tương tự như vậy clo tác dụng với hầu hết kim loại khác sinh ra muối
clorua Vậy chứng tỏ clo có tính chất nào của phi kim ?
KL: clo tác dụng với kim loại tạo muối
1.2.2.3 Thí nghiệm củng cố:
Thí nghiệm thuộc loại này dùng để củng cố kiến thức đã nghiên cứu bao
gồm cả những thí nghiệm nói lên ứng dụng của kiến thức Hóa học trong đời sống
và giải bài tập
Ví dụ:
Bài 26 CLO Mục: Clo tác dụng với H2O
Học xong mục này GV ra một bài tập: Thiết kế thí nghiệm nhận biết các chất khí
HCl, Cl2, O2 bằng phương pháp hóa học
Chuẩn bị: 3 bình đựng khí HCl, Cl2, O2, giấy quỳ, cốc đựng nước, kẹp, ống hút
Trang 11Tiến hành thí nghiệm: Lấy 3 mẩu giấy quỳ nhúng vào nước rồi lần lượt cho vào
từng bình
HS tiến hành, quan sát và giải thích:
- Bình làm giấy quỳ tím chuyển đỏ là HCl
- Bình làm giấy quỳ tìm chuyển đỏ sau mất màu ngay la Cl2
- Bình không làm giấy quỳ tìm chuyển màu là O2
KL: Giấy quỳ tím ẩm là thuốc thử khí Cl2
2 Thí nghiệm thực hành Hóa học:
2.1 Nguyên tắc thực hiện:
Thực hiện phương pháp này phải tuân thủ nguyên tắc sau:
- Thí nghiệm do tự tay học sinh tiến hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên
- Thí nghiệm đơn giản, dẽ làm, ít thao tác và nhanh cho hiện tượng rõ ràng
- Thí nghiệm không độc hại hoặc dễ cháy nổ
- Tổ chức hướng dẫn thao tác thực hành cụ thể, chi tiết đối với học sinh lớp
8 cần làm mẫu
- Nêu cao tinh thần kỉ luật trong phòng thực hành
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của thí nghiệm thực hành, bản thân tôi
luôn cố gắng thực hiện tốt các nội dung sau:
2.2 Một số kỹ năng cần rèn luyện cho học sinh THCS:
- Sử dụng chai lọ, cốc và các dụng cụ thủy tinh: Bất kì một loại dụng cụ nào
khi sử dụng đều phải được rửa sạch, nếu rửa bằng nước không sạch thì phải rửa
bằng xà phòng hoặc bằng hóa chất cần thiết và sau đó lại rửa bằng nước cho sạch
Rửa xong úp ngược miệng xuống dưới cho ráo nước Với ống nghiệm phải rửa
bằng chổi lông
- Đo khối lượng các vật: bằng cân kĩ thuật
- Tiến hành một số động tác cơ bản của thí nghiệm thực hành hóa học:
* Lấy chất lỏng từ lọ ra ống nghiệm hay dụng cụ khác, nếu lấy với lượng
nhỏ ta dùng ống hút, lấy với lượng từ 1ml thì rót nhưng không để hóa chất chảy ra
lọ và quay nhãn lên trên Nút lọ khi mở đặt ngửa và khi không lấy nữa thì đậy nút
ngay để tránh nhầm lẫn Ống hút sau khi lấy hóa chất xong phải hút nước rửa sạch,
để khi dùng hút hóa chất khác không bị trộn lẫn với hóa chất đã dùng
* Lấy hóa chất rắn phải dùng thìa khô, sạch, lấy xong cũng rửa thìa lại cho
Trang 12rắn thì các chất rắn phải lấy riêng biệt ra các dụng cụ để xác định tỉ kệ klhối lượng
đúng theo kĩ thuật rồi mới trộn đều bằng thìa hay dụng cụ thủy tinh như đũa hay
thìa thủy tinh rồi mới cho vào dụng cụ thí nghiệm
* Hòa tan hóa chất rắn vào chất lỏng: cho chất rắn vào chất lỏng từng lượng
nhỏ một và dùng đũa thủy tinh khuấy tan dần, tráng hiện tượng bỏ chất rắn quá
