1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

64 675 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 3,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỊNH NGHĨA DU LỊCH Ngày nay du lịch đang là một ngành kinh tế được sự quan tâm của nhiều người, khái niệm du lịch theo nghĩa rộng là các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn t

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay du lịch đã thực sự trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Bắt nhịp cùng sự đổi mới đất nước hơn 20 năm qua ngành du lịch đã có nhiều tiến bộ và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Những chỉ tiêu về lượng khách, thu nhập, tỷ trọng GDP và việc làm đã khẳng định vai trò của ngành Du lịch trong nền kinh tế quốc dân

Việt Nam là một nước nông nghiệp, diện tích đất đai, sông ngòi lớn nên loại hình du lịch sinh thái đang được chú trọng phát triển với nhiều loại sản phẩm khác nhau để tạo nên một sức hút mới cho ngành du lịch Nước ta có nhiều khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia và đặc biệt nước ta có tới tám khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận, nằm ở khắp các miền của tổ quốc

Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm thuộc địa phận xã Tân Hiệp - thành phố Hội An - Quảng Nam, là nơi vẫn còn lưu giữ nhiều nét hoang sơ của một vùng biển đảo, với nhiều tiềm năng có thể đẩy mạnh phát triển du lịch Quần đảo Cù Lao Chàm gồm 8 hòn đảo lớn nhỏ: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông với tổng diện tích khoảng 15km2 Hiện nay thì tại

Cù Lao Chàm hai đối tượng được lựa chọn bảo vệ đặc biệt là các rạn san hô và loài cua đá đặc hữu của vùng Sự lựa chọn này rất có ý nghĩa bởi bảo vệ cua đá cũng chính là bảo vệ hệ sinh thái rừng liền kề biển, bảo vệ san hô cũng là bảo vệ hệ sinh thái đáy, nước biển và các nguồn lợi thuỷ hải sản khác

Với đặc thù riêng của mình Cù Lao Chàm được định hướng khai thác du lịch song song với việc bảo tồn thiên nhiên, phát triển du lịch bền vững để giữ gìn cảnh quan thiên nhiên và nâng cao đời sống trên đảo

Phát triển du lịch sinh thái bền vững gắn với bảo tồn thiên nhiên được xem là hướng đi chính để Cù Lao Chàm vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn đa dạng sinh học Các hình thức du lịch được khai thác tại Cù Lao Chàm hiện nay chủ yếu là ngắm san hô trên những con tàu đáy kính hoặc khám phá theo hình thức lặn biển, cắm lều trại và mô hình Homestay (du lịch tại nhà) Với hình thức Homestay, khách

du lịch ăn nghỉ tại nhà dân, trải nghiệm cuộc sống dân dã với những sinh hoạt văn hoá và phương thức đánh bắt trên biển truyền thống của dân địa phương

Tuy nhiên, thực trạng phát triển du lịch của Cù Lao Chàm trong những năm qua vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của mình Hoạt động du lịch chủ yếu còn dựa trên cơ sở khai thác các tài nguyên sẵn có, đầu tư cơ

Trang 2

sở vật chất còn ở mức khiêm tốn, thiếu đồng bộ nên chưa có sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách Vì vậy mà việc quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Cù Lao Chàm là hết sức cần thiết và cấp bách

Xuất phát từ thực tiển trên chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm - TP Hội An – Quảng Nam” nhằm góp phần nhỏ bé của mình vào việc

phát triển du lịch nói chung và bảo tồn đa dạng sinh học, giảm thiểu tác động đến môi trường nói riêng

4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Khảo sát thực trạng và tìm hiểu các tiềm năng phát triển du lịch tại Cù Lao Chàm

Khảo sát tình hình dân cư, sự phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội

Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch bền vững nhằm điều chỉnh các hoạt động du lịch, góp phần thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách, mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao mức sống cộng đồng địa phương, bảo vệ môi trường và đảm bảo sự phát triển theo hướng bền vững

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 ĐỊNH NGHĨA DU LỊCH

Ngày nay du lịch đang là một ngành kinh tế được sự quan tâm của nhiều người, khái niệm du lịch theo nghĩa rộng là các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn trong đó du lịch tồn tại và phát triển, tuy nhiên cho đến nay nhiều quan điểm và nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa được thống nhất do mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau mỗi người có mỗi cách hiểu khác nhau về du lịch, và hiện nay có rất nhiều định nghĩa về du lịch, theo một số tổ chức quốc tế và các nhà nghiên cứu từ các góc độ khác nhau đã đưa ra nhiều định nghĩa về du lịch

Du lịch là những hoạt động của con người đi đến nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình trong thời gian rảnh để vui chơi, giải trí, vì công việc hay vì

mục đích khác mà ngoài mục đích kiếm tiền ở nơi mà họ đến [1]

Ngoài ra theo từ điển Bách khoa toàn thư của Việt Nam (1966) thì du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích : nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật

Du lịch còn là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về mặt kinh

tế đồng thời còn nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa

dân tộc [10]

Sự tồn tại và phát triển của du lịch với tư cách là một ngành kinh tế gắn liền với khả năng khai thác tài nguyên, chính vì vậy mà hoạt động du lịch liên quan một cách chặt chẽ với môi trường, du lịch không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho những nơi có những điểm đến hấp dẫn mà còn mang lại cho người tham quan những kiến thức bổ ích mà còn là nơi nghỉ ngơi, thư giản giúp con người thỏa mái sau những ngày dài lao động mệt mỏi Hoạt động du lịch ở một chừng mực nhất định tạo nên một môi trường mới góp phần cải thiện môi trường, bên cạnh nếu việc khai thác, phát triển du lịch không hợp lý có thể là nguyên nhân môi trường bị ô nhiểm, tài nguyên cạn kiệt, suy giảm hiệu quả của chính hoạt động du lịch Do đó một loại hình du lịch mới đã xuất hiện và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của du lịch nhưng vẫn bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến cảnh quan thiên nhiên và đảm bảo phát triển du lịch lâu dài đó là du lịch sinh thái

Trang 4

1.2 KHÁI NIỆM DU LỊCH SINH THÁI

1.2.1 Khái niệm du lịch sinh thái:

Từ thực tế để đảm bảo phát triển lâu dài du lịch nhưng vẫn đảm bảo môi trường không bị ảnh hưởng thì vào năm 1991 khái niệm DLST đã xuất hiện và nội dung cơ bản của nó là đảm bảo môi trường sinh thái không bị ảnh hưởng, và chủ yếu tập trung vào trách nhiệm của con người đối với môi trường Hiện nay thì có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động DLST này và là loại hình du lịch mới đã

và đang có xu hướng phát triển nhanh chóng ở các quốc gia

DLST là loại hình du lịch chủ yếu dựa vào việc khai thác các giá trị tự nhiên gắn với bản sắc văn hóa địa phương, có giáo dục môi trường, có sự tham gia và hổ trợ phát triển cộng đồng, đóng góp cho nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững, đảm bảo lợi ích của cộng đồng địa phương

DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, có tính giáo dục môi trường và đóng góp cho các nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững với

sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương (Hội thảo xây dựng chiến lược quốc

gia về phát triển du lịch sinh thái Việt Nam 9/1999) [17, 12]

1.2.2 Các đặc trưng của DLST:

DLST chủ yếu dựa vào thiên nhiên và nền văn hóa bản địa đặc biệt là ở các khu BTTN bên cạnh đó DLST còn chú trọng vào sự duy trì tự nhiên cũng như nâng cấp và quản lý tài nguyên bền vững nhằm hỗ trợ cho công tác bảo tồn thiên nhiên, giúp cho công tác bảo tồn tốt hơn và đạt hiệu quả hơn, mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương về kinh tế - xã hội cũng như giúp người dân địa phương hiểu rỏ hơn về giá trị của nguồn tài nguyên mình đang có và giúp cho du khách hiểu rỏ hơn

về thiên nhiên cũng như nền văn hóa bản địa

DLST đảm bảo cho nguồn tài nguyên của thế hệ mai sau không bị ảnh hưởng, để thế hệ mai sau có thể thưởng thức nguyên vẹn, đầy đủ các giá trị văn hóa

mà không chịu nhiều ảnh hưởng của du khách hôm nay [19]

