1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ Công tác giám sát trong Đảng giai đoạn hiện nay

240 349 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 240
Dung lượng 2,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ trước Đại hội X của Đảng, các cấp uỷ, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp chủ yếu thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra còn chức năng, nhiệm vụ giám sát trong Điều lệ Đảng chỉ quy

Trang 1

Học viện Chính trị – hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

_

Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu

đề tài cấp bộ năm 2007

công tác giám sát trong Đảng

giai đoạn hiện nay

Trang 2

Ban biên soạn

1 TS Phạm Ngọc Anh Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh

2 Nguyễn Thị Bạch Viện Xây dựng Đảng

3 Ths Lê Văn Cường Viện Xây dựng Đảng

4 GS, TS Nguyễn Thị Doan Văn phòng Chủ tịch nước

5 Hà Hữu Đức Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

6 Ths Đinh Ngọc Giang Viện Xây dựng Đảng

7 TS Lê Tiến Hào Thanh tra Chính phủ

8 Trần Thị Hiền Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

9 GS Đặng Xuân Kỳ Hội đồng Lý luận Trung ương

10 Vũ Ngọc Lân Ban Dân vận Trung ương

11 Dương Thị Mai Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Nghệ An

12 Ths Lê Minh Sơn Trường Chính trị tỉnh Bình Định

13 GS,TS Mạch Quang Thắng Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh

14 Ths Phạm Tất Thắng Viện Xây dựng Đảng

15 Tô Quang Thu Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

16 Hà Quốc Trị Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

17 Cao Văn Thống Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

Trang 3

5 UBKT : Uû ban KiÓm tra

6 UBND : Uû ban Nh©n d©n

Trang 4

1.3 Nội dung, nguyên tắc giám sát trong Đảng 29

Chương 2: Công tác giám sát trong Đảng hiện nay- Thực trạng,

nguyên nhân, kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra 32 2.1 Công tác giám sát trong Đảng trước Đại hội X 32

2.2 Công tác giám sát trong Đảng từ Đại hội X đến nay 63

Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu tăng cường

công tác giám sát trong Đảng giai đoạn hiện nay 98

3.1 Dự báo những nhân tố thuận lợi và khó khăn tác động đến giám

3.2 Quan điểm và định hướng tăng cường giám sát trong Đảng 116

3.3.1 Tạo chuyển biến mạnh mẽ, nâng cao nhận thức, trách nhiệm

của các cấp uỷ, tổ chức đảng, UBKT các cấp, cán bộ, đảng

viên và nhân dân trước nhất là người đứng đầu cấp uỷ 128

3.3.2 Xây dựng và hoàn thiện chế độ giám sát, cơ chế giám sát

3.3.3 Mở rộng dân chủ trong Đảng là cơ sở, điều kiện tăng cường

3.3.4 Nâng cao vị thế, vai trò của UBKT các cấp là cơ quan

chuyên trách, lực lượng nòng cốt cùng toàn Đảng thực hiện

3.3.5 Đổi mới nhận thức, tăng cường giám sát tổ chức đảng cấp

trên và cán bộ lãnh đạo chủ chốt nhất là cấp Trung ương 171 3.3.6 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp giám sát trong

3.3.7 Nâng cao hiệu quả phối hợp công tác giữa UBKT của cấp uỷ

đảng và thanh tra nhà nước cùng cấp 188

Trang 5

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giám sát là công việc không thể thiếu, diễn ra trong tất cả các khâu của quy trình lãnh đạo và quản lý Từ rất sớm, Đảng ta đã quan tâm đến công việc giám sát hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên và các cơ quan trong hệ thống chính trị Ngay trong Điều lệ Đảng (sửa đổi) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (năm 1960) đã yêu cầu: "Phải tăng cường công tác kiểm tra

và giám sát của Đảng đối với cán bộ và cơ quan nhà nước, giữ gìn kỷ luật nghiêm minh, xử lý thích đáng đối với những phần tử quan liêu gây tác hại nghiêm trọng cho Đảng và Nhà nước" Trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam các khoá VIII, IX cũng ghi: " Đảng chịu sự giám sát của nhân dân"

