Mặc dù trong vài năm gần đây, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội đã thực hiện một số biện pháp nhằm tăng cường tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của các doanh
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay doanh nghiệp vừa và nhỏ đang dần khẳng định vai trò và vị trí của mình trong nền kinh tế thị trường Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang góp sức không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế và giúp Nhà nước thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội
Để có thể đầu tư thêm vào tài sản cố định mở rộng sản xuất kinh doanh, thực hiện các dự án, doanh nghiệp vừa và nhỏ rất cần có sự góp sức của các nguồn vốn khác đặc biệt là tín dụng Ngân hàng
Về phía các Ngân hàng thương mại, xuất phát từ mục tiêu quản lý của mình đặc biệt là từ mối quan hệ chặt chẽ giữa chiến lược quản lý lãi suất, doanh thu, chi phí và lợi nhuận Các ngân hàng thương mại cần phát triển đồng đều các khoản tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ với các khoản tín dụng cho các doanh nghiệp lớn trên cơ sở đảm bảo chất lượng tín dụng Với số lượng lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tổng số các doanh nghiệp cả nước đây chính là lượng khách hàng tiềm năng mà các ngân hàng thương mại đang hướng tới
Mặc dù trong vài năm gần đây, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội đã thực hiện một số biện pháp nhằm tăng cường tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhưng doanh số cho vay, dư nợ cho vay trung hạn và dài hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng vẫn rất thấp so với số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đứng trước vấn đề như vậy thì: “Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng
đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội” là một vấn đề rất bức thiết
Trang 22.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến đến hoạt động tín đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, xem xét tình hình tín dụng, mở rộng tín dụng và tìm ra nguyên nhân, để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu việc mở rộng tín dụng và các giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội qua các năm 2008 – 2010
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội
4.Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Bài báo cáo sử dụng các phương pháp nghiên cứu như duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp thống kê, phân tích kinh tế, tổng hợp
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội
Trang 3CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1.Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
1.1.1.Khái niệm
Việc xác định thế nào là một doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu căn cứ vào hai tiêu chí phổ biến:
Tiêu chí định tính: Được xây dựng dựa trên những đặc trưng cơ bản của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ như trình độ chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý
ít, mức độ phức tạp của quản lý… Tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của việc phân định nhưng trên thực tế thường khó xác định Do đó, chỉ được dùng để tham khảo, kiểm chứng mà ít được dùng để xác định qui mô doanh nghiệp
Tiêu chí định lượng: Xây dựng dựa trên những tiêu chí như số lượng lao
động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận của doanh nghiệp Số lượng lao động có thể là số lao động trung bình trong danh sách hoặc
số lao động thường xuyên thực tế của doanh nghiệp Tài sản hoặc vốn có thể bao gồm tổng giá trị tài sản (hay vốn) cố định hoặc giá trị tài sản còn lại (hay vốn) còn lại của doanh nghiệp
Các tiêu chí định lượng có vai trò rất quan trọng trong việc xác định qui mô doanh nghiệp Tuy nhiên ở mỗi nước trên thế giới có các tiêu chí khác nhau để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Trình độ phát triển của mỗi nước và tính chất của mỗi ngành nghề: Trình
độ phát triển càng cao thì trị số các tiêu chí càng tăng
Vùng lãnh thổ: Mỗi vùng miền có trình độ phát triển khác nhau về cả quy mô
và số lượng doanh nghiệp Chính vì vậy, để đảm bảo tính tương thích trong việc so sánh giữa các vùng với nhau cũng cần tính đến hệ số vùng trong tiêu chuẩn xác định
Trang 4doanh nghiệp vừa và nhỏ Vùng có nền kinh tế phát triển cao thì số lượng và quy mô doanh nghiệp phải cao hơn so với vùng có nền kinh tế phát triển thấp
Tính chất lịch sử: Như vậy tính chất lịch sử có ảnh hưởng đến việc xác định
qui mô của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng
Tóm lại, từ các yếu tố trên ta có thể hiểu: “doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ
sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành,
có số vốn đăng kí và số lao động ở một mức nhất định tùy theo từng thời kì, từng điều kiện của từng nước, đặc điểm từng vùng lãnh thổ, tính chất từng ngành nghề
mà đặt ra yêu cầu khác nhau về chúng”
1.1.2.Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ có nguồn lao động dồi dào nhưng chất lượng không cao
- Tiềm lực tài chính hạn chế
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ năng động linh hoạt trong sản xuất kinh doanh
- Trình độ khoa học công nghệ và quản lý chưa cao
