1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội huyện Chư Pưh 2011-2012

93 280 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để xác định đúng tiềm năng, lợi thế, đề ra phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái thì việc xây dựng Quy hoạch tổng

Trang 1

MỞ ĐẦU

I SỰ CẦN THIẾT PHẢI LẬP QUY HOẠCH

Huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai được thành lập theo Nghị quyết số 43/2009/NQ-CP, ngày 27/8/2009 của Chính phủ, trên cơ sở chia tách huyện Chư

Sê Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 71.795 ha, dân số năm 2011 có 64.953 người; huyện có 9 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Ia Le, Ia Blứ, Ia Phang, Chư Don, Ia Hla, Ia Hrú, Ia Dreng, Ia Rong và thị trấn Nhơn Hòa Huyện

có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm cao (53%), đời sống dân cư còn khó khăn, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội còn thấp kém

Để xác định đúng tiềm năng, lợi thế, đề ra phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái thì việc xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của huyện đến năm 2020 là rất cần thiết để làm cơ sở cho các ngành, các xã trên địa bàn huyện

có kế hoạch triển khai thực hiện hàng năm các chương trình, dự án để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế-xã hội và xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn huyện

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của huyện là bản luận chứng khoa học về phát triển và tổ chức không gian hợp lý Đây là căn cứ để xây dựng

kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hàng năm và chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch đạt kết quả tốt Bên cạnh đó, quy hoạch còn có chức năng cung cấp những thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước để tìm hiểu nhu cầu đầu tư và xúc tiến đầu tư vào những ngành và lĩnh vực mà huyện có lợi thế

Trên cơ sở danh mục dự án đầu tư được xác định trong quy hoạch, làm căn

cứ để các ngành, các cấp đẩy mạnh công tác chuẩn bị đầu tư và triển khai thực hiện các dự án đầu tư theo đúng quy hoạch Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn và nguồn lực của các thành phần kinh tế và dân cư cho đầu tư phát triển Phát huy dân chủ cơ sở và nâng cao năng lực cộng đồng trong việc phát triển kinh tế-xã hội

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện đến năm 2020 có

ý nghĩa rất quan trọng, nhằm phục vụ kịp thời cho lãnh đạo, các cơ quan, các ban ngành của tỉnh cũng như của huyện xây dựng chương trình hành động và triển khai thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra Đặc biệt là cụ thể hóa được Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH của tỉnh Gia Lai đến năm 2020 Trong khi đó Chư Pưh là một huyện mới được thành lập, các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội dài hạn chưa được xây dựng; do vậy xét về nhiều mặt việc xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện đến năm 2020 là yêu cầu cấp thiết và khách quan

Xuất phát từ những yêu cầu và đặc điểm cơ bản trên, UBND tỉnh Gia Lai

đã có công văn số 1090/UBND-TH ngày 29/4/2010 về việc cho chủ trương xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện Chư Pưh đến năm

2020

Trang 2

II CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO

và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội”;

- Nghị quyết 26/TW về nông nghiệp ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

- Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ chính trị về phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố an ninh quốc phòng vùng Tây nguyên;

- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ XIV;

- Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ Chư Pưh lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2011-2015;

- Quyết định số 25/2008/QĐ-TTg của Chính phủ về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với các tỉnh vùng Tây nguyên đến 2010;

- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;

- Quyết định số 22/QĐ-TTg ngày 05/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án "Phát triển văn hoá nông thôn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020"

- Quyết định số 23/QĐ-TTg ngày 06/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020"

- Quyết định số 219/QĐ-TTg ngày 16/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai đến năm 2020"

- Quyết định số 704/QĐ-UBND, ngày 18/10/2010 của UBND tỉnh Gia Lai về việc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Chư Pưh đến năm 2020;

- Thông tư số 03/2008/TT-BKH ngày 01/7/2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-

CP ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội;

- Chỉ thị số 2178/CT-TTg ngày 02/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quy hoạch

Trang 3

2 Tài liệu tham khảo

- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước thời kỳ 2001-2010 và kết quả nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước thời kỳ 2011-2020;

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai đến năm 2020;

- Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Gia Lai đến năm 2015 và định hướng đến 2020;

- Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Gia Lai giai đoạn 2011 - 2015 có xét đến năm 2020;

- Quy hoạch phát triển mạng lưới giao thông vận tải - Gia Lai, đến năm 2020;

- Quy hoạch hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Gia Lai thời kỳ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;

- Rà soát bổ sung quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai đến năm 2020;

- Quy hoạch phát triển mạng lưới xăng dầu tỉnh Gia Lai đến năm 2020;

- Quy hoạch phát triển ngành thương mại tỉnh Gia Lai đến năm 2020;

- Quy hoạch đất lâm nghiệp tỉnh Gia Lai;

- Quy hoạch phát triển rừng sản xuất tỉnh Gia Lai đến năm 2020;

- Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Gia Lai, giai đoạn 2011 - 2020;

- Quy hoạch phát triển ngành trồng trọt gắn với chế biến tỉnh Gia Lai;

- Quy hoạch cấp nước sạch nông thôn tỉnh Gia lai đến năm 2020;

- Quy hoạch phát triển cau su đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Gia Lai;

- Quy hoạch phát triển thủy lợi tỉnh Gia Lai đến năm 2020;

- Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 - tỉnh Gia Lai;

- Đề án phát triển văn hóa nông thôn tỉnh Gia Lai;

- Niên giám thống kê tỉnh Gia Lai 2005 - 2010;

- Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở tỉnh Gia Lai;

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Chư Pưh, nhiệm kỳ 2011 - 2015;

- Các tài liệu quy hoạch, dự án đầu tư trên địa bàn huyện đến 2015 và 2020;

- Niên giám thống kê huyện Chư Pưh năm 2010 và 2011;

- Các Nghị quyết, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Chư Pưh đến năm 2015

III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Chư Pưh được xây dựng với các nội dung chủ yếu sau:

Trang 4

1 Xác định các nội dung nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo về các yếu tố, điều kiện phát triển, khả năng khai thác, sử dụng hợp lý, có hiệu quả lợi thế so sánh của huyện trong tỉnh, các huyện ở các tỉnh lân cận: Phân tích, đánh giá những lợi thế

so sánh về các yếu tố, điều kiện phát triển của huyện trong tổng thể tỉnh và vùng Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và thực trạng khai thác lãnh thổ huyện; đánh giá tiềm năng đóng góp vào ngân sách của huyện

2 Luận chứng mục tiêu, quan điểm và phương hướng phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và vùng

Xác định vị trí, vai trò của huyện đối với nền kinh tế của tỉnh và vùng, từ đó luận chứng mục tiêu, quan điểm phát triển kinh tế xã hội của huyện Tác động của quy hoạch tỉnh, quy hoạch ngành đối với huyện trong thời kỳ quy hoạch Luận chứng

mục tiêu phát triển

3 Xác định nhiệm vụ để đạt mục tiêu đề ra trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

4 Luận chứng phương án tổng hợp về tổ chức kinh tế, xã hội trên lãnh thổ huyện

5 Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng đảm bảo yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài các hoạt động kinh tế, xã hội của huyện và gắn với huyện khác trong tỉnh

6 Định hướng quy hoạch sử dụng đất

7 Luận chứng danh mục dự án đầu tư ưu tiên

8 Luận chứng bảo vệ môi trường; xác định những lãnh thổ đang bị ô nhiễm trầm trọng, những lãnh thổ nhạy cảm về môi trường và đề xuất giải pháp thích ứng để bảo vệ hoặc sử dụng các lãnh thổ này

9 Xác định các giải pháp về cơ chế, chính sách nhằm thực hiện mục tiêu quy hoạch; đề xuất các chương trình, dự án đầu tư trọng điểm có tính toán cân đối nguồn vốn để bảo đảm thực hiện và luận chứng các bước thực hiện quy hoạch; đề xuất phương án tổ chức thực hiện quy hoạch

10 Thể hiện phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện trên bản đồ quy hoạch tỷ lệ 1/25.000 đối với các khu vực kinh tế trọng điểm

IV PHƯƠNG PHÁP & KỸ THUẬT XÂY DỰNG TÀI LIỆU

1 Phương pháp sử dụng tài liệu thống kê: Để xác định các yếu tố then chốt tác

động đến tình hình phát triển kinh tế địa phương, trên cơ sở đó tập trung nghiên cứu sâu những vấn đề, nguyên nhân, tác nhân

2 Phương pháp điều tra: Để cập nhật và đánh giá tình hình thực trạng kinh tế -

xã hội, đánh giá thị trường Phương pháp điều tra có thể kết hợp giữa điều tra nhanh nông thôn, phỏng vấn qua phiếu điều tra

3 Phương pháp bản đồ: Thể hiện những yếu tố ít biến động như hệ thống cơ

sở hạ tầng, đất đai, vị trí địa lý Bản đồ hành chính, vị trí, mối quan hệ liên vùng, bản đồ hiện trạng, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng, hệ thống đô thị và điểm dân, bản đồ tổ chức lãnh thổ các hoạt động kinh tế chủ yếu, bản đồ hiện trạng và quy

Trang 5

hoạch tổng thể kinh tế - xã hội đều được thể hiện trên nền địa hình tỷ lệ 1/25.000

và được xây dựng dựa trên chồng ghép, số hóa từ các bản đồ đơn tính Các phần mềm của hệ thống GIS, để phân tích, tổng hợp cơ sở dữ liệu

4 Phương pháp kế thừa: Kế thừa toàn bộ các kết quả nghiên cứu trước đó, tiết

kiệm các chi phí không cần thiết Phương pháp cung cấp thông tin thứ cấp để có những phân tích, đánh giá nhận định cần thiết cho quá trình nghiên cứu

5 Các phương pháp khác: Đánh giá đất đai, chuyên gia hội thảo, điều tra

nhanh nông thôn, đánh giá nông thôn có sự tham dự của người dân

- Bản đồ tổ chức lãnh thổ các hoạt động kinh tế chủ yếu, tỷ lệ 1/25.000: 03 cái

- Bản đồ hiện trạng năm 2010 và quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội huyện Chư Pưh đến năm 2020, tỷ lệ 1/25.000: 03 cái

VI NỘI DUNG CHÍNH CỦA BÁO

Gồm 3 phần chính:

- Phần thứ nhất: Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội

của huyện Chư Pưh

- Phần thứ hai: Định hướng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Chư

Pưh đến năm 2020

- Phần thứ ba: Các giải pháp chủ yếu thực hiện quy hoạch

Trang 6

Phần thứ nhất CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH

TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN

I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

*/ Ranh giới hành chính tiếp giáp với các địa phương sau:

- Phía Bắc giáp huyện Chư Sê;

- Phía Nam giáp huyện Ea Hleo, tỉnh Đăk Lăk;

- Phía Đông giáp huyện Chư Sê và huyện Phú Thiện;

- Phía Tây giáp huyện Chư Prông

Vị trí địa lý rất thuận lợi cho phát triển kinh tế và trao đổi văn hóa với các địa phương khác

2 Khí hậu, thời tiết

Theo phân vùng khí hậu tỉnh Gia Lai, huyện Chư Pưh nằm trong tiểu vùng khí hậu N2A2 Trong tiểu vùng này gồm: Phần lãnh thổ trung tâm tỉnh, Chư Pưh, Chư

Sê và một phần nằm ở phía Đông tỉnh (Kon Chro) Nhiệt độ trung bình 210C - 230C, tổng nhiệt độ năm 80000C - 90000C, lượng mưa 1500 - 2000 mm Khí hậu của vùng nóng, ẩm thích hợp với cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc nhiệt đới ẩm, như cà phê, tiêu, cao su, bò thịt

Chư Pưh nói riêng cũng như Tây nguyên nói chung thì bão ít xuất hiện, với tần suất rất thấp, đây là lợi thế lớn so với các tỉnh miền bắc và duyên hải trung bộ

Gió thịnh hành ở 2 hướng chính là Đông - Bắc và Tây - Nam; tốc độ gió phổ

biến là 3 - 4m/s; thuận lợi cho cây trồng phát triển

3 Địa hình

Huyện Chư Pưh nằm về phía Nam cao nguyên Plei Ku và khu vực phía Đông Bắc vùng bán bình nguyên Ea Suop Bề mặt cao nguyên có hình vòm không cân xứng, đường phân thủy tương đối bằng và trùng với quốc lộ 14, chia huyện Chư Pưh thành 2 sườn dốc đông tây rõ rệt:

- Sườn tây hẹp, độ cao giảm nhanh, thấp dần từ Đông Bắc (chân núi xã Ia Phang 724 m) xuống Tây Nam (Suối Ia Loup 150 m) và thấp dần từ Tây Nam (núi Chư Don ranh giới giữa xã Ia Hla và xã Ia Blứ 744 m) xuống Đông Bắc (Suối Ia

Trang 7

Loup 150 m) Địa hình chia cắt mạnh, quá trình xâm thực bóc mòn diễn ra mạnh mẽ,

đất đai bị thoái hóa nhanh

- Sườn đông có diện phân bố rộng và độ cao chênh nhau bé từ 700 - 800m xuống 500 - 600m, địa hình chia cắt nhẹ nên quá trình xâm thực bóc mòn ít mạnh mẽ hơn sườn tây

Địa hình chung có 2 kiểu chính là:

a) Kiểu địa hình cao nguyên:

Diện tích 9.223 ha, chiếm 12,9% tổng diện tích tự nhiên Bề mặt cao nguyên bằng phẳng, sườn bị chia cắt khá mạnh tạo thành các dải đồi lượn sóng Đất đai chủ yếu là nâu đỏ, nâu vàng, nâu tím phát triển trên đá Bazan, tầng dày > 100 cm, độ phì

cao, rất thích hợp cho phát triển cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao (cà phê, tiêu, cao su ) Khí hậu của vùng thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm: Nhiệt độ trung bình

22 - 23oC, lượng mưa trung bình 2.000 - 2400 mm Thảm thực vật ở đây chủ yếu là

cây công nghiệp lâu năm (cao su, cà phê, tiêu) và cây hàng năm (lúa, hoa màu)

*/ Dạng địa hình núi thấp:

Diện tích 1.923 ha, chiếm 2,7% tổng diện tích tự nhiên Bao gồm khối núi thấp

ở xã Ia Le, Ia Phang Đất đai chủ yếu là nhóm đất đỏ vàng, Đất xói mòn trơ sỏi đá phát triển trên đá Mác ma axít và biến chất; nhìn chung tầng mỏng, độ dốc >200

Thảm thực vật chủ yếu là rừng rụng lá nghèo và rừng non phục hồi; trên đất xói mòn trơ sỏi đá là cây bụi Đây là vùng cần được bảo vệ và phát triển rừng

*/ Dạng địa hình đồi lượn sóng:

Diện tích 29.197 ha, chiếm 40,7 % tổng diện tích tự nhiên Địa hình dạng đồi thấp lượn sóng, độ dốc < 20o, độ cao trung bình từ 200 - 300m, thấp dần từ Đông Nam xuống Tây Bắc Đất đai chủ yếu là nhóm đất đỏ vàng, xám bạc màu trên granit, phiến mica và cát kết; ngoài ra khu vực tiếp giáp với cao nguyên có nhóm đất đen trên sản phẩm bồi tụ của bazan Đất thích hợp với cây đậu đỗ, cây công nghiệp hàng năm

Hiện trạng thảm thực vật trong vùng chủ yếu là rừng khộp nghèo, rừng phục hồi và khai thác trồng cây cây hàng năm, cây lâu năm

*/ Địa hình bình nguyên hạ lưu:

Nằm ở phía Bắc huyện từ thị trấn Nhơn Hòa đến xã Ia Rong, Ia Dreng, giáp với vùng đồi lượn sóng Diện tích 31.352 ha, chiếm 43,73 % tổng diện tích tự nhiên

Trang 8

Độ cao trung bình 150 - 200 m, thấp dần từ Đông Nam xuống Tây Bắc Toàn vùng có dạng địa hình bóc mòn tích tụ, bề mặt dạng đồi thoải bằng phẳng, độ dốc < 80 Đất đai chủ yếu là đất xám bạc màu trên cát kết và granít, tầng dày > 70 cm, độ phì trung bình, thích hợp với trồng đậu đỗ và cây công nghiệp hàng năm Ven suối có đất phù

sa suối, độ phì cao, thích hợp trồng lúa nước, cây thực phẩm

4 Đất đai

a) Phân loại đất:

Trên cơ sở tài liệu điều tra bổ sung, chỉnh lý xây dựng bản đồ đất tỉnh Gia Lai,

tỷ lệ 1/100.000 do Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp Miền trung thực hiện năm 2005, toàn huyện có 6 nhóm đất được chia thành 13 đơn vị đất sau:

* Nhóm đất phù sa:

- Diện tích 4.786,51 ha, chiếm 6,68% tổng diện tích, trong nhóm này có một

loại đất phù sa suối (Py) Đất phù sa suối phân bố trên địa bàn 6 xã (Ia Blứ 3.622,74 ha; Chư Don 585,99 ha; Ia Rong 279,3 ha, Ia Hla 223,45 ha; Ia Hrú 52,58 ha và Ia Phang 22,45 ha), trên địa hình bằng thấp ven suối Ia Luop, Ia Rong, Ia Khe

- Đặc điểm của đất phù sa sông suối: Độ dốc 3 - 80, tầng dày > 100cm, thành phần cơ giới thịt nhẹ, đất có phản ứng chua ở tầng mặt và giảm dần theo độ sâu Đạm tổng số ở mức trung bình, lân tổng số nghèo Nhìn chung, sự phân bố lân giữa các tầng không cân đối, càng xuống sâu lân càng giảm đi rõ rệt

- Khả năng sử dụng: thích hợp trồng hoa màu như bắp, rau, đậu đỗ; những nơi nào có khả năng cung cấp nước tưới có thể trồng lúa nước 2 vụ

- Hiện tại loại đất này đang sử dụng trong sản xuất nông nghiệp khoảng 3.330

ha bao gồm: Trồng cây hàng năm 990 (trong đó lúa 490 ha), trồng cây lâu năm 750

ha còn lại là đất lâm nghiệp

* Nhóm đất xám và bạc màu:

Là nhóm đất chiếm diện tích lớn thứ hai trên địa bàn huyện với diện tích 21.192,15 ha, chiếm 29,56% tổng diện tích tự nhiên, gồm có 3 đơn vị đất:

- Đất xám trên đá Macma axit và đá cát (Xa):

+ Diện tích: 6.997,14 ha chiếm 9,79% tổng DTTN Phân bố tập trung ở địa bàn

xã Ia Phang 4.290,33ha; Ia Le 2.460,11ha và Ia Hla 246,1 ha; trên địa hình đồi thấp thuộc vùng trũng phía Đông huyện

+ Đặc điểm đất: Đất phát triển chủ yếu trên đá Granite và đá cát phân bố ở các dạng địa hình bậc thềm cao đến đồi núi thấp có độ dốc thay đổi từ 0 -150 Đất chua, tỷ

lệ mùn trong đất thấp, lân nghèo ở cả dạng dễ tiêu và khó tiêu, Kali cũng ở mức rất nghèo Do đó gặp nhiều hạn chế trong sản xuất nông nghiệp, nếu sản xuất trên đất này cần đầu tư bón phân, nhất là phân chuồng để cải tạo nguồn dinh dưỡng trong đất

+ Hiện trạng sử dụng: Hiện đang sử dụng vào sản xuất nông nghiệp khoảng

6.000 ha, trong đó trồng cây hàng năm 1.200 ha (lúa 77 ha); trồng cây lâu năm 100

ha; còn lại là đất rừng

Trang 9

+ Hướng sử dụng: Những khu vực có địa hình cao, thoát nước, tầng đất hữu hiệu dày có khả năng trồng cây dài ngày và cây hàng năm như điều, cây ăn quả, bông, đậu

đỗ những nơi có tầng đất mỏng chỉ có khả năng trồng cây hàng năm nếu đất quá mỏng, địa hình dốc chỉ nên trồng hoặc khoanh nuôi rừng bảo vệ đất và môi trường

- Đất xám bạc màu trên đá macma axit và đá cát (Ba):

+ Diện tích: 13.404,32 ha, chiếm 18,7% tổng DTTN Phân bố tập trung chủ

yếu phía Nam và phía Tây của huyện (Ia Le 1.373,18 ha; Ia Blứ 9.566,89 ha; Ia Hla 2.244,61 ha và Ia Phang 219,64 ha)

+ Đặc điểm đất: Đất có thành phần cơ giới nhẹ, đất chua, hàm lượng N-P-K trong đất nghèo, khả năng hấp thụ của đất thấp

+ Hiện trạng sử dụng: Mục đích nông nghiệp toàn huyện là 11.234ha bao gồm

đất trồng cây hàng năm 1.284ha (trong đó lúa 210 ha); đất trồng cây lâu năm 3.180

ha còn lại là đất rừng

+ Hướng sử dụng: Đất nhìn chung có hàm lượng dinh dưỡng thấp cả ở dạng tổng số và dạng dễ tiêu; đất chua; đất nhẹ dễ bị khô hạn và khả năng giữ nước phân kém Nhờ địa hình bằng phẳng và độ dày tầng đất lớn và đất tơi xốp nên dễ thích hợp nhiều loại cây trồng cạn như mía, điều và các loại hoa màu khác như lạc, vừng, đậu đỗ, thuốc lá, Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng loại đất này một vấn đề cần chú ý là độ

ẩm đất và cần có sự che phủ mặt đất thường xuyên bằng các loại cây trồng Về phân bón cần xem xét loại cây và nhu cầu dinh dưỡng để bón đúng liều lượng và cân đối

- Đất xám bạc màu trên phù sa cổ (B):

+ Diện tích: 709,69 ha, chiếm 1,1% tổng DTTN, phân bố chủ yếu ở xã Ia Le + Đặc điểm đất: Đất có thành phần cơ giới nhẹ; ở tầng mặt có tỷ lệ cát khá cao trong đó chủ yếu là cát mịn, thường được xếp là đất cát mịn đến thịt pha cát, độ chua của đất được xếp chua và rất chua, hàm lượng N-P-K trong đất từ nghèo đến rất nghèo

+ Hiện trạng sử dụng: Loại đất này đang được sử dụng cho mục đích nông nghiệp 680 ha, trong đó đất trồng cây hàng năm 52 ha và 628 đất rừng

+ Khả năng sử dụng và hướng cải tạo chính: Đất xám bạc màu nhìn chung có hàm lượng dinh dưỡng thấp cả ở dạng tổng số và dạng dễ tiêu; đất chua; đất nhẹ dễ bị khô hạn và khả năng giữ nước phân kém Nhờ địa hình bằng phẳng và độ dày tầng đất lớn và đất tơi xốp nên dễ thích hợp nhiều loại cây trồng cạn như điều và các loại hoa màu khác như lạc, vừng, đậu đỗ, dưa hấu, thuốc lá vv

Trong quá trình sử dụng loại đất này một vấn đề cần chú ý là độ ẩm đất và cần

có sự che phủ mặt đất thường xuyên bằng các loại cây trồng Về phân bón, nhìn chung mọi loại phân đều có khả năng phát huy hiệu lực tối đa Khi canh tác cần xem xét loại cây và nhu cầu dinh dưỡng để bón đúng liều lượng và cân đối

* Nhóm đất đỏ vàng:

Diện tích: 26.869,79 ha, chiếm 27,48% tổng diện tích, gồm có:

- Đất nâu tím, nâu đỏ trên bazan (Ft, Fk):

Trang 10

+ Diện tích 25.054,09 ha, chiếm 34,95% tổng diện tích tự nhiên Loại đất này

phân bố hầu hết ở các xã thuộc huyện Chư Pưh (TT Nhơn Hòa 2.057,22ha; Ia Hrú 2.442,14 ha; Ia Rong 1.228,99 ha; Ia Dreng 2.186,22 ha; Ia Hla 5.828,86 ha; Chư Don 2.240,75 ha; Ia Phang 3.238,29 ha; Ia Le 2.932,18 ha và Ia Blứ 2.899,44 ha)

+ Đặc điểm đất: Đất đỏ trên bazan có địa hình đồi lượn sóng, đỉnh bằng 3-80, sườn dốc 15 - 200, tầng dày > 100cm, thành phần cơ giới thịt nặng đến sét, giàu mùn

do thảm thực vật rừng tốt, độ phì cao nhưng nghèo kali, phản ứng chua Đất rất thích hợp với cây lâu năm có giá trị kinh tế cao như: Cà phê, tiêu, cao su, chè,

+ Hiện trạng sử dụng: Đất đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp 19.917 ha, trong đó trồng cây hàng năm 9.750 ha; đất trồng cây lâu năm 5.760 ha còn lại là đất rừng