Do đó, Đảng cần cả "sự giám sát nội bộ Đảng" và cả "chịu sự giám sát của nhân dân" sẽ giúp cho việc tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên Bước vào thời kỳ đổi mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, bên cạnh những thành tựu rất quan trọng đã đạt được, do tác động tiêu cực của mặt trái của cơ chế thị trường cùng sự thiếu thường xuyên rèn luyện tu dưỡng, nên một

bộ phận cán bộ, đảng viên và cả một số tổ chức đảng đã bộc lộ những mặt yếu kém Tổ chức đảng ở nhiều nơi chấp hành các nguyên tắc của Đảng, trước hết

là nguyên tắc tập trung dân chủ chưa nghiêm, sinh hoạt lỏng lẻo; đấu tranh tự phê bình và phê bình giảm sút, sức chiến đấu yếu dẫn đến vi phạm kỷ luật Nhiều tổ chức cơ sở và chi bộ không đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh từ cơ sở, cá biệt còn tê liệt, mất sức chiến đấu Công tác kiểm tra, quản lý cán bộ, đảng viên thực hiện một cách chiếu lệ Nhiều cấp uỷ, tổ chức

đảng chưa coi trọng công tác kiểm tra, coi công tác này là của uỷ ban kiểm tra chứ không phải của chính bản thân cấp uỷ Báo cáo tổng kết 20 năm đổi mới

đã chỉ rõ: "Còn tình trạng nói mà không làm, ra nghị quyết mà không thực hiện hoặc thực hiện nửa vời Việc theo dõi kiểm tra, đôn đốc triển khai nghị quyết làm chưa tốt; việc xử lý sai phạm trong thực hiện nghị quyết chưa nghiêm" [tr.125] Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên phai nhạt lý

Trang 6

tưởng, tính Đảng yếu, giảm sút ý chí chiến đấu, ngại tu dưỡng, rèn luyện, chạy theo lối sống thực dụng, vị kỷ dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức

và lối sống; tình trạng cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, mất đoàn kết của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm giảm sút uy tín của Đảng, làm xói mòn niềm tin của nhân dân, đang trở thành một trong những nguy cơ lớn nhất hiện nay "Do cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa tạo được chuyển biến cơ bản nên có thể nói "nguy cơ tham nhũng, quan liêu" đã nổi lên như là một mối de doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ" [tr.123]

Từ những kết quả kiểm tra thời gian qua cho thấy hầu hết các cấp, các ngành, các lĩnh vực được kiểm tra đều có vi phạm, đáng chú ý là tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý, cố ý làm trái đang xảy ra trầm trọng và ngày càng gia tăng, đã xảy ra trong thời gian dài hoặc đã lâu nhưng ít được phát hiện, kiểm tra làm rõ; nhiều cán bộ chủ chốt để vợ con, người thân lợi dụng chức vụ quyền hạn trục lợi, làm giàu bất chính Nội dung, tính chất, mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng, phức tạp, tinh vi, có tổ chức, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều người, nếu phát hiện được và tiến hành kiểm tra, thanh tra, điều tra thì có việc, có vụ còn bị can thiệp từ nhiều phía, gây khó khăn cho các cơ quan chức năng Một

số vụ vi phạm nghiêm trọng nhưng chưa được các cơ quan chức năng giám sát, kiểm tra phát hiện kịp thời nên đã bỏ lọt vi phạm Báo cáo tổng kết 20 năm đổi mới chỉ rõ: "Vai trò giám sát, phản biện của các ban của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân còn yếu; chưa có cơ chế hợp lý để phát huy vai trò của các bộ phận này" [tr.126] Do buông lỏng việc kiểm tra, giám sát nên chưa chủ động ngăn chặn vi phạm trong Đảng

Từ tình hình trên, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn để xây dựng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ngang tầm với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, nhất là khi chúng ta tiếp tục thực hiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cả về chiều rộng

và chiều sâu, chắc chắn sẽ có nhiều khó khăn, trở ngại, thách thức, nguy cơ mới trong điều kiện một đảng cộng sản duy nhất cầm quyền Để đạt được mục