nhiều không tan hết
* Hòa tan chất lỏng vào chất lỏng; Cho lượng chất lỏng này vào chất lỏng
kia từng lượng nhỏ một, nếu dụng cụ hòa tan là ống nghiệm thì khi cho lượng nhỏ
chất lỏng vào ta gõ nhẹ đáy ống nghiệm vào gan bàn tay hay ngón tay trỏ, tuyết đối
không dùng ngón tay bịt miệng ống nghiệm mà xóc lên, xóc xuống
* Đun nóng các chất trong ống nghiệm hay bình cầu: Dùng đèn cồn hơ nóng
nhẹ, đều ống nghiệm hay bình cầu rồi mới đặt đèn cồn cố định đun nóng tập trung
Các dụng cụ sau khi đun nóng không được để vào chổ có nước hoặc trên nền gạch
men để tránh vỡ dụng cụ và điều đó cũng có nghĩa không được rủa dụng cụ khi còn
nóng
2.3 Chuẩn bị tốt dụng cụ thí nghiệm thực hành, đảm bảo đủ về số
lượng, chất lượng
Điều này đòi hỏi giáo viên cần nghiên cứu kĩ chương trình thực hành ngay
từ đầu năm học, xác định cần dụng cụ gì, số lượng bao nhiêu, còn thiếu những gì
để có kế hoạch giải quyết trong năm bằng cách mua thêm hoặc tự làm hoặc hướng
dẫn học sinh tự làm
2.3.1 Chuẩn bị của giáo viên
Giáo viên sau khi nhận lớp, tìm hiểu kĩ về tình hình học tập của lớp về bộ
môn, sau đó phối hợp với giáo viên chủ nhiệm tiến hành việc phân học sinh lớp
thành từng nhóm, trong nhóm phải có đủ các đối tượng học sinh theo năng lực học
tập của bộ môn, có nhóm trưởng, nhóm phó để khi nhóm trưởng vắng thì nhóm
phó thay thế, có thư kí để ghi chép hiện tượng xảy ra trong quá trình làm thí
nghiệm, ý kiến thống nhất trong phần giải thích hiện tượng và viết PTHH đối với
mỗi thí nghiệm
Nhóm trưởng chịu trách nhiệm phân công , điều hành hoạt động của nhóm
theo hướng dẫn của giáo viên, yêu cầu nhóm trưởng khi phân công các thành viên
trong nhóm phải thường xuyên đổi vị trí làm việc của mỗi thành viên để tất cả học
sinh trong nhóm đều được làm thí nghiệm, qua nhiều lần thí nghiệm mỗi học sinh
sẽ có kĩ năng thực hành tốt hơn
Một trong những điều kiện giúp học sinh thực hiện thành công các thí
nghiệm thực hành là giáo viên phải tổ chức cho học sinh, nhóm học sinh nghiên
cứu trước bản hướng dẫn làm thí nghiệm thực hành do giáo viên soạn ra, học sinh
Trang 13như thế nào?, giải thích các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm, rút ra kết luận
đúng
Giáo viên cần xác định nội dung và phương pháp thực hiện các thí nghiệm
thực hành sao cho phù hợp với đặc điểm, nội dung, thời gian cho phép và cơ sở vật
chất, thiết bị dạy học có liên quan của trường
Căn cứ vào nội dung của thí nghiệm thực hành, giáo viên cần làm trước thí
nghiệm để viết bản hướng dẫn cụ thể và chính xác, cố gắng chuẩn bị tốt các dụng
cụ, hóa chất, phương tiện chuẩn bị cho thí nghiệm thực hành
Tất cả dụng cụ thí nghiệm phải được để trên bàn thí nghiệm, không để các
em đi lại nhiều
Những thí nghiệm với chất độc, chất dễ nổ như KClO3, P, S, Cl2… hoặc axit
đặc,… không nên cho học sinh làm hoặc nếu làm giáo viên cần căn dặn, hướng dẫn