1.2.3 Các yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái:

Yêu cầu của DLST là sự tôn trọng sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên và cộng đồng địa phương như ít hoặc không gây ảnh hưởng tới nguồn tài nguyên; thu hút được sự tham gia của các tổ chức, cá nhân, khách du lịch, các công ty du lịch, các cơ quan chính phủ và tổ chức phi chính phủ cũng như cộng đồng địa phương; tạo thu nhập lâu dài, bình đẳng cũng như ổn định cho cộng đồng địa phương cũng như các bên tham gia vào hoạt động du lịch; tạo nguồn tài chính cho công tác bảo tồn; tôn trọng văn hóa và truyền thống của địa phương; nâng cao hiểu biết và khả

Trang 5

năng thưởng thức cũng như sự tham gia vào công tác bảo tồn của khách du lịch [19]

1.2.4 Lợi ích của du lịch đối với công tác bảo tồn:

Du lịch là động lực quan trọng trong việc thiết lập, thúc đẩy và bảo vệ các vườn quốc gia, các khu bảo tồn tự nhiên, đa dạng sinh học

Khoản phí thu từ hoạt động du lịch là nguồn kinh tế dùng để duy trì và bảo

vệ đa dạng sinh học nhằm nâng cao chất lượng du lịch

Tạo điều kiện cho du khách học tập và nâng cao hiểu biết của mình đối với môi trường tự nhiên từ đó làm thay đổi thái độ của họ đối với môi trường và công

tác bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên [5]

Không những thế tại nơi đây người ta còn phát hiện ra nhiều dấu vết về sự giao lưu buôn bán với thuyền các nước Trung Cận Đông, Ấn Độ, Trung Quốc, Đông Nam Á cách đây hơn 1000 năm

Cuối thế kỷ 15 vua Lê Thánh Tông đi chinh phạt người Chiêm Thành các làng Cẩm Phô, Võng Nhi, Thanh Hà đã xuất hiện và không bao lâu tại Cù Lao Chàm đã có cư dân Đại Việt qua lại Sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng đất Quảng Nam (1558-1671), cư dân Đại Việt bắt đầu ồ ạt kéo đến vùng đất này, và việc định cư sinh sống của cư dân Đại Việt ở Hội An và ở Cù Lao Chàm bắt đầu được hình thành và phát triển với tốc độ khá nhanh lập nên làng Tân Hiệp

Đến thế kỷ 19, dân nhập cư liên tục đến đây định cư với đầy đủ các ngành nghề như: khai thác yến, khai thác gỗ, đánh bắt hải sản, cũng như cung cấp nước, củi cho các thuyền buôn đến dừng tại đây

Sau cách mạng tháng Tám 1945 đặc biệt trong những năm chống Mỹ ác liệt,

để tránh đạn bom dân tản cư tại các địa phương như: Duy Xuyên, Điện Bàn, Đại Lộc đều đổ dồn về đây Lập nên Xóm Đình, rồi Xóm Ao và sau đó là Xóm Cấm

Trang 6

Thực sự thì Xóm Cấm đã có cách đây hơn 2000 năm Từ Xóm Đình về phía Nam là Xóm Giữa,đến Xóm Ngoài rồi đến xóm Mới xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ

20 [16]

1.3.2 Vị trí địa lý:

Hình 1.1 Bản đồ Cù Lao Chàm

Nằm ở tọa độ: 15o15’20’’ đến 15o55’15’’ vĩ độ Bắc và 108o22’ đến 108o44’ kinh độ Đông Chỉ cách bờ biển Cửa Đại - Hội An 15km, Cù Lao Chàm là một quần đảo với 8 hòn đảo lớn nhỏ: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Tai, Hòn Nồm, Hòn

Lá, Hòn Khô Mẹ và Hòn Khô Con (trong đó Hòn Lao là hòn đảo lớn nhất và duy nhất có con người sinh sống) với tổng diện tích là 15,5km2 , CLC thuộc phạm vi hành chính xã Tân Hiệp - Tp Hội An - tỉnh Quảng Nam Đây là khu vực tiêu biểu của dải đất miền Trung có vị trí quan trọng về mặt quốc phòng cũng như nơi lánh nạn của các tàu thuyền khi gặp gió bão

Trang 7

1.3.3 Điều kiện tự nhiên:

Hình 1.2 Âu thuyền Hình 1.3 Cầu cảng

(Photo: Quyên)

1.3.3.1 Địa hình, địa chất, địa mạo:

Quần đảo Cù Lao Chàm chủ yếu là vùng đồi núi thấp có dạng hình chóp cụt Hòn Lao là dãi núi chính lớn nhất và được xếp theo hình cánh cung từ Tây Bắc xuống Đông Nam

Cù Lao Chàm là một trong chuổi các khối đá hoa cương hình thành cánh cung Bạch Mã – Hải Vân – Sơn Trà – Cù Lao Chàm – Hòn Ông Điểm nổi bật ở đây là tính đối xứng, hướng Tây Bắc- Đông Nam với sườn Tây Bắc hẹp và dốc đứng, sườn Tây Nam rộng và thoải hơn Bờ biển sườn Đông Bắc với các vách đứng, trơ đá gốc còn bờ biển Tây Nam tạo thành các vịnh nhỏ với tích tụ cát lấp đầy tạo nên những bãi biển dài và đẹp

Lượng mưa trung bình năm:2045mm

Số ngày mưa trung bình năm: 145 ngày

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11 chiếm 80% tổng lượng mưa của năm Từ tháng 2 đến tháng 7 thường có mưa giông

Mùa mưa bão hàng năm vào khoảng tháng 9, 10 và 11

Trang 8

Từ đó ta có thể nhận thấy các yếu tố khí hậu có tính quyết định trong hoạt động du lịch tại đây, mùa du lịch thường bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 9 hằng năm

[12]

1.3.4 Kinh tế - văn hóa – xã hội:

1.3.4.1 Dân số - dân tộc và lao động:

Tổng dân số toàn xã theo thống kê vào năm 2009 là 2.174 người, gồm 588

hộ sinh sống chủ yếu tại Bãi Làng và Bãi Hương, tỷ lệ gia tăng tự nhiên hằng năm

là 1,7 Toàn bộ dân cư sống trên đảo là dân tộc Kinh, không có dân tộc thiểu số khác Dân cư tại đây sinh sống chủ yếu dựa vào nghề khai thác thủy sản Cơ cấu lao động theo các ngành nghề như sau: 75% hộ ngư dân (gồm mành, câu và lưới chài), 15% hộ nông nghiệp, 10% hộ thương nghiệp buôn bán nhỏ

1.3.4.2 Kinh tế - xã hội:

- Về sản xuất:

Sản xuất trên đảo vẫn mang tính tự cung tự cấp, do điều kiện địa chất, địa hình trên đảo với thời tiết chưa thuận lợi nên sản xuất nông nghiệp đặc biệt là trồng lúa nước hiện nay rất ít và hầu như không đảm bảo đủ nhu cầu cung cấp lương thực cho cư dân trên đảo, phần còn lại chủ yếu dựa vào nghề cá nhưng quy mô đánh bắt còn thấp, không đủ khả năng đầu tư để đầu tư thiết bị đánh bắt xa bờ, cho nên sản lượng rất thấp hằng năm đạt khoảng 1000 tấn

- Về thương mại:

Còn khá nhỏ lẻ do các hộ tư nhân và cá thể thực hiện Toàn xã có một chợ mới được xây dựng tại Bãi Làng (186m2), việc mua bán trao đổi đều thực hiện dưới hình thức tự phát, các tiểu thương trên đảo theo tàu vào đất liền mua hàng rồi mang

ra bán lại cho nhân dân trên đảo, đồng thời họ cũng mang các đặc sản từ đảo vào bán lại cho cư dân đất liền (lượng hàng này ít, không đáng kể) và hiện nay trên đảo loại hình phục vụ khách tham quan trên đảo còn ít, nhỏ lẻ, chưa đảm bảo, đây cũng

là nguyên nhân làm cho hoạt động thương mại kém phát triển

- Về văn hóa – giáo dục và y tế:

+ Văn hóa:

Hiện nay trên đảo tồn tại rất nhiều di tích văn hóa như: Bãi Ông, Bãi Làng, giếng xóm Cấm, chùa Hải Tạng, đình Đại Càn, lăng Ngư Ông,…đã vinh dự được

công nhận “ Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia” ngày 13/12/2006

Trong những năm qua trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia Hà Nội đã cùng với TTQLBTDT Hội An, Sở VHTT Quảng Nam phát hiện khai quật di tích khảo cổ, hàng nghìn di vật được lấy lên từ lòng đất tại đảo Cù

Trang 9

Lao Chàm đã làm góp phần thêm cho sự phong phú của bộ sưu tập hiện vật hiện đang được trưng bày tại các bảo tàng ở Hội An

Nếp sống văn hóa tại đây gắn bó hữu cơ với đất liền nó cùng với Cửa Đại – Hội An, Trà Kiệu và Mỹ Sơn theo dòng sông Thu Bồn tạo nên một chuổi liên hoàn của nền văn hóa cực thịnh của nền văn minh Chăm Pa cổ

Hiện nay có 2 tuyến đường chính tại đảo:

Đường quốc phòng (liên xã) đây là công trình của Bộ Quốc Phòng, là tuyến đường cấp phối nhựa quanh đảo hiện nay có một số chổ đã bị hư hỏng nặng do sạt lở đất Đường giao thông nông thôn đã được bê tông hóa và được nhà nước đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách

Du khách tham quan đảo phần lớn là đi bộ, du khách muốn đi từ bãi này qua bãi kia phải đi bộ hoặc đi xe ôm vì tuyến đường thủy qua lại giữa các bãi chưa được

mở, đây là vấn đề bất cập gây cản trở và làm giảm tính hấp dẫn cũng như sức hút

du khách tham quan đảo

Tuyến đường thủy từ Hội An – Cù Lao Chàm mỗi ngày một chuyến với sức chứa từ khoảng 50 -70 chổ ngồi Ngoài ra còn có một đội thuyền du lịch là các cano, dành cho du khách đến thăm đảo trong vòng 1 ngày Cơ sở phục vụ giao thông hiện nay gồm 2 cầu tàu dân dụng, một cầu hiện nay hư hỏng nặng, ngoài ra tại Bãi Hương cũng đã hoàn tất một cầu cảng mới

1.3.5.2 Thông tin liên lạc:

Toàn xã có một bưu điện, lắp đặt 2 mạng điện thoại di động là Viettel và Mobifone, tuy nhiên mạng ở đây còn yếu, chưa đảm bảo yêu cầu, chưa có dịch vụ internet

Trang 10

( Nguồn: UBND xã Tân Hiệp)

Hiện nay duy nhất chỉ có Bãi Hương được lắp đặt thử nghiệm mô hình sử dụng năng lượng mặt trời nhưng còn tùy thuộc vào điều kiện thời tiết, những ngày trời mưa hoặc không có nắng thì không có điện Người dân được sử dụng nguồn điện này miễn phí

- Nước:

Nước được sử dụng tại đây chủ yếu là nguồn nước mặt, nước từ các khe và suối chảy về đã được nhân dân cùng chính quyền và quân đội xây dựng các bể chứa nước, nhưng vào mùa hè thì thiếu nước do các con suối đều cạn kiệt Nước được cấp miễn phí cho người dân [22 ]

1.4 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH:

Tiềm năng du lịch là những cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch

Tài nguyên du lịch được chia làm 2 loại đó là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

Trong nhiều thế kỷ qua Cù Lao Chàm là một cụm đảo có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng vừa là bức bình phong che chắn cho Hội An và Đà Nẵng vừa là nhịp cầu vươn ra biển Đông để giao lưu, hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế,

Trang 11

là một cụm đảo với nguồn tài nguyên phong phú với sự kết hợp hài hòa giữa cảnh

quan và con người tạo nên một nét văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc

Thế nhưng ngày nay, người dân vùng đảo Cù Lao Chàm được sự quan tâm

và giúp đỡ của các cấp chính quyền đã biết phát huy, tận dụng những tiềm năng

cũng như thế mạnh vốn có tại đây để phát triển loại hình du lịch sinh thái tạo nên

một bước đột phá mới cho chính cộng đồng nơi đây nhằm tăng thu nhập cũng như

nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần

1.4.1 Giá trị tài nguyên thiên nhiên:

1.4.1.1 Rừng mưa nhiệt đới:

Cù Lao Chàm là một trong số ít đảo còn giữ được thảm thực vật có độ che

phủ tương đối lớn, khoảng 60-70% Diện tích rừng tự nhiên của CLC là 1.549ha,

với nhiều loại cây gổ quý

Hình 1.4 Cây gỗ lớn trong rừng (Photo: Quyên)

Trãi qua nhiều thay đổi cho đến nay Cù Lao Chàm vẫn được đánh giá là nơi

lưu trữ nhiều nguồn gen động, thực vật quý đó Khỉ đuôi dài và chim Yến là 2 loài

được đưa vào sách đỏ động vật Việt Nam Ngoài ra rừng còn là nơi sinh sống của

cua đá một loại động vật đặc hữu của CLC, loại động vật mà hiện nay đang được

bảo khu bảo tồn Biển vệ nghiêm ngặt, và đó cũng chính là bảo vệ hệ sinh thái rừng

liền kề biển

1.4.1.2 Giá trị tài nguyên biển:

Là một cụm đảo gồm 8 hòn đảo lớn nhỏ mọc thẳng từ lòng biển tạo thành

hình cánh cung, xung quanh các bờ đá của đảo bám đầy các lớp hàu dưới mực thủy

triều cao giống như các lưỡi dao cạo sắc bén

Trang 12

Khu biển Cù Lao Chàm với 5157ha mặt nước gồm có san hô, cỏ biển, rong biển, động vật thân mềm, tôm hùm, cá rạn san hô và nhiều loại hải sản quý hiếm khác

1.4.1.3 Yến sào:

Yến có tên khoa học là Collocalia francica sinh sống trong các hang của bờ

Đông đảo Cù Lao Chàm và một số hòn khác như: Hòn Tai, Hòn Khô, Hòn Lá và

Hòn Ông Theo ước tính quần thể này khoảng chừng 100000 con [12 ]

1.4.2 Giá trị tài nguyên nhân văn:

Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch

1.4.2.1 Các di sản văn hóa:

Hiện nay tại CLC có rất nhiều các di tích, di chỉ do người Chăm Pa cũ để lại, cũng như một số di tích do người dân CLC bao đời nay sinh sống tại đây trãi qua các biến cố lịch sử đã xây dựng nên những công trình với những kiến trúc độc đáo Một số di tích đã được Bộ VHTT xếp hạng di tích quốc gia vào 13/12/2006, đã làm tăng thêm giá trị văn hóa cũng như đời sống tinh thần của người dân nơi đây, và là điểm đến lý tưởng cho các du khách am hiểu về kiến trúc nghệ thuật dân gian cũng như có niềm đam mê với văn hóa Việt

- Lăng Ngư Ông

- Lăng Hiệp Hòa ( Lăng Bà – Lăng Ngũ Hành)

- Lăng Thành Hoàng

- Lăng Cô

- Lăng tổ nghề Yến

Trang 13

- Lăng Ngũ Hành ( Bãi Hương )

- Di tích, dấu tích cách mạng [21]

Hình 1.5 Lăng Bà Mụ Hình 1.6 Chùa Hải Tạng

(Photo: Quyên)

1.4.2.2 Các di sản văn hóa phi vật thể:

Khi đến với Cù Lao Chàm du khách không những bị thu hút bởi cảnh quan thiên nhiên đẹp và hoang sơ mà còn bị thu hút bởi những giá trị văn hóa tinh thần, các hình thức văn hóa phi vật thể vốn được bảo lưu bền bỉ, thầm lặng, sâu kín trong cuộc sống đời thường qua các thế hệ của dân cư vùng đảo Đó là sự bảo lưu mạnh

mẽ các yếu tố về ngữ âm, từ vựng dân gian, những câu tục ngữ, ca dao nói về đặc điểm Cù Lao Chàm, về kinh nghiệm xã hội, ngành nghề, tâm tư tình cảm của người dân nơi đây, những truyền thuyết, truyện kể dân gian về sự khởi nguyên, tạo lập vùng đảo, hiện tượng tự nhiên như sóng gió, bão tố, lốc,…về các địa danh, con suối, hòn đảo,…về sự ra đời của chim Yến, những hình thức diễn xướng dân gian như hát

ru, hát hò khoan, điệu hò, lý, hát bả trạo,…liên quan đến đời sống sông nước, biển đảo, các lễ hội, trò chơi, dân gian thể hiện sự đa dạng về nguồn gốc văn hóa, tín ngưỡng, nếp ẩm thực