- Đất vàng đỏ trên đá macma axit (Fa):

+ Diện tích 704,2 ha, chiếm 0,98% tổng diện tích TN Phân bố chủ yếu (81%)

trên địa hình đồi núi dốc

+ Đặc điểm đất: Đất tầng mỏng 50 - 70 cm, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình Do thảm thực vật tốt nên tầng mặt giàu mùn, độ phì khá nhưng nghèo lân,

có phản ứng chua, thích hợp với trồng hoa màu lương thực và trồng chè, cây ăn quả

+ Hiện trạng sử dụng: Đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp khoảng 643 ha,

trong đó đất trồng cây hàng năm 114 ha (lúa 15 ha) còn lại là đất rừng

+ Khả năng sử dụng và hướng cải tạo: So với các loại đất đỏ vàng khác, đất có

độ phì nhiêu thấp, nhất là tỷ lệ chất hữu cơ Đại bộ phận đất này được phân bố ở vùng

gò đồi, điều kiện canh tác thuận lợi cho mục đích nông nghiệp Một hạn chế đối với đất vàng nhạt trên đá cát là có thành phần cơ giới nhẹ, nhiều đá lẫn, độ phì kém Trong điều kiện che phủ kém đất dễ bị rửa trôi xói mòn

- Đất nâu vàng trên đá bazan (Fu)

+ Diện tích 724,95 ha, chiếm 1,01% tổng DTTN Phân bố chủ yếu ở xã Ia Hla 560,4 ha và Ia Phang 128,45 ha và TT Nhơn Hòa 36,1 ha

+ Đặc điểm đất: Phân bố trên dạng địa hình đồi thấp ít dốc, độ dốc phổ biến là

0 - 80 Trong đó, diện tích có độ dày tầng đất hữu hiệu >100 cm chiếm khoảng 65% còn lại là tầng mỏng 50-70 cm Đất có thành phần cơ giới nặng, mùn, Đạm tổng số và Lân tổng số khá đến giàu Kali tổng số nghèo chua hơn so với đất nâu đỏ

Trang 11

+ Hiện trạng sử dụng: Đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp 553 ha, trong

đó trồng cây hàng năm 45 ha, trồng cây lâu năm 13 ha, còn lại là rừng

+ Hướng sử dụng: Chủ yếu phù hợp với các cây hằng năm như hoa màu, lương thực, đậu đỗ và một số cây lâu năm như cao su, cà phê, tiêu Đối với đất này, các loại phân đều có khả năng phát huy hiệu lực cao Tuy nhiên lân ở đây sẽ bị giảm hiệu lực nhất định do tỷ lệ sắt nhôm trong đất cao Trong sử dụng đất nâu vàng, cần quan tâm tới sự che phủ đất bằng các cây trồng, một mặt giữ ẩm nhưng quan trọng hơn là giảm bớt xói mòn rửa trôi

* Nhóm đất đen (Ru, Rk):

+ Diện tích 5.060,74 ha, chiếm 7,06% tổng diện tích Phân bố rải rác ở các xã,

trên địa hình bằng thấp (Ia Hrú 1.414,43 ha; Ia Rong 787,2 ha; Ia Hla 1.005,19 ha;

Ia Le 580,91 ha; Ia Blứ 1.273,00 ha)

+ Đặc điểm đất: Đây là dấu tích còn lại của lớp phủ bazan cổ, do quá trình xâm thực, bóc mòn của sông Ba tạo nên Đất có màu đen, tầng rất mỏng 30 - 50 cm, nhiều nơi trơ sỏi đá Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng Trong đất có biểu hiện gia tăng sét nhẹ theo chiều sâu Đất có độ phì khá hơn các loại đất khác, phản ứng đất ít chua ở địa hình dốc và trung tính ở địa hình bằng Hàm lượng mùn và đạm tổng số cao trên toàn phẫu diện, đặc biệt lân tổng số cao hơn hẳn các loại đất khác Nghèo kali tổng số nhưng hàm lượng cation kiềm trao đổi cao

+ Hiện trạng sử dụng: Có 4.225 ha đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp, trong đó trồng cây hàng năm 2.303 ha, đất trồng cây lâu năm 437 ha còn lại là rừng

+ Khả năng sử dụng: Đất đen phân bố ở địa hình cao, thoát nước tốt, tầng đất mỏng, nhiều đá lẫn và đá lộ đầu Các đơn vị đất đen có thể sử dụng gieo trồng nhiều loại cây nông nghiệp dài ngày như cây ăn quả, các cây màu ngắn ngày như ngô, đậu

đỗ, các loại rau, Chú ý bón đủ lân và kali cho cây trồng cụ thể

Đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp 517 ha trong đó trồng cây hàng năm

354 ha, trồng cây lâu năm 33 ha còn lại là rừng

* Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá:

+ Diện tích 12.304,14 ha, chiếm 17,16% tổng diện tích Phân bố chủ yếu trên

các đồi có độ dốc lớn ở phía Tây (khu vực giáp huyện Chư Prông) phía Đông Nam của huyện (Ia Hla 2.404,33 ha; Chư Don 567,14 ha; Ia Phang 4.345,85 ha, Ia Le 3.441,69 ha; Ia Blứ 1.545,13 ha) Đất được hình thành do hoạt động xâm thực và bóc

mòn làm trơ lớp sỏi sạn và đá gốc Đối với loại này quy hoạch khai thác đá, sỏi và bảo vệ thảm phủ thực vật hiện có nếu chưa khai thác

Trang 12

Biểu 01: Tổng hợp các loại đất

(ha)

Cơ cấu (%)

I Nhóm đất phù sa P 4.786,51 6,68

1 Đất phù sa ngòi suối Py 4.786,51 6,68

II Nhóm đất xám và bạc màu X; B 21.192,15 29,56

1 Đất xám trên đá Macma axit và đá cát Xa 6.997,14 9,76

2 Đất xám bạc màu/đá macma axit và đá cát Ba 13.404,32 18,70

3 Đất xám bạc màu trên phù sa cổ B 790,69 1,10

III Nhóm đất đỏ vàng F 26.869,79 37,48

1 Đất nâu đỏ trên bazan Fk 24.917,89 34,76

2 Đất nâu vàng trên đá bazan Fu 724,95 1,01

3 Đất vàng đỏ trên đá macma axit Fa 704,20 0,98

4 Đất vàng nhạt trên đá cát Fq 386,57 0,54

5 Đất nâu tím trên đá bazan Ft 136,20 0,19

IV Nhóm đất đen R 5.060,74 7,06

1 Đất nâu thẩm trên sản phẩm của đá bọt, bazan Ru 4.682,70 6,53

2 Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của bazan Rk 378,04 0,53

*/ Tổng diện tích tự nhiên: 71.695,02 ha Trong đó:

- Đất nông nghiệp: 61.738,58 ha, chiếm 86,11%

+ Đất sản xuất nông nghiệp: 29.436,00 ha, chiếm 41,06%

+ Đất lâm nghiệp: 32.303,58 ha, chiếm 45,06%

- Đất phi nông nghiệp: 3.837,86 ha, chiếm 5,35%

- Đất chưa sử dụng: 6.118,58 ha, chiếm 8,53%

*/ Diện tích chưa sử dụng trên địa bàn huyện có khả năng khai thác đưa vào sử dụng các mục đích phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và phi nông nghiệp là trên 5000 ha

Trang 13

Biểu 02: Hiện trạng sử dụng đất năm 2011

Nguồn: Phòng tài nguyên và môi trường huyện

c) Đánh giá tiềm năng đất đai

Để đánh giá tổng hợp khả năng sử dụng đất phải dựa vào tổng hợp phân loại

đất theo độ dốc, tầng dày và hiện trạng sử dụng đất Qua tổng hợp, huyện Chư Pưh có

71.695 ha tự nhiên, trong đó:

- Đất ít dốc (< 30 0 ): 69.818 ha, chiếm 97,38 % tổng diện tích tự nhiên, chia ra

theo tầng dày như sau:

+ Tầng dày > 30 cm: 43.329,03 ha

Trang 14

+ Tầng dày < 30 cm: 26.489,27 ha

- Đất dốc: (> 30 0 ): 981,41ha, chiếm 1,37 % tổng diện tích

- Sông, suối, hồ, ao, núi đá: 826,73 ha, chiếm 1,15 % tổng diện tích

Đất thích hợp với sản xuất nông nghiệp (độ dốc <30 0 , tầng dày >30cm) toàn

huyện có 43.329,03 ha, chiếm 60,44% tổng diện tích tự nhiên

5 Tài nguyên rừng

Tổng diện tích đất lâm nghiệp 32.303 ha, chiếm 45,06% tổng diện tích tự

nhiên Trong đó: - Rừng sản xuất: 27.461 ha; chiếm 85% diện tích rừng

- Rừng phòng hộ: 4.842 ha; Chiếm 15% diện tích rừng

Trạng thái rừng chủ yếu là rừng trung bình, khộp nghèo, trữ lượng khoảng 1,1 triệu m3; phân bố tập trung ở các xã Ia Hla, Chư Don, Ia Phang, Ia Le và Ia Blứ

Kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Gia Lai năm 2008 (Quyết định số 53/QĐ-UBND, ngày 4/2/2008 của UBND tỉnh Gia Lai phê duyệt kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng) và kết quả kiểm kê đất đai năm 2010 của Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Chư Pưh; hiện trạng tài nguyên rừng huyện như sau:

Biểu 03: Hiện trạng rừng huyện Chư Pưh

Nguồn: Kết quả rà soát 3 loại rừng và số liệu ở Phòng TN-MT huyện

6 Tài nguyên nước

- Nguồn nước mặt:

Do hệ thống các suối Ia Luop, Ia Rong, Ia Khe, Ea Neil và các suối nhỏ khác cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt, hiện nay trên các hệ thống suối lớn đều đã xây dựng các công trình thủy lợi vừa và nhỏ Tuy nhiên, các suối thường cạn hoặc ít nước

về mùa khô, khả năng cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt hạn chế

Trang 15

- Nguồn nước mạch và nước ngầm:

Kết quả điều tra giếng đào trong toàn huyện cho thấy, bình quân độ sâu của giếng là 20 m Trong đó, hầu hết các xã, thị trấn mực nước mạch khai thác được

(NMKT) từ 20 - 30 m Vùng TT Nhơn Hòa, xã Ia Hrú nên NMKT độ sâu khoảng 10 -

20 m

Độ dày tầng nước trên địa bàn huyện từ 10 đến 85 m, trung bình là 50 m Chất lượng nước khá tốt, thể hiện nồng độ các khoáng chất nằm trong giới hạn cho phép sử dụng, với tổng trữ lượng nước ngầm khoảng 3.000 triệu m3 và trữ lượng cho phép khai thác trên 1.000 triệu m3

Theo đánh giá của Phân viện khí tượng Thủy văn Miền Nam, độ sâu nước mạch suy giảm khá nhanh trong những năm gần đây Nguyên nhân là tầng nước mạch

bị khai thác mạnh phục vụ cho sinh hoạt và tưới cây công nghiệp như cà phê, tiêu Mặt khác, do diện tích rừng giảm mạnh dẫn đến việc bổ sung trữ lượng nước mạch, nước ngầm vào mùa mưa cũng bị giảm theo

7 Tài nguyên khoáng sản

*/ Tài nguyên khoáng sản đang khai thác:

- Mỏ đá Granit ở xã Ia Phang với khối lượng khai thác trên 5.000m3/năm

- Mỏ đá xây dựng ở TT Nhơn Hòa, xã Ia Le với khối lượng khai thác 10.000

m3/năm

- Quặng Fluorit ở xã Ia Le với khối lượng khai thác hàng năm đạt 5.000 tấn

*/ Tài nguyên khoáng sản có triển vọng khai thác:

- Qưangj sắt ở thị trấn Nhơn Hòa đang trong thời gian thăm dò, dự kiến sẽ đưa vào khai thác sau năm 2015 với khối lượng 500.000 tấn/năm

- Đất sét với trữ lượng lớn ở Ia Le, khả năng khai thác làm nguyên liệu đóng gạch và làm bát đựng mủ cao su

9 Tài nguyên nhân văn

Chư Pưh là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc anh em gồm Kinh, Jrai, Bahnar, Êđê Mỗi dân tộc có những phong tục tập quán riêng, có chữ viết, tiếng nói riêng nhưng tất cả đều có chung một truyền thống đấu tranh dũng cảm chống ngoại xâm Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ rất nhiều người con ưu tú của huyện đã hy sinh xương máu để bảo vệ đất nước, bảo vệ quê hương Sự đa dạng

Trang 16

về dân tộc đã làm nên sự đặc sắc, phong phú trong văn hóa của huyện cần được phát huy, bảo tồn và phát triển

Ngày nay, sau khi được tái lập đứng trước yêu cầu đổi mới để phát triển kinh tế

- xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đáp ứng mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện đã phát huy truyền thống đoàn kết, tinh thần cách mạng tiến công, tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức, phát huy tiềm năng, từng bước dành được những thành tựu ngày càng

to lớn, tạo niềm tin, sức mạnh và bản lĩnh để tiếp tục phấn đấu xây dựng huyện ngày càng giàu mạnh và vững bước đi lên

Trong thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện, toàn Đảng, toàn dân toàn quân đã phát huy truyền thống đoàn kết, ý chí tự lực tự cường, khắc phục mọi khó khăn đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế, văn hóa

và giữ vững trật tự an ninh xã hội

II ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI

1 Dân số

Dân số trung bình năm 2011 là 64.953 người, mật độ trung bình 91 người/km2 Toàn huyện có 8 xã, 1 thị trấn với tổng số 82 thôn làng, 12.614 hộ Các xã có mật độ dân số cao là các xã nằm về phía Bắc của huyện: Thị trấn Nhơn Hòa 516 người/km2,

xã Ia Hrú 214 người/km2, xã Ia Rong 222 người/km2 và xã Ia Dreng 265 người/km2

Là huyện mới chia tách nên dân số nông thôn chiếm tỷ lệ khá cao (81,7%) Tỷ lệ tăng

dân số tự nhiên năm 2011 là 2,09%

Tỷ lệ cộng đồng các dân tộc ít người cao, với 35.073 người, chiếm 54% dân số toàn huyện; trong đó: Người Jarai chiếm 50,3%, Bana chiếm 1,76% và dân tộc khác chiếm 1,96% tổng dân số

2 Thực trạng lao động

Lao động trong độ tuổi có: 37.998 người, chiếm 58% dân số Tổng lao động đang làm việc trong các ngành: 41.045 người, chiếm 108% lao động trong độ tuổi, trong đó:

- Lao động nông lâm thủy sản: 37.871 người, chiếm 92,3%

- Lao động khối CN - XD: 1.400 người, chiếm 3,4%

- Lao động khối dịch vụ: 1.774 người, chiếm 4,3%

Chuyển dịch cơ cấu lao động chuyển dịch chậm theo hướng tăng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông lâm thủy sản

Lao động qua đào tạo trong các ngành kinh tế ở Chư Pưh chiếm khoảng 8-10%

lao động đang làm việc (kể cả lao động mới qua đào tạo nghề) Lao động qua đào tạo

chủ yếu thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước, giáo dục, y tế và doanh nghiệp Lao động qua đào tạo còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu để phát triển kinh tế Lao động có trình

Trang 17

độ cao đẳng, đại học trở lên còn rất thấp; đặc biệt, lao động có trình độ kỹ thuật cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi còn rất thiếu

III THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

1 Tổng quan kinh tế - xã hội

1.1 Tăng trưởng kinh tế

Biểu 04: Giá trị sản xuất và tăng trưởng các ngành 2009 – 2011

2011

Tăng Bq(%) 09-11 10-11

Nguồn: Chi cục thống kê huyện và tính toán theo hướng dẫn của Bộ KH&ĐT

Tổng giá trị sản xuất các ngành năm 2011 đạt 1.516.019 triệu đồng (giá 2010)

Bình quân GTSX trên đầu người là 23,3 triệu đồng/năm (giá 2010)

Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bq/năm đạt 12,9%; trong đó: Nông lâm thủy sản tăng 6,6%; công nghiệp - XD tăng 6,5% và khối dịch vụ tăng 52,3%

Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế trong 2 năm qua của huyện bằng xấp xỉ với tốc

độ tăng trưởng giá trị sản xuất của toàn tỉnh Gia Lai

1.2 Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tỷ trọng của nông nghiệp đã giảm từ mức 74,6% năm 2010 xuống còn 71,4% năm 2011

Công nghiệp và xây dựng chuyển dịch từ 15,7 – 15,9%, do chủ yếu là đầu tư xây dựng cơ bản trong thời kỳ mới chia tách huyện

Khu vực dịch vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ 9,7 – 12,7%

Trang 18

Cơ cấu kinh tế của huyện đang chuyển dịch theo chiều hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ đồng thời giảm tỷ trọng ngành nông lâm thủy sản Sự chuyển dịch chậm và không ổn định do nền kinh tế huyện chủ yếu phụ

thuộc vào ngành nông nghiệp (cây lâu năm), năm 2010 và 2011 đưa một số diện tích

cao su và hồ tiêu vào kinh doanh đã tăng tỷ trọng ngành nông nghiệp lên, bên cạnh đó ngành công nghiệp – xây dựng tăng chủ yếu là tăng từ ngành xây dựng trong thời kỳ kiến thiết cơ bản xây dựng huyện mới

1.3 Thu - Chi ngân sách

- Tổng thu ngân sách năm 2010 đạt 108,25 tỷ đồng, trong đó thu trên địa bàn 31,91 tỷ đồng, chiếm 29,48% Năm 2011 thu ngân sách đạt 180,8 tỷ đồng, trong đó thu trên địa bàn ước đạt 52,9 tỷ đồng

- Tổng chi ngân sách năm 2010 là 104,32 tỷ đồng, trong đó: Chi thường xuyên chiếm 65,95% tổng chi; chi sự nghiệp giáo dục chiếm 40,44 chi thường xuyên; chi quản lý hành chính 15,06%, sự nghiệp y tế 4,3%; đảm bảo xã hội 0,93%; chi sự nghiệp văn hóa, thông tin và thể thao chiếm 0,5%; chi sự nghiệp kinh tế chiếm 2,79% Năm 2011 tổng chi 170,03 tỷ đồng, chi thường xuyên chiếm 69,6%

Tăng trưởng kinh tế đã có tác động tích cực đến thu ngân sách Tuy nhiên, do đặc điểm là huyện thuần nông, mới thành lập nên thu ngân sách còn thấp so với tổng chi

1.4 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội (Niên giám thống kê thiếu phần này)

Tổng đầu tư toàn xã hội năm 2011 đạt trên 300 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư xây dựng cơ bản huyện quản lý là 91,7 tỷ đồng; tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, quy hoạch, xây dựng đô thị, an sinh xã hội, đường giao thông Các công trình được đầu tư đã phát huy được hiệu quả, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội

2 Hiện trạng phát triển các ngành, các lĩnh vực

2.1 Ngành nông lâm ngư nghiệp

a) Hiện trạng, biến động sử dụng đất nông lâm nghiệp:

Trong giai đoạn 2006 - 2011, diện tích đất nông nghiệp tăng 4.298,59 ha

(7,48%), nguyên nhân chính là do trong 5 năm qua huyện đã tích cực khai hoang đưa

diện tích đất chưa sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, trong đó:

- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp tăng 9.593,65, bình quân mỗi năm diện tích đất sản xuất nông nghiệp tăng 1.918 ha, trong đó biến động các loại đất cụ thể như sau:

- Đất trồng lúa tăng 39,75 ha (xã Ia Hla tăng 4,80 ha, xã Ia Le tăng 21,36 ha,

xã Ia Dreng tăng 9,53 ha…) Nguyên nhân đất lúa tăng là do chuyển từ đất trồng cây

hàng năm, đất bằng chưa sử dụng sang và do thống kê kiểm kê năm 2005 chưa chính

xác Cũng trong cùng thời kỳ diện tích đất trồng lúa giảm 16,92 (xã Ia Blứ giảm 2,46

Trang 19

ha, xã Ia Phang 14,46 ha) Diện tích đất trồng lúa giảm là do chuyển sang đất trồng

cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm và đất có mục đích công cộng

- Đất trồng cây hàng năm khác tăng 5.712,10 ha, biến động cụ thể như sau: + Diện tích đất trồng cây hàng năm khác giảm ở thị trấn Nhơn Hòa 138,78 ha + Tăng ở các xã Ia Hla 4,80 ha; xã Ia Le 2.113,76 ha; xã Ia Dreng tăng 6,80 ha;

xã Ia Blứ tăng 2.268,68 ha; xã Ia Phang 1.179,17 ha; xã Ia Hrú 170,51 ha

Nguyên nhân diện tích đất trồng cây hàng năm tăng chủ yếu do chuyển từ đất đồi núi chưa sử dụng, đất lâm nghiệp sang đất trồng cây hàng năm khác

- Đất trồng cây lâu năm tăng 2.641,80 ha, biến động cụ thể như sau:

+ Diện tích đất trồng cây lâu năm giảm 141,06 ha tại các xã như sau: xã Ia Hla giảm 83,86 ha; thị trấn Nhơn Hòa giảm 57,20 ha Nguyên nhân giảm đất trồng cây lâu năm giảm là do là do chuyển sang đất xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng

+ Diện tích đất trồng cây lâu năm tăng 4.444,23 ha trong đó: xã Ia Dreng tăng 16,33 ha; xã Ia Blứ tăng 3.850,44 ha; xã Ia Hrú: tăng 79,39 ha Nguyên nhân diện tích đất trồng cây lâu năm tăng là do thực hiện chủ trương chuyển diện tích đất có rừng nghèo và đất chưa sử dụng sang đất trồng cây cao su

- Diện tích đất lâm nghiệp của huyện giảm từ 37.596,26 ha năm 2006 xuống còn 32.302,58 ha năm 2011, trong đó:

+ Đất rừng sản xuất giảm 5.129,07 ha, do chuyển qua đất sản xuất nông nghiệp

(xã Ia Blứ giảm 3.652,09 ha, xã Ia Hla giảm 350,22 ha, xã Ia Phang giảm 692,36 ha,

xã Ia Hrú giảm 136,64 ha); Tăng ở xã Ia Le 842,38 ha

+ Đất có rừng phòng hộ giảm 164,61 ha, (xã Ia Blứ giảm14,99 ha, xã Ia Hrú giảm 49,55 ha, xã Ia Hla giảm 100,07 ha) Diện tích đất có rừng phòng hộ giảm chủ

yếu là do chuyển sang cho xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng

b) Thực trạng sản xuất nông nghiệp:

*/ Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng sản xuất nông nghiệp:

Mặc dù diện tích và năng suất tăng chậm, nhưng giá trị sản xuất tăng nhanh

Do cơ cấu cây trồng chuyển đổi hợp lý, trong đó tập trung đẩy mạnh sản xuất cà phê, cao su, hồ tiêu, …

Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 680.500 triệu đồng năm 2009 lên 915.235

triệu đồng năm 2011 (theo giá CĐ 2010), tốc độ tăng 2009 - 2011 đạt 16%/năm (trong

đó năm 2011 tăng so với năm 2010 là 6,6%) Tăng trưởng nhanh so với năm 2009 là

do đưa hơn 1.000 ha cao su vào kinh doanh cho sản lượng gần 1.800 tấn

Trang 20

Biểu 05: GTSX, tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp

Giá trị SX theo giá CĐ 2010 Tốc độ tăng

(%) Năm

1- Nông nghiệp Triệu.đ 674.753 854.789 905.985 15,9 6,0

Nguồn: Chi cục thống kê huyện và tính toán theo hướng dẫn của Bộ KH&ĐT

*/ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Giá trị sản xuất trồng trọt chiếm tỷ trọng từ 90 – 93,5%, chăn nuôi chiếm

3-6,5%, dịch vụ nông nghiệp chiếm 2-2,8% trong tổng GTSX ngành nông nghiệp

Cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng trồng trọt, tăng dần tỷ trọng chăn nuôi khi không có sự biến động lớn về tăng diện tích trồng trọt, tuy nhiên sự chuyển dịch xảy ra chậm và chững lại, vì trồng trọt mang lại giá trị chủ yếu trong cơ cấu ngành nông nghiệp và kinh tế toàn huyện

Lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp không gia tăng, mà có chiều hướng đang giảm dần tỷ trọng Để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần gia tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ trong nông nghiệp

*/ Tình hình về diện tích - năng suất - sản lượng một số cây trồng chính:

Xu thế mở rộng diện tích cây trồng trên địa bàn là hợp lý, phù hợp với điều kiện khí hậu đất đai cũng như thị trường, đảm bảo ngày càng gia tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích Trong đó: Diện tích cao su, tiêu, cây thực phẩm tăng nhanh, đặc biệt là cây cao su năm 2011 tăng 4.151 ha so với năm 2009

Đất đai trên địa bàn huyện có độ phì tự nhiên cao, tiềm năng mở rộng đất nông nghiệp còn lớn, nên hầu hết nông nghiệp chỉ mới phát triển theo hướng mở rộng diện tích; năng suất nhìn chung tăng chưa cao Trong tương lai cần đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp theo chiều sâu, chiều rộng

*/.Các cây chủ lực trên địa bàn huyện:

Trang 21

- Cây Hồ tiêu: Là cây trồng đem lại GTSX chủ yếu trên địa bàn huyện, năm

2011 diện tích 1.888 ha, tăng 150 ha so với năm 2009, sản lượng 8.238 tấn với GTSX đạt 1.070.995 triệu đồng, chiếm 69% cơ cấu trong tổng GTSX của trồng trọt

- Cây Cao su: Những năm gần đây, với chủ trương phát triển cây cao su của tỉnh Gia Lai, đến năm 2011 huyện đã trồng được 6.880 ha Trong 2 năm 2010-2011

đã trồng mới 3.900 ha, diện tích đưa vào kinh doanh 1.147 ha với sản lượng 1.978 tấn

mũ đạt giá trị 35.950 triệu đồng

- Cây Cà phê: Diện tích năm 2011 là 2.243, tăng 208 ha so với năm 2009, nhờ nhân dân đầu tư thâm canh nên năng suất tăng khá trong 2 năm qua (1,7-2,5 tấn/ha), sản lượng 5.582 tấn, GTSX đạt 206.532 triệu đồng, chiếm 13,3% cơ cấu trong tổng GTSX của trồng trọt

- Ngoài ra cây lương thực, thực phẩm cũng được chú trọng ổn định về diện tích cũng như sản lượng trong những năm qua, góp phần vào ổn định lương thực trên địa bàn huyện

Biểu 06: Diện tích - năng suất - sản lượng các loại cây trồng chính

- Sản lượng tấn 6.080 7.136 5.018 -9,15 1.2 Cây ngô ha 3.126 2.583 2.850 -4,52

- Sản lượng tấn 15.848 13.237 14.820 -3,30

2 Cây chất bột lấy củ ha 1.107 1.033 1.057 -2,28

2.1 Cây sắn ha 1.043 954 978 -3,17

- Sản lượng tấn 12.332 17.467 18.582 22,75 2.2 Cây khoai ha 64 79 79 11,10

- Sản lượng tấn 273,10 108 178 -19,36

1.1 Cây cà phê ha 2.035 2.016 2.243 4,99

- Sản lượng tấn 3.420 4.122 5.582 27,75

Trang 22

- Sản lượng tấn 7.450 8.238 8.238 5,16 1.4 Cây Điều ha 332 360 283 -7,66

- Sản lượng tấn 200 163 144 -14,97

- Sản lượng tấn 234 481 522 49,46

Nguồn: Số liệu phòng NN&PTNT và Chi cục thống kê huyện Chư Pưh

*/ Tình hình phát triển chăn nuôi:

Chăn nuôi trâu bò có tổng đàn đạt khá, năm 2011 toàn huyện có 17.042 con trâu bò, bình quân có 1,35 con/hộ, hình thức chăn nuôi chủ yếu là hộ gia đình Chăn nuôi trang trại chưa phát triển

Tổng đàn heo năm 2011 có 19.015 con, bình quân 1,5 con/hộ

Tổng đàn gia cầm năm 2011 có 42.000 con, bình quân 3,3 con/hộ

Trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của huyện thì cây công nghiệp chiếm tỷ trọng chính, do vậy để gia tăng được quy mô đàn gia súc cũng như đàn gia cầm, cần thiết phải đẩy mạnh chăn nuôi dưới hình thức công nghiệp, trang trại Chăn nuôi trâu

bò cũng chỉ có thể tập trung phát triển mạnh dưới dạng trang trại, chăn nuôi dưới tán rừng và đặc biệt là phải có đồng cỏ trồng

Biểu 07: Tình hình phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm

Hạng mục ĐVT Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Hiện trạng Tăng BQ(%) 09-11

Trang 23

c) Lâm nghiệp:

Diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng trên địa bàn còn lớn (1.110,3 ha),

nhưng do nguồn vốn còn hạn chế nên mức độ trồng rừng không cao

Diện tích đất rừng sản xuất cũng rất lớn (27.460,5 ha); nhưng hầu hết là rừng

nghèo và nghèo kiệt đang trong giai đoạn khoanh nuôi phục hồi, do vậy giá trị sản xuất kinh doanh rừng cũng không lớn Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2011 đạt

6.273 triệu đồng (theo giá hiện hành)

d) Thủy sản:

Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2011 là 5,5 ha chủ yếu là cá nước ngọt

phát triển manh mún trong các hộ gia đình Sản lượng thủy sản đạt 75,3 tấn (nuôi trồng 63,3 tấn, khai thác 12 tấn) tăng 71,5 tấn so với năm 2009, tổng giá trị sản phẩm

ngành thủy sản theo giá hiện hành đạt 3.907 triệu đồng, trong đó nuôi trồng 3.357 triệu đồng, đánh bắt 550 triệu đồng

2.2 Ngành công nghiệp, TTCN - xây dựng

Biểu 08: Giá trị sản xuất, tăng trưởng và cơ cấu sản xuất CN-XD

Nguồn: Chi cục thống kê huyện và tính toán theo hướng dẫn của Bộ KH&ĐT

Trang 24

Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng có tốc độ tăng bình quân từ 2009 -

2011 là 13,4%; trong đó: Công nghiệp tăng 22,9%; xây dựng tăng 8,8%

Các cơ sở công nghiệp và TTCN hiện có đều phát huy công suất tăng sản lượng sản phẩm Do vậy, giá trị sản xuất chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm tỷ trọng xây dựng Sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp là chế biến tiêu xuất khẩu, khai thác đá xây dựng, giết mổ gia súc … Sản xuất công nghiệp trên địa bàn chủ yếu vẫn là chế biến thô các mặt hàng phục vụ tiêu dùng nội bộ huyện; các mặt hàng chế biến sâu, chế biến biến xuất khẩu phát triển ở mức độ thấp, quy mô nhỏ do chưa có cụm công nghiệp

- Trên địa bàn huyện hiện nay có 3 chợ:

Chợ thị trấn Nhơn Hòa với diện tích sử dụng 6.864 m2, có khoảng 100 hộ buôn bán kinh doanh;

Trang 25

- Các cơ sở sản xuất và lao động: Năm 2011 có 1.149 cơ sở hoạt động thương mại - dịch vụ, tổng số lao động trong ngành là 1.438 người Tốc độ tăng 2009 - 2010

về số cơ sở 131,65% và lao động là 9,67%

- Hoạt động thương mại chủ yếu do các hộ tư nhân đảm nhận; phát triển nhanh mạnh đáp ứng kịp thời yêu cầu của sản xuất và tiêu dùng Dịch vụ thương mại đã tiếp cận đến các hộ vùng sâu vùng xa dưới nhiều hình thức như trao đổi tận tay người tiêu dùng hoặc thông qua đại lý, …

Khối lượng hàng hóa vận chuyển năm 2011 đạt 180.500 tấn/năm; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 18.890 tấn/km

c) Du lịch, khách sạn, nhà hàng

Điểm du lịch trên địa bàn huyện chưa được xây dựng và khai thác, vì vậy khách sạn nhà hàng phát triển còn chậm, GTSX năm 2011 đạt 46.930 triệu đồng, chủ yếu thu được từ phát triển dịch vụ nhà hàng

d) Hoạt động tài chính - ngân hàng, bảo hiểm xã hội:

- Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ngân hàng Công thương, ngân hàng Chính sách xã hội tăng cường hoạt động đáp ứng nhu cầu vốn của nhân dân phục vụ sản xuất và kinh doanh Góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo Năm 2010 tổng dư nợ trên 210 tỷ đồng, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn huyện đạt 60 tỷ, phí dịch vụ 150 triệu Cung cấp

800 thẻ ATM cho khách hàng có nhu cầu Năm 2011 tổng dư nợ trên 372 tỷ đồng

(phòng giao dịch ngân hàng Chính sách xã hội dư nợ 83,224 tỷ đồng, chi nhánh ngân hàng Công thương 120 tỷ đồng và ngân hàng NN&PTNT dư nợ 168,993 tỷ đồng),

tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn huyện đạt 170 tỷ

- Về cơ cấu dư nợ: Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ trọng khá cao, 82% trên tổng dư nợ toàn chi nhánh; trong đó: Ngành Nông nghiệp chiếm tỷ trọng 70% trên tổng dư nợ, ngành dịch vụ, ngành xây dựng chiếm 18%, ngành nghề khác bao gồm cho vay tiêu dùng CBCNV mua sắm phương tiện và các mặt hàng sinh

hoạt trong gia đình chiếm 12%

Nhìn chung hoạt động tài chính ngân hàng tốt, đáp ứng yêu cầu vay vốn cũng như hỗ trợ nguồn vốn cho người sản xuất Cấp tỉnh đã hình thành Quỹ hỗ trợ phát triển HTX, Quỹ bảo lãnh tín dụng cho kinh tế tập thể Tuy nhiên, để các chính sách

ưu đãi tín dụng của Nhà nước đến được một cách kịp thời và rộng rãi đối với mọi đối tượng cần sử dụng vốn, thì cần thiết phải tăng cường quản lý và phát triển Quỹ tín dụng nhân dân, xây dựng phương án hình thành liên hiệp HTX tín dụng khu vực

Trang 26

nhằm tăng cường quản lý, tạo điều kiện điều hòa vốn hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, hướng dẫn nghiệp vụ và chỉ đạo hoạt động tín dụng nội bộ trong HTX

- Năm 2011 số người tham gia bảo hiểm xã hội – BHYT bắt buộc là 44.595 người, số tiền thu được 27,89 tỷ đồng Đã cấp 1.338/1.388 lao động, cấp 43.207 thẻ BHYT, 31.314 thẻ BHYT được cấp cho người nghèo và dân tộc tiểu số Công tác chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH được thực hiện kịp thời và đúng chế độ, chi trả cho

113 người với số tiền 0,6 tỷ đồng đối với chế độ chính sách ốm đau, thai sản, 15.794 người với số tiền 4,28 tỷ đồng cho chi trả khám chữa bệnh và ngoại trú

e) Thông tin và truyền thông:

* Về Công nghệ - Thông tin

Hệ thống thông tin liên lạc khá phát triển, tất cả các xã đều có điện thoại, mạng VMS đã được phủ hầu hết tất cả các xã trong huyện Hầu hết các xã thị trấn có bưu điện văn hóa, trung tâm huyện có bưu cục trung tâm, tổng đài điện thoại Bình quân

45 máy điện thoại/100 dân (gồm thuê bao cố định + thuê bao DĐ trả sau và thuê bao

DĐ trả trước) Năm 2011 toàn huyện có 1.250 thuê bao Internet, bình quân 1,9 thuê bao/100 dân, tỷ lệ máy tính đạt 20 máy/100 dân

* Về Bưu chính – Viễn thông

Mạng bưu chính phát triển rộng khắp đáp ứng được nhu cầu trao đổi thông tin, chuyển phát của nhân dân trong khu vực Toàn huyện có 1 bưu cục cấp 3 và 5 bưu điện văn hóa xã Hạ tầng viễn thông băng rộng trên địa bàn huyện được đầu tư, phát triển với 100% xã có cáp quang đến trung tâm xã (9/9 xã), 100% xã có trạm thông tin

di động (trạm BTS) hoạt động, với 49 trạm BTS; 100% xã có thuê bao cố định (hữu tuyến, vô thuyến)

* Về phổ cập thông tin

Hệ thống thông tin cơ sở đầu tư tương đối đầy đủ, với 1 đài truyền thanh – truyền hình cấp huyện và 4 trạm truyền thanh không dây/4 xã, đạt tỷ lệ 44% Số hộ trên địa bàn có máy tính đạt tỷ lệ 3% với 1,3% số hộ nối mạng Internet; 80% số hộ có máy thu hình, trong đó 72,8% xem được truyền hình số bằng anten chảo

2.4 Lĩnh vực văn hóa - xã hội

- Đội ngũ cán bộ y tế:

Số Y bác sĩ còn thiếu so với nhu cầu khám chữa bệnh Toàn huyện có 104 công chức, viên chức, trong đó:

Trang 27

+ Bác sỹ 10 người (2 bác sĩ làm việc tại TYT xã Ia Le và TYT xã Chư Don),

bình quân 1,5 bác sỹ/1 vạn dân

+ Y sỹ, kỹ thuật viên 28 người

+ Y tá và nữ hộ sinh 15 người

+ Dược sỹ trung cấp 10 người

Ngoài ra còn có 82 cán bộ y tế thôn bản đang hoạt động trên địa bàn huyện Về nhân sự đáp ứng dưới 80% yêu cầu

- Hoạt động y tế: Cơ bản đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân,

kết quả trong năm 2011:

+ Công tác y tế dự phòng được thực hiện thường xuyên; các bệnh xã hội như phong, lao, bướu cổ, tâm thần… có chiều hướng thuyên giảm

+ Thực hiện 26.847 lần khám bệnh, điều trị cho 1.022 bệnh nhân

+ Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng năm 2011 là 22%

Số phòng phòng học chưa đạt chuẩn còn chiếm tỷ lệ cao; là một huyện mới thành lập nên nhu cầu phát triển trường học phải đồng thời cả hai yêu cầu, gồm: Xóa

bỏ phòng tạm, từng bước kiên cố hóa hệ thống trường học, đồng thời đẩy mạnh xây dựng mới để đáp ứng nhu cầu trường lớp cho học sinh

Trang 28

*/ Số lượng học sinh và đội ngũ giáo viên các cấp:

- Số lượng học sinh các cấp hàng năm tăng bình quân 4,75%, duy trì sĩ số học sinh đạt 99,4%

- Chất lượng giáo dục có nhiều tiến bộ, tỷ lệ học tốt nghiệp các cấp hàng năm

đều tăng (lớp 9 tốt nghiệp 100%, lớp 12 tốt nghiệp đạt 74%)

- Phổ cập THCS được duy trì và phát triển, đến nay 9/9 xã, thị trấn được công nhận hoàn thành phổ cập bậc THCS

- Về giáo viên: So với năm 2010 tăng thêm 188 người Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn 100% Là một huyện mới thành lập, lại là huyện có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao, nhưng tỷ lệ học sinh duy trì sĩ số hàng năm đạt khá cao

Biểu 11: Số lượng học sinh và giáo viên các cấp

Nguồn: Phòng giáo dục huyện Chư Pưh

c) Văn hóa - Thông tin - Thể thao:

- Các khu văn hóa - thể thao xã, nhà sinh hoạt cộng đồng và sân thể thao thôn còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt cộng đồng ở cơ sở; 9/9 xã đã được phủ sống truyền hình, 2/9 xã chưa có trạm truyền thanh

Các cơ sở văn hóa - thể thao tại trung tâm huyện đang được triển khai xây dựng

Tổng gia đình văn hóa là 4.300/12.304 đạt 34,95%; làng văn hóa 45/81 đạt 56%; công sở văn hóa đạt 50%

- Hoạt động văn hóa - thông tin - thể thao được phát động và duy trì thường xuyên Phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị và nâng cao nhận thức về chủ trương pháp luật của nhân dân, đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật và đời sống tinh thần cho nhân dân

d) Thu nhập, đời sống dân cư:

- Giá trị sản xuất (giá hiện hành) bình quân đầu người:

Trang 29

Giá trị sản xuất bình quân đầu người năm 2011 đạt 36 triệu đồng, tăng so với năm 2009 là 2,1 lần

Nhìn chung thu nhập bình quân đầu người đạt khá cao so với mức thu nhập chung của vùng nông thôn toàn tỉnh (khoảng 19 triệu đồng/người/năm), các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao như cà phê, cao su, tiêu, … đang có điều kiện mở rộng

cả về chiều rộng và chiều sâu, là cơ hội lớn để Chư Pưh đẩy mạnh thu nhập dân cư

- Hiện trạng mức sống dân cư:

Năm 2010 số hộ nghèo toàn huyện theo chuẩn năm 2005 là 1.258 hộ, chiếm 10% Bình quân tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm 4%

Hộ nghèo theo chuẩn mới năm 2010 là 3.837 hộ, chiếm 30,89% trong đó hộ nghèo đồng bào dân tộc chiếm 25,57% Hộ cận nghèo toàn huyện chiếm 7,7% Năm

2011 hộ nghèo toàn huyện 3.042 hộ, chiếm tỷ lệ 24,12%

Số liệu trên cho thấy mặc dù thu nhập bình quân đầu người toàn huyện cao, nhưng do đồng bào dân tộc thiểu số có trình độ dân trí thấp, khả năng kinh doanh không theo kịp xu thế thị trường, phong tục tập quán sản xuất và tiêu dùng còn nhiều hạn chế, dẫn tới đa phần hộ nghèo rơi vào hộ đồng bào dân tộc thiểu số

e) Định canh định cư:

Đến nay huyện đã hoàn thành cơ bản về định canh định cư ổn định cho đồng bào dân tộc Để củng cố và phát triển sự nghiệp định canh định cư, huyện đang tiếp tục thực hiện các chương trình mục tiêu như: Bố trí sắp xếp cho các hộ vùng thiên tai, vùng đặc biệt khó khăn, các hộ di cư tự do theo Quyết định 193/2007/QĐ-TTg, Quyết định 33/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ; các chương trình mục tiêu quốc gia

về sắp xếp ổn định dân cư nông thôn

Năm 2009 - 2011 đã hỗ trợ trực tiếp cho 261 hộ tại 2 làng ở xã Ia Le và 2 làng

ở xã Chư Don để mua vật liệu sửa nhà, giống cây trồng và phân bón phục vụ sản xuất Triển khai xây dựng 13,3 km đường giao thông nông thôn, xây dựng 2 nhà sinh hoạt cộng đồng Nguồn vốn thực hiện trong 2 năm là 18,27 tỷ đồng cho chương tình

bố trí sắp xếp ổn định dân cư, trong đó vốn dành cho đầu tư phát triển chiếm trên 75% tổng số vốn

3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

3.1 Giao thông

Hệ thống giao thông trên địa bàn huyện có tổng chiều dài 752,7 km Số km được cứng hóa 133,9 km, chiếm 17,8%, trong đó: 100% các xã có đường giao thông đến trung tâm, đường Quốc lộ 14 có kết cấu mặt đường bê tông nhựa chạy dọc trên địa bàn huyện đã tạo điều kiện cho nhân dân trong sinh hoạt và giao lưu kinh tế

- Đường Quốc lộ 14 với chiều dài 32 km đã được BTN 100%

- Đường nội thị với tổng chiều dài 19,2 km, được cứng hóa 8,5 km

Trang 30

- Đường trục xã, liên xã: Tổng số 68,78 km, số km đã trải nhựa, BTXM 63,5

km (chiếm 92,3%), trong đó có 38 km (chiếm 55,2%) đạt chuẩn Chưa trải nhựa,

BTXM 5,27 km (đường vành đai giữa Ia Phang và thị trấn Nhơn Hòa)

- Đường trục thôn, xóm: Tổng số 194 km, có 29 km (chiếm 14,9%) đã được

cứng hoá, trong đó có 6,2 km (chiếm 3,19 %) đạt chuẩn; 164,1 km (chiếm 84,6%)

chưa được cứng hoá

- Đường ngõ, xóm: Tổng số 208,9 km, có 0,9 km (chiếm 0,4%) đã được bê tông hoá, 208,02 km (chiếm 99,57%) còn là đường đất và cấp phối

- Đường trục chính nội đồng: Tổng số 229,83 km, 100 % chưa được cứng hoá Nhìn chung tỷ lệ đường đất trên địa bàn huyện còn cao, đầu tư cho giao thông trên địa bàn còn chậm Trong những năm tới cần đặc biệt chú trọng đầu tư hoàn thiện

hệ thống giao thông nông thôn theo chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh nền kinh tế, sớm hoàn thành các mục tiêu theo tiêu chí Nhà nước ban hành

Biểu 12: Hiện trạng hệ thống giao thông

Đường ngõ xóm

Đường nội đồng

Tổng

Đã cứng hoá

TL cứng hóa (%)

Tổng

Đã cứng hoá Tổng

Đã cứng hoá Tổng

Đã cứng hoá Tổng

Đã cứng hoá

- Các công trình thủy lợi nhỏ hiện có phần lớn được nâng cấp kiên cố hóa

Trang 31

Biểu 13: Hiện trạng các công trình thủy lợi

Chiều dài kênh mương

Nguồn: Phòng nông nghiệp và PTNT huyện

3.3 Điện - nước sinh hoạt

hộ dùng điện trên địa bàn toàn huyện đạt 96,9% tổng số hộ

b) Nước sinh hoạt:

Địa bàn thị trấn đã xây dựng và đưa vào sử dụng hệ thống cung cấp nước máy với công suất 4.000m3/ngày đêm Các công trình cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn các xã gồm có:

- Giếng khoan: 10 cái

- Giọt nước: 8 công trình, còn lại là sử dụng giếng đào

Tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh năm 2011 đạt 86% số hộ toàn huyện, số hộ thành thị dùng nước sạch đạt 68% số hộ thị trấn

3.4 Hạ tầng khu trung tâm huyện, khu du lịch, khu công nghiệp và các khu giãn dân

- Hạ tầng khu trung tâm đến nay xây dựng đạt khoảng 80% quy mô, trụ sở làm việc huyện ủy, UBND, các khối mặt trận và nhà làm việc liên cơ các phòng ban cơ bản đã hoàn thành

Trang 32

- Cụm công nghiệp huyện Chư Pưh đang được quy hoạch chi tiết tại xã Ia Le và tiến tới công tác giải phóng mặt bằng, thi công hạ tầng kỹ thuật

- Khu quy hoạch du lịch sinh thái tại thị trấn Nhơn Hòa đang trong thời gian giải phóng mặt bằng, kêu gọi đầu tư

- Các khu dãn dân công tác thu hồi đất và giải phóng mặt bằng nhìn chung đảm bảo kịp thời nhu cầu dãn dân của các xã và thị trấn

I ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT NHỮNG LỢI THẾ VÀ HẠN CHẾ

1 Những thành tựu đã đạt được về kinh tế - xã hội

Sau hơn 2 năm thành lập huyện, thực hiện mục tiêu Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ huyện, kinh tế - xã hội huyện Chư Pưh đã có những bước tiến bộ đáng kể Tạo nền tảng vững chắc để bước vào thực hiện Nghị quyết Đảng bộ lần thứ VIII nhiệm kỳ 2011 - 2015 và xây dựng phát triển huyện thời kỳ

2011 - 2020 mức độ cao hơn

1.1 Về kinh tế

Tổng giá trị sản xuất các ngành (giá CĐ 2010) năm 2011 đạt 1.516,019 tỷ

đồng Tốc độ tăng trưởng 2009 – 2011 đạt bình quân 17,7%, 2011 so với 2010 tăng 12,9%

- Giá trị sản xuất (giá HH) bình quân đầu người năm 2011 đạt 36 triệu đồng, so

với năm 2009 tăng 2,1 lần

- Đầu tư phát triển và thu ngân sách địa phương khá cao Môi trường đầu tư đã được chú trọng thiết lập, số doanh nghiệp, cơ sở thuộc lĩnh vực công nghiệp và dịch

- Huyện mới thành lập nên mạng lưới y tế chưa được đầu tư đúng mức, tuy nhiên bước đầu đã đáp ứng một phần nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Trong năm 2011 thực hiện 26.847 lần khám bệnh, điều trị cho 1.022 bệnh nhân, hạn chế

Trang 33

được các dịch bệnh xã hội; giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 22%; các chương trình tiêm chủng mở rộng đạt 90-95%

- Thực hiện lồng ghép các chương trình quốc gia giảm nghèo, giải quyết việc làm với chương trình 134, 135, chính sách hỗ trợ người nghèo, hỗ trợ hộ đồng bào dân tộc, nên công tác định canh định cư và xóa đói giảm nghèo đã thu được kết quả khả quan Các hộ đồng bào dân tộc đã định canh định cư ổn định, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, bình quân giảm 4%/năm

2 Những lợi thế

- Huyện nằm dọc theo trục quốc lộ 14, nối liền các tỉnh Tây nguyên, huyệnChư Pưh là cửa ngõ phía Tây Nam của tỉnh, tạo điều kiện giao lưu phát triển kinh tế -

xã hội của Chư Pưh với các huyện trong vùng và với các tỉnh lân cận

- Tài nguyên thiên nhiên khá phong phú: Đất bazan thích hợp cho phát triển những cây công nghiệp có giá trị kinh tế, ổn định và ưu thế về cạnh tranh như: Hồ tiêu, cao su, cà phê, rau đậu chất lượng cao ; huyện có khí hậu nhiệt đới ẩm, có nền nhiệt độ khá cao và điều hòa, mưa nhiều và phân bố tương đối đều trong năm nên thích hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi; Khoáng sản ở huyện khá phong phú, đặc biệt là mỏ sắt ở thị trấn Nhơn Hòa đang trong quá trình thăm dò để đưa vào khai thác Quặng Fluorit, các mỏ đá Granit, đá xây dựng ở xã Ia Le, Ia Phang

- Về kinh tế - xã hội: Nền kinh tế đang tăng trưởng theo chiều hướng tích cực,

cơ cấu phù hợp với tiềm năng lợi thế của từng ngành, từng địa phương; trình độ công nghệ, trình độ lao động một số ngành, lĩnh vực đã được nâng lên một bước; cơ sở hạ tầng về giao thông, cung cấp điện - nước, bưu chính viễn thông được chú trọng xây dựng, nâng cấp và đang hoàn thiện theo hướng hiện đại, sẽ là nền tảng cho thời kỳ

2011 - 2020 phát triển cao hơn

3 Khó khăn, hạn chế

- Lượng nước mặt qua hệ thống sông suối, hồ đập rất hạn chế; mặc dù còn nhiều diện tích đất chưa sử dụng có khả năng đưa vào khai thác sản xuất nông nghiệp, nhưng nếu không xây dựng được các công trình thủy lợi trong thời gian tới thì sẽ còn nhiều khó khăn trong phát triển nông nghiệp

- Sản xuất nông nghiệp mang nặng tính tiểu nông, phân tán; chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra chậm, ảnh hưởng lớn đến đẩy mạnh phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Cơ sở hạ tầng như: Giao thông, điện nước bước đầu tuy có đầu tư tích cực, nhưng vẫn ở mức thấp, làm ảnh hưởng đến khai thác tiềm năng, thế mạnh của huyện

và chưa tạo được sự hấp dẫn đối với các nguồn lực đầu tư từ bên ngoài

- Là huyện mới thành lập, đang trong thời kỳ xây dựng ban đầu nên đầu tư cho

sản xuất, cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông, thủy lợi, điện - nước ) và đào tạo lao

động còn hạn chế, môi trường kinh doanh chậm được cải thiện

Trang 34

4 Nguy cơ, thách thức

- Chư Pưh là huyện miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 54%, trình độ dân trí, trình độ lao động thấp Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao 24,12% Đây là một thách thức lớn cho công cuộc đổi mới và phát triển nhanh nền kinh tế của huyện

- Sản xuất hàng hóa mới được hình thành, hạ tầng nông thôn còn yếu kém, hạn hán thường xảy ra, giá cả thị trường thế giới thay đổi thường xuyên, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chưa có thị trường ổn định trên Thế giới, tập quán canh tác của nhân dân nói chung và của đồng bào dân tộc nói riêng còn lạc hậu dẫn tới sản xuất nông lâm thủy sản bấp bênh, … Tất cả những yếu tố này đã ảnh hưởng xấu đến việc nâng cao chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm

- Chuyển dịch cơ cấu lao động chậm, lực lượng lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, chất lượng lao động nông thôn thấp Đối với huyện Chư Pưh thì yếu tố xã hội như vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc đang là khó khăn thách thức lớn đối với việc đẩy mạnh cơ giới hóa

- Sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ trên Thế giới tác động mạnh mẽ đến năng suất, chất lượng và giá thành sản phẩm nông nghiệp, do vậy cạnh tranh về giá cả ngày càng khốc liệt Các rào cản về vệ sinh an toàn thực phẩm, khiếu kiện thương mại, … sẽ là những thách thức vô cùng to lớn đối với nông nghiệp và nông thôn Trong khi đó công tác nghiên cứu, chọn tạo, sản xuất, kinh doanh và quản lý giống cây trồng, vật nuôi cũng còn nhiều bất cập, cụ thể như sau:

+ Trong lĩnh vực nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi, chưa tạo được những đột phá về năng suất và chất lượng Chẳng hạn như: Năng suất lúa bình quân ở nước ta hiện nay chỉ bằng 70% của Trung Quốc, năng suất ngô bằng 31% của Mỹ …

+ Trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh giống cây trồng, vật nuôi, lượng giống bảo đảm tiêu chuẩn được sản xuất ra còn xa mới đáp ứng được nhu cầu thực tế Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hệ thống công ty sản xuất giống từ Trung ương đến địa phương chỉ đáp ứng được khoảng 20-25% nhu cầu của thị trường, phần còn lại là do các thành phần kinh tế khác sản xuất và cung ứng nhưng chất lượng chưa kiểm soát được

Trang 35

Phần thứ hai QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN CHƯ PƯH -

đã vượt ngưỡng 40 tỷ USD/năm Nguồn vốn có vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đối với nước ta là nguồn vốn FDI và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA FDI đã tác động đến việc tăng trưởng tổng nguồn vốn đầu

tư của các nước đang phát triển, nó như là yếu tố “mồi” trong thu hút đầu tư trong nước và góp phần vào tăng trưởng GDP và GDP/người Thông qua số liệu thống kê của 69 nước, các chuyên gia nước ngoài đã tìm thấy một số quy luật mang tính trung bình sau: Nếu tăng 1% tỷ lệ FDI so với GDP, GDP bình quân đầu người sẽ tăng thêm 0,8%

Các nhà đầu tư đều nhận biết thị trường Việt Nam là một thị trường tiềm năng, với chi phí nhân công thấp, có khả năng tiếp cận kỹ thuật, công nghệ mới; Việt Nam

có một thể chế chính trị ổn định đồng thời nhà nước Việt Nam đang tiến hành cải cách các thủ tục hành chính để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư an tâm đầu tư vào Việt Nam Điều này sẽ kích thích các Nhà đầu tư nước ngoài mạnh dạn đầu tư để cạnh tranh và tìm kiếm thị trường tiêu thụ tại Việt Nam Bên cạnh đó, thế kỷ 21 tri thức của loài người đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo cơ hội cho chúng ta tiếp cận kịp thời khoa học công nghệ, đặc biệt là chúng ta đã và đang ứng dụng tốt

công nghệ sinh học (không ngừng đổi mới về giống cây trồng, vật nuôi,…); tạo điều

kiện cho chúng ta mua sắm đổi mới thiết bị, công nghệ chế biến để cải thiện chất lượng sản phẩm, gia tăng chủng loại sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, Tuy nhiên, sự toàn cầu hoá về kinh tế vừa là cơ hội để phát triển, nhưng cũng vừa là thách thức Hội nhập kinh tế sẽ khắc phục được tình trạng phân biệt đối xử, tạo điều kiện cho hàng hóa nước ta có được chỗ đứng vững chắc trên thương trường quốc tế, đồng thời được hưởng những ưu đãi thương mại, tạo dựng được môi trường để phát triển kinh tế, mở rộng thị trường để thu hút đầu tư Nhưng Hội nhập kinh tế cũng có những thách thức như tăng sức ép cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, quốc gia

Đối với tỉnh Gia Lai và huyện Chư Pưh, hội nhập kinh tế quốc tế cũng làm cho các doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp chế biến nông sản phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn, đồng thời đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp cố gắng tự vươn lên Cái yếu của doanh nghiệp chế biến của nước ta là thường có quy mô nhỏ, vốn ít, khả năng tiếp cận thị trường còn hạn chế, còn ỷ lại vào sự trợ giúp của Nhà nước Đối

Trang 36

với ngành chế biến nông lâm sản thì vẫn có lợi thế của chúng ta, đó là: Nhu cầu vốn đầu tư không cao như các ngành chế biến, ngành công nghiệp khác, ta có nguồn vốn đầu tư, nhân công tại chỗ, …

*/ Bối cảnh trong nước:

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X nêu rõ mục tiêu đến năm

2010 phải đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Nguồn lực con người, năng lực khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế theo hướng thị trường, định hướng

xã hội chủ nghĩa phải được hình thành về cơ bản Vị thế của nước ta trên trường quốc

tế được nâng cao

Quan điểm của Đảng cũng khẳng định phát triển nhanh các ngành công nghiệp

có khả năng cạnh tranh, phát triển và chiếm lĩnh thị trường nhất là công nghiệp chế biến nông - lâm sản và một số sản phẩm cơ khí và hàng tiêu dùng khác Phát triển các

cơ sở sản xuất, doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến trong đó có ngành công nghiệp chế biến nông sản Đổi mới nâng cấp công nghệ máy móc thiết bị phục vụ ngành chế biến

Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Gia Lai đã đề ra: Đẩy nhanh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo hướng tập trung vào việc mở rộng quy mô và nâng cao trình độ kỹ thuật chế biến để hầu hết nông, lâm sản đưa ra thị trường đều đã được thông qua chế biến; ưu tiên phát triển các ngành trực tiếp phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ nhu cầu dân cư Trước mắt phải tập trung phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm sản với nhiều quy mô và trình độ công nghệ tiên tiến phù hợp với yêu cầu của thị trường Phân bố các cơ sở công nghiệp phải gắn với vùng nguyên liệu, tạo điều kiện phát triển nông thôn

Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới, do vậy thị trường máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp được mở rộng hơn, giá cả

ngày càng giảm (theo lộ trình cắt giảm thuế); người nông dân có có hội mua cũng

như lựa chọn nhiều loại máy móc thiết bị hiện đại tiên tiến của Thế giới Công tác chế tạo máy móc thiết bị sản xuất nông nghiệp đã được quan tâm đúng mức, nhằm phục

vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Nhiều đơn vị từ các Viện nghiên cứu chế tạo đến các doanh nghiệp và cả người nông dân đã sản xuất thành công hầu hết các loại máy móc thiết bị sản xuất nông nghiệp, với giá cả hợp lý phù hợp với điều kiện sản xuất cũng như năng lực nguồn vốn của các nông hộ Để tăng cường cơ giới hóa, góp phần giảm tổn thất sau thu hoạch, Chính phủ đã có Nghị quyết số 48/NQ-CP, ngày 23 tháng 9 năm 2009, về việc ban hành cơ chế, chính sách giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông- lâm - thủy sản; trong đó tập trung chủ yếu vào các giải pháp nhằm tăng cường cơ giới hóa Đây là những cơ hội to lớn để người sản xuất đẩy mạnh cơ giới hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong đó có kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 37

2 Bối cảnh Quốc gia và Quốc tế đối với những mặt hàng sản xuất chủ yếu của huyện Chư Pưh

*/ Sản xuất cà phê:

Trong những năm gần đây sản lượng cà phê thế giới có chiều hướng tăng lên rõ rệt; bên cạnh đó yếu tố khí hậu cũng làm cho sản lượng cà phê có sự tăng giảm thất thường; trong đó Braxin, nước có một nền sản xuất cà phê lớn nhất trên thế giới có sản lượng tăng giảm đột biến lớn nhất; do vậy thị trường cà phê thế giới luôn luôn biến động đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thăng trầm của ngành cà phê Việt Nam

Biểu 14: Sản lượng cà phê trong một số nước sản xuất

- Ở Colombia người ta cũng có một chương trình đổi mới vườn cây, mở rộng diện tích về phía Nam của đất nước và trồng lại các vườn cây già cỗi Chính phủ Colombia có kế hoạch đổi mới 90.000 ha cà phê già cỗi không cho thu hoạch vào năm 2008 Đó là một phần của kế hoạch 5 năm nâng cao năng suất của 300.000 ha cà phê và đưa sản lượng cà phê Colombia lên 16 triệu bao vào năm 2015

- Ở nhiều nước khác cũng có những kế hoạch tương tự và sản lượng cà phê thế giới không ngừng được nâng cao qua sự phát triển sản xuất của những nước có nền sản xuất cà phê phát triển hàng đầu

Trong khi đó thì về tiêu dùng người ta ước tính độ tăng trưởng tiêu dùng toàn cầu vào khoảng 2% mỗi năm; trong đó lượng tiêu dùng ở các nước nhập khẩu chiếm 72%, còn ở các nước sản xuất chiếm khoảng 28% và con số này có chiều hướng tăng

Tất cả những vấn đề trên đòi hỏi ngành sản xuất cà phê Việt Nam phải được điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn chiều hướng phát triển của Quốc gia và Quốc tế;

yếu tố năng suất và chất lượng cho cà phê (kể cả trong sản xuất nguyên liệu và chế biến) đang được quan tâm đặc biệt của các nhà doanh nghiệp và của các cấp quản lý

quốc gia

Trang 38

Sản xuất cà phê nguyên liệu Việt Nam chủ yếu vẫn đi theo chiều hướng gia tăng quy mô diện tích, năng suất và sản lượng, mức độ chú ý đến chất lượng còn rất thấp, không đảm bảo yêu cầu nâng cao chất lượng trên nhiều phương diện, như: trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản

Giá cả xuất khẩu cà phê nhân của Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước khác, dẫn tới giá thu mua cà phê sẽ thấp

Trên đây là hai mâu thuẫn giằng co lẫn nhau, làm cho người dân thì ra sức nâng cao năng suất, giảm giá thành; các doanh nghiệp chế biến thì vấp phải rào cản

về yếu tố chất lượng cà phê nguyên liệu Để giải quyết vấn đề này cần có sự phối hợp hoạt động một cách đồng bộ từ người sản xuất đến nhà chế biến và tiêu thụ, bên cạnh

đó còn cần có sự can thiệp của hệ thống tổ chức ngành sản xuất cà phê Việt Nam và các chính sách Ngành sản xuất cà phê Việt Nam phải đối mặt với thử thách sống còn

là phải nâng cao chất lượng cà phê

*/ Sản xuất cao su:

Cây cao su Việt Nam có vị thế đứng thứ 4 - 5 trên thế giới; tuy nhiên xét về mặt quy mô diện tích và sản lượng của chúng ta chiếm một tỷ lệ nhỏ bé trong khoảng

từ 5 - 6% so với Thế giới (Sản lượng cao su Việt nam chỉ bằng 1/8 của Thái Lan và 1/5 của Indonesia ….) Trong khi đó chúng ta có một thị trường tiêu thụ to lớn, gần

kề, ổn định về chính trị và có tốc độ phát triển công nghiệp cao, đó là Trung Quốc; có những năm Nước ta còn nhập cao su của Thái Lan, Camphuchia, Malaixia tái xuất sang Trung Quốc Hiện nay, cao su Việt Nam đã xuất khẩu trên 40 nước: Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, 13 nước Tây Âu, 6 nước Đông Âu và Mỹ,

Sản xuất cao su trong hơn 50 năm qua giá cả ít biến động, quá trình sản xuất hầu như không bị lỗ; đặc biệt trong các năm gần đây giá cả cao su tăng đột biến Theo

Tổ chức Nghiên cứu Cao su quốc tế (IRSG), dự báo nhu cầu cao su thế giới đến năm

2035 vẫn tiếp tục tăng mạnh, đẫn tới giá cả sẽ rất khả quan

Biểu 15: Dự báo nhu cầu cao su thiên nhiên & nhân tạo đến năm 2035

- Cao su thiên nhiên 9.528 10.601 11.681 12.784 13.893 15.027

- Cao su nhân tạo 14.133 15.575 16.992 18.449 19.855 21.259

Nguồn: LMC Internationnal and Pro Forest, 5/2005 (Rubber Eco Project of IRSG)

Một thực tế đáng lưu ý đó là: Thị trường tiêu thụ trong nước còn quá thấp, bình quân 50-60 ngàn tấn/năm, chiếm 13-14% tổng sản lượng cao su mủ khô sản xuất trong nước Nếu gia tăng được sự chế biến các chủng loại mặt hàng sau sơ chế, như:

đồ nhựa các loại, săm lốp ô tô, cùng với nó là việc đưa đất nước ta đến năm 2020

cơ bản thành một nước công nghiệp, thì khả năng tiêu thụ cao su trong nước sẽ tăng

Bối cảnh trên cho thấy điều kiện trồng và chế biến cao su còn có tiềm năng lớn,

kể cả xuất khẩu cũng như tiêu dùng trong nước; vì vậy, Thủ tướng Chính Phủ đã ký

Trang 39

Quyết định số 750/QĐ-TTg ngày 05/06/2009 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển

cao su của cả nước đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020; trong đó: Vùng Tây

Nguyên sẽ tiếp tục trồng mới 95 - 100 ngàn ha để ổn định diện tích 280 ngàn ha Tỉnh Gia Lai cũng đã có quyết định phát triển thêm 52.000 ha cao su trên địa bàn

*/ Sản xuất tiêu:

Theo thống kê của Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), nhu cầu tiêu thương

phẩm hiện nay trên thế giới khoảng 320.000 tấn/năm, hàng năm trung bình tăng khoảng 2%/năm; riêng năm 2012 sẽ tăng khoảng 5% Việt Nam là nước đứng đầu Thế giới về sản lượng tiêu thương phẩm, hàng năm xuất khẩu trên dưới 100.000 tấn Năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu trên 110.000 tấn hồ tiêu, thu 421 triệu USD; tám tháng đầu năm 2011 cả nước xuất khẩu 99.787 tấn hạt tiêu, thu về 560,25 triệu USD

Hiện nay, hồ tiêu Việt Nam đã xây dựng được một thị trường trực tiếp mà không phải qua thị trường trung gian và ngày càng giảm ảnh hưởng của nhà đầu cơ, nhà phân phối lại Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam cũng đã xây dựng thành công và

chuyển giao thương hiệu Hồ tiêu Chư Sê (Gia Lai) cho địa phương khai thác Đây là

lần đầu tiên hồ tiêu Việt Nam có thương hiệu, bước đầu “định vị” trên thị trường trong và ngoài nước

Về chế biến, hiện cả nước có 17 nhà máy chế biến hồ tiêu được trang bị tương đối tiên tiến với tổng công suất đạt 60.000 tấn/năm; trong đó, 10 nhà máy với công nghệ khá hiện đại, xử lý tiêu qua hơi nước, đạt tiêu chuẩn sản phẩm chất lượng cao

theo tiêu chuẩn quốc tế (ASTA) ESA, Nhật Bản Đã có nhiều doanh nghiệp nước ngoài

như Ấn Độ, Hà Lan, Nhật Bản xây dựng nhà máy, thu mua, chế biến đa dạng nhiều mặt hàng tiêu tại Việt Nam và xuất khẩu đi nhiều quốc gia, góp phần tăng sức cạnh tranh, nâng cao giá trị xuất khẩu, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và người sản xuất

Chư Sê, Chư Pưh có lợi thế nhất so với cả nước về khả năng sản xuất hồ tiêu; tuy nhiên, hạt tiêu là mặt hàng nông sản thực phẩm cho nên khối lượng tiêu thụ có hạn Chính vì vậy không nên chạy đua theo giá cả đột biến hiện nay, mà phải phát triển quy mô diện tích theo quy hoạch

*/ Sản xuất điều:

Theo Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), cho thấy:

- Thị trường nhập khẩu: Nhập khẩu nhân điều tương đối ổn định, gồm các nước: Mỹ, Đức, Anh, Úc, Nhật Bản, Hà Lan, … Sản lượng nhập khẩu điều hàng năm tăng 6%/năm, nhân điều là hàng hóa tiêu thụ ổn định trong 5 - 7 năm tới

- Tình hình xuất khẩu và giá cả trên thị trường thế giới: Xuất khẩu hạt điều trên thế giới hàng năm tăng 6,2%/năm; trước năm 2005 thì Ấn Độ là nước xuất khẩu hạt điều lớn nhất thế giới, đến nay Việt Nam đã vươn lên vị trí đứng đầu thế giới về xuất khẩu hạt điều với kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 1,14 tỷ USD Về giá cả: Từ năm

1990 lại nay giá hạt điều thô biến động trong khoảng 800 đến 1200 USD/tấn, giá nhân điều xuất khẩu trung bình 4.500 - 4.800 USD/tấn; đây là mức giá có lãi cao cho

cả người sản xuất và chế biến xuất khẩu

Xét cả về vị trí sản xuất và xuất khẩu điều trên thế giới của Việt nam, xét cả về giá cả và thị trường tiêu thụ, thì sản xuất điều ở nước ta là có đủ điều kiện để thúc đẩy phát triển, kể cả trước mắt cũng như lâu dài Tuy nhiên, mặc dù sản xuất điều có tỷ lãi

Trang 40

cao, nhưng nếu tính mức thu nhập trên 1 đơn vị diện tích thì thấp hơn nhiều cây trồng khác; do vậy khi áp lực dân số gia tăng sẽ bị các loại cây trồng khác cạnh tranh

*/ Sản xuất lúa:

Theo một chuyên gia phân tích chuyên ngành lúa gạo thuộc Trung tâm Thông

tin Nông nghiệp Nông thôn (Agroinfo), thì lương thực đang là vấn đề cấp bách trên

Thế giới Trong các năm qua lượng gạo thương mại trên thế giới thường biến động trên dưới 30 triệu tấn/năm; trong đó: Thái Lan 9,5 triệu tấn, Việt nam 6,5 triệu tấn, Hoa Kỳ 3,5 triệu tấn, Ấn độ 2,5 triệu tấn, Căm Pu Chia 1,6 triệu tấn, còn lại các nước khác là 6,3 triệu tấn

Thái Lan và Việt Nam là 2 cường quốc xuất khẩu gạo và là nước có khả năng thao túng giá cả thị trường trên Thế giới; trong khi đó nhu cầu gạo thương mại trên thế giới không ngừng gia tăng, bình quân 2%/năm Từ tháng 10 năm 2011, Chính phủ Thái Lan đã áp dụng chính sách mới về lúa gạo bằng cách nâng giá thu mua lúa cho nông dân với mức giá cao hơn 50% mức giá trên thị trường, kéo theo giá gạo xuất khẩu và giá lúa gạo Việt Nam và các nước khác cũng tăng cao

Giá cả gạo xuất khẩu trước năm 2011 biến động trong khoảng 350 - 420 USD/tấn; sau khi Chính phủ Thái Lan áp dụng chính sách mới, giá cả gạo xuất khẩu

đã đạt 500 USD/tấn Đây là mức giá rất có lợi cho ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam

*/ Sản xuất ngô:

Ngô ở Việt nam phần lớn được sử dụng làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi và một phần được chế biến thành tinh bột ngô dùng trong công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm Ngô sản xuất trong nước còn thiếu, trong mấy năm gần đây hàng năm nước ta phải nhập từ 300.000 đến 500.000 tấn ngô nguyên liệu Hiện nay, ở Việt Nam nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong nước chỉ đáp ứng được 68-70% so

với nhu cầu, số còn lại phải nhập từ nước ngoài (khoảng 20% nguyên liệu giàu năng lượng, 80% các loại thức ăn bổ sung, 60-70% thức ăn giàu đạm và hơn 90% chất phụ gia), chiếm 45% tổng giá trị nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp

Như vậy, cầu tiêu thụ ngô trong nước còn lớn hơn cung Tuy nhiên, giá cả nhập khẩu ngô không cao, thậm chí nhiều năm còn thấp hơn giá cả trong nước; do vậy, để

có thể tiêu thụ được, sản xuất ngô phải không ngừng gia tăng diện tích ngô cao sản để nâng cao năng suất ngô, hạ giá thành

*/ Gỗ và sản phẩm chế biến từ gỗ:

Thực trạng sản xuất và chế biến lâm sản trong mấy năm gần đây cho thấy ngành sản xuất đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, kim

ngạch xuất khẩu đồ gỗ không ngừng tăng lên (theo báo cáo của Bộ Thương mại):

Năm 2000 kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ chỉ có: 219 triệu USD, đến năm 2005: 1.517 triệu USD, đến nay đạt xấp xỉ: 3.500 triệu USD Sản phẩm gỗ Việt Nam đã xuất khẩu sang 120 nước trên thế giới; trong đó hầu hết các nước tiên tiến đều có tỷ trọng nhập khẩu hàng lâm sản lớn của Việt Nam như: Mỹ, Nhật, Anh, Pháp; hiện tại chiếm gần 60% kim ngạch xuất khẩu hàng lâm sản của Việt Nam Chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam có sức cạnh tranh lớn trên Thế giới bởi giá lao động rẻ và kỹ năng tay nghề khéo léo Nếu việc nhập khẩu gỗ thuận lợi, kết hợp với ván nhân tạo sản xuất trong nước thì kim ngạch xuất khẩu đến năm 2015 có thể đạt 5 tỷ USD

Ngày đăng: 29/10/2016, 21:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w