thật tỉ mĩ, cụ thể từng thao tác, hướng dẫn học sinh cách phòng tránh, cấp cứu tạm
thời khi sự cố không hay xảy ra để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho học sinh
Giáo viên cần lưu ý các thí nghiệm thực hành trong giờ dạy lí thuyết hoặc
trong tiết thực hành phải đơn giản, rõ ràng, đảm bảo tính chính xác cao, mỹ thuật,
chú ý dùng lượng nhỏ hóa chất theo đúng hướng dẫn trong sách giáo khoa
Trong quá trình học sinh thực hành giáo viên phải giám sát công việc làm
của học sinh nhóm, giữ trật tự chung, giúp đỡ kịp thời các nhóm khi cần thiết
nhưng không được làm thay cho học sinh
2.3.2 Chuẩn bị của học sinh
Nội quy học sinh cần thực hiện:
1/Học sinh phải nghiên cứu trước ở nhà các thí nghiệm mà các em phải thực
hiện trong giờ học hoặc trong tiết thực hành về những công việc cụ thể như: dụng
cụ, hóa chất cho mỗi thí nghiệm, cách tiến hành từng thí nghiệm, dự đoán hiện
tượng xảy ra, viết PTHH nếu được và dự kiến về phần giải thích hiện tượng
2/Trên bàn thí nghiệm không được để đồ dùng riêng như: cặp sách, nón,
mũ…
3/ thực hiện đúng nội quy phòng thí nghiệm, quy tắc phòng độc, phòng cháy
và chú ý bảo quản dụng cụ, hóa chất thí nghiệm…
4/ Phải biết tiết kiệm hóa chất, hóa chất đã sử dụng không được đổ chung
vào lọ hóa chất ban đầu
5/ Trong khi làm thí nghiệm không được nói chuyện riêng, không đi lại làm
mất trật tự chung, không tự động lấy dụng cụ, hóa chất ở bàn khác
6/ Khi làm thí nghiệm xong phải rửa dụng cụ, lau dọn vệ sinh, sắp xếp dụng
cụ, hóa chất đúng nơi quy định
Trang 142.4 Trình tự tổ chức một thí nghiệm thực hành
Bước 1: Kiểm tra công tác chuẩn bị
1/Về công tác chuẩn bị của học sinh, nhóm học sinh
Sau khi giáo viên nêu mục tiêu của bài học, bài thực hành, giáo viên yêu cầu
học sinh các nhóm cho biết công tác chuẩn bị của học sinh , nhóm học sinh đối với
1
2
3
Sau khi học sinh báo cáo công tác chuẩn bị của mình, giáo viên nhận xét, chỉ
ra những thiếu sót trong công tác chuẩn bị của học sinh trong từng thí nghiệm để
học sinh bổ sung vào bản chuẩn bị thí nghiệm của mình cho phù hợp, sau đó giáo
viên cho học sinh nhóm kiểm tra dụng cụ, hóa chất trên bàn thực hành
2/ Kiểm tra dụng cụ, hóa chất thí nghiệm
Học sinh nhóm kiểm tra dụng cụ, hóa chất trên bàn thực hành của nhóm
Báo cáo với giáo viên những dụng cụ, hóa chất còn thiếu hoặc dụng cụ bị hư hỏng
để bổ sung kịp thời
Bước 2: Giáo viên hướng dẫn chung:
Giáo viên nhắc lại nội dung, mục đích của toàn bộ công việc, hướng dẫn kĩ
thuật lắp ráp dụng cụ thí nghiệm, cách tiến hành từng thí nghiệm
Giáo viên không chỉ hướng dẫn làm những công việc gì, làm như thế nào? Mà còn
giải thích cho học sinh vì sao lại làm như vậy
Giáo viên cần báo trước cho học sinh một số sai lầm có thể mắc phải trong
khi làm thí nghiện dẫn tới kết quả thí nghiệm sai hoặc gây nguy hiểm cho học sinh
như:
Thí nghiệm nung hỗn hợp Fe với S ở lớp 9 bài “thực hành tính chất hóa