Một số truyền thuyết mang đậm tính dân gian như: truyền thuyết về Cù Lao Chàm, Đá Chồng, Bãi Hương, lăng Bà Hồng, chùa Hải Tạng, suối Tình, eo Gió,…

Lễ hội truyền thống như: lễ hội cầu Ngư, giỗ tổ nghề Yến,…

Ẩm thực ở Cù Lao Chàm : gỏi cá, lẩu cá ăn với nước chấm pha từ gan cá, nước mắm tại chổ và những hương liệu, gia vị riêng tạo nên món ăn độc đáo Ngoài

ra khi du khách đến đây còn được thưởng thức những hương vị đặc trưng mà chỉ ở

Cù Lao Chàm mới có như: rau rừng luộc, bánh canh cua đá, ốc vú nàng trộn, bánh ít

lá gai Cù Lao Chàm, nước lá rừng,…

Trang 14

Đó là cách thích nghi với môi trường tự nhiên, xã hội để tồn tại và phát triển của cộng đồng dân cư nơi này, là nếp sống trọng tình nghĩa, sẵn sàng chia sẽ những kinh nghiệm, giúp nhau lúc hoạn nạn,….đã góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú

của dân tộc Việt Nam [20]

1.5 VÀI NÉT VỀ KHU BẢO TỒN BIỂN CÙ LAO CHÀM:

Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm được thành lập ngày 20/12/2005 theo quyết định số 88/2005/QĐ-UBND của UBND tỉnh Quảng Nam , nhằm mục đích bảo tồn

đa dạng sinh học biển, bảo vệ và sử dụng hợp lý các hệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, bảo tồn các giá trị văn hóa – lịch sử, phục vụ phát triển bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm

Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm ra đời là sản phẩm của dự án Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, một kết quả được ký kết giữa 2 quốc gia Việt Nam và Đan Mạch về hổ trợ xây dựng một khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm

Dự án với mục tiêu là:

Xây dựng một khu bảo tồn biển tại Cù Lao Chàm với mục đích lâu dài là: bảo tồn nguồn lợi tài nguyên thiên, văn hóa và lịch sử của cụm đảo Sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, lịch sử của Cù Lao Chàm cho việc phát triển kinh tế xã hội ở đây

Nâng cao nhận thức thi hành pháp luật, quản lý bền vững khu bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng

Xây dựng các cơ chế, chính sách và năng lực quản lý cộng đồng nhằm quản lý khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm trong hệ thống các khu bảo tồn biển quốc gia

Đề xuất các biện pháp nâng cao điều kiện sống cho nhân dân trên quần đảo Cù Lao

Chàm thông qua các cộng đồng địa phương và các đoàn thể [5 ]

Trang 15

Hình 1.7 Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm (Photo: Quyên)

Trang 16

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Cộng đồng địa phương xã Tân Hiệp

- Khách du lịch

2.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU:

Các điểm du lịch tại xã đảo Cù Lao Chàm

2.3 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Từ tháng 11/2010 đến 23/05/2011

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Là phương pháp cơ bản được tiến hành xuyên suốt trong quá trình làm khóa luận, nguồn tài liệu chủ yếu được tham khảo từ nguồn thứ cấp, là các tài liệu giảng dạy của các thầy cô, những khóa luận tốt nghiệp trước đây và những tư liệu từ internet để định hướng và xác định mục tiêu của đề tài

Nguồn thông tin được cung cấp thừ Ban quản lý Du lịch Cù Lao Chàm, đây

là nguồn tài quan trọng nhằm xác định số lượng du khách đến tham quan, tạo cơ sở cho quá trình khảo sát tiềm hiểu tình hình phát triển du lịch

Tiếp theo là các thông tin từ các hộ gia đình hoạt động dịch vụ homstay tại Bãi Hương đã giúp tôi nắm rỏ hơn về tình hình du lịch tại đây

Và nguồn tài liệu nhằm xác định các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn hiện hữu nhằm phục vụ cho quá trình tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch

Các văn bản pháp quy về phát triển du lịch, các tư liệu về hoạt động du lịch sinh thái, mô hình phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam và trên thế giới

Đây là những cơ sở dữ liệu giúp tôi có cái nhìn toàn diện hơn và giúp tôi đề

ra các giải pháp nhằm phát triển mạnh hoạt động du lịch mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương

Trang 17

2.4.2 Phương pháp bản đồ:

Đây là phương tiện nhằm xác định các vị trí, các điểm du lịch trên cơ sở đó

có thể đánh giá được những mặt thuận lợi và khó khăn của hoạt động du lịch, đồng thời có thể đưa ra các biện pháp tận dụng những ưu thế để khắc phục những khó khăn

Trong quá trình khảo sát thì tôi tiến hành quan sát và thu thập số liệu cũng như những hình ảnh về tình hình du lịch, cũng như nếp sinh hoạt hằng ngày của cư dân vùng đảo Cù Lao Chàm và tình hình vệ sinh môi trường tại đây

Trong đợt khảo sát này thì tôi cũng xem xét đến sự quan tâm của cộng đồng địa phương cũng như chính quyền địa phương về hoạt động du lịch cũng như bảo tồn các di tích, các văn hóa lễ hội truyền thống

2.4.3 Phương pháp khảo sát thực địa:

Là phương pháp tiếp cận trực tiếp, rỏ ràng và thực tế nhất giúp tôi biết được thực trạng và hướng đi của đề tài, công tác khảo sát được chia làm 2 đợt:

Bảng 2.1: Bảng nội dung hai đợt khảo sát thực địa tại Cù Lao Chàm:

Đợt 1 (22/02-02/03/2011) - Tìm hiểu các tiềm năng du lịch tại2

thôn Bãi Ông và Bãi Làng

- Tham quan khảo sát các địa điểm du lịch tại Bãi Làng và Bãi Ông

Đợt 2 (14/03-22/03/2011) - Tham quan khảo sát các địa điểm du

lịch tại Bãi Hương

- Tìm hiểu dịch vụ homstay tại Bãi Hương

- Tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch tại Bãi Hương

2.4.4 Phương pháp điều tra xã hội học:

Đây là phương pháp quan trọng nhất trong quá trình thực hiện khóa luận, được thực hiện bằng bảng câu hỏi

Quá trình này được tiến hành gồm 3 bước: xác định đối tượng, xác định số phiếu và thành lập bảng câu hỏi

Đối tượng được hỏi trong quá trình điều tra gồm: người dân địa phương và khách du lịch nhưng do quá trình thực tập từ tháng 2 đến cuối tháng 4 mà trong thời

Trang 18

điểm này lượng khách chưa nhiều và điều kiện thời tiết cho nên quá trình phỏng vấn điều tra khách du lịch gặp nhiều khó khăn

2.4.5 Phân tích số liệu:

Bảng 2.2 Các bước xử lý dữ liệu:

2.5 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CÙ LAO CHÀM

Để có được những giải pháp và định hướng cho hoạt động du lịch sinh thái tại Cù Lao Chàm trong những năm tới đồng thời lôi kéo người dân cùng tham gia trong hoạt động này thì 2 phương pháp PRA được sử dụng đó là phương pháp ma trận SWOT, phương pháp lịch thời vụ

Mã hóa

Phát triển khung phân tích

Phân tích

Trang 19

Bảng 2.3 Khung phân tích hoạt động du lịch sinh thái:

2.5.2 Phương pháp SWOT:

SWOT là một công cụ thu thập một số nhận xét và dự báo hữu ích cho việc

hoạch định từ các tham dự viên của một nhóm

Luật và chính sách của địa phương về hoạt động du lịch Môi trường

HOẠT ĐỘNG

DU LỊCH SINH THÁI

Khách du lịch

Cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch

Các cơ quan chức năng liên quan

Dịch vụ lưu trú

Trang 20

SWOT giúp xác định những thuận lợi và bất lợi bằng cách phân tích những ảnh hưởng "bên trong" (mặt mạnh, mặt yếu) và những ảnh hưởng "bên ngoài" (cơ hội, rủi ro) mà nó gây tác động đến tiến trình phát triển

SWOT là chữ ghép của Mặt mạnh (Strengths), Mặt yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities) và Thách thức (Threats) được minh họa ở bảng sau:

Bảng 2.4 Bảng minh họa công cụ SWOT:

2.5.3 Lịch thời vụ:

Qua lịch thời vụ ta có thể biết được những mùa nào có thể phát triển mạnh

du lịch, mùa nào gặp khó khăn do thời tiết từ đó có thể đưa ra những hướng khắc phục Bảng lịch thời vụ được minh họa như sau:

Bảng 2.5 Bảng minh họa lịch thời vụ:

Trang 21

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN

3.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT TIỀM NĂNG DU LỊCH TẠI CÙ LAO CHÀM:

Trong quá trình khảo sát thực tế tôi đã nhận thấy được những tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái CLC bền vững, ngoài những tiềm năng sẵn có như những danh lam thắng cảnh, bãi biển, núi rừng, hay những dịch vụ du lịch như lặn ngắm san hô, homstay, câu cá,… Thì bên cạnh đó còn rất nhiều tiềm năng gắn liền với nếp sống văn hóa của người dân bản địa, thấm nhuần văn hóa truyền thống của người Việt Cũng chính vì thế mà trong những năm gần đây số lượng du khách đến CLC tăng đáng kể

3.1.1 Văn hóa ẩm thực:

Nếp ẩm thực luôn gắn liền với đời sống người dân vùng đảo, những món ăn được chế biến từ nguồn hải sản dưới biển, hay những cây rau trên rừng, đã tạo nên một nét riêng đặc trưng cho văn hóa Hội An nói chung và Cù Lao Chàm nói riêng Những món ăn này đã đi sâu vào trong lòng du khách mỗi khi đến đây Đến đây du khách ngoài việc được trực tiếp thưởng thức những món ăn này thì còn có thể mua

về làm quà cho bạn bè, người thân

- Rau rừng:

Hình 3.1: Rau rừng (Photo: Quyên)

Khi nghe đến cụm từ rau rừng Cù Lao Chàm nhiều du khách tò mò muốn biết nó như thế nào, quả thật rau rừng Cù Lao Chàm rất ngon nó có vị thơm, ăn vào

Trang 22

có đủ các vị đắng, chua, ngọt và cay vì nó bao gồm hơn 20 loại cây có trong rừng

Cù Lao Chàm

Rau được người dân hái trên núi cao, vào những buổi sáng sớm để khi về cho kịp buổi chợ hoặc buổi đò chợ Ăn những dĩa rau thơm ngon nhưng ít ai biết đến công sức của người hái đã khổ cực leo lên những ngọn núi cao để tìm cho được những ngọn rau non và ngon

Rau rừng thường ăn với mắm cái Cù Lao là món ăn mà du khách không thể nào quên khi đến đây, bởi nó được hái từ núi cao, không hề sử dụng một loại thuốc trừ sâu hay bảo vệ thực vật nào, theo người dân ở đây rau rừng là một loại dược liệu

có thể chữa được các loại bệnh về đường tiêu hóa

Hiện nay rau rừng rất được nhiều người hái và hái thường xuyên điều này không tránh khỏi việc hái đi hái lại một khu vực làm cho chất lượng rau không còn nguyên vị Vì vậy nhóm người hái rau rừng này nên có một giải pháp là quy định ngày hái và chổ hái để tránh lặp đi lặp lại nơi hái, nâng cao chất lượng rau rừng để thu hút được nhiều du khách hơn

- Nước lá Lao:

Tại đảo hầu như tất cả mọi nhà đều sử dụng nước lá để uống thay cho nước trà hay nước chè như trong đất liền Nước lá có vị thơm, ngọt theo người dân tại đây thì nước lá có công dụng giúp tinh thần sảng khoái, ăn ngủ ngon giấc

Cũng giống như rau rừng hằng ngày người dân trên đảo phải leo lên những ngọn núi cao hay vào sâu trong rừng để tìm được những loại cây này về chặt nhỏ, phơi khô để dành uống dần hoặc bán cho những khách du lịch có nhu cầu Đây cũng

là một mô hình sinh kế thay thế của cư dân vùng đảo, nếu họ biết khai thác hợp lý Theo một số người dân thường xuyên đi rừng thì hiện nay trên đảo đã vắng bóng một số loại cây thuốc quý

- Cua đá:

Cua đá là một trong những động vật biển quan trọng của hệ sinh thái rừng – biển liền kề Cua đá gắn liền với cuộc sống của người dân đảo từ bao đời nay, trước đây khi du lịch chưa phát triển thì người dân ở đây thường bắt cua đá để làm thức

ăn trong gia đình hoặc mang vào đất liền để làm quà biếu người thân Ngày nay khi

du lịch phát triển nhu cầu của khách du lịch càng tăng, họ đã ra tới tận đảo để được thưởng thức cua đá món đặc sản nổi tiếng, cũng chính vì vậy mà nhiều người đua nhau đi bắt cua đá, kể cả trong mùa sinh sản làm cho số lượng cua đá ngày càng suy giảm nghiêm trọng Người dân thường đi theo nhóm và thường đi vào ban đêm, cua

đá bắt được người dân địa phương bán cho các nhà hàng, quán ăn để chế biến cho

Trang 23

du khách, một số khách mua trực tiếp, và từ đó mà giá cua đá tăng lên đáng kể, góp phần làm tăng sinh kế của người dân

Hiện nay số lượng cua đá đã bị suy giảm nghiêm trọng chính vì thế mà hội nông dân xã Tân Hiệp đã thành lập dự án phục hồi tự nhiên và khai thác bền vững cua đá Cù Lao Chàm đã được thực hiện và được người dân đảo Cù Lao Chàm chấp hành tương đối tốt

- Ốc Vú Nàng:

Ốc Vú Nàng có chóp nón vỏ ngoài màu đen xám, mặt trong lấp lánh xà cừ,

là một loại đặc sản của vùng duyên hải miền Trung Theo người dân ở đây sở dĩ có tên gọi này bởi trông nó rất giống đôi gò bồng của các cô thiếu nữ Đặc biệt mỗi khi chạm tay vào thân ốc màu vàng pha xanh thì chúng lập tức chuyển sang sắc hồng e

lệ Người dân ở đây đã bao đời gắn bó với tên gọi này và đã chế tạo ra các món ăn ngon từ thịt ốc, là món ăn dùng để chiêu đãi khách quý

Chỉ với tên gọi thôi thì loài ốc này đã khiến nhiều người tò mò muốn tìm hiểu và lại càng không thể bỏ qua món đặc sản này bởi thịt của loại ốc này rất săn, giòn, không quá mềm và rất ngọt Du khách nào muốn tự tay tìm và cạy loại ốc này thì nên đi dọc quanh các ghềnh đá trên các bãi biển lúc thủy triều xuống ta có thể thấy rỏ những con ốc Vú Nàng đang bám trên những tảng đá, đặc biệt vào những ngày trăng tròn chúng xuất hiện nhiều vô kể Người bắt phải chịu khó ngâm mình trong nước đi theo các ghềnh đá dùng dao tách từng con ốc đang bám chặt vào tảng

đá bằng lớp da bụng mềm mại của mình Những con ốc to bằng vài ngón tay cũng

có thể lên tới nữa bàn tay

Thịt ốc Vú Nàng màu trắng đục được luộc nguyên con sau đó tách vỏ rồi rửa sạch lại với nước sôi để trôi đi những hạt cát bám vào thịt ốc Người ta có thể dùng

ốc luộc để ăn với muối tiêu chanh hoặc làm món trộn

Nếu du khách không thể tự tay bắt những con ốc Vú Nàng này thì có thể thưởng thức nó tại các nhà hàng ở Cù Lao

Hình 3.2 Ốc Vú Nàng

Trang 24

3.1.2 Con đường sinh thái:

Khi đặt chân lên Cù Lao Chàm nhiều du khách tỏ ra ngạc nhiên khi nhìn thấy phong cảnh núi non hùng vỹ, hứa hẹn cho một cuộc thám hiểm rừng núi đầy thú vị

Đặt chân lên cầu cảng, du khách sẽ được các nhân viên của ban quản lý du lịch đón tiếp nồng nhiệt và được hướng dẫn những địa chỉ để du khách có thể tham quan Rời nhà đón tiếp của BQL du lịch du khách có thể ghé vào thăm khu Bảo tồn biển, nơi đây trưng bày rất nhiều hình ảnh cũng như những hiện vật mô phỏng về

Cù Lao Chàm như: hình ảnh về đời sống, sản xuất của người dân tại đây, những hiện vật được mô phỏng như: cua đá, ốc, võng ngô đồng,…

Ngoài ra nơi đây còn giới thiệu về những đề tài nghiên cứu, hay các mô hình

về rau sạch, bioga,… có sự tham gia của các chuyên gia, cộng tác viên nước ngoài

Hình 3.3 Khách du lịch tham quan Khu bảo tồn (Photo Quyên)

Không những thế du khách còn được nghe giới thiệu về quá trình thành lập của Khu bảo tồn cũng như công tác và nhiệm vụ của bảo tồn trong việc bảo vệ sinh quyển và nâng cao sinh kế tại đây

Du khách có thể đi dọc theo con đường bê tông đến tham quan âu thuyền, đây là nơi tập trung ghe thuyền của các ngư dân và là nơi neo đậu của tàu thuyền tránh bão, tại đây hàng ngày có khoảng vài chục chiếc ghe của ngư dân 2 thôn đó là thôn Cấm và thôn Bãi Ông

Trang 25

Hình 3.4 Âu Thuyền (Photo Quyên)

Tiếp tục cuộc hành trình của mình du khách ghé thăm giếng Cấm, là một giếng cổ của người Chăm Pa để lại với kiểu dáng kiến trúc độc đáo, người dân nơi đây đã dùng nước tại giếng này để sinh hoạt Bởi đây là giếng nước ngọt, rất nhiều nước trong và mát, là nơi xưa kia các tàu thuyền đi buôn của các nước ghé lại đây

để lấy nước ngọt để tiếp tục cho cuộc hành trình của mình

Hình 3.5 Giếng xóm Cấm

(Photo Quyên)

Khi đứng trước cánh đồng lúa nơi đây nhiều du khách không khỏi ngạc nhiên đặt ra câu hỏi “Nơi đây cũng trồng được lúa à ?” đúng vậy từ xa xưa tại đây người ta đã đắp đá thành ruộng bậc thang để trồng lúa nhằm cung cấp lương thực cho chính cư dân tại đây Tuy trồng lúa nước không nhiều nhưng cũng đủ ăn trong

Trang 26

gia đình và chỉ vài hộ trồng nhưng người dân ở đây không hề sử dụng các loại thuốc Bảo vệ thực vật, vì thế cho nên môi trường ở đây không hề bị ô nhiễm bởi các loại thuốc Bảo vệ thực vật

Hình 3.6 Cánh đồng lúa Cù Lao Chàm (Photo Quyên)

Đứng trước thửa ruộng thơm mùi lúa chín du khách không khỏi bồi hồi nhớ

về cảnh làng quê trong đất liền, khi vừa trãi qua cuộc hành trình dài từ đất liền đến với đảo được nghe mùi mặn của biển cả đến đây lại nghe mùi thơm của lúa chín Điều mà có lẻ không một điểm du lịch nào có được

Hình 3.7 Những thửa ruộng chín vàng trên đảo

(Photo Quyên)

Trang 27

Dọc theo ruộng lúa chín vàng là đến Chùa Hải Tạng và tịnh xá Ngọc Tuyền, chùa Hải Tạng với công trình kiến trúc cổ đại là nơi dành cho những ai có niềm đam mê với những văn hóa cổ đại Toàn bộ nếp nhà chính có hệ vì kèo kết cấu kiểu

“ Vài trính Chồng – Trụ đội” chia làm 3 lòng Ở phần đỡ mái hiên được cách điệu

thành hình lồng đèn với thân chạm hình hoa lá, đầu được chạm thành những cánh sen lật, đỡ thẳng lên đòn tay dưới chạm nổi hình đầu rồng Bên trong chùa thờ Đức Phật uy nghi với tượng đúc bằng đồng, 2 bên là tượng quan âm cùng các vị thánh

Ngoài hiên góc bên phải là nơi để chuông, chuông này được đúc từ thời vua Cảnh Hưng 19, mỗi khi đánh chuông tiếng của nó có thể vang xa 18km Khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta dân cư tại đây sợ chuông lọt vào tay bọn thực dân

đã mang chuông chôn vào lòng đất có lẻ vì thế mà ngày nay chuông khôn còn được vang xa như trước kia Cứ mỗi lần lể hội hay vào những ngày rằm, mồng một chuông vẫn được ngân lên Tương truyền rằng ngôi chùa này rất linh thiêng vì đây

là nơi hội tụ của các vong hồn bị tử nạn trong gió bão về đây để cầu mong được sự siêu thoát, mỗi người chúng ta khi đến đây đều cảm nhận được sự thanh thản, những âu lo của cuộc sống đời thường như được vơi bớt đi

Hình 3.8 Một góc Chùa Hải Tạng (Photo Quyên)

Trang 28

Tại đây du khách còn được vợ chồng ông Từ giữ chùa đón tiếp nồng nhiệt bởi món nước là Lao, đặc sản của vùng đảo này Du khách còn có thể được nghe ông bà kể về sự tích của ngôi chùa này, vì ông bà đã có hơn 20 năm canh giữ chùa này

Đoạn đường từ 200m trở xuống, du khách có thể tham quan, thám hiểm phong cảnh núi rừng Phía trên hiện nay có rất nhiều tiềm năng để phát triển loại hình du lịch này nhưng chưa được khai thác đưa vào sử dụng

Nếu có dịp du khách có thể tự mình trải nghiệm và khám phá những vẻ đẹp của đảo

từ trên cao với đoạn đường dài từ Bãi Làng đến Bãi Hương, nhìn từ trên cao xuống Bãi Chồng, Bãi Bìm đẹp và thơ mộng trong hàng dừa cong chạy quanh bãi, trên đường đi chúng ta có thể bắt gặp những chú sóc đang chuyền từ cây này sang cây khác hay những con bướm đang bay lượn trên những bông hoa dại Vào buổi sáng sớm ta có thể bắt gặp những chú khỉ đuôi dài là một trong 2 loài động vật có tên trong sách đỏ Việt Nam

Ngoài ra vào mùa hè khi du khách đến với Cù Lao Chàm có thể thấy nơi đây tràn ngập trong sắc tím của hoa sim, hoa mua tạo nên một vẻ đẹp thật thơ mộng

Hình 3.9 Đường nhựa quanh đảo (Photo Quyên) 3.1.3 Cù Lao Chàm – đảo không bao nilon:

Trong quá trình khảo sát và tìm hiểu thì hiện nay các bãi biển tại CLC không

hề có dấu hiệu của ô nhiễm, các bãi biển trong xanh có thể phục vụ tốt cho hoạt động du lịch

Trang 29

Ngày 21/ 05/2009 Cù Lao Chàm nói không với túi nilon đã được người dân địa phương tại đây hưởng ứng và chấp hành nghiêm chỉnh, không còn tình trạng sử dụng bao nilon bừa bãi

Hiện nay tại đảo đã thành lập tổ vệ sinh gồm 8 người nhằm thu gom rác tại đây và vận chuyển vào đất liền

Người dân tại đây phần lớn đã ý thức được việc giữ gìn vệ sinh môi trường cho nên không còn tình trạng vức rác bừa bãi ra các bãi biển gây mất cảnh quan Họ cho rằng chỉ có giữ được biển xanh, đảo sạch thì mới có thể phát triển mạnh du lịch

và mang lại lợi ích cao Hầu hết tất cả mọi người từ lớn đến nhỏ, già đến trẻ hầu hết đều không sử dụng túi nilon mà thay vào đó là những túi giấy xinh xắn Vì thế mà hầu hết các bãi biển trên đảo không hề có dấu tích của những vỏ bao nilon

Ngoài ra thì các công ty du lịch khi tổ chức tour đến đây thì cũng đã giới thiệu cho du khách về quy định không sử dụng túi nilon tại đảo thế nhưng khi du khách dến với CLC vẫn không thể không ngạc nhiên bởi người dân tại đảo chấp hành rất tốt quy định này, không những thế người dân ở đây còn nhiệt tình giúp du khách hiểu rỏ hơn về phong trào này Điều mà thu hút du khách nhất có lẻ là những khẩu hiệu, hay những tấm bảng nói không với túi nilon, hơn 600 hộ gia đình tại đây

đã đồng lòng với nhau cùng giữ cho đảo xanh sạch đẹp bằng một việc làm hết sức nhỏ nhoi đó là sử dụng giỏ nhựa để đi chợ thay cho túi nilon Tại chợ Tân Hiệp còn

có một tấm bảng với khẩu hiệu : “ Xách giỏ đi chợ - phong cách của người nội trợ”

đã đủ thấy quyết tâm của chính quyền địa phương cũng như người dân tại đây về việc sử dụng túi nilon

3.1.4 Một số tiềm năng phát triển du lịch khác:

a) Tiềm năng du lịch tự nhiên:

Cù Lao Chàm là một biển đảo với nhiều nguồn tài nguyên đã được trình bày

ở trên, nơi đây có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú với sự kết hợp hài hòa giữa rừng và biển tạo ra một khu vực với tính đa dạng sinh học cao

Việc xác định các tiềm năng để phát triển du lịch thì cần phải kết hợp với nhiều yếu tố, việc này cũng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư xây dựng các điểm du lịch tại địa phương

- Vị trí địa lý:

Cù Lao Chàm tuy là một cụm đảo nhưng nằm ở vị trí rất thuận lợi từ phố cổ Hội An chúng ta chỉ mất khoảng 30 phút để đi bằng tàu cao tốc và hơn 2 tiếng để đi bằng tàu đò

Trang 30

Hình 3.10 Sơ đồ phân bố khu du lịch

áp, mùa hạ mát dịu ít khô nóng của gió tây phơn Nam

Vùng biển có những đặc tính khí tượng thủy văn với chế độ phân gió thành 2 mùa rỏ rệt, gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau với tốc độ 15 – 20 m/s, gió mùa hè theo hướng Đông và Đông Nam với những trận bão và áp thấp nên tốc độ gió rất cao 40 m/s

Phụ thuộc vào chế độ gió nên chế độ sóng ở đây cũng chia làm 2, sóng vào màu đông cao từ 1.5 – 3 m ngoài khơi và 1,5 m ven bờ, sóng mùa hè nhỏ

- Sinh vật:

Khi du lịch sinh thái phát triển thì đòi hỏi nhu cầu thị hiếu của con người cũng tăng lên, ngày nay du khách thường thích đến những nơi còn hoang sơ, động thực vật còn nhiều và phong phú Hiện tại Cù Lao Chàm được đánh giá là nơi vẫn còn lưu giữ được nhiều nét hoang sơ, chưa chịu ảnh hưởng nhiều của quá trình đô thị hóa

Khu du lịch

Khu du lịch

Khu du lịch

Trang 31

- Bãi biển:

Hiện nay tại Cù Lao Chàm có các bãi tắm thu hút được nhiều du khách ghé thăm đó là Bãi Bấc (có 4 bãi nhỏ), Bãi Ông, Bãi Xếp (3 bãi nhỏ), Bãi Chồng và Bãi Bìm Các bãi biển này đều nằm ở vị trí thuận lợi, dễ dàng tiếp cận, có chiều rộng phổ biến là 20m, các bãi biển ở đây đều được ngăn cách bởi các triều bãi đá Bãi biển ở đây hầu hết đều sạch, nước trong xanh và mát lạnh, cảnh quan xung quanh khá đẹp với các hàng dừa, hình tượng đá, làm cho cảnh vật nơi đây thật nên thơ

Thuận lợi cho việc phát triển và xây dựng các mô hình thể thao, vì nơi đây

có bãi biển rộng

Hình 3.11 Bãi Ông Hình 3.12 Bãi Chồng

(Photo: Quyên) b) Tiềm năng du lịch nhân văn:

- Di tích lịch sử:

Hiện tại Cù Lao Chàm có nhiều di tích được xếp hạng di tích quốc gia đó là: di tích Bãi Ông, di chỉ Bãi Làng, chùa Hải Tạng, giếng Xóm Cấm, lăng Ngư Ông, đình Tiền Hiền, miếu Tổ nghề Yến,… Các di tích này đã minh chứng cho sự hưng thịnh của người Champa và người Việt cổ, nó gắn liền với đời sống của cộng đồng địa phương, tại đây ta có thể cảm nhận được nền văn hóa đương đại kết hợp hài hòa với văn hóa Champa và văn hóa cổ xưa của người Việt Nam Môi trường tại các khu di tích tương đối sạch sẽ để lại nhiều ấn tượng cho du khách

- Lễ hội truyền thống:

+ Lễ giỗ tổ nghề Yến: được tổ chức tại miếu tổ nghề Yến ở thôn Bãi Hương vào ngày mùng 10/03 âm lịch hằng năm, lễ hội này diển ra theo các nghi thức truyền thống với hi vọng sẽ có một mùa bội thu thắng lợi

+ Lễ cầu Ngư: hằng năm vào những ngày trước vụ cá ngư dân ở đây thường tổ chức các lễ cúng tại lăng cá Ông với mục đích cầu mong xóm làng bình

Trang 32

yên, người ra khơi được thuận buồm xuôi gió, đánh bắt được nhiều hải sản Đây là

lể hội truyền thống gắn liền với tín ngưỡng sông nước của đại đa số người dân Cù Lao Chàm vì họ chủ yếu sống dựa vào nghề biển

- Làng chài truyền thống Cù Lao Chàm:

Hình 3.13 Nghề đan lưới truyền thống

(Photo: Quyên)

Ngư dân ở đây chủ yếu là đánh bắt gần bờ cho nên lưới dùng để đánh bắt

là các loại lưới nhỏ và mảnh, hằng ngày sau giờ đánh bắt người dân ở đây tiếp tục công việc của mình là đan lưới, vá lưới, sơn sửa tàu thuyền, chế biến thực phẩm,…các ngành nghề này gắn liền với các làng chài Việt Nam từ bao đời nay, và cho đến nay tại Cù Lao Chàm thì các làng chài vẫn còn được giữ hầu như là nguyên vẹn tính đặc trưng của nó, đã và đang tạo nên nhiều ấn tượng tốt đẹp cho du khách trong và ngoài nước khi tham quan tìm hiểu về nơi này

- Nếp sống văn hóa của cư dân Cù Lao Chàm:

Người dân Cù Lao Chàm bao đời nay sống gắn bó thân thiện với nhau sống với nhau có nghĩa có tình, cùng nhau vượt qua mọi hoạn nạn, sẽ chia với nhau từng

mẻ cá mới keo, tất cả đều thể hiện nếp văn hóa, bản sắc dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay, luôn gắn bó với nhau trong mọi hoàn cảnh

Các giá trị văn hóa tinh thần, các hình thái văn hóa phi vật thể được người dân tại đây bảo lưu một cách bền bỉ trong cuộc sống đời thường của các thế hệ dân

cư trên đảo Về ngôn ngữ dân gian: các yếu tố về ngữ âm, từ vựng dân gian mà ta khi mới lần đầu tiếp xúc sẽ cảm thấy khó nghe như: “ cúi” biến thành “cụi”, và ngược lại,…Về văn học dân gian: rất phong phú, đó là những câu ca dao tục ngữ nói về đặc điểm của CLC, về kinh nghiệm nghề nghiệp, tình cảm của con người nơi đây, những truyền thuyết truyện kể dân gian về con suối, địa danh, hòn đảo, bãi biển như suối Tình, Bãi Hương,….Chúng thể hiện nhiều khía cạnh về đời sống tinh