Trang 7

kiểm tra, giám sát là một nội dung quan trọng cần được đẩy mạnh

Từ trước Đại hội X của Đảng, các cấp uỷ, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp chủ yếu thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra còn chức năng, nhiệm vụ giám sát trong Điều lệ Đảng chỉ quy định "Đảng chịu sự giám sát của nhân dân", chưa quy định cụ thể việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát của các cấp uỷ, tổ chức đảng và đảng viên Nhưng trong thực tế các cấp uỷ (kể cả Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư), tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp và đảng viên đã và đang thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát Riêng uỷ ban kiểm tra các cấp thì việc thực hiện chức năng, nhiệm

vụ giám sát với phạm vi, đối tượng, nội dung còn hẹp Tuy nhiên, nhiệm vụ này chưa được xác định một cách rõ ràng và chưa được thực hiện theo một chương trình, kế hoạch cũng như quy trình, phương pháp cụ thể và đặc biệt chưa bố trí lực lượng tiến hành thường xuyên Như vậy, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát là của toàn Đảng, trong đó có uỷ ban kiểm tra các cấp là cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát trong

Đảng Bởi vì, trong điều kiện Đảng là cơ quan duy nhất cầm quyền, Đảng lãnh

đạo cả hệ thống chính trị mà không được giám sát chặt chẽ, rất dễ lộng quyền, lạm quyền và làm giảm lòng tin của nhân dân, tất yếu sẽ dẫn đến tiêu cực, quan liêu, tham nhũng Đó là những nguy cơ bên trong làm suy yếu, thậm chí làm tan rã Đảng Đây là điều cần được cảnh báo để chúng ta thấy rõ và kiên quyết tìm mọi biện pháp khắc phục cho bằng được Đối với tổ chức càng cao càng cần phải được giám sát chặt chẽ Người giữ quyền hành càng lớn càng phải được giám sát nghiêm ngặt, tiến hành giám sát đối với quyền lực, phòng ngừa lạm dụng quyền lực, thực hiện lấy quyền lực chế ước quyền lực Vì vậy, giám sát hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên là vấn đề cấp bách hiện nay Nó xuất phát từ đòi hỏi khách quan của công tác xây dựng Đảng và yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, bảo đảm cho Đảng ta, trước hết là các cơ quan lãnh đạo và những người lãnh đạo của Đảng luôn kiên định về chính trị, vững vàng về đường lối, không chệch hướng; có phẩm chất cách mạng tốt, ngăn ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống Đây là một vấn

đề cơ bản, cấp bách hiện nay, thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài: "Công tác

Trang 8

giám sát trong Đảng giai đoạn hiện nay" để nghiên cứu Nhất là, sau khi Đại

hội X của Đảng (tháng 4 - 2006) khẳng định giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng và giao chức năng, nhiệm vụ giám sát trong

Đảng cho cấp uỷ đảng và uỷ ban kiểm tra các cấp

2 Tổng quát tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Mặc dù Đảng ta đã rất quan tâm đến công tác giám sát hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên nhưng đến nay vấn đề này vẫn là mới mẻ, các nghị quyết, văn bản hướng dẫn, công trình nghiên cứu còn rất ít Có thể điểm qua một số bài tạp chí sau đây:

- Nguyễn Thị Doan, "Một số giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả

hoạt động giám sát của Đảng", Tạp chí Cộng sản điện tử, số 42, năm 2003

Tác giả đã mạnh dạn, thẳng thắn chỉ rõ: "Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, việc giám sát hoạt động của Đảng và đảng viên là lẽ đương nhiên" Trong điều kiện mới của đất nước và quốc tế theo tác giả để hoạt động giám sát trong

Đảng có hiệu lực và hiệu quả cần thực hiện tốt hai giải pháp: Một là, xây dựng

và ban hành chính sách, cơ chế phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân

dân để nhân dân thực sự giám sát được Đảng; hai là, cần giao thêm chức năng

giám sát cho uỷ ban kiểm tra các cấp

Tác giả khẳng định, để nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động giám sát trong Đảng, cần phải có chính sách, cơ chế đủ hiệu lực để uỷ ban kiểm tra các cấp hoạt động, đặc biệt cần có chính sách phù hợp đối với những cán bộ làm công tác kiểm tra Đảng Đồng thời các tổ chức đảng, cấp uỷ đảng và đảng viên phải có sự đổi mới nhận thức về công tác giám sát, kiểm tra, xoá bỏ tư tưởng của một số cán bộ, đảng viên là không ai muốn giám sát và kiểm tra mình Giám sát và kiểm tra là nhằm hoàn thiện quy trình lãnh đạo của Đảng,