học của nhôm và sắt”, học sinh phải lấy lượn hóa chất theo đúng tỉ lệ Fe: S là
7:4.Khi nung hỗn hợp cần hơ đều ống nghiệm, sau đó tập trung ngọn lửa của đèn
cồn vào hỗn hợp , chú ý ngọn lửa phải lớn để đủ nhiệt cho hỗn hợp phản ứng , nếu
không phản ứng rất khó xảy ra
Trang 15Thí nghiệm đồng tác dụng với Axit sunfuric đặc trong bài Axit sunfuric,
lượng a xit lấy chỉ 1ml ( khoảng 10 giọt) cho vào ống nghiệm, kép ống nghiệm
nằm ở 1/3 phía trên của ống nghiệm, khi đun nóng củng cần hơ nóng đều ống
nghiệm sau đó mới tập trung ngọn lửa vào nơi có chứa hóa chất, chú ý ngọn lửa
nhỏ để dễ quan sát hiện tượng
Khi giáo viên hướng dẫn cần có một số thao tác thí nghiệm để minh họa
nhưng không được tốn nhiều thời gian
Bước 3: Học sinh tiến hành thí nghiệm
Trong quá trình làm thí nghiệm các thành viên phải thực hiện đúng phân
công của nhóm trưởng, tập trung quan sát hiện tượng thí nghiệm, thảo luận để đi
đến thống nhất về các hiện tượng xảy ra, đồng thời bàn bạc để đưa ra nhận xét
thống nhất đúng với hiện tượng xảy ra và rút ra kết luận chung hợp lí
Bước 4: Viết tường trình thí nghiệm với bài thực hành:
Sau khi hoàn thành các thí nghiệm, giáo viên yêu cầu các nhóm làm vệ sinh,
rửa dụng cụ, thu dọn hóa chất để dụng cụ, hóa chất còn lại đúng theo quy định như
lúc ban đầu, lưu ý hóa chất dễ chấy, nổ không để gần nhau sau đó học sinh tiến
hành viết tường trình thí nghiệm theo cá nhân hoặc nhóm theo yêu cầu của giáo
viên
Mẫu báo cáo thực hành được giáo viên hướng dẫn ở tiết học trước theo mẫu sau:
Tên nhóm:…… BẢN TƯỜNG TRÌNH THÍ NGHIỆM
Họ tên học sinh:……… Tên bài thực hành:………
Mục (1), (2), (3) (ở bảng 1) học sinh chuẩn bị trước ở nhà, có điều chỉnh phù hợp
sau phần hướng dẫn chung của giáo viên
Học sinh chỉ viết nội dung các mục (3), (4) (Bảng 2) sau khi tiến hành thí nghiệm
và được nhóm thảo luận đi đến thống nhất
2.5 Ví dụ minh hoạ:
Ví dụ 1:
Trang 16Phần 1: Tính chất hoá học của muối Mục 1: Muối tác dụng với kim loại
Dụng cụ: ống nghiệm, kẹp gỗ, ống nhỏ giọt, giá đựng ống nghiệm, thìa lấy hoá
chất
Hoá chất: Cu, AgNO3, ZnCl2
Hướng dẫn HS: cho dây Cu vào Ô1 đựng bạc nitrat, cho dây Ag vào Ô2 đụng đồng
nitrat Trả lời câu hỏi
1 Hiện tượng ở 2 ống nghiệm như thế nào?
2 Giải thích và lập PTHH
3 Có phải bất cứ dd muối nào cũng tác dụng với tất cả kim loại không?
HS tiến hành theo nhóm rồi trả lời:
- Học sinh nêu hiện tượng:
Ô1: Xuất hiện Ag màu xám bám vào dây Cu và dung dịch có màu xanh lam
- Giải thích: Do Cu đã đẩy Ag ra khỏi dung dịch muối AgNO3 và một phần Cu bị
hoà tan tạo thành dung dịch Cu(NO3)2 có màu xanh lam
- PTHH:
Cu(r) + 2AgNO3(dd) Cu(NO3)2(dd) + 2Ag(r)
Ô2 : Không có hiện tượng gì
Từ đó học sinh thấy được rằng: Không phải tất cả kim loại đều tác dụng với dung
dịch muối
Giáo viên : ? Qua 2 thí nghiệm trên rút ra được kết luận gì?
Kết luận: Dung dịch muối có thể tác dụng với kim loại tạo thành muối mới và kim
loại mới
Ví dụ 2:
Tiết 23- Bài 17: Dãy hoạt động hoá học của kim loại
- Dụng cụ: ống nghiệm, kẹp gỗ, ống nhỏ giọt, giá đựng ống nghiệm, thìa lấy hoá
chất
- Hoá chất: FeSO4 , CuSO4, AgNO3 , Cu(NO3)2, HCl, dung dịch phenolphtalein,
Fe, Cu, Ag, Na
- Thí nghiệm 1: Cho đinh Fe vào Ô1 đựng đồng sunfat, cho dây Cu vào Ô2 đụng
sắt sunfat Trả lời câu hỏi
Trang 172 Giải thích và lập PTHH
3 Fe và Cu, kim loại nào hoạt động hóa học mạnh hơn? Vì sao?
HS tiến hành theo hướng dẫn rồi trả lời
+ ống nghiệm 1: Xuất hiện chất rắn màu đỏ bám vào đinh sắt
PTHH: Fe(r) + CuSO4 (dd) FeSO4 (dd) + Cu(r)
màu xanh màu đỏ
+ ống nghiệm 2: không có hiện tượng gì
- Học sinh kết luận: Fe hoạt động hóa học mạnh hơn Cu vì Fe đẩy được Cu ra khỏi
dung dịch muối tạo ra kim loại Cu màu đỏ còn Cu không đẩy được Fe
=> Fe hoạt động mạnh hơn Cu xếp Fe đứng trước Cu: Fe,Cu
3 Sử dụng một số thí nghiệm thay thế
Trong quá trình tiến hành thí nghiệm sau nhiều năm dạy học tôi đã rút ra một số
kinh nghiệm trong việc tiến hành các thí nghiệm trong đó một số thí nghiệm không
tiến hành được do thiếu hóa chât, dụng cụ hoặc hiện tượng không theo ý mong
muốn Trong những tình huống đó tôi đã sử dụng thí nghiệm thay thế
Ví dụ:
Bài 16 TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA KIM LOẠI
Phần phản ứng của kẽm với dung dịch đồng (II) sunfat
Một thực tế thường gặp khi tiến hành thí nghiệm cho kẽm vào dung dịch
đồng II sunfat lại có hiện tượng sau:
- Chất rắn màu đen bám lên dây Zn
- Bề mặt Zn có sủi bọt khí
Điều này sẻ làm cho HS phân tâm, khó giải thích, thậm chí một số GV cũng
khó giải thích cho kết quả thí nghiệm trên
Theo tôi xuất hiên chất rắn màu đen bám lên dây kẽm là do nguyên nhân
sau:
+ Phản ứng xảy ra nhanh nên đồng được sinh ra chưa hình thành được mạng
tinh thể
+ Có bọt khí thoát ra ( H2) do hình thành thế điện hóa Khi đồng được sinh ra
bám trên lá kẽm tạo pin điện hóa
PTHH: Zn + CuSO4 ZnSO4 + Cu
Cu2+ + H2O CuOH+ H+
Trang 18Chuẩn bị: - Dụng cụ: Ống nghiệm, giá để ống nghiệm
- Hóa chất: Kẽm dây hoặc viên ( có thể lấy kẽm từ vỏ pin cũ ), dung
dịch đồng II clorua để thay cho đồng II sufat Vì khi dùng dung dịch đồng II sunfat
hiện tượng xuất hiện thường là chất rắn màu đen bám lên
Một số đồng nghiệp thay kẽm bỡi sắt hoặc nhôm nhưng theo tôi các thí
nghiệm giữa sắt, nhôm với đồng II sunphat sẻ được học ở các bài tiếp theo nên cố
gắng giữ nguyên kim loại kẽm chỉ nên thay dung dịch CuSO4 bằng dung dịch
CuCl2
Tiến hành:
Dưới sự hướng dẫn của GV Các nhóm HS tiến hành thí nghiệm
- Cho khoảng 2-3 ml dung dịch CuCl2 vào ống nghiệm Nhúng dây Zn trong
dung dịch CuCl2
- GV yêu cầu các nhóm HS nêu hiện tượng và giải thích cho hiện tượng
- Có chất rắn màu đỏ
bám ngoài lá kẽm
- Màu xanh của dung
dịch nhạt dần, kẽm tan
dần
- Đồng bị kẽm đẩy ra khỏi dung dịch CuCl2
- Dung dịch CuCl2 dần dần được thay thế bỡi dd ZnCl2
Zn+CuCl2ZnCl2 +Cu
Qua việc thay dung dịch CuCl2 đã tránh được hiện tượng khác với SGK Từ
đó cũng cố cho HS niềm tin vào khoa học
II- CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH:
1 Thí nghiệm thực hành đồng loạt
Loại thí nghiệm này tất cả các nhóm học sinh đều cùng làm một thí nghiệm,
cùng thời gian và cùng một kết quả Đây là thí nghiệm được sử dụng nhiều nhất
hiện nay vì có nhiều ưu điểm Đó là:
Trong khi làm thí nghiệm các nhóm trao đổi giúp đỡ nhau và kết quả trung
bình đáng tin cậy hơn
Việc chỉ đạo của giáo viên tương đối đơn giản vì mọi việc uốn nắn hướng
dẫn, sai sót, tổng kết thí nghiệm đều được hướng dẫn đến tất cả học sinh
Bên cạnh những ưu điểm, còn một số hạn chế:
Do trình độ các nhóm không đồng đều nên có nhóm vội vàng trong khi thao
tác dẫn đến hạn chế kết quả