Ngày đăng: 29/10/2016, 17:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Văn Cần, 2008. Thu hút vốn đầu tư để phát triển du lịch Khánh Hòa đến năm 2020. Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường ĐH kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút vốn đầu tư để phát triển du lịch Khánh Hòa đến năm 2020
2. Nguyễn Hữu Đại và Phạm Viết Tích, 2007. Gắn kết bảo tồn đất ngập nước hạ lưu sông Thu Bồn và khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm. Tạp chí Khoa học và Sáng tạo số 57 tháng 10/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gắn kết bảo tồn đất ngập nước hạ lưu sông Thu Bồn và khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm
3. Ts. Nguyễn Đình Hòa, Du lịch sinh thái – thực trạng và giải pháp để phát triển ở Việt Nam, ĐH Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái – thực trạng và giải pháp để phát triển ở Việt Nam
4. Phú Văn Hẳn, Phát triển Du lịch văn hóa dân tộc Tây Nguyên. Viện KHXH Vùng Nam Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển Du lịch văn hóa dân tộc Tây Nguyên
5. Ánh Hồng, 2010. Khảo sát lợi ích cộng đồng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động du lịch sinh thái tại quần đảo Cù Lao Chàm. Khóa luận tốt nghiệp khoa Môi trường và Tài nguyên – Trường ĐH Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát lợi ích cộng đồng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động du lịch sinh thái tại quần đảo Cù Lao Chàm
6. Phạm Trung Lương, 2002. Du lịch sinh thái những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục, 248 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục"
7. Phạm Trung Lương, 2003. Quản lý phát triển du lịch biển. Dự án khu bảo tồn Biển Hòn Mun – Khóa tập huấn quốc gia về quản lý khu bảo tồn biển.Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý phát triển du lịch biển. Dự án khu bảo tồn Biển Hòn Mun
8. Phạm Trung Lương, 2007. Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam
9. Nguyễn Thị Thanh Mỹ, Nguyễn Thanh Hùng, Huỳnh Thị Minh Hằng, Lâm Minh Triết, 2006. Du lịch sinh thái rừng – biển Cần Giờ TP. HCM theo định hướng phát triển thân thiện với môi trường. Viện Môi trường và Tài nguyên – ĐHQG TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái rừng – biển Cần Giờ TP. HCM theo định hướng phát triển thân thiện với môi trường
10. T.s Trần Thị Mai, 2005. Du lịch cộng đồng – Du lịch sinh thái, định nghĩa, đặc trưng và các quan điểm phát triển. Hiệu trưởng trường THNV Du lịch Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch cộng đồng – Du lịch sinh thái, định nghĩa, đặc trưng và các quan điểm phát triển
12. Nguyễn Thị Ngọc, Nghiên cứu homstay, mô hình lưu trú phù hợp công tác bảo tồn thiên nhiên tại cụm đảo Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam. Luận văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu homstay, mô hình lưu trú phù hợp công tác bảo tồn thiên nhiên tại cụm đảo Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam
13. Phạm Thị Kim Phương, 2009. Tìm hiểu tiềm năng phục vụ phát triển du lịch sinh thái ở xã đảo Cù Lao Chàm – Tp Hội An – Quảng Nam – Định hướng phát triển đến năm 2015. Luận văn tốt nghiệp cử nhân địa lý, Đại học sư phạm – Trường Đại học Đà Nẵng, Tp Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiềm năng phục vụ phát triển du lịch sinh thái ở xã đảo Cù Lao Chàm – Tp Hội An – Quảng Nam – Định hướng phát triển đến năm 2015
14. Dương Phương Thư, 2010. Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch sinh thái khu dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau. Khóa luận tốt nghiệp, cử nhân du lịch. Trường ĐH Hùng Vương TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch sinh thái khu dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau
15. Chu Mạnh Trinh, 2010. Ứng dụng đồng quản lý tài nguyên môi trường tại khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm. Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng đồng quản lý tài nguyên môi trường tại khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm
16. Chu Mạnh Trinh và các cộng sự, 2010. Lợi ích cộng đồng trong hoạt động du lịch tại khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An. Đề tài nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích cộng đồng trong hoạt động du lịch tại khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An
17. Nguyễn Thị Tú, 2006. Phát triển du lịch sinh thái Việt Nam – những cơ hội và thách thức trong xu thế hội nhập quốc tế. Tạp chí Khoa học và Thương mại số 16/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch sinh thái Việt Nam – những cơ hội và thách thức trong xu thế hội nhập quốc tế
18. Phòng TM – DL tp. Hội An (2010). Báo cáo hiện trạng du lịch TP. Hội An năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng TM – DL tp. Hội An (2010)
Tác giả: Phòng TM – DL tp. Hội An
Năm: 2010
19. Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tê (IUCN) tại Việt Nam, 2008. Hướng dẫn quản lý khu bảo tồn thiên nhiên – một số kinh nghiệm và bài học quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tê (IUCN) tại Việt Nam, 2008
20. Trung tâm quản lý – bảo tồn di tích TP. Hội An, 2007. Kỷ yếu Cù Lao Chàm 21. Trung tâm quản lý – bảo tồn di tích TP. Hội An, 2007. Di tích danh thắng CùLao Chàm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung tâm quản lý – bảo tồn di tích TP. Hội An, 2007." Kỷ yếu Cù Lao Chàm 21. "Trung tâm quản lý – bảo tồn di tích TP. Hội An, 2007. "Di tích danh thắng Cù
22. UBND xã Tân Hiệp (2011), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng năm 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND xã Tân Hiệp (2011)
Tác giả: UBND xã Tân Hiệp
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Bản đồ Cù Lao Chàm - Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Hình 1.1. Bản đồ Cù Lao Chàm (Trang 6)
Hình 1.4. Cây gỗ lớn trong rừng (Photo: Quyên) - Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Hình 1.4. Cây gỗ lớn trong rừng (Photo: Quyên) (Trang 11)
Hình 1.7. Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm (Photo: Quyên) - Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Hình 1.7. Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm (Photo: Quyên) (Trang 15)
Bảng 2.2. Các bước xử lý dữ liệu: - Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Bảng 2.2. Các bước xử lý dữ liệu: (Trang 18)
Bảng 2.3. Khung phân tích hoạt động du lịch sinh thái: - Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Bảng 2.3. Khung phân tích hoạt động du lịch sinh thái: (Trang 19)
Hình 3.1: Rau rừng   (Photo: Quyên) - Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Hình 3.1 Rau rừng (Photo: Quyên) (Trang 21)
Hình 3.4. Âu Thuyền (Photo Quyên) - Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Hình 3.4. Âu Thuyền (Photo Quyên) (Trang 25)
Hình 3.5. Giếng xóm Cấm - Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Hình 3.5. Giếng xóm Cấm (Trang 25)
Hình 3.7. Những thửa ruộng chín vàng trên đảo - Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Hình 3.7. Những thửa ruộng chín vàng trên đảo (Trang 26)
Hình 3.6. Cánh đồng lúa Cù Lao Chàm (Photo Quyên) - Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Hình 3.6. Cánh đồng lúa Cù Lao Chàm (Photo Quyên) (Trang 26)
Hình 3.8. Một góc Chùa Hải Tạng (Photo Quyên) - Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Hình 3.8. Một góc Chùa Hải Tạng (Photo Quyên) (Trang 27)
Hình 3.9. Đường nhựa quanh đảo (Photo Quyên)  3.1.3. Cù Lao Chàm – đảo không bao nilon: - Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Hình 3.9. Đường nhựa quanh đảo (Photo Quyên) 3.1.3. Cù Lao Chàm – đảo không bao nilon: (Trang 28)
Hình 3.10. Sơ đồ phân bố khu du lịch - Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Hình 3.10. Sơ đồ phân bố khu du lịch (Trang 30)
Bảng 3.5: Kết quả lựa chọn của khách du lịch thông qua các câu hỏi điều tra: - Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Bảng 3.5 Kết quả lựa chọn của khách du lịch thông qua các câu hỏi điều tra: (Trang 37)
Bảng 3.6. Kết quả phỏng vấn người dân địa phương: - Đề tài Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp du lịch sinh thái bền vững tại xã đảo Cù Lao Chàm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Bảng 3.6. Kết quả phỏng vấn người dân địa phương: (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w