1.1.3.Vai trò doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đối với sự phát triển kinh tế của một đất nước thì không thể không kể đến sự đóng góp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển thì doanh nghiệp vừa và nhỏ có vị trí, vai trò hết sức quan trọng Vị trí và vai trò
đó của doanh nghiệp vừa và nhỏ được thể hiện như sau:
Thu hút vốn và khai thác nguồn lực có sẵn trong dân cư
Góp phần quan trọng vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế
Tạo ra sự phát triển giữa các vùng, ngành góp phần phát triển quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quốc gia
Trang 51.1.4.Nhu cầu vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Vốn là điều kiện đầu tiên để một doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Vốn có ý nghĩa quan trọng trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp vì vốn duy trì hoạt động và đảm bảo cho sản xuất được liên tục
Vốn và vay vốn luôn là một khó khăn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Bởi
vì các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường là các doanh nghiệp mới thành lập, chưa có
bề dày và uy tín trên thương trường, lại thiếu tài sản thế chấp khi muốn vay vốn Ngân hàng hay các tổ chức tín dụng
1.2.Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.2.1.Khái niệm tín dụng Ngân hàng
Tín dụng Ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong việc vay và cho vay giữa các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các pháp nhân và cá nhân, được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi
1.2.2.Các hình thức tín dụng ngân hàng thương mại
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các Ngân hàng nói chung và các trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, mang lại nhiều lợi nhuận nhất trong hoạt động của Ngân hàng đồng thời cũng mang lại rủi ro cao nhất Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình tín dụng thích hợp, nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro cũng như đảm bảo an toàn hoạt động của toàn ngân hàng đáp ứng yêu cầu của khách hàng Ngân hàng phân loại tín dụng dựa vào các tiêu chí sau:
1.2.2.1.Phân loại tín dụng theo thời gian
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm
- Tín dụng trung và dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên một năm trong
đó các khoản tín dụng từ trên 1 đến 5 năm được coi là tín dụng trung hạn, tín dụng trên 5 năm được coi là tín dụng dài hạn
Trang 61.2.2.2.Phân loại theo hình thức cấp tín dụng
- Chiết khấu giấy nợ:
Giấy nợ là các chứng từ dùng để xác nhận cho người thụ hưởng một trái quyền về tiền đối với người phải trả Giấy nợ là công cụ tài chính phổ biến, mang tính thống nhất trên thị trường tài chính
Chiết khấu giấy nợ là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu giấy nợ chưa đáo hạn cho Ngân hàng để đổi một số tiền bằng giá trị của giấy nợ trừ chi phí chiết khấu và hoa hồng phí (nếu có)
- Cho vay:
Là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định
Nghiệp vụ cho vay cũng bao gồm nhiều loại khác nhau trong đó có:
Thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được
cho trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định, giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử dụng hình thức này
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn
là không có đảm bảo Nhìn chung hình thức này chỉ sử dụng đối với các khách hàng
có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn
Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay tương đối phổ biến của Ngân
hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi hay khi khách hàng có nhu cầu sử dụng vốn theo thời vụ như mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay vốn Ngân hàng
Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ tín dụng theo đó Ngân hàng thoả thuận
cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng và duy trì hạn mức này trong một thời gian nhất định Hạn mức tín dụg có thể tính cho cả đầu kỳ hoặc cuối kỳ Đó là số dư tối
Trang 7đa tại thời điểm tính Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng
Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng
hoá Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, Ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng Đầu năm hoặc đầu quý doanh nghiệp làm đơn xin vay luân chuyển và thoả thuận với Ngân hàng về phương thức vay, hạn mức tín dụng các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ
Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng theo đó Ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền Số tiền mỗi lần trả được tính toán phù hợp với khả năng trả
nợ
Cho vay gián tiếp: phần lớn cho vay của Ngân hàng là cho vay trực tiếp bên
cạnh đó các Ngân hàng còn phát triển các hình thức cho vay gián tiếp Cho vay gián tiếp là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức trung gian như thu nợ, phát tiền vay… Hình thức này áp dụng với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán cách xa Ngân hàng Trong trường hợp như vậy, cho vay qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay
- Cho thuê tài sản (thuê – mua):
Cho thuê của Ngân hàng thường là hình thức tín dụng trung và dài hạn Ngân hàng mua tài sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho khách hàng phải thu gần hoặc đủ giá trị của tài sản cho thuê cộng lãi Hết thời hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản đó Cho thuê (thuê – mua) giống một khoản cho vay thông thường ở chỗ ngân hàng phải xuất tiền với kỳ vọng thu về cả gốc lẫn lãi sau thời hạn nhất định; khách hàng phải có trách nhiệm trả gốc và lãi hàng kỳ Ngân hàng phải đảm bảo cung cấp đúng loại tài sản khách hàng yêu cầu và phải đảm bảo chất lượng của tài sản đó
Trang 8- Bảo lãnh hoặc tái bảo lãnh:
Bảo lãnh của Ngân hàng là cam kết của Ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như đã cam kết
Hình thức bảo lãnh rất đa dạng, phân theo mục tiêu bảo lãnh bao gồm:
Bảo lãnh đảm bảo tham gia dự thầu: là cam kết của Ngân hàng với chủ đầu tư
(hay chủ thầu) về việc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu vi phạm các quy định trong hợp đồng dự thầu
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của Ngân hàng về việc chi trả tổn
thất hộ khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết, gây tổn thất cho bên thứ ba
Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước: là cam kết của Ngân hàng về
việc sẽ hoàn trả tiền ứng trước cho bên mua nếu bên cung cấp không trả
1.2.2.3.Phân loại theo mục đích đảm bảo
Theo tiêu thức này, tín dụng được phân thành các loại sau:
- Tín dụng có đảm bảo: thông thường các khoản tín dụng của Ngân hàng đều
có tài sản đảm bảo Tài sản đảm bảo có thể là tài sản của người nhận tín dụng hay tài sản, uy tín của người thứ ba Tài sản đảm bảo cho phép ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai bằng cách bán các tài sản đó hoặc thông qua khả năng trả nợ của người thứ ba khi nguồn thu nợ thứ nhất không có hoặc không đủ
- Tín dụng không có đảm bảo: là hình thức tín dụng không có tài sản đảm bảo
hoặc không có bảo lãnh của bên thứ ba Tín dụng không có đảm bảo có thể được cấp cho các khách hàng có uy tín, thường là khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay, khách hàng thực hiện các dự án đầu tư thuộc chương trình kinh tế đặc biệt, chương trình kinh tế trọng điểm của Nhà Nước,
Trang 91.3.Sự cần thiết phải mở rộng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa
và nhỏ
1.3.1.Vai trò của tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chúng ta phải thừa nhận rằng hiện nay nhu cầu vốn cho phát triển nền kinh
tế nói chung và nhu cầu vốn phát triển các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn Nhưng các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm nguồn tài trợ Nguồn tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm một vai trò rất quan trọng Nó thể hiện ở các điểm sau:
- Một là, nguồn vốn vay đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Hai là, Nguồn vốn vay của Ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.2.Đây là một thị trường tiềm năng đối với các Ngân hàng
Hiện nay doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm một tỉ trọng rất lớn trong các cơ sở sản xuất kinh doanh, đang thu hút được phần lớn lượng lao động trong xã hội Có thể nói doanh nghiệp vừa và nhỏ đã giải quyết hàng chục ngàn công ăn việc làm cho xã hội Đây là điểu rất quan trọng trong quá trình phát triển của bất kì một đất nước nào Tuy nhiên, doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn gặp phải những khó khăn mà không phải lúc nào cũng giải quyết được Những khó khăn đó xuất phát từ cả phía ngân hàng lẫn doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nguyên nhân thuộc về Ngân hàng:
Một là, xuất phát từ đặc điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa
và nhỏ có nhiều đặc điểm khác biệt với cho vay đối với các doanh nghiệp lớn
Thứ hai, khó khăn trong việc vay các khoản trung và dài hạn
Thứ ba, những hạn chế về hoạt động tín dụng là phải tuân theo qui định của pháp luật
Trang 10Nguyên nhân thuộc về doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Một là, doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thiếu tài sản đảm bảo cho các khoản vay
Hai là, khả năng đáp ứng các yêu cầu về tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Ba là, các phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.4.Mục tiêu mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.4.1.Mở rộng qui mô tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ đi kèm với đảm bảo chất lượng tín dụng của việc mở rộng
Quy mô cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể được đánh giá qua
tỷ trọng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng Tại các Ngân hàng thương mại, số lượng vay của các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất nhiều, tuy nhiên lượng vay thì rất nhỏ So với doanh nghiệp lớn thì mặc dù với số lượng vay ít những mỗi lần vay là vay với con số rất lớn, bởi các doanh nghiệp lớn có uy tín,
có tiềm lực tài chính lớn mạnh tạo được lòng tín cho Ngân hàng Do đó, việc ưu tiên cho vay các khoản tiền lớn cho doanh nghiệp lớn là điều dễ hiểu
Bên cạnh việc mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ thì việc đảm bảo chất lượng tín dụng của việc mở rộng cũng cần được lưu ý Chất lượng của việc mở rộng tín dụng có thể được đánh giá qua chỉ tiêu như mức tăng của nợ xấu, mức tăng của nợ quá hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
xấu
Tỷ lệ nợ xấu =
Tổng dư nợ
Trang 11Dư nợ
quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = Tổng dư nợ
Nếu các tỷ lệ này tăng nhanh qua các năm thì chứng tỏ việc mở rộng hoạt
động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ đang không được tốt, ngược lại
nếu tỷ lệ này giảm dần qua các năm thì chiến lược phát triển của ngân hàng đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ là hợp lý
1.4.2.Mở rộng thêm hình thức tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Phân loại theo thời gian thì tín dụng Ngân hàng chia làm hai loại: tín dụng
ngắn hạn, tín dụng trung và dài hạn Trong quá trình cho vay đối với loại hình
doanh nghiệp vừa và nhỏ thì tín dụng ngắn hạn là hình thức chủ yếu mà các Ngân
hàng cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này Còn những khoản tín dụng
trung và dài hạn thì thường chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp lớn hoặc là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng có quan hệ lâu năm, tốt với ngân hàng Điều này
là rất thiệt thòi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới thành lập, hơn nữa phần lớn
các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều là mới thành lập Một doanh nghiệp mới thành
lập chưa lâu sẽ khó khăn trong việc tạo uy tín với Ngân hàng, vì vậy những khoản
vay dài hạn sẽ rất khó tiếp cận doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chỉ tiêu phản ánh tình hình tín dụng trung và dài hạn là tỷ trọng dư nợ tín
dụng, tỷ trọng cho vay trung và dài hạn
Dư nợ tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tỷ trọng dư nợ tín dụng =
Trang 12Dư nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các tỷ số này tăng qua các năm thì có nghĩa Ngân hàng đang tâm trung chú
trọng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, đang có những hướng đầu tư trang thiết
bị nhà xưởng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất kinh doanh Và
ngược lại, nếu tỷ số này giảm dần thì mục tiêu trước mắt của ngân hàng vẫn chưa
chú trọng vào loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.5.Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa
và nhỏ
1.5.1.Các nhân tố từ doanh nghiệp vừa và nhỏ
Để có thể tiếp cận được nguồn vốn tín dụng của ngân hàng thì các doanh
nghiệp vừa và nhỏ phải biết được các mục tiêu, nguyên tắc hoạt động cũng như
các sản phẩm dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp Từ đó có thể chủ động thiết lập
những điều kiện cần thiết theo yêu cầu của Ngân hàng Các doanh nghiệp vừa và
nhỏ phải đảm bảo được các yếu tố như: mức độ tín nhiệm của khách hàng với
Ngân hàng, khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng như ý chí trả nợ của khách
hàng
- Một là, nhu cầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Hai là, tình hình tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 13- Ba là, năng lực quản lý kinh doanh cũng như đạo đức của chủ doanh nghiệp ảnh hưởng đến chất lượng khoản vay
1.5.2.Các nhân tố từ Ngân hàng
- Khả năng huy động vốn của ngân hàng:
Đây là một nhân tố ảnh hưởng gián tiếp đến mở rộng cho vay của ngân hàng Một Ngân hàng muốn phát triển cho vay tốt thì phải có nguồn vốn dồi dào hay nói cách khác để phát triển cho vay Ngân hàng phải có đủ vốn Có thể nói công tác huy động vốn trong các Ngân hàng thương mại đóng vai trò vô cùng quan trọng
-Chính sách tín dụng:
Xây dựng một chính sách tín dụng hợp lý là để thống nhất, đảm bảo hiệu quả, an toàn và phát triển bền vững nhằm nâng cao sức mạnh cạnh tranh, tạo được hiệu quả tốt trong kinh doanh tín dụng
Bên cạnh đó, chính sách tín dụng cũng phải đảm bảo tuân thủ pháp luật, quy định của ngân hàng trung ương Do đó, chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, là hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các bộ phận liên quan, tăng cường chuyên môn hoá trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời
Để mở rộng hoạt động tín dụng đòi hỏi Ngân hàng phải xây dựng chính sách tín dụng hợp lý, đúng đắn, linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn phát triển
- Chính sách hỗ trợ phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng:
Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt các Ngân hàng như hiện nay, các Ngân hàng thường đưa ra nhiều chính sách để thu hút khách hàng Có Ngân hàng tập trung vào đối tượng là doanh nghiệp lớn, có tiềm lực tài chính lớn để giảm thiểu rủi ro Họ đưa ra các ưu tiên cho các doanh nghiệp lớn khi vay vốn Điều đó làm các doanh nghiệp vừa và nhỏ càng khó khăn hơn khi vay vốn Tuy nhiên,
Trang 14hiện nay một số Ngân hàng đã có những chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp vừa
và nhỏ Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tuy có qui mô nhỏ số lượng vay thường không lớn bằng các doanh nghiệp lớn nhưng tổng số các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại rất lớn Đây chính là lượng khách hàng tiềm năng của các Ngân hàng thương mại trong bối cảnh cạnh tranh khách hàng như hiện nay
1.5.3.Các nhân tố khác
-Nhân tố về môi trường, quy chế, chính sách của Nhà nước:
Môi trường kinh tế luôn tác động mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Khi nền kinh tế ổn định, môi trường thuận lợi sẽ tạo nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tìm kiếm thị trường Từ đó làm tăng nhu cầu phát triển nguồn vốn để mua sắm thiết bị hiện đại, chi phí giao dịch, quản lý cho quá trình mở rộng sản xuất
Ngân hàng và các doanh nghiệp và nhỏ đều chịu sự quản lý của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật, chính sách, tổ chức, thể chế về kinh tế - tài chính và các công cụ quản lý Một nhân tố khá quan trọng đó là các chính sách của Nhà nước đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nếu thiếu sự quan tâm của Nhà nước tức là thiếu chính sách hỗ trợ cần thiết cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sẽ gây khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
- Sự phát triển của nền kinh tế:
Sự phát triển của nền kinh tế và hệ thống Ngân hàng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Quá trình phát triển của nền kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng, sự phát triển của hệ thống Ngân hàng là động lực phát triển nền kinh tế Nền kinh tế phát triển làm tăng khả năng cạnh tranh, hiệu quả hoạt động của ngân hàng và các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp cần sử dụng nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng để thúc đẩy hoạt động của ngân hàng phát triển hơn
Trang 15CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ TÌNH HÌNH
MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP NAM HÀ NỘI 2.1.Tổng quan về Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Nam Hà Nội
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội
Tiền thân từ một bộ phận tín dụng nông nghiệp của ngân hàng Nhà nước tỉnh, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội được thành lập ngày 12/03/2001 và đi vào hoạt động chính thức vào ngày 08/05/2001 với nhiều khó khăn chồng chất Do mới thành lập cách đây gần 7 năm nhưng Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội cũng đã bước đầu thành công trong việc mở rộng thị trường và tạo uy tín cho mình trên địa bàn quận Thanh Xuân nói riêng trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội là một Ngân hàng thương mại quốc doanh trực thuộc trực thuộc Ngân hàng Nông
Trang 16nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, là chi nhánh loại một cũng như một chi nhánh Ngân hàng thương mại lớn trên địa bàn thủ đô Hà Nội cả về qui mô và phạm vi hoạt động Trụ sở hiện tại đóng tại C3 Phương Liệt, đường Giải Phóng, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
Ngoài ra, Chi nhánh còn thực hiện các nghiệp vụ do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam giao phó như đảm bảo an toàn kho quỹ, bảo đảm tiền mặt, bảo quản chi trả tiền mặt chính xác kịp thời
2.1.2.Hệ thống bộ máy tổ chức và quản lý của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội
Ban lãnh đạo Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội gồm có 1 Giám đốc và 3 Phó Giám đốc phụ trách 3 mảng công việc khác nhau Bộ máy tổ chức được bố trí thành 7 phòng ban:
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội (là một chi nhánh cấp I của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam)
Trang 172.1.3.Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội
Đảm nhận vai trò quan trọng, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội với tư cách là chi nhánh ngân hàng cấp 1 đang ngày càng năng động trong lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng Ngân hàng đã cung cấp đa dạng các sản phẩm dịch vụ Trong tiến trình phát triển của mình Chi nhánh đã gặt hái được những thành công đáng kể trong hoat động kinh doanh, góp phần to lớn vào sự phát triển lớn mạnh của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam như hiện nay Chúng ta có thể tìm hiểu sơ qua các đặc điểm chung ảnh hưởng đến Chi nhánh và hoạt động kinh doanh của Chi nhánh trong một vài năm gần đây qua một số mặt như sau:
2.1.3.1.Về hoạt động huy động vốn
Vốn là chìa khóa, là nguồn lực quan trọng để kinh doanh Một Ngân hàng muốn hoạt động kinh doanh trước hết phải có vốn Để thu hút được nhiều vốn nhàn dỗi từ nền kinh tế Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội đã sử dụng nhiều biện pháp như: đa dạng hóa hình thức huy
Ban lãnh đạo
Phòng thanh toán quốc
tế
Phòng hành chính nhân sự
Phòng kế toán ngân quĩ
Phòng kiểm tra, kiểm toán nội bộ
Phòng thẩm định
Trang 18động vốn, linh hoạt lãi suất, có kì hạn, không kì hạn, với nhiều dịch vụ Ngân hàng Chi nhánh đã đi đôi với đổi mới phong cách giao dịch, mở rộng mạng lưới phát triển, phát triển ứng dụng công nghệ thông tin vào các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng, phục vụ khách hàng nhanh chóng chính xác, an toàn, nhằm đẩy mạnh khai thác các nguồn vốn trong và ngoài nước, chủ yếu khai thác từ vốn nội lực trong nước (cả nội tệ và ngoại tệ) Từ những yếu tố cơ bản đó đã dẫn đến sự thành công của Chi nhánh trong việc tăng trưởng nguồn vốn nhanh và vững chắc của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong những năm gần đây Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn của Chi nhánh được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.1: Tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2008
Tăng giảm 2009/2008 2009
Tăng giảm 2010/2009 2010
Trang 19Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, năm 2008 tổng nguồn vốn huy động được lớn nhất trong 3 năm, sau đó giảm dần qua các năm.Năm 2009 giảm 751 tỷ đồng
so với năm 2008 tương ứng với 10.7%.Năm 2010 giảm 637 tỷ đồng so với năm
2009 tương ứng với 10.2%.Xảy ra tình trạng trên là do cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008.Do vậy đã làm ảnh hưởng đến nguồn huy động của Ngân hàng Tuy nhiên với sự lỗ lực và với những chiến lược hợp lý, Ngân hàng đã hạn chế được mức tối đa mức ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Ngân hàng vẫn luôn đảm bảo được sự tin tưởng của khách hàng khi đến gửi tiền Mặc dù năm 2010 có giảm nhưng con số đó là nhỏ, tốc độ giảm đang có xu hướng chậm lại
Biểu đồ 2.1: Nguồn vốn huy động
Nhìn chung, nguồn vốn của Ngân hàng là ổn định, đặc biệt là nguồn huy động tại trung ương.Mặc dù có giảm từ năm 2008 đến 2010 nhưng không bị giảm nhiều, những con số đó là chấp nhận được trong điều kiện kinh tế suy giảm
Trang 20hiện nay Điều này chứng tỏ uy tín của Ngân hàng là rất tốt, được sự tín nhiệm của nhiều khách hàng Đây là điều mọi Ngân hàng đều cần khi huy động vốn, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khủng hoảng kinh tế đã ảnh hưởng xấu đến nền kinh
tế, việc trụ vững duy trì được hoạt động kinh doanh là rất khó khăn
Huy động tại địa phương là nguồn huy động chính của Ngân hàng Nó thể hiện khả năng huy động thực có của Ngân hàng Xem xét cơ cấu nguồn vốn huy động tại địa phương ta có bảng sau:
Bảng 2.2: Phân loại nguồn vốn của Chi nhánh
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2008
Tăng giảm 2009/2008 2009
Tăng giảm 2010/2009 2010
Trang 21(Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh doanh)
Qua bảng số liệu, nguồn vốn huy động từ ngoại tệ có xu hướng tăng trong những năm gần đây Năm 2009 giảm 7.4% so với năm 2008 tương ứng với 43 tỷ,nhưng đến năm 2010 lại tăng 16.4% so với năm 2009 tương ứng với 88 tỷ Điều này có thể lý giải là do năm 2009 do vẫn chịu sự tác dộng của cuộc khủng hoảng kinh tế nên nguồn vốn ngoại tệ của Ngân hàng giảm.Nhưng đến năm 2010 đồng ngoại tệ lúc này được coi là an toàn ít biến động lãi suất như đồng nội tệ Do vậy mà đồng ngoại tệ vẫn được gửi tăng trong điều kiện kinh tế xấu Ngược lại thì đồng nội tệ lại giảm dần trong những năm gần đây Năm 2009 giảm 17.6% so với năm 2008 tương ứng với 752 tỷ đồng, năm 2010 giảm 20.6% so với năm 2009 tương ứng với 724 tỷ đồng Ta thấy khủng hoảng đã ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, ngành Ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng nặng nề do các doanh nghiệp phá sản, không trả được nợ; người gửi tiền thì e rè hơn khi gửi tiền vào các Ngân
Trang 22hàng, họ thường lựa chọn đầu tư vào vàng hay ngoại tệ và cũng có cả bất động sản nhằm giữ vốn Điều này thể hiện rõ khi các khoản tiền gửi có kì hạn trên 12 tháng giảm rất mạnh, năm 2009 là 28% tương ứng với 569 tỷ đồng, năm 2010 là
22 % tương ứng với 323 tỷ đồng Thực sự không thể lường hết được những hậu quả do khủng hoảng gây ra Trong giai đoạn này, tiền gửi có kì hạn nhỏ hơn 12 tháng và tiền gửi không kì hạn cũng giảm qua các năm( tiền gửi không kì hạn năm 2009 giảm 6.6% tương ứng với 59 tỷ đồng, năm 2010 giảm 19.8% tương ứng với 164 tỷ đồng Tiền gửi kì hạn dưới 12 tháng năm 2009 giảm 6.3% tương ứng với 144 tỷ đồng, năm 2010 giảm 13.1% tương ứng với 223 tỷ đồng) Tuy nhiên tiền gửi kí quỹ lại tăng mạnh, năm 2009 tăng 25,6% tương ứng với 10 tỷ đồng, năm 2010 tăng 149% tương ứng với 73 tỷ đồng.Vì tâm lý những người gửi tiền lúc này là đang không tin tưởng nhiều vào những khoản tiền gửi dài hạn, chẳng may Ngân hàng họ gửi bị đổ vỡ thì khó có thể lấy lại vốn Do đó việc gửi từ từ trong ngắn hạn giúp họ thay đổi lựa chọn Ngân hàng có lãi suất cao hơn, lại hạn chế khả rủi ro không hoàn trả vốn của các Ngân hàng Mặc dù vậy nhưng lượng tiền gửi có kì hạn lớn hơn 12 tháng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn huy động của Ngân hàng
Tóm lại, vốn là yếu tố quan trọng trong hoạt động của Ngân hàng Do chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng năm mà việc huy động vốn của Ngân hàng có suy giảm, nhưng việc duy trì nguồn vốn của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội vẫn tốt, lượng suy giảm ở mức có thể chấp nhận được so với mặt bằng chung của các Ngân hàng Có thể nói trong hoạt động huy động vốn, Ngân hàng đã có chiến lược hợp lý nên vẫn thu hút nguồn vốn từ người gửi
2.1.3.2.Về hoạt động tín dụng
Trang 23Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội
có chiến lược huy động vốn hợp lý như vậy thì cũng có những kế hoạch sử dụng vốn hợp lý Tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.3: Tình hình hoạt động tín dụng của Chi nhánh
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2008
Tăng giảm 2009/2008 2009
Tăng giảm 2010/2009 2010
(Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh doanh)
Ta thấy dư nợ năm 2010 đạt cao nhất trong 3 năm Dự nợ năm 2009 tăng 33% so với năm 2008 tương ứng với 778 tỷ đồng, năm 2010 tăng 33.6% so với năm 2009 tương ứng với 1050 tỷ đồng Những điều này hoàn toàn dễ hiểu là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, các doanh nghiệp làm ăn
Trang 24thua lỗ nên vay thêm vốn của Ngân hàng để hoạt động, do vậy mà dư nợ của ngân hàng đã tăng Nhìn bảng số liệu thì dư nợ nội tệ tăng, đặc biệt là năm 2009 tăng 43.8% so với năm 2008, đây là năm nội tệ tăng nhiều nhất Trước tình hình kinh
tế suy giảm như năm 2008 thì việc mở rộng cho vay sẽ giúp đỡ rất nhiều cho người vay, đây là điều mà các Ngân hàng cần phải làm khi nền kinh tế đang đi xuống Điều này sẽ kích thích hoạt động kinh doanh, giúp đỡ nhà nước điều chỉnh nền kinh tế, đưa nền kinh tế đi lên, vượt qua khủng hoảng Cũng như nội tệ thì số
dư nợ ngoại tệ cũng tăng Năm 2009 tăng 34.8% so với năm 2008 tương ứng với
118 tỷ đồng, năm 2010 tăng 11.5 tương ứng với 52 tỷ đồng, ta thấy các doanh nghiệp đang có xu hướng giảm nhập khẩu, chủ yếu sử dụng nội tệ để điều chỉnh tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, ổn định tình hình hiện tại ở trong nước Với mục đích giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước, lượng dư nợ hộ trung ương cũng đã giảm Việc này đã giúp các doanh nghiệp giảm gánh nặng trả
nợ khi vay của trung ương
Như vậy theo chỉ đạo của Nhà nước và cấp trên, Ngân hàng đã hoạt động đúng với yêu cầu, đạt được những mục tiêu đề ra, giúp Nhà nước điều hành nền kinh tế, đưa nền kinh tế thoát khỏi tình hình suy giảm hiện nay
2.1.3.3.Nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu các năm 2008: 1.38%, năm 2009: 0.335%, năm 2010: 1.43% Như vậy nợ xấu tăng nhanh nhất vào năm 2010, trong khi đó tỉ lệ nợ xấu của toàn ngành Ngân hàng năm 2010 là 2,5% Ngoài ra, dư nợ năm 2010 lớn nhất trong 3 năm nên việc tăng nợ xấu không quá ảnh hưởng Điều này chứng tỏ không có gì ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Việc duy trì mức nợ xấu vẫn trong sự kiểm soát của Ngân hàng Tiếp theo đó là năm 2009 tuy tổng dư nợ tăng nhưng nợ xấu lại giảm, điều này càng khẳng định thêm tình hình quản lý nợ xấu của ngân hàng là hoàn toàn rất tốt Năm 2008, việc xảy ra khủng hoảng kinh
Trang 25khoản cho vay nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn của cuộc khủng hoảng đã được Ngân hàng thực hiện quán triệt Tuy vậy việc duy trì mức
nợ xấu vẫn được giữ hợp lý đúng với những gì ngân hàng đã làm trong năm trước Tóm lại có thể thấy năng lực quản lý của Ngân hàng là rất tốt, vừa đáp ứng được nhu cầu của cấp trên lại vừa đảm bảo việc hoạt động kinh doanh của cơ quan mình Đây là điều rất đáng khích lệ ở một Ngân hàng mới thành lập được 8 năm chưa có bề dày kinh nghiệm
2.2.Thực trạng hoạt động tín dụng và tình hình mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội
2.2.1.Chính sách tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội
2.2.1.1.Quy trình cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Để có được quyết định tài trợ đúng đắn, đảm bảo an toàn vốn, tiết kiệm thời gian và chi phí cho Ngân hàng và khách hàng thì hoạt động tín dụng phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình tín dụng Quy trình tín dụng là một tập hợp thứ tự các bước mà các cán bộ ngân hàng phải tuân thủ thực hiện khi tiến hành thực hiện một quyết định cho vay
Trang 26Trên cơ sở những quy định chung của Ngân hàng Nhà nước thông qua các văn bản như luật tổ chức tín dụng, quy trình cho vay tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội bao gồm các bước:
Bước 1: Tiếp thị, tiếp xúc khách hàng, tiếp nhận hỗ trợ
Chuyên viên khách hàng thuộc phòng kinh doanh tại chi nhánh khi tiếp nhận nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp phải hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ; tiến hành thu thập các thông tin và tài liệu cần thiết từ phía khách hàng, thu thập thông tin từ các bạn hàng, đối thủ cạnh tranh, tìm hiểu thông tin thị trường từ các phương tiện thông tin đại chúng Các thông tin thu thập phải đầy đủ, chính xác, trung thực để có được những đánh giá đầy đủ và tổng thể về khách hàng để làm cơ sở cho việc đề xuất cấp cấp hạn mức cho khách hàng hoặc phê duyệt tín dụng cho khách hàng
Bước 2: Thẩm định, phân tích hồ sơ
Chuyên viên khách hàng sau khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn từ khách hàng phải tiến hành thẩm định tư cách khách hàng (là cá nhân/pháp nhân), thẩm định tình hình hoạt động, năng lực tài chính của doanh nghiệp, thẩm định nhu cầu vay vốn (cấp hạn
mức) và đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp Tuân thủ đầy đủ quy định của
quy trình nhận tài sản đảm bảo Tùy thuộc vào loại tài sản đảm bảo, chuyên viên khách hàng phối hợp với ban kiểm soát và hỗ trợ kinh doanh hoặc ban thẩm định và quản lý rủi ro tín dụng cùng đánh giá tài sản trong quá trình thực hiện thẩm định để việc đánh giá tài sản tăng tính chính xác, khách quan Bên cạnh đó Ngân hàng cần thực hiện xếp hạng doanh nghiệp
Sau khi thẩm định và xếp hạng doanh nghiệp, cán bộ thẩm định viết báo cáo thẩm định, nội dung báo cáo phải đề xuất giá trị cho vay, lãi suất, thời hạn, tài sản đảm bảo và các điều kiện kèm theo
Bước 3: Trình duyệt hồ sơ vay vốn, phán quyết cho vay
Trang 27Trưởng/phó phòng kinh doanh kiểm tra kỹ các thông tin khách hàng mà chuyên viên khách hàng cung cấp, kiểm tra lại đầy đủ các nội dung báo cáo thẩm định do chuyên viên khách hàng lập, bổ sung, đề xuất những nội dung, còn thiếu
Kiểm tra lại các nội dung thẩm định, đối chiếu với các hồ sơ tín dụng đảm bảo khớp đúng Ban giám đốc Ngân hàng thực hiện phê duyệt tín dụng theo đúng mức
ủy quyền Nội dung phê duyệt phải có ý kiến rõ ràng là đồng ý hay không đồng ý kèm theo những điều kiện cụ thể
Bước 4: Lập đàm phán, ký kết hợp đồng tín dụng
Sau khi kiểm tra hồ sơ vay vốn Hội đồng tín dụng xem xét và ra quyết định Nếu từ chối Ngân hàng phải có văn bản thông báo và nêu lý do từ chối, và người ra quyết định tín dụng phải ghi ý kiến từ chối lên giấy đề nghị cấp tín dụng cũng như hồ
sơ xin cấp Nếu chấp thuận Ngân hàng sẽ ký kết hợp đồng tín dụng cùng hợp đồng
có liên quan tới bảo đảm tín dụng Đây là hành vi pháp lý rất quan trọng làm cơ sở
để tiến hành giao vốn cho khách hàng và kiểm soát thu hồi vốn đã cấp Nếu hợp đồng được ký kết những điều khoản càng cụ thể và rõ ràng, thì công tác giám sát tín dụng ở giai đoạn sau sẽ càng thuận lợi Vì vậy, việc đàm phán ký kết hợp đồng tín dụng phải được coi trọng, đặc biệt là với những khoản tín dụng có quy mô lớn hoặc
có thời hạn dài hay khách hàng có độ rủi ro tương đối cao
Bước 5: Giải ngân và hạch toán rải ngân
Giải ngân: là nghiệp vụ cấp tiền cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng đã cam kết theo hợp đồng Giải ngân phải đảm bảo nguyên tác vận động của tín dụng gắn liền vận động hàng hoá Hay nói một cách khác, việc phát tiền vay phải có hàng hoá đối ứng, phù hợp với mục đích vay của hợp đồng tín dụng
Mặc dù giải ngân là cấp tiền cho người đi vay, nhưng phương thức giải ngân phụ thuộc vào nội dung cam kết của hợp đồng tín dụng
Cơ sở để ngân hàng thực hiện giải ngân là kế hoạch sử dụng vốn tín dụng đã được nêu trong hợp đồng tín dụng Thường sau khi ký, nột bản chính hợp đồng tín
Trang 28dụng, giấy đề nghị cấp tín dụng, các bản báo cáo thẩm định tín dụng, giá đề nghị cấp tín dụng đã được chấp thuận… sẽ được giao cho nhân viên kế toán Về nguyên tắc, nhân viên giải ngân không phải là người ra quyết định tín dụng để đảm bảo an toàn
và dễ kiểm soát Nhân viên tín dụng có nhiệm vụ theo dõi tiến trình giải ngân đúng theo điều kiện và số lượng như trong hợp đồng Một khoản tín dụng có thể giải ngân một lần toàn bộ số tiền vay hoặc giải ngân thành nhiều đợt
Bước 6: Quản lý, giám sát rủi ro và thu hồi vốn vay
Giai đoạn giám sát tín dụng sẽ được tiếp nối với mục tiêu theo dõi, đánh giá mức độ chấp hành hợp đồng tín dụng của khách hàng và kịp thời có các ứng xử thích hợp
Thu thập mọi thông tin về lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá khả năng rủi ro pháp lý có thể xảy ra với doanh nghiệp Phân tích những khó khăn
mà khách hàng gặp phải dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ Xây dựng một kế hoạch hành động chi tiết cho việc thực hiện thu hồi nợ
Bước 7: Tất toán, thanh lý hợp đồng
Đến kỳ trả nợ ngân hàng sẽ tiến hành thu vốn gốc và lãi Theo từng định kỳ ngân hàng sẽ xem xét lại và xếp hạng tín dụng, nếu chấm dứt thời hạn cho vay mà khách hàng không trả được nợ Ngân hàng sẽ tiến hành các biện pháp để xử lý các khoản nợ có vấn đề
2.2.1.2.Chính sách tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cũng như mọi Ngân hàng thương mại khác, chính sách tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa thật sự được chú trọng Qui mô tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ rất thấp, lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn rất cao Hơn nữa mỗi khi vay vốn, Ngân hàng yêu cầu doanh nghiệp vừa
và nhỏ nhất định phải có tài sản đảm bảo có giá trị bằng hình thức cầm cố hoặc thế chấp Chỉ trong những năm gần đây, do tính cạnh tranh trên thị trường cao,
Trang 29đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Ngân hàng mới được quan tâm nhiều hơn Ngân hàng đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãi, tạo điều kiện để các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tiếp cận được nguồn vốn Ngân hàng Nhờ đó mà số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ có quan hệ tín dụng với chi nhánh không ngừng tăng thêm Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ quan hệ với Ngân hàng được thể hiện qua bảng
Tốc độ tăng ( % )
(Nguồn: Báo cáo thường niên Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Nam Hà Nội)
Qua bảng số liệu và biểu đồ trên ta có thể thấy được sự phát triển về số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ có quan hệ với Ngân hàng qua các năm trở lại đây Năm 2008 số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ mới chỉ là 67 thì đến năm
2010 đã là 71 doanh nghiệp Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ quan hệ với Ngân hàng tăng chưa đáng kể nhưng phần nào cũng thể hiện sự thay đổi quan điểm về loại hình doanh nghiệp này Đồng thời cũng thể hiện được rằng doanh nghiệp vừa và nhỏ đang dần tạo được niềm tin đối với các Ngân hàng
2.2.2.Thực trạng hoạt động tín dụng và mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội
Trang 302.2.2.1.Tình hình dư nợ và thu nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tai Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội
Trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thì cho vay là tài sản chiềm tỷ trọng lớn nhất Dư nợ là những chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá kết quả hoạt động của ngân hàng Đó là khoản vay mà khách hàng vẫn chưa trả cho Ngân hàng Bây giờ ta xem xét về tình hình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Hà Nội
Bảng 2.5: Quy mô cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
1297 34,6%
1321 35,1%
Dư nợ khác
Tỷ trọng
1494 63,6%
2450 65,4%
2550 64,9%
671 32,55%
753 32,4%
Doanh số thu nợ khác
Tỷ trọng
714 67,25%
1391 67,45%
1563 67,6%
Nguồn: Báo cáo sao kê tín dụng Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Nam Hà Nội
Theo số liệu trên, ta thấy tỉ trọng dư nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn duy trì