để phát hiện "người tốt, việc tốt", ngăn ngừa vi phạm, giữ gìn kỷ luật của

Đảng, làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh

- Nguyễn Thị Doan, "Tăng cường công tác giám sát trong Đảng", Tạp

chí Cộng sản điện tử, số 71, năm 2004 Tác giả phân tích khá rõ về khái niệm

Trang 9

giám sát và kiểm tra, khẳng định "giám sát cũng là một chức năng lãnh đạo của Đảng" Từ việc phân tích yêu cầu cấp bách phải tăng cường giám sát trong

Đảng, tác giả đề xuất: "Trong điều kiện hiện nay, giao chức năng giám sát và thực hiện nhiệm vụ giám sát cho uỷ ban kiểm tra các cấp là phù hợp với thực tiễn

lý luận"; và "việc thành lập uỷ ban kiểm tra do đại hội đảng cùng cấp bầu"

Theo tác giả, giám sát là công việc của Đảng, việc tăng cường công tác

giám sát của uỷ ban kiểm tra đối với tổ chức đảng và đảng viên vẫn chưa đủ

mà cần phải xây dựng và ban hành cơ chế để nhân dân thật sự giám sát hiệu quả cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng Cuối cùng, tác giả kết luận, trong giai

đoạn cách mạng mới, phải tăng cường công tác giám sát trong Đảng, cần ban hành cơ chế nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng mang tính pháp lý, tiến tới xác định cơ quan đảng có chức năng giám sát và thực hiện nhiệm vụ giám sát trong Đảng

- Chiến Thắng, "Một số ý kiến về công tác kiểm tra, giám sát của uỷ

ban kiểm tra các cấp", Tạp chí Kiểm tra, số 12/2005 Tác giả góp ý kiến vào

Dự thảo Báo cáo một số vấn đề về bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng trình Đại hội

X của Đảng, khẳng định việc Dự thảo này có vấn đề giám sát trong Đảng và nêu rõ kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng, đồng thời giao thêm chức năng giám sát và nhiệm vụ giám sát cho uỷ ban kiểm tra là cần thiết Tuy nhiên, tác giả cho rằng, việc giám sát hoạt động của Ban Cấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương chưa thấy được đề cập đến, tại sao lại không có cơ quan nào kiểm tra và giám sát? Trên cơ sở luận giải vấn đề, tác giả viết: "Với tinh thần đổi mới, với cách tư duy và nhận thức mới và xuất phát từ tình hình đất nước hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng việc đại hội bầu uỷ ban kiểm tra và giao cho uỷ ban kiểm tra nhiệm vụ giám sát cấp uỷ cùng cấp là phù hợp Chắc chắn sẽ góp phần tích cực xây dựng

Đảng ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đồng thời cũng tác động mạnh mẽ đến việc ngăn chặn và đẩy lùi các tiêu cực trong Đảng từ trung ương

đến cơ sở"

- Trần Duy Hưng, "Tăng cường giám sát đảng viên giữ chức vụ trong

Trang 10

Đảng, chính quyền hiện nay", Tạp chí Kiểm ra, số 1-2006 Từ phân tích khái

quát thực trạng ưu và khuyết điểm của đội ngũ đảng viên có chức, có quyền hiện nay, tác giả bước đầu khẳng định: "Giám sát đảng viên có chức, có quyền chính là giám sát quyền lực, bảo đảm cho quyền lực được thực thi đúng hướng; ngăn ngừa lạm dụng quyền lực, đặc quyền, đặc lợi; ngăn ngừa sự thoái hoá, biến chất trong Đảng Đây chính là yêu cầu khách quan đối với nâng cao vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền; là điều kiện cơ bản bảo đảm duy trì ổn

định chính trị - xã hội" Tác giả cho rằng: việc tăng cường giám sát đảng viên

có chức, có quyền phải có sự kết hợp giữa giám sát trong Đảng và giám sát ngoài Đảng; việc giám sát phải được thực hiện từ trên xuống và từ dưới lên,

đặc biệt coi trọng vai trò giám sát của nhân dân Tổ chức đảng các cấp phải tích cực thực hiện giám sát; đảng viên có chức, có quyền phải tự giác tiếp thu giám sát, nâng cao bản lĩnh và tính tự trọng trong thi hành công vụ, đề cao trách nhiệm, nỗ lực học tập, công tác; toàn xã hội phải tăng cường giám sát nghