Nhận diện các lý do kiểm toán của Công ty khách hàng Bước công việc này, thực chất là công việc giúp KTV xác định được đối tượng và mục đích sử dụng BCTC của khách hàng, Đây là
Trang 1MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM KHOẢN MỤC NỢ PHẢI THU KHÁCH HÀNG CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM TOÁN BCTC TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN IMMANUEL 3
1.1 Đặc điểm chung về khoản mục nợ phải thu khách hàng 3
1.2 Mục tiêu kiểm toán khoản mục nợ phải thu trong kiểm toán BCTC của Công ty TNHH Kiểm toán Immanuel 8
1.3 Quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Kiểm toán Immanuel thực hiện 10
1.3.1 Chuẩn bị kiểm toán 10
1.3.2 Thực hiện kiểm toán 27
1.3.3 Giai đoạn kết thúc kiểm toán 34
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC PHẢI THU KHÁCH HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BCTC TẠI MỘT SỐ KHÁCH HÀNG DO CÔNG TY TNHH IMMANUEL THỰC HIỆN 37
2.1 Kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán BCTC tại công ty khách hàng A 37
2.1.1 Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán 46
2.1.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán 58
2.1.3 Giai đoạn kết thúc kiểm toán 71
2.2 Kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán BCTC tại công ty khách hàng B 72
2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán 78
2.2.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán 93
2.2.3 Giai đoạn kết thúc kiểm toán 108
Trang 22.3 So sánh quy trình thực hiện kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Immanuel thực hiện tại hai khách hàng A và B 108
CHƯƠNG 3 : NHẬN XÉT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC PHẢI THU KHÁCH HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BCTC DO CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN IMMANUEL THỰC HIỆN 112
3.1 Ưu điểm trong thực hiện kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng 112 3.2 Những vấn đề còn tồn tại trong thực hiện kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng 116 3.3 Giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Kiểm toán Immanuel thực hiện 117
KẾT LUẬN 124 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 : Mục tiêu kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng 9
Bảng 1.2: Đánh giá mức trọng yếu của khoản mục phải thu khách hàng 17
Bảng 1.3: Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập 20
Bảng 1.4: Chương trình kiểm kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng tại Công ty TNHH Immanuel 23
Bảng 1.5 : Thử nghiệm kiểm soát và thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán BCTC 29
Bảng 2.1: Trang kết luận kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng tại Công ty A 70
Bảng 2.2: Bảng đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của B 80
Bảng 2.3: Bảng đánh giá hệ thống KSNB đối với khoản mục phải thu khách hàng tại khách hàng B 81
Bảng 2.4: Chương trình kiểm toán tổng quát Công ty B 92
Bảng 2.5: Mẫu thư xác nhận nợ gửi cho khách hàng tại công ty B 102
Bảng 2.6: Trang kết luận kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng tại công ty B 105
Bảng 2.7: Những điểm khác nhau trong quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng tại Công ty A và Công ty B 109
Biểu 2.1: Biểu phân tích sơ bộ kết quả SXKD công ty A 49
Biểu 2.2: Biểu phân tích sơ bộ các chỉ tiêu tài sản Công ty A 50
Biểu 2.3: Biểu tính mức trọng yếu BCTC công ty A 53
Biểu 2.4: Biểu phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục Công ty A 56
Biểu 2.5: Trang tổng hợp số dư TK 131 Công ty A 60
Biểu 2.6: Thủ tục phân tích tại Công ty A 61
Biểu 2.7: Thủ tục phân tích tuổi nợ khoản phải thu khách hàng ở công ty A 63
Biểu 2.8: Kiểm tra đối ứng tài khoản 131 tại Công ty A 64
Trang 5Biểu 2.9: Bù trừ công nợ của cùng một đối tượng tại khách hàng A 67
Biểu 2.10: Đánh giá số dư có gốc ngoại tệ cuối kỳ tại khách hàng A 68
Biểu 2.11: Phân tích sơ bộ kết quả kinh doanh công ty B 84
Biểu 2.12: Phân tích sơ bộ các chỉ tiêu tài sản công ty B 85
Biểu 2.13: Biểu tính mức trọng yếu công ty B 87
Biểu 2.14: Biểu phân bổ mức trọng yếu tại công ty B 89
Biểu 2.15: Biểu tổng hợp số dư TK 131 công ty B 93
Biểu 2.16: Thủ tục phân tích tại công ty B 95
Biểu 2.17: Phân tích tuổi nợ tại công ty B 97
Biểu 2.18: Trang tổng hợp số dư TK 131 tại công ty B 98
Biểu 2.19: Thực hiện đối chiếu biên bản xác nhận nợ cuối kỳ với sổ chi tiết TK 131 Công ty B 100
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Với tư cách là một bộ phận cấu thành của hệ công cụ quản lý kinh tế, kiểm toán ngày càng trở nên hết sức quan trọng và cần thiết không chỉ đối với các cơ quan quản lý chức năng của nhà nước, mà còn đối với các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư Những thông tin do kiểm toán cung cấp sẽ là những căn cứ đáng tin cậy giúp cho Nhà Nước nhìn nhận, đánh giá, xử lý đúng đắn các vấn đề kinh tế nảy sinh, đồng thời làm cơ sở cho các nhà đầu tư, các nhà quản lý khi đưa ra quyết định kinh doanh mới
Trong đó, kiểm toán báo cáo tài chính là một loại hình đặc trưng nhất của kiểm toán Qua những thông tin mà quá trình kiểm toán thu được, chúng ta có thể biết được tình hình tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình nợ, thanh toán nợ của công ty Với chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về các bảng khai tài chính, kiểm toán BCTC không chỉ có chức năng xác minh tính trung thực của các thông tin trên BCTC mà cũn giỳp cỏc nhà đầu tư, nhà quản lý ra các quyết định phù hợp
Đặc biệt, nợ phải thu khách hàng là một khoản mục lớn trên BCĐKT Nờn nú rất quan trọng trong quá trình kiểm toán Nó cho chúng ta biết về tình hình tài chính của công ty, khả năng thanh toán, cũng như tình hình chiếm dụng vốn của công ty Để từ đó có thể đưa ra quyết định công ty làm ăn có hiệu quả hay không Nhận thấy được tầm quan trọng của khoản mục nợ phải thu khách hàng như thế nên trong quá trình thực tập tại công ty
TNHH kiểm toán Immanuel em đã chọn đề tài: “Kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng trong quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính do công ty TNHH Kiểm toán Immanuel thực hiện’’
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, báo cáo chuyên đề thực tập cuối khóa của em gồm 3 chương chính :
Chương 1: Đặc điểm khoản mục phải thu khách hàng có ảnh hưởng đến kiểm
toán BCTC tại Công ty TNHH Kiểm toán Immanuel Chương 2: Thực trạng kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán
BCTC tại một số khách hàng do Công ty TNHH Kiểm toán Immanuel
Trang 7thực hiện
Chương 3 : Nhận xét và giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục phải
thu khách hàng trong kiểm toán BCTC do công ty TNHH Kiểm toán Immanuel thực hiện
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.S Tạ Thu Trang cùng toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty TNHH Kiểm toán Immanuel đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình em hoàn thành bản báo cáo này
Do điều kiện thời gian cũng như trình độ nhận thức còn hạn chế nên bài viết của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp của cô giáo cũng như tập thể cán bộ công nhân viên trong công ty
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 8CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM KHOẢN MỤC NỢ PHẢI THU KHÁCH HÀNG
Cể ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM TOÁN BCTC TẠI CÔNG TY TNHH
KIỂM TOÁN IMMANUEL
1.1 Đặc điểm chung về khoản mục nợ phải thu khách hàng
Khoản mục phải thu khách hàng là một trong những khoản mục quan trọng trên Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản
nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm, hàng hoá, BĐS đầu tư, TSCĐ, cung cấp dịch vụ Tài khoản này cũng được dùng để phản ánh các khoản phải thu của người nhận thầu XDCB với người giao thầu về khối lượng công tác XDCB đã hoàn thành Nó thể hiện phần tài sản của doanh nghiệp đang bị chiếm dụng trong quá trình thanh toán Chính vì vậy, khoản mục nợ phải thu có ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình tài
chính thanh toán cũng như khả năng quay vòng vốn của doanh nghiệp
Khoản mục nợ phải thu khách hàng được phản ánh thông qua tài khoản 131 Tài khoản này có số dư bên nợ và bên có Số dư bên nợ thể hiện số tiền còn phải thu của khách hàng Số dư bên có thể hiện số tiền nhận trước, hoặc số đã thu nhiều hơn
số phải thu của khách hàng chi tiết theo từng đối tượng cụ thể, là một khoản mục rất quan trọng và có mối liên hệ với nhiều khoản mục khỏc trờn bảng cân đối kế toán
và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Trong quá trình giao dịch với khách hàng phát sinh rất nhiều nghiệp vụ liên quan đến quan hệ thanh toán, trong đó có khoản mục nợ phải thu Khi doanh nghiệp chấp nhận bán vật tư hàng hóa, hay cung cấp dịch vụ của mình theo phương thức trả trước hay phương thức bán chịu thì xuất hiện nợ phải thu khách hàng Do đó dễ thấy, nêu số tiền của khoản nợ phải thu tăng lên thì tiền mặt thu được từ bán hàng sẽ giảm xuống và ngược lại Bên cạnh đó, nếu
nợ phải thu tăng lên cùng với sự gia tăng của hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ hay trao đổi
là sự giảm xuống của hàng tồn kho, nguyên vật liệu…ngoài ra khoản mục nợ phải thu cũng có quan hệ gián tiếp với một số tài khoản như thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 9khi nó là cơ sở để lập dự phòng phải thu khú đũi, do đó ảnh hưởng đến chi phí tài chính hoặc thuế giá trị gia tăng đầu ra…Không chỉ ảnh hưởng tới một số khoản mục trên Bảng cân đối kế toán mà khoản nợ phải thu cũn cú mối liên hệ với một số khoản mục khỏc trờn bảng kết quả hoạt động kinh doanh như doanh thu, giá vốn hàng bỏn…Thụng thường khi doanh thu cũng như giá vốn tăng lên thỡ cỏc khoản
nợ phải thu cũng tăng lên nếu chính sách bán chịu không thay đổi
Các vai trò chủ yếu của khoản mục phải thu khách hàng là :
Ghi nhận các khoản doanh thu bán hàng theo hình thức trả chậm: Đây là
vai trò chủ yếu và quan trọng nhất của khoản mục phải thu khách hàng nhằm ghi nhận chính xác và kịp thời các khoản bán hàng mua chịu Doanh thu được ghi nhận ngay khi chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng
Theo dõi quá trình thanh toán của khách hàng: thông qua việc ghi nhận
vào bên có của tài khoản 131 đơn vị có thể kiểm soát được quá trình trả nợ của khách hàng, đó là cơ sở cho việc thu hồi nợ và xét duyệt bán chịu sau này Công việc này giúp doanh nghiệp giảm thiểu được phần nào rủi ro khi chấp nhận bán chịu cho khách hàng
Đánh giá và xem xét khả năng thanh toán của khách hàng: từ việc ghi
nhận và theo dõi quá trình thanh toán của khách hàng, doanh nghiệp phải thường xuyên cập nhật thông tin của khách hàng qua nhiều kờnh khỏch nhau Việc thường xuyên cập nhật tình hình biến động về mặt kinh doanh của khách hàng giúp doanh nghiệp đánh giá được khả năng trả nợ của khách hàng
Khoản mục phải thu khách hàng là cơ sở để hạch toán các khoản mục dự phòng nợ phải thu khú đũi: Việc theo dõi quá trình thanh toán và đánh giá xem xét
khả năng thanh toán của từng khách hàng giúp kế toán có cơ sở để ghi nhận các khoản dự phòng phải thu khú đũi Công việc này nhằm đảm bảo tính thận trọng trong quá trình ghi nhận các khoản phải thu và mức độ thu hồi các khoản phải thu này Giá trị thuần của khoản phải thu khách hàng bằng giá trị còn lại của khoản phải thu trừ đi khoản dự phòng phải thu khú đũi
Trang 10 Khoản mục phải thu khách hàng là một công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp theo dõi được việc tuân thủ các chính sách bán chịu đã được đề ra: các
chính sách cơ bản ở đây là thời gian thanh toán, lãi trả chậm…
Phân loại nợ phải thu
Có nhiều các phân loại nợ phải thu tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để phân loại các khoản nợ phải thu giúp cho việc quản lớ cỏc khoản mục tốt hơn, cũng như kế hoạch thu hồi nợ và lập dự phòng phải thu khú đũi một cách tốt nhất
Đối với các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại thì
nợ phải thu có thể chia thành các loại chính sau: Nợ phải thu từ hoạt động bán hàng,
nợ phải thu từ hoạt động đầu tư tài chính
Đối với các doanh nghiệp xây dựng, thi công, xây lắp thì tuổi nợ thường lớn nên nợ phải thu thường được chia thành hai loại : Nợ phải thu dài hạn và nợ phải thu ngắn hạn
Ngoài ra đối với các tổ chức tín dụng nợ phải thu còn được phân loại dựa vào khả năng thanh toán phân loại thành 5 loại: nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn
Kế toỏn khoản mục nợ phải thu
Nguyên tắc ghi nhận nợ phải thu
Nợ phải thu phải được hạch toán chi tiết cho từng đối tượng phải thu, theo từng nội dung phải thu, theo dõi chi tiết phải thu ngắn hạn, phải thu dài hạn và ghi chép chi tiết cho từng lần thanh toán
Đối tượng phải thu là khách hàng có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp về mua sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ, kể cả TSCĐ, bất động sản đầu tư
Không phản ánh vào tài khoản này các nghiệp vụ bán sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư, cung cấp dịch vụ thu tiền ngày (Tiền mặt, séc hoặc đã thu qua ngân hàng)
Trong hạch toán chi tiết tài khoản này, kế toán phải tiến hành phân loại các khoản nợ có thể trả đúng hạn, khoản nợ khú đũi hoặc có khả năng không thu hồi
Trang 11được, để có căn cứ xác định số trích lập dự phòng phải thu khú đũi hoặc có biện pháp xử lí đối với khoản nợ không thu hồi được
Trong quan hệ bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp với khách hàng, nếu sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư đã giao dịch, dịch vụ đã cung cấp không đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế thì người mua có thể yêu cầu doanh nghiệp giảm giá bán hoặc trả lại số hàng đã giao
Nguyên tắc lập dự phòng
Cuối niên độ kế toán hoặc cuối kì kế toán giữa niên độ (Đối với đơn vị có lập báo cáo tài chính giữa niên độ) doanh nghiệp xác định các khoản nợ phải thu khú đũi hoặc có khả năng không đòi được để trích lập hoặc hoàn nhập khoản dự phòng phải thu khú đũi vào hoặc ghi giảm chi phí quản lí doanh nghiệp của kì báo cáo
Về nguyên tắc, căn cứ lập dự phòng là phải có những bằng chứng đáng tin cậy về khoản nợ phải thu khú đũi (Khách hàng bị phá sản hoặc tổn thất thiệt hại lớn
về tài sản… nờn không hoặc khó có khả năng thanh toán, đơn vị đã làm thủ tục đòi
nợ nhiều lần mà vẫn không thu hồi được nợ) Theo quy định hiện hành (Thông tư 13/2006/TT-BTC) thỡ cỏc khoản nợ phải thu được coi là phải thu khú đũi phải cú cỏc bằng chứng chủ yếu sau:
o Số tiền phải thu phải được theo dõi cho từng đối tượng, theo từng nội dung, theo từng khoản nợ, trong đó ghi rõ số nợ phải thu khú đũi
o Phải có chứng từ gốc, có đối chiếu xác nhận của khách hàng về số tiền nợ chưa trả bao gồm: Hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh toán hợp đồng, cam kết nợ, đối chiếu công nợ và các chứng từ khác…
Căn cứ để được ghi nhận là một khoản nợ phải thu khú đũi là:
o Nợ phải thu quá hạn thanh toán trong hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ, doanh nghiệp đó đũi nhiều lần nhưng vẫn chưa thu hồi được
o Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng khách hàng nợ đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể, mất tích, bỏ trốn
Trang 12 Mức lập dự phòng các khoản nợ phải thu khú đũi theo thông tư số 13/2006/TT-BTC của bộ tài chính ban hành
o 30% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 3 tháng đến dưới 1 năm
o 50% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm
o 70% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 2 năm đến dưới 3 năm
Đối với những khoản phải thu khú đũi kéo dài trong nhiều năm, doanh nghiệp đã cố gắng dùng mọi biện pháp để thu hồi nợ nhưng vẫn không thu hồi được
nợ và xác định khách hàng nợ không còn có khả năng thanh toán thì doanh nghiệp
có thể làm thủ tục bán nợ cho công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng hoặc xóa những khoản phải thu khú đũi trờn sổ kế toán Nếu làm thủ tục xóa nợ thì đồng thời phải theo dõi chi tiết ở tài khoản ngoại bảng TK 004 “Nợ khú đũi đó xử lớ” Việc xúa cỏc khoản nợ phải thu khú đũi phải được sự đồng ý của hội đồng quản trị doanh nghiệp và cơ quan quản lí tài chính (Nếu là doanh nghiệp nhà nước) hoặc cấp có thẩm quyền theo quy định trong điều lệ doanh nghiệp Nếu sau khi đã xóa nợ, khách hàng có khả năng thanh toán và doanh nghiệp đòi được nợ đã xử lớ thỡ số nợ thu được sẽ hạch toán vào TK 711 “ Thu nhập khỏc”
Trình bày trên báo cáo tài chính
Trên bảng cân đối kế toán, khoản mục nợ phải thu khách hàng được trình bày dưới hai khoản mục:
Các khoản phải thu ngắn hạn (Thời gian thu hồi trong vòng 1 năm)
1 Phải thu khách hàng
2 Trả trước cho người bán
3 Phải thu nội bộ ngắn hạn
4 Phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng
5 Các khoản phải thu khác
6 Dự phòng phải thu ngắn hạn khú đũi(*)
Các khoản phải thu dài hạn (Thời gian thu hồi trên 1 năm)
1 Phải thu dài hạn của khách hàng
2 Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc
Trang 133 Phải thu dài hạn nội bộ
4 Phải thu dài hạn khác
5 Dự phòng phải thu dài hạn khú đũi
Đối với doanh nghiệp có chu kì kinh doanh không phải là 1 năm thì ngưỡng phân biệt nợ phải thu ngắn hạn và dài hạn là một chu kì kinh doanh
Các sai phạm thường gặp đối với khoản mục nợ phải thu
Trong các khoản mục nợ phải thu thì nợ phải thu khách hàng là chiếm tỷ trọng lớn nhất Mặc khác khoản phải thu của khách hàng gắn chặt trong chu trình doanh thu và bán hàng của doanh nghiệp nên đây là khoản mục thường hay xảy ra gian lận
và sai sót lớn nhất Một số sai phạm thường gặp đối với khoản mục này là:
Nợ phải thu khách hàng có thể bị nhân viên chiếm dụng hoặc tham ô khi khách hàng trả nợ nhân viên thu nợ có thể chiếm dụng trong một khoảng thời gian hoăc sử sụng thủ thuật gối đầu để biển thủ
Khi hạch toán công nợ, giảm trừ công nợ nhầm mã khách hàng
Bù trừ công nợ phải thu khách hàng và phải trả người bán không cùng một đối tượng
Phân loại nợ theo kì hạn không đúng các điều khản của hợp đồng
Sử dụng khoản nợ phải thu khách hàng để là thủ thuật làm tăng doanh thu và lợi nhuận giả
Việc lập dự phòng phải thu khú đũi thường dựa vào ước tính của các nhà quản lớ nờn có nhiều khả năng sai sót và khó kiểm tra
1.2 Mục tiêu kiểm toán khoản mục nợ phải thu trong kiểm toán BCTC của Công ty TNHH Kiểm toán Immanuel
Kiểm toán BCTC là xác minh và bày tỏ ý kiến về độ tin cậy của các thông tin,
về tính tuân thủ nguyên tắc Đối với mỗi chu trình hay mỗi khoản mục đều có những mục tiêu chung và mục tiêu đặc thù riêng Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt
Nam số 200 xác định: “ Mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và Công ty
Kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và
Trang 14có phản ánh trung thực, hợp lý trờn cỏc khía cạnh trọng yếu hay khụng?” “ Mục tiêu kiểm toán BCTC cũn giỳp đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót
để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị”
Do tính chất và vai trò vô cùng quan trọng của mình, phải thu khách hàng luôn
là khoản mục được nhiều đối tượng quan tâm và kiểm toán khoản mục này là một phần rất quan trọng trong kiểm toán BCTC Với KTV tại Công ty TNHH Kiểm toán Immanuel , việc xác minh không chỉ dừng lại ở các mục tiêu chung mà còn phải cụ thể vào các mục tiêu đặc thù như : hiện hữu, đầy đủ, quyền và nghĩa vụ, chính xác, đánh giá, trình bày và thuyết minh
Bảng 1.1 : Mục tiêu kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng
Các khoản nợ phải thu đã ghi chép thì phải có thực tại thời
Tất cả các khoản nợ phải thu đều được phản ánh ghi nhận
Các khoản nợ phải thu đều thuộc quyền sở hữu của đơn vị Quyền và nghĩa vụ Những khoản nợ phải thu phải được ghi chép đúng số tiền
trên báo cáo tài chính và phù hợp giữa chi tiết của nợ phải thu
khách hàng với sổ cái
Chính xác
Các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi được trích lập phù
hợp, cuối kì phải đánh giá, quy đổi tỷ giá bình quân liên ngân
hàng đối với những khoản nợ phải thu có gốc ngoại tệ
Đánh giá
Các khoản mục nợ phải thu phải được trình bày đúng đắn
cũng như công bố đầy đủ những vấn đề liên quan như cầm
cố, thế chấp
Trình bày và công
bố
Trang 151.3 Quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Kiểm toán Immanuel thực hiện
1.3.1 Chuẩn bị kiểm toán
1.3.1.1 Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát
Trong giai đoạn này, KTV và công ty kiểm toán phải thực hiện các bước công việc chủ yếu sau:
Sơ đồ 1.1 : Các bước công việc chính trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
Bước 1: Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Khi KTV và Công ty kiểm toán gửi thư chào hàng, thu nhận một khách hàng, quy trình kiểm toán sẽ bắt đầu Trên cơ sở xác định đối tượng khách hàng cần phục
vụ, KTV sẽ tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch cho cuộc kiểm toán bao gồm: đánh giá khả năng chấp nhận của khách hàng mới và sự tiếp tục của khách hàng cũ, nhận diện các lý do kiểm toán của Công ty khách hàng, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán, thỏa thuận sơ bộ với khách hàng và ký hợp đồng kiểm toán
Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Thực hiện thủ tục phân tích
Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Nghiên cứu hệ thống KSNB của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm toán
Trang 16Đánh giá khả năng chấp nhận của khách hàng cũ và sự tiếp tục của khách hàng mới
Trước khi ký một hợp đồng kiểm toán, KTV phải đánh giá, xem xét việc chấp nhận hay tiếp tục một khách hàng có làm tăng rủi ro cho hoạt động kiểm toán của KTV hay làm ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và hình ảnh của Công ty kiểm toán hay không? Để làm được điều này, đòi hỏi KTV phải có thu thập và lựa chọn từ nhiều nguồn thông tin từ các bên liên quan tới doanh nghiệp Với các khách hàng
cũ, KTV cần cập nhật những thông tin mới về khách hàng, xem xét xem năm hiện tại có thêm những rủi ro nào có thể khiến KTV và Công ty kiểm toán phải ngững cung cấp dịch vụ hay không? Với các khách hàng mới, việc KTV cần làm đầu tiên là xem xét lý do lựa chọn kiểm toán mới của khách hàng, từ đó xác định khả năng chấp nhận kiểm toán, thu thập thông tin khi BCTC của khách hàng đã được sử dụng rộng rãi, đánh giá hệ thống kiểm soát chất lượng và tính liêm chính của BGĐ, liên lạc với KTV tiền nhiệm nhằm thu thập những thông tin về tính chính trực của ban quản lý, các bất đồng nếu có giữa hai bên, các vấn đề quan trọng khác… và lý do tại sao lại có sự thay đổi KTV Qua những thông tin đó, KTV sẽ tổng hợp và cân nhắc việc chấp nhận đi tới một hợp đồng kiểm toán
Nhận diện các lý do kiểm toán của Công ty khách hàng
Bước công việc này, thực chất là công việc giúp KTV xác định được đối tượng và mục đích sử dụng BCTC của khách hàng, Đây là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số lượng bằng chứng cần phải thu thập và mức độ chính xác của các
ý kiến của KTV đưa ra trong BCKT Dựa trên tình hình hoạt động SXKD, khả năng của Công ty thông qua phỏng vấn trực tiếp BGĐ khách hàng, hoặc dựa vào kinh nghiệm của các cuộc kiểm toán trước đó (đối với khách hàng cũ) để đưa ra quyết định hợp lý trong việc ký kết hợp đồng kiểm toán và thiết kế phương pháp kiểm toán phù hợp Đồng thời, KTV phải thu thập thêm thông tin trong suốt quá trình kiểm toán đờ̉ hiờ̉u thờm vờ̀ lý do kiểm toán của khách hàng Thông qua bước công việc này, Công ty kiểm toán cần ước lượng quy mô phức tạp của cuộc kiểm toán, từ
Trang 17đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chon đội ngũ nhân viên để thực hiên cho cuộc kiểm toán ở các giai đoạn tiếp theo
Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán
Việc lựa chọn đội ngũ nhân viên thích hợp cho mụ̃i cuụ ̣c kiểm toán nói chung và khoản mục chứa đựng nhiều rủi ro như khoản mục phải thu khách hàng nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và chất lượng
của cuộc kiểm toán Chuẩn mực kiểm toán chung đầu tiên nêu rõ: “ Quá trình kiểm
toán phải được thực hiện bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo đầy đủ thành thạo như một KTV” Do đó, trong quá trình lựa chọn đội ngũ nhân viên, Công ty
kiểm toán cần quan tâm tới ba vấn đề chính:
- Lựa chọn những KTV có kiến thức và kinh nghiệm về ngành nghề kinh doanh của khách hàng,
- Tránh thay đổi KTV trong các cuộc kiểm toán cho một khách hàng trong nhiều năm,
- Nhóm kiểm toán có những người có khả năng giám sát các nhân viên chưa có kinh nghiệm trong nghề
Mặt khác, trong nhiờ̉u trường hợp, cần có chính sách luân chuyển KTV giữa các khách hàng để tránh việc kiểm tra theo lối mòn hoặc theo ảnh hưởng tới tính khách quan, độc lập Đối với những khoản mục quan trọng như TK 131, sẽ do những KTV dày dặn kinh nghiệm, thường xuyên đảm nhận khoản mục này thực hiện
Thỏa thuận sơ bộ với khách hàng và ký hợp đồng kiểm toán
Sau khi khách hàng và Công ty kiểm toán đã thống nhất lựa chọn, trao đổi và thoả thuận sơ bộ về một số vấn đề như mục đích và phạm vi kiểm toán, việc cung cấp các tài liệu cõ̀n thiờ́t… Trờn cơ sở đó, hai bên sẽ xúc tiến việc ký hợp đồng kiểm toán Đây là bước cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán mà Công ty
kiểm toán phải thực hiện Theo chuẩn mực kiểm toán số 210: “Hợp đồng kiểm toán
phải được lập và ký chính thức trước khi tiến hành công việc kiểm toán nhằm bảo
vệ quyền lợi của khách hàng và Công ty kiểm toán” Đó chính là sự thỏa thuận
Trang 18chính thức giữa khách hàng và Công ty kiểm toán về việc thực hiện kiểm toán và các dịch vụ khác Đồng thời, hợp đồng kiểm toán sẽ là cơ sở pháp lý để KTV thực hiện các bước tiếp theo của cuộc kiểm toán, đảm bảo cho mụ̣t cuụ ̣c kiểm toán được thực hiện
Bước 2: Thu thập thông tin cơ sở
Sau khi ký kết hợp đồng, KTV tiến hành thu thập, tìm hiểu các thông tin ban đầu về khách hàng (ngành nghề kinh doanh, kết quả kiểm toán năm trước, giấy phép kinh doanh, biên bản các cuộc họp,…), tìm hiểu về hệ thống kế toán, hệ thống KSNB đối với khoản mục phải thu khách hàng và các bên liên quan để hoạch định các thủ tục kiểm toán phù hợp với đặc điểm hoạt động của khách hàng, nhất là giúp KTV xác định được khu vực có rủi ro cao để có biện pháp kiểm toán thích hợp Đồng thời, KTV đánh giá khả năng có những sai sót trọng yếu, đánh giá ban đầu về mức trọng yếu với BCTC cũng như khoản mục phải thu khách hàng và thực hiện thủ tục phân tích để xác định khối lượng công việc cần thực hiện
Đối với khoản mục phải thu khách hàng, việc thu thập thông tin thường được tiến hành thông qua:
- Ngành nghề kinh doanh nào cũng có những đặc điểm riêng, thông qua việc tìm hiờ̀u ngành nghề kinh doanh của khách hàng, KTV có thể xác định được mức độ quan trọng và kết cấu của khoản phải thu khách hàng không giống nhau giữa các doanh nghiệp Với những doanh nghiệp có kết cấu khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số tài sản, công tác kiểm toán cần chú ý vào sự phản ánh trung thực, đầy đủ và hợp lý của các khoản phải thu khách hàng
- KTV có thể liên hệ với KTV tiền nhiệm (đối với khách hàng cũ) hoặc xem lại hồ sơ kiểm toán năm trước (đối với khách hàng cũ) để thu thập thông tin cơ bản về mức độ sai phạm của doanh nghiệp năm trước với khoản mục phải thu khách hàng
- KTV cần tìm hiểu những thay đổi về các khoản phải thu khách hàng, việc thay đổi các khách hàng thường xuyên, hoặc khách hàng mới,… trong các năm trước
Trang 19- KTV cần nhận diện các bên liên quan với doanh nghiệp Đây là bước thu thập thông tin quan trọng, đó là thu thập các mối quan hệ giữa BGĐ, kế toán trưởng với khách hàng, nhà cung cấp, các ngân hàng, các đơn vị tín dụng,…Thụng qua phỏng vấn và đánh giá mối quan hệ có thể đưa ra những nhận xét ban đầu về rủi ro tiềm tàng có thể xảy ra đối với các số liệu kế toán khoản phải thu khách hàng của doanh nghiệp
- Cuối cùng, KTV cần thu thập các tài liệu, số liệu kế toán do kế toán trưởng khách hàng cung cấp về phải thu khách hàng như: BCĐKT, BCĐSPS, nhật
ký bán hàng, nhật ký thu tiền, sổ cái TK 131,…đờ̉ tiến hành phân tích sơ bộ
Bước 3: Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Bên cạnh việc thu thập các thông tin cơ sở, KTV cần thu thập các thông tin
về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng để nắm bắt được các quy trình mang tính pháp
lý có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh Theo Hệ thống CMKTVN, chuẩn mực
số 250 (VAS 250): “Khi lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện kiểm toán, kiểm toán
viên và công ty kiểm toán phải có thái độ thận trọng nghề nghiệp ( theo quy định tại Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200), phải chú ý đến hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định dẫn đến sai sót ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính Khi phát hiện thấy một hành vi cố ý không tuân thủ pháp luật và các quy định, kiểm toán viên phải tính đến khả năng đơn vị cũn cú những vi phạm khác nữa Ngược lại, nếu hành vi là vô tình, kiểm toán viên không nhất thiết phải áp dụng yêu cầu trờn’’ Các thông tin liên quan đến nghĩa vụ pháp lý mà KTV cần thu thập bao
- Các hợp đồng và cam kết quan trọng, hợp đồng mua bán hàng húa,…
- Các BCTC, báo cáo kiểm toán, thanh tra của năm hiện hành hay vài năm trước
Trang 20Bước 4: Thực hiện thủ tục phân tích
Theo CMKTVN số 520: “ Quy trình phân tích bao gồm việc so sánh các thông tin
tài chính như : so sánh thông tin tương ứng trong kỳ này với kỳ trước ; so sánh giữa thực tế với kế hoạch của đơn vị ( ví dụ : kế hoạch sản xuất, kế hoạch bán hàng );
so sánh giữa thực tế với ước tính của kiểm toán viên ( Ví dụ : Chi phí khấu hao ước tính ); so sánh giữa thực tế của đơn vị với các đơn vị trong cùng ngành cú cựng quy mô hoạt động hoặc với số liệu thống kê, định mức cùng ngành ( Ví dụ: Tỷ suất đầu tư, tỷ lệ lãi gộp) Quy trình phân tích cũng bao gồm việc xem xét các mối quan
hệ : Giữa các thông tin tài chính với nhau ( Ví dụ : mối quan hệ giữa lãi gộp với doanh thu ) ; giữa cỏc thụng tinh tài chính với các thông tin phi tài chính ( Ví dụ : mối quan hệ giữa chi phí nhân công với số lượng nhõn viờn )’’ Thủ tục phân tích
được áp dụng trong mọi cuộc kiểm toán và trong tất cả các giai đoạn của cuộc kiểm toán Qua đó, KTV có thể xác định được nội dung cơ bản của cuộc kiểm toán Các thủ tục phân tích được kiểm toán viên sử dụng khi kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng gồm hai loại cơ bản: phân tích ngang và phân tích dọc
Phân tích ngang (phân tích xu hướng): là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh
các trị số của cùng một chỉ tiêu trên BCTC Cụ thể, đối với khoản phải thu khách hàng, KTV tiến hành:
- So sánh về số liệu nợ phải thu khách hàng của kỳ này với kỳ trước Qua
đó, KTV có thể nhận thấy tình hình biến động bất thường của khoản mục và xác định được các vấn đề cần quan tâm
- So sánh các chỉ tiêu của Công ty khách hàng với chỉ tiêu chung của toàn ngành
- So sánh số nợ phải thu khách hàng thực tế với số dự toán hay ước tính của KTV
Phân tích dọc (phân tích tỷ suất): là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh
các tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên BCTC, tỷ suất về khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán hiện hành, tỷ suất về cơ cấu
vụ́ n,…Trong quá trình kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách KTV thường sử dụng một số tỷ suất sau:
Tỷ suất thanh toán hiện hành = Error!
Trang 21Trong đó, tài sản ngắn hạn bao gồm cả các khoản phải thu khách hàng Việc
phân tích các tỷ suõt sẽ giúp KTV có tể phát hiện ra một số vấn đề liên quan đến các khoản phải thu khách hàng Sự tăng lên hoặc giảm đi đáng kể của các tỷ suất này sẽ chỉ
ra những vấn đề về tính trọn vẹn và hiện hữu của khoản mục này Bên cạnh đó, các tỷ suất còn chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi của một số khoản tài sản khác (tiền, tài sản ngắn hạn)
Kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng, KTV cần quan tâm đến tỷ lệ các khoản nợ khú đũi hay nợ quá hạn hoặc nợ không đòi được trên tổng số doanh thu, tỷ
lệ hàng bán bị trả lại hoặc các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toỏn…Ngoài ra, KTV còn quan tâm đến chỉ tiêu thời gian quay vòng khoản phải thu:
Số vòng quay các khoản phải thu
Doanh thu thuần
Số dư bình quân các khoản phải thu KH
Hệ số vòng quay khoản phải thu khách hàng thể hiện mối quan hệ giữa doanh thu thuần với các khoản phải thu khách hàng Nó phản ánh tốc độ biến khoản phải thu khách hàng thành tiền mặt Vòng quay các khoản phải thu KH càng cao chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu càng nhanh Tuy nhiên, nếu vòng thu quá cao thì cũng đồng nghĩa với kỳ thanh toán ngắn hạn và có thể ảnh hưởng đến khối lượng tiêu thụ sản phẩm
Việc áp dụng thủ tục phân tích không chỉ giúp KTV nhận ra tình hình biến động cũng như tính chất trọng yếu của khoản mục mà còn ước tính được khối lượng
công việc cần thực hiện sau đó
Bước 5: Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng
Đánh giá tính trọng yếu:
Là bước cơ bản và quan trọng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 320 về tính trọng yếu trong kiểm toán là “ thông tin là trọng yếu nếu việc bỏ sót hoặc sai sót của thông tin có thể ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sửa dụng BCTC Tính trọng yếu phụ thuộc vào mức
Trang 22độ quan trọng của các khoản mục hay sai sót được đánh giá theo bối cảnh cụ thể tạo
ra việc bỏ sót hoặc sai sót đó Vì thế, tính trọng yếu là một ngưỡng hoặc một điểm định tính cơ bản mà một thông tinh hữu ích cần cú’’ Theo Các văn bản chỉ đạo kiểm toán quốc tế số 25 ( IAG 25) : “ Trọng yếu là khái niệm chỉ tầm cỡ, bản chất của các sai phạm ( kể cả bỏ sót) thông tin tài chính hoặc đơn lẻ hoặc từng nhóm, mà trong bối cảnh cụ thể nếu đựa vào các thông tin này để xét đoán thì sẽ không chính xác hoặc rút ra kết luận sai lầm’’
Dựa vào đặc điểm hoạt động sản xuõt kinh doanh của khách hàng, KTV sẽ lựa chọn ra chỉ tiêu (doanh thu, vốn chủ sở hữu, tổng tài sản) để ước lượng mức độ trọng yếu ban đầu cho toàn bộ BCTC, hay chính là mức độ sai sót có thể chấp nhận được đối với BCTC Từ đó, đánh giá ảnh hưởng của các sai sót lên BCTC và xác định quy mô và bản chất của cuộc kiểm toán Sau khi ước lượng được mức trọng yếu, KTV sẽ tiến hành phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục Mức trọng yếu đối với khoản mục phải thu khách hàng chính là sai số có thể chấp nhận được đối với khoản mục này Việc phân bổ này là hoàn toàn cần thiết vì đây là cơ sở để KTV quyết định quy mô bằng chứng cần thu thập Cơ sở này sẽ cho KTV những bằng chứng thích hợp ở mức chi phí thấp nhất để KTV đưa ra kết luận đối với khoản mục phải thu khách hàng
Cơ sở để KTV phân bổ mức trọng yếu cho khoản mục phải thu khách hàng là bản chất khoản mục, đánh giá về rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, kinh nghiệm của KTV và chi phí kiểm toán đối với khoản mục
Quy trình đánh giá trọng yếu khoản mục phải thu khách hàng của công ty Bước 1: Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu của khoản mục phải thu khách hàng Dựa vào bảng đánh giá mức trọng yếu của khoản mục phải thu khách hàng
Bảng 1.2: Đánh giá mức trọng yếu của khoản mục phải thu khách hàng
Không trọng yếu < 10% Tổng giá trị Tài sản
Có thể trọng yếu 10 – 15% Tổng giá trị Tài sản
Chắc chắn trọng yếu >15% Tổng giá trị Tài sản
Trang 23Bước 2: Phân bổ ước lượng ban đầu về mức trọng yếu cho khoản mục phải thu khách hàng
Công thức mức trọng yếu cho khoản mục nợ phải thu khách hàng được thể hiện dưới đây:
Ước lượng mức trọng yếu
Mức trọng yếu toàn bộ BCTC
phân bổ = ────────────── * Số dư KM * Hệ số KM
Tổng số dư KM
nợ phải thu khách hàng
Bước 3: Ước tính sai phạm khoản mục phải thu khách hàng
Tổng hợp toàn bộ sai phạm chưa được điều chỉnh và dự tính sai phạm tiềm tàng của khoản mục rồi so sánh với mức trọng yếu của khoản mục để đưa ra quyết định
có yêu cầu điều chỉnh thêm hay ra kết luận kiểm toán cho khoản mục
Bước 4 : So sánh sai sót tổng hợp với ước lượng ban đầu
Đánh giá rủi ro kiểm toán:
Bất kỳ mụ̣t cuụ ̣c kiểm toán nào cũng chứa đựng những rủi ro nhất định do nhiều nguyên nhân khác nhau, chính vì vậy, khi lập kế hoạch kiểm toán, KTV cần chú ý đánh giá rủi ro kiểm toán Theo định nghĩa của nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán
quốc tế IGA 25: “Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà KTV có thể mắc phải khi đưa
ra những nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và đó là các sai sót nghiêm trọng” Dựa trên cơ sở mức trọng yếu phân bổ cho khoản mục phải thu
khách hàng, KTV sẽ thiết kế các thủ tục kiểm toán và xây dựng chương trình kiểm toán thích hợp cho khoản mục này KTV cần đánh giá các loại rủi ro sau:
- Rủi ro tiềm tàng (IR): rủi ro tiềm tàng đối với khoản mục phải thu khách
hàng là khả năng số dư của khoản mục có thể xảy ra sai sót dự cú hay không hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng KTV đánh giá rủi ro tiềm tàng của khoản mục này dựa trên tính chất ngành nghề kinh doanh của khách hàng, quy mô của khoản mục, mức độ trọng yếu của số dư tài khoản, các phán đoán nghề nghiệp của KTV về rủi ro của khoản mục từ việc thực hiện thủ tục phân tích trong bước
Trang 24chuẩn bị kiểm toán, số lượng các khách hàng không thường xuyên, các ước tính dự phòng phải thu khú đũi…
- Rủi ro kiểm soát (CR): Rủi ro kiểm soát đối với khoản mục phải thu
khách hàng là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng không hoạt động hoặc hoạt động không có hiệu quả do đó không phát hiện và ngăn chặn được các sai phạm đối với khoản mục này KTV đánh giá rủi ro kiểm soát đối với khoản mục phải thu khách hàng thông qua việc tìm hiểu hệ thống KSNB của khách hàng đối với khoản mục này như về môi trường kiểm soát, trình độ của đội ngũ kế toán thanh toán và bán hàng, việc thiết lập và thực hiện các quy trình chung về bán hàng, quy chế đối chiếu số dư công nợ cuối kỳ…
- Rủi ro phát hiện (DR): Rủi ro phát hiện đối với khoản mục phải thu
khách hàng là khả năng xảy ra sai sót hay gian lận đối với khoản mục này mà không được ngăn ngừa hay phát hiện bởi hệ thống KSNB và KTV cũng không phát hiện được ra trong quá trình thực hiện các bước công việc kiểm toán Rủi ro này có thể xảy ra do KTV thực hiện các bước công việc kiểm toán không thích hợp hoặc thực hiện không đầy đủ các bước công việc đó Ví dụ như KTV không gửi thư xác nhận độc lập mà tin tưởng tuyệt đối vào Hệ thống KSNB của khách hàng Từ một mức rủi ro kiểm toán mong muốn cùng mức rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng KTV đã đánh giá ở trên, KTV sẽ tính ra được rủi ro phát hiện đối với khoản mục phải thu khách hàng theo mô hình dưới đây, từ đó KTV ước lượng được số lượng bằng chứng kiểm toán thích hợp để đưa ra ý kiến chính xác đối với khoản mục phải thu khách hàng
Mức độ rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán theo mô hình sau:
DAR = IR*CR*DR hay DR = DAR
IR*CR
Trong đó: DAR : Rủi ro kiểm toán
IR : Rủi ro tiềm tàng
CR : Rủi ro kiểm soát
Trang 25DR : Rủi ro phát hiện
Tùy theo mức độ tin tưởng của người sử dụng bên ngoài với BCTC, cũng như khả năng khách hàng sẽ gặp phải những khó khăn tài chính sau khi BCKT được công bố là cao hay thấp mà KTV sẽ đánh giá rủi ro kiểm toán cho toàn bộ BCTC và cho khoản mục phải thu khách hàng là thấp hay cao
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA số 320, mức độ trọng yếu và rủi ro
có mối quan hệ ngược chiều nhau, nghĩa là khi mức độ trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại Trên cơ sở cân nhắc mối quan hệ này, KTV sẽ xác định được nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán một cách thích hợp Vì vậy, KTV cần hiểu sâu sắc mối quan hệ này để thu thập được các bằng chứng kiểm toán có giá trị cao, giảm rủi ro phát hiện xuống đến mức có thể chấp nhận được Trên thực tế, việc xác định trọng yếu và rủi ro kiểm toán là thủ tục phức tạp đòi hỏi trình độ cũng như kinh nghiệm phán đoán của KTV Hiện nay ở Immanuel cũng đã xây dựng được quy trình ước lượng trọng yếu và rủi ro kiểm toán tuy nhiên mô hình này còn rất đơn giản và chủ yếu được ước lượng bởi sự xét đoán của KTV
Bảng 1.3: Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và số lượng bằng chứng
kiểm toán cần thu thập
Trường
hợp
Rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán
Rủi ro tiềm tàng
Rủi ro phát hiện
Số lượng bằng chứng cần thu thập
Bước 6: Tìm hiểu và đánh giá hệ thống KSNB
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400: “KTV phải có đủ hiểu biết về
hệ thống kế toán và hệ thống KSNB của khách hàng để lên kế hoạch kiểm toán và
Trang 26xây dựng cách tiếp cận kiểm toán có hiệu quả Vì vậy, việc nghiên cứu và đánh giá
hệ thống KSNB của khách hàng đối với khoản mục phải thu khách hàng là bước công việc hết sức quan trọng mà KTV cần thực hiện khi tiến hành kiểm toán khoản mục này không chỉ để xác định tính hữu hiệu của hệ thống KSNB mà còn làm cơ sở xác định phạm vi thực hiện các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ của đơn
vị Nếu hệ thống KSNB đối với khoản mục này hoạt động có hiệu quả tức là rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức thấp thì số lượng bằng chứng kiểm toán thu thập sẽ giảm và ngược lại Khi đó, KTV sẽ tập trung và các thử nghiệm kiểm soát và giảm các thử nghiệm cơ bản
Kiểm soát nội bộ đối với khoản mục này gồm có các thủ tục kiểm soát trong việc tổ chức bán hàng và theo dõi nợ phải thu khách hàng, tức từ khi nhận đơn hàng, xem xét phương thức thanh toán, vận chuyển, lập hóa đơn, ghi chép doanh thu, nợ phải thu khách hàng, cho đến được khách hàng trả tiền và ghi tăng quỹ
Để tìm hiểu về kiểm soát nội bộ đối với nợ phải thu, kiểm toán viên có thể sử dụng một số cách thức như: dùng bảng tường thuật, lưu đồ, bảng câu hỏi để tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khoản mục nợ phải thu
Để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ (ICS) kiểm toán viên có thể dùng các câu hỏi sau:
Các khoản bán chịu có được xét duyệt trước khi giao hàng không?
Các chứng từ giao hàng có đánh số liên tục trước khi sử dụng không?
Có quy định bắt buộc kiểm tra để đảm bảo rằng mọi hàng hóa đã giao đều được lập hóa đơn hay không?
Có hệ thống bảng giá bán, biểu tỷ lệ chiết khấu, giảm giá được duyệt cho từng thời kì để làm cơ sở tính tiền trên hóa đơn không?
Hóa đơn có được kiểm tra độc lập trước khi giao cho khách hàng không?
Định kì hàng tháng, hàng quý có lập và gửi cho khách hàng biên bản đối chiếu công nợ phải thu không?
Việc nhận hàng bán bị trả lại có sự phê duyệt của người có thẩm quyền hay không?
Trang 27 Có thực hiện việc đối chiếu giữa tài khoản chi tiết số dư nợ phải thu khách hàng với số liệu trên sổ cái không? Việc đối chiếu này được thực hiện khi nào?
Sau đó kiểm toán viên cần thực hiện kỹ thuật xuyên suốt (walk-through) để kiểm tra xem trên thực tế, kiểm soát nội bộ có vận hành đúng như mô tả của đơn vị hay không
Đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát (CR)
Trên cơ sở hiểu biết về kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên đưa ra đánh giá sơ bộ
về rủi ro kiểm soát Đây là cơ sở giúp kiểm toán viên giới hạn phạm vi của các thử nghiệm cơ bản
Nếu đánh giá là thủ tục kiểm soát được thiết kế hữu hiệu và có khả năng thực hiện hiệu quả thì CR được đánh giá sơ bộ là thấp và thực hiện các thử nghiệm kiểm soát để hạn chế phạm vi của thử nghiệm cơ bản
Nếu CR được đánh giá là tối đa do không có các thủ tục kiểm soát tốt được thiết kế đối với khoản mục thì không cần thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
mà mở rộng thực hiện thử nghiệm cơ bản
1.3.1.2 Thiết kế chương trình kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng
Thiết kế chương trình kiểm toán chi tiết đối với từng khoản mục được xem là một bước hết sức quan trọng trong mỗi cuộc kiểm toán Đây là cơ sở để kiểm toán viên thực hiện công việc kiểm toán BCTC của khách hàng Chương trình kiểm toán nếu được thiết kế phù hợp và hiệu quả sẽ giúp KTV thu được các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp phục vụ cho việc đưa ra ý kiến của mình
Hiện nay, ở Immanuel đã thiết kế sẵn chương trình kiểm toán chi tiết cho tất
cả các khoản mục trên BCTC Tuy nhiên đối với mỗi khách hàng, dựa vào thông tin, tài liệu đã thu thập được, KTV sẽ lập kế hoạch kiểm toán chi tiết hơn cho từng khoản mục với các bước công việc cụ thể
Trong chương trình kiểm toán của Immanuel đối với khoản mục phải thu khách hàng nói riêng và các khoản mục khỏc trờn BCTC nói chung đều được xác định rõ rang các mục tiêu và các công việc cần thực hiện để kiểm toán khoản mục
Trang 28đú (cỏc thủ tục phân tích, thử nghiệm cơ bản, quy mô mẫu chọn… áp dụng cho từng khoản mục) Mỗi khoản mục trên BCTC đều được đánh giá rủi ro, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp để phát hiện và phòng ngửa các rủi ro còn tiềm ẩn trong BCTC
Chương trình kiểm toán chi tiết này được lập phù hợp với chương trình kiểm toán tiên tiến nhất đang được áp dụng thống nhất trong Công ty nhằm đảm bảo cho việc thực hiện kiểm toán đạt được hiệu quả cao nhất
Đối với khoản mục phải thu khách hàng, Công ty TNHH Kiểm toán Immanuel không lập chương trình kiểm toán riêng cho khoản mục này mà chỉ lập chương trình kiểm toán chi tiết cho khoản mục phải thu, được trình bày ở bảng dưới đây
Bảng 1.4: Chương trình kiểm kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng
tại Công ty TNHH Immanuel
Công ty TNHH Kiểm toán Immanuel
Chương trình kiểm toán
Tên khách hàng:
Niên độ kế toán: Tham chiếu
CÁC KHOẢN PHẢI THU
- Các khoản phải thu phải được phản ánh vào sổ sách kế toán đúng với giá trị thật của nó
và phù hợp với các chứng từ gốc đi kèm
- Số liệu trờn cỏc tài khoản phải thu phải được tính toán đúng đắn và có sự phù hợp giữa
sổ cái, sổ chi tiết và báo cáo tài chính (Tính chính xác)
- Việc đánh giá các khoản phải thu trên báo cáo tài chính là gần đúng với giá trị có thể
Trang 29thu hồi được: tức là các khoản phải thu phải được công bố theo giá trị có thể thu hồi được thông qua sự phân tích về dự phòng nợ khó đòi và chi phí nợ khó đòi
- Đối với các khoản tiền là ngoại tệ phải được quy đổi ra đồng tiền hạch toán theo tỷ giá quy định (Tính đánh giá)
- Các nghiệp vụ phát sinh phải được hạch toán đúng đối tượng, đúng tài khoản kế toán
- Việc kết chuyển số liệu giữa các sổ kế toán và báo cáo tài chính phải được thực hiện một cách chính xác và phù hợp với các nguyên tắc kế toán (Trình bày và khai báo)
Thủ tục kiểm toán
Tha
m chiếu
Người thực hiện
Ngày thực hiện 3.1 Thủ tục phân tích và đối chiếu số liệu tổng hợp
1.1 Lập trang số liệu kế toán tổng hợp Thu thập bảng tổng
hợp chi tiết các khoản công nợ (theo cả nguyên tệ và
đồng tiền hạch toán) bao gồm số dư đầu kỳ, phát sinh
trong kỳ, số dư cuối kỳ Thực hiện đối chiếu số liệu trên
bảng tổng hợp chi tiết công nợ với số liệu trên sổ kế toán
tổng hợp, sổ kế toán chi tiết và Báo cáo tài chính
Đối chiếu số dư chi tiết đầu kỳ với số dư chi tiết cuối kỳ
năm trước
Kiểm tra trình bày các khoản phải thu trên bảng cân đối
kế toán
1.2 Phân tích sự biến động số dư cuối kỳ các khoản phải thu
giữa kỳ này và kỳ trước, giải thích biến động (chênh lệch)
bất thường (nếu có)
1.3 Thu thập bảng phân tích tuổi nợ Phân tích sự biến động
tỷ trọng các khoản dự phòng trên tổng số dư các khoản
phải thu Đánh giá khả năng thu hồi của các công nợ và
so sánh với các qui định của Nhà nước về việc lập dự
phòng nợ khó đòi
Trang 301.4 So sánh tỷ lệ nợ phải thu khách hàng trên tổng doanh thu
của năm nay so với năm trước, nếu có biến động lớn thì
trao đổi với khách hàng về nguyên nhân của sự biến động
này (sự thay đổi trong chính sách bán hàng, khả năng
thanh toán của khách hàng )
3.2 Kiểm tra chi tiết
2.1 Xem sổ kế toán tổng hợp để tìm ra các giao dịch bất
thường (đối ứng bất thường, nội dung bất thường )
Kiểm tra chứng từ và giải thích nội dung của các giao
dịch này, chỉ ra những điểm bất hợp lý và ảnh hưởng của
nó
2.2 Đánh giá sự hợp lý của số dư của các khoản phải thu:
- Kiểm tra danh mục chi tiết các tài khoản khách hàng đảm
bảo không có những điểm bất thường (số dư lớn bất
thường, dư có, phân loại không hợp lý để lẫn các nội
dung khác như : phải thu nội bộ, phải thu nhân viên )
- Kiểm tra đối với các khách hàng có số dư Có Thu thập
các hợp đồng hoặc thỏa thuận bán hàng để kiểm tra tính
hợp lý của các số dư này và đảm bảo rằng không có
khoản nào đã đủ điều kiện ghi nhận doanh thu mà chưa
được ghi nhận
- Kiểm tra một số số dư lớn có giá trị đối chiếu với các
hợp đồng, thỏa thuận bán hàng để xác định sự hợp lý của
các số dư này
- Kiểm tra việc tính toán và ghi nhận các khoản lãi chậm
trả (nếu có) , đối chiếu sang phần kiểm toán thu hoạt
động tài chính
- Đối chiếu số dư chi tiết với thông tin trên các biên bản đối
chiếu công nợ tại thời điểm khoá sổ (nếu có);
Trang 31- Gửi các yêu cầu xác nhận về các khoản phải thu tới
những người mua hàng thường xuyên hoặc các khách
hàng có số dư vượt quá (theo số tiền), có tuổi nợ vượt
quá (theo tuổi nợ)
- Tóm tắt các kết quả xác nhận:
+ Tính tổng số các khoản phải thu đã được xác nhận và
so sánh với tổng số các khoản phải thu
+ Xem xét các khoản chênh lệch với sổ kế toán chi tiết
và tìm lời giải thích
+ Đối với trường hợp không trả lời thực hiện thủ tục
kiểm tra việc thanh toán sau ngày khoá sổ hoặc việc ký
nhận mua hàng trên hoá đơn, báo cáo xuất kho hàng
bán của bộ phận bán hàng, báo cáo hàng ra của bộ
phận bảo vệ (nếu có)
2.3 Kiểm tra chọn mẫu các đối tượng (phát sinh lớn, bất
thường, số dư lớn ), kiểm tra các định khoản trên sổ kế
toán chi tiết và đối chiếu với các chứng từ kế toán để đảm
bảo rằng các giao dịch được ghi nhận chính xác
2.4 Kiểm tra việc chia cắt niên độ trong việc hạch toán các
khoản phải thu
- Kiểm tra các giao dịch đến ngày năm tiếp theo để
đảm bảo không có giao dịch nào cần phải ghi nhận
trong năm nay mà chưa được ghi nhận
2.5 Đối với các khoản công nợ có gốc ngoại tệ
- Kiểm tra sự hợp lý và nhất quán trong việc áp dụng tỷ
giá khi hạch toán các khoản công nợ
- Kiểm tra việc đánh giá lại số dư các khoản công nợ có
gốc ngoại tệ Xác định chênh lệch tỷ giá phát sinh và
chênh lệch tỷ giá đánh giá lại số dư
Trang 322.6 Kiểm tra việc lập dự phòng các khoản phải thu khó đòi
- Đánh giá cơ sở của các khoản dự phòng nợ phải thu khó
đòi được lập có phù hợp với qui định hiện hành không
Đảm bảo việc hạch toán chính xác đầy đủ các khoản dự
phòng
- Tìm kiếm các khoản công nợ đủ điều kiện lập dự phòng
(số dư kéo dài, khách hàng mất khả năng thanh toán )
nhưng chưa ghi nhận Trao đổi với khách hàng về biện
pháp sử lý
- Kiểm tra căn cứ để xóa nợ các khoản nợ đã xóa trong năm
và đối chiếu với Tài khoản 004
- Xem xét các sự kiện sau ngày khoá sổ kế toán để đánh
giá mức độ ảnh hưởng của thông tin tới khả năng thanh
toán của công nợ
Từ đó có thể kết luận khả năng thu hồi của các khoản
công nợ
Lưu ý : chỉ ra chênh lệch giữa số dư TK 139 theo kế
toán thuế và kế toán tài chính (nếu có)
3 Kết luận:
3.1 Đưa ra các bút toán điều chỉnh và những vấn đề được đề
cập trong thư quản lý Lập lại thuyết minh sau điều chỉnh
3.2 Lập trang kết luận kiểm toán dựa trên kết quả công việc
đã thực hiện
3.3 Lập lại Thuyết minh chi tiết nếu có sự điều chỉnh của kiểm
toán
1.3.2 Thực hiện kiểm toán
Mục tiêu kiểm toán khoản mục nợ phải thu:
Trang 33 Mọi nghiệp vụ phát sinh liên quan đến các khoản phải thu khách hàng đều được phản ánh trên sổ sách kế toán một cách đầy đủ và đúng niên độ (Tính đầy đủ)
Mọi nghiệp vụ phát sinh liên quan đến các khoản phải thu khách hàng đảm bảo tuân thủ nguyên tắc ghi nhận (Tính có thật)
Các khoản phải thu khách hàng phải được phản ánh vào sổ kế toán đúng với giá trị thật của nó và phù hợp với các chứng từ gốc
đi kèm
Số liệu trên các tài khoản phải thu phải được tính toán đúng đắn
và có sự phù hợp giữa sổ cái, sổ chi tiết và báo cáo tài chính (Tính chính xác)
Việc đánh giá các khoản phải thu trên báo cáo tài chính là gần đúng với giá trị có thể thu hồi được: tức là các khoản phải thu phải được công bố theo giá trị có thể thu hồi được thông qua sự phân tích về dự phòng nợ khó đòi và chi phí nợ khó đòi
Đối với các khoản tiền là ngoại tệ phải được quy đổi ra đồng tiền hạch toán theo tỷ giá quy định (Tính đánh giá)
Các nghiệp vụ phát sinh phải được hạch toán đúng đối tượng, đúng tài khoản kế toán
Việc kết chuyển số liệu giữa các sổ kế toán và báo cáo tài chính phải được thực hiện một cách chính xác và phù hợp với nguyên tắc kế toán (Trình bày và khai báo)
Đảm bảo việc trình bày trên Báo cáo tài chính phù hợp với các chuẩn mực kế toán hiện hành
Sau khi thiết kế chương trình kiểm toán chi tiết, nhóm kiểm toán được phân công thực hiện kiểm toán tại khách hàng sẽ tiến hành đến đơn vị khách hàng và thực hiện kiểm toán theo đúng chương trình đã lập Đối với KTV chịu trách nhiệm thực hiện kiểm toán đối với khoản mục phải thu khách hàng sẽ tiến hành theo các bước
Trang 34đã được mô tả cụ thể trong chương trình kiểm toán của công ty nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán Ở giai đoạn này công việc của KTV có thể khái quát thành hai giai đoạn chính đó là thu thập các bằng chứng kiểm toán có hiệu lực và xem xét,
xử lý các kết quả kiểm toán phát hiện được
Bước 1: Thu thập các bằng chứng kiểm toán có hiệu lực
Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
Công việc đầu tiên là KTV sử dụng các thử nghiệm kiểm soát (trong đó chủ yếu thông qua Bảng câu hỏi tìm hiểu về hệ thống KSNB của khách hàng) để phân tích môi trường kiểm soát chung, xem xét hệ thống kế toán và thủ tục kiểm soát hiện đang được thực hiện ở khách hàng Việc thực hiện công việc này giúp kiểm toán viên có những đánh giá ban đầu về mực độ tin cậy của hệ thống KSNB, việc tuân thủ các chế độ, chuẩn mực kế toán cũng như các quy định của Luật kế toỏn… của khách hàng đối với khoản mục phải thu khách hàng từ đó có thể xác định được các thử nghiệm cơ bản cần thiết Bằng việc kết hợp các phương thức như điều tra, phỏng vấn, thực hiện lại, kiểm tra ngược lại…KTV tiến hàng thực hiện các thử nghiệm nhằm đánh gỳa cỏc mục tiêu kiểm soát đối với khoản mục phải thu khách hàng Các thủ tục tương ứng với từng mục tiêu sẽ được trình bày trong bảng cựng cỏc thủ tục kiểm tra chi tiết dưới đây
Bảng 1.5 : Thử nghiệm kiểm soát và thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản
mục phải thu khách hàng trong kiểm toán BCTC Mục tiêu
kiểm toán
Thử nghiệm kiểm soát Thủ tục kiểm tra chi tiết
Tính hiệu lực Xem xét việc phân tách trách nhiệm
giữa bộ phận bán hàng và kế toán
Kiểm tra quy trình ghi nhận khoản mục phải thu khách hàng: có đầy đủ các chứng từ cần thiết không bằng cách chọn mẫu và xem xét các chứng từ liên quan
Trong trường hợp hệ thống KSNB của DN được KTV đánh giá là tốt sau khi đã tiến hành thực hiện các thử nghiệm kiểm soát cần thiết thì KTV tiến hàng thu thập Biên bản đối chiếu công nợ cuối kỳ của DN với khách hàng Nếu việc đối chiếu công nợ đối
Trang 35Xem xét việc xây dựng quy định và thực hiện công việc xác nhận công
nợ cuối kỳ đối với các nhà cung cấp
với khách hàng được thực hiện thường xuyên và đầy đủ thì KTV có thể tin vào tính có thật của các khoản phải thu
Trong trường hợp DN không thực hiện đối chiếu số dư công nợ cuối kỳ hoặc thực hiện không đầy đủ thì KTV sẽ độc lập gửi thư xác nhận với các mẫu được chọn của khách hàng Mẫu được chọn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ lớn, tính chất, độ rủi ro của khoản mục và phán đoán của KTV Hiện nay, Immanuel có hai loại thư xác nhận là dạng khẳng định
và phủ định Tùy vào độ tin cậy của
hệ thống KSNB và mức trọng yếu của khoản mục cần xác nhận, KTV sẽ lựa chọn loại thư xác nhận hợp lý Tính đầy đủ KTV phỏng vấn và quan sát việc
vận chuyển hàng bán, đồng thời kiểm tra việc đánh STT trước của các chứng từ liên quan đến nghiệp
vụ bán chịu như hóa đơn, đơn vận chuyển… bằng cách chọn mẫu và kiểm tra một dãy hóa đơn liên tục đồng thời đối chiếu xem khoản phải thu khách hàng có được ghi nhận đầy đủ không
KTV thực hiện một số các thủ tục kiểm toán tương ứng như: so sánh số tổng trên bảng tổng hợp chi tiết phát sinh công nợ với sổ cái tài khoản phải thu khách hàng
KTV thực hiện đối chiếu hóa đơn bán hàng với hóa đơn vận chuyển với sổ thu tiền và sổ theo dõi các khoản phải thu để xem xét các khoản phải thu có được phản ánh đầy đủ trên sổ hay không
Trang 36Ngoài ra KTV cần quan tâm đến các khoản phải thu đã phát sinh trong quá trình bán hàng mà chưa được xử lý ghi nhận đầy đủ và các khoản xóa sổ các khoản phải thu không thu hồi được… Tính định giá Xem xét việc thực hiện các quy
định về chiết khấu, cũng như việc lập bảng phân tích tuổi nợ cuối kỳ
và lập dự phòng các khoản phải thu khú đũi
KTV cần thu thập bảng phân tích tuổi
nợ của khách hàng, đồng thời trao đổi với khách hàng về việc lập dự phòng cho các khoản phải thu quá hạn thanh toán hoặc không có khả năng thu hồi
Tính phê
chuẩn
Xem xét các quy chế tài chính hoặc trao đổi với Giám đốc tài chính của khách hàng về việc phê duyệt bán chịu, hoặc là xóa sổ các khoản phải thu không thu hồi được về các vấn
đề như: cấp phê duyệt, mức độ thẩm quyền, điều kiện phê duyệt…
Kiểm tra mức độ phân tách đối với cấp phê duyệt với bộ phận ghi chép
sổ sách đối với khoản phải thu khách hàng
Kiểm tra quyền hạn và trách nhiệm của người phê duyệt với các nghiệp
vụ bán chịu cũng như xóa sổ các khoản nợ không thu hồi được…
Tính phân
loại và
trình bày
Kiểm tra việc tổ chức thực hiện sơ
đồ tài khoản cho khoản mục phải thu khách hàng
Phỏng vấn kế toán về việc mở mã đối tượng theo dõi công nợ để xem các khoản nợ có bị nhầm lẫn giữa các đối tượng không
KTV thực hiện đối chiếu khoản phải thu trên bảng kê hoặc bảng cân đối bán hàng thu tiền theo thời hạn với chứng từ sổ sách và biên bản đối chiếu công nợ…
Trang 37Tớnh đúng kỳ Phỏng vấn khách hàng về việc tổ
chức hạch toán các khoản phải thu:
thời gian ghi sổ đối với các nghiệp
vụ bán chịu…
KTV thực hiện kiểm tra cut – off đối với các nghiệp vụ bán hàng giao cắt giữa hai niên độ và kiểm tra việc ghi
sổ các nghiệp vụ này
Đặc biệt KTV cần kiểm tra các nghiệp vụ hàng bán bị trả lại sau ngày kết thúc năm tài chính
Tính chính
xác số học
KTV kiểm tra việc ghi nhận từ nhật
ký bán hàng lên tài khoản 131, và việc gửi các bảng cân đối bán hàng thu tiền hoặc đối chiếu công nợ cho các khách hàng thường xuyờn…
KTV chọn mẫu một số tài khoản phải thu để đối chiếu với sổ chi tiết TK
131 và sổ cái Thu thập các bảng báo cáo tuổi nợ các khoản phải thu để khớp sổ tổng với sổ cái tài khoản phải thu, đối chiếu số liệu trên số cái tài khoản 131 với sổ liệu trên BCTC của khách hàng
Thực hiện thủ tục phân tích đối với cái cái khoản phải trả nhà cung cấp
Thủ tục phân tích không chỉ được áp dụng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán mà cả trong giai đoạn thực hiện kiểm toán Trong quá trình kiểm toán khoản phải trả nhà cung cấp, thủ tục phân tích vẫn tiếp tục được KTV sử dụng để đánh giá tính hợp lý chung của các con số, tính trọn vẹn của các nghiệp vụ phát sinh, số dư tài khoản và phân tích nguyên nhân của các chênh lệch, đánh giá tình hình biến động cũng như tính chất trọng yếu của khoản mục Trước khi thực hiện các thủ tục phân tích, KTV cần rà soát một cách sơ lược tình hình hoạt động, ngành nghề kinh doanh của khách hàng để nắm bắt được xu thế và tình hình thực tế của toàn ngành làm căn cứ cho các phán đoán và phân tích
Mục tiêu của bước công việc này nhằm xem xét, kiểm tra tính hợp lý của khoản phải thu khách hàng và lập dự phòng phải thu khú đũi Hai thủ tục phân tích
cơ bản được sử dụng là phân tích ngang và phân tích dọc – là việc phân tích dựa
Trang 38trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tương quan của khoản phải thu khách hàng với các khoản mục khác Từ việc phân tích trên, KTV sẽ thấy được những biến động bất thường của khoản phải thu khách hàng năm nay so với các năm trước, của khoản phải thu khách hàng so với doanh thu, lập dự phòng phải thu khú đũi…từ đú xác định được các thủ tục kiểm toán cần tập trung để phát hiện sai sót Một số chỉ tiêu phân tích thường được sử dụng là:
- So sánh tỷ lệ khoản phải thu khách hàng trên doanh thu năm nay so với năm trước
- Sỏnh sánh tỷ lệ khoản lập dự phòng phải thu khú đũi cho các khoản nợ khú đũi trờn doanh thu hay các khoản phải thu năm nay với năm trước hay trong cùng ngành
- So sánh vòng quay khoản phải thu với năm trước hay trong cùng ngành
Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục phải thu khách hàng
Sau khi thực hiện các thủ tục phân tích, KTV sẽ tiến hành thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết với khoản mục này để thu thập các bằng chứng kiểm toán cần thiết phục vụ cho quá trình kiểm toán và đi đến kết luận về khoản mục Kiểm tra chi tiết là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật cụ thể của trắc nghiệm tin cậy thuộc trắc nghiệm trực tiếp số dư để kiểm tra từng khoản mục hoặc nghiệp vụ tạo nên số dư trên các khoản mục phải thu khách hàng Các biện pháp này bao gồm: so sánh, tính toán, xác nhận, kiểm tra thực tế và quan sát, soát xét lại chứng từ, sổ sách Việc thực hiện kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ phát sinh được thực hiện trên cơ sở áp dụng phương pháp chọn mẫu KTV chọn mẫu phải đảm bảo rằng mẫu được chọn mang tính đại diện Thông thường, mẫu được chọn chủ yếu được dựa trên xét đoán nghề nghiệp của các KTV bao gồm các nghiệp vụ có nộ dung kinh tế bất thường, và các nghiệp vụ có số phát sinh lớn mà không thực hiện kiểm tra chi tiết đối với các
nghiệp vụ
Bước 2: Xem xét và xử lý các phát hiện trong kiểm toán
Sau khi thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết, thu thập được các bằng chứng kiểm toán về khoản mục phải thu khách hàng, KTV sẽ xem xét giấy tờ làm việc,
Trang 39đánh giá xem liệu bằng chứng thu thập được có đầy đủ và thích hợp để hình thành ý kiến kiểm toán hay không Thông qua đó, KTV cũng đánh giá xem BCTC của đơn
vị có sai sót trọng yếu hay khụng, Nờ́u có chênh lệch, KTV sẽ điều tra, tìm hiểu rõ nguyên nhân và tính chất của chênh lệch, đánh giá tính trọng yêu và mức độ ảnh hưởng của nó lên BCTC Đối với các chênh lệch, sai phạm trọng yếu thì KTV sẽ đưa ra bút toán điều chỉnh Còn đối với các chênh lệch nhỏ, KTV sẽ lập bảng tổng hợp các chênh lệch này để đánh giá Nếu trọng yếu thì tiếp tục đưa ra các bút toán điều chỉnh
1.3.3 Giai đoạn kết thúc kiểm toán
Giai đoạn cuối cùng của cuộc kiểm toán khoản nợ phải trả nhà cung cấp gồm hai bước công việc chủ yếu sau:
Bước 1: Tổng hợp và phát hành báo cáo kiểm toán, thư quản lý (nếu có)
Sau khi xem xét, KTV sẽ giải trình các khoản phải thu khách hàng với trưởng nhóm kiểm toán Nhóm trưởng kiểm tra và tổng hợp các sai phạm để trao đổi, thảo luận với khách hàng về những vấn đề phát hiện được để đi đến thống nhất đưa ra kết luận cuối cùng về tính trung thực và hợp lý trong việc ghi nhận các khoản phải thu khách hàng nói riêng và BCTC nói chung
Ngoài ra, KTV còn phải kiểm tra các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên
độ kế toán do nó có thể ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC của đơn vị được kiểm toán Đối với khoản mục phải thu khách hàng thì một số sự kiện có thể phát sinh sau ngày kết thúc niên độ mà KTV cần chú ý: ghi nhận các khoản dự phòng mới, ghi nhận các khoản phải thu phải trả mới…
Khi giai đoạn thực hiện kiểm toán kết thúc, trưởng nhóm kiểm toán sẽ lập Bảng tổng hợp ý kiến của tất cả các thành viên trong nhóm về các phần hành kiểm toán, trong đó có phần hành phải thu khách hàng, tiến hành đánh giá kết quả thu được của cả nhóm và lập dự thảo BCKT Trưởng nhóm kiểm toán sẽ chịu trách nhiệm về nội dung và tính pháp ký của BCKT Các kết luận mà KTV đưa ra phải dựa trên các khía cạnh trọng yếu của các khoản mục
Trang 40Căn cứ vào các kết luận kiểm toán đối với khoản mục phải thu khách hàng nói riêng và các khoản mục khác nói chung, KTV tiến hành phát hành BCKT Song song với quá trình này, KTV tiến hành lập thư quản lý, phục vụ công tác quản trị nội bộ gửi tới khách hàng KTV chỉ ra những khuyết điểm của hệ thống kế toán cũng như các bộ phận khác có liên quan đến việc kiểm soát và ghi nhận khoản phải thu khách hàng Trong thư quản lý gửi cho khách hàng, KTV đưa ra những ý kiến đóng góp giúp đơn vị có phương hướng để khắc phục nhược điểm và đề xuất những phương án giúp hệ thống KSNB của khách hàng hoạt động có hiệu quả hơn
Tất cả những tài liệu trong quá trình kiểm toán đều được soát xét ba cấp, bao gồm trưởng nhóm kiểm toán, Trưởng phòng (Phó phòng nghiệp vụ) và Ban Giám đốc Việc soát xét này phải được thực hiện một cách kỹ lưỡng để đảm bảo chất lượng cho cuộc kiểm toán và đảm bảo ý kiến của KTV đưa ra là xác đáng và có căn cứ hợp lý, giảm thiểu tối đa những rủi ro mà Công ty có thể gặp phải Theo đó, KTV sẽ đưa ra BCKT trình bày một trong bốn loại ý kiến sau:
- Ý kiến chấp nhận toàn phần: được sử dụng khi BCTC được cho rằng đã
phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu về tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hoặc khi BCTC có những sai sót song đã được KTV phát hiện và điều chỉnh theo ý kiến của KTV
- Ý kiến chấp nhận từng phần: được sử dụng khi KTV cho rằng BCTC chỉ
phản ảnh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán nếu không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tùy thuộc đưa ra trong BCKT
- Ý kiến từ chối đưa ra ý kiến: được sử dụng trong trường hợp không thực
hiện được kế hoạch hay hợp đồng kiểm toán do điều kiện khách quan mang lại, thiếu điều kiện thực hiện, thiếu chứng từ, tài liệu kế toán khiến KTV không thể thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán để có thể đưa ra ý kiến
- Ý kiến không chấp nhận: được sử dụng khi KTV và Công ty kiểm toán
không thống nhất được với BGĐ hoặc liên quan đến một số lượng lớn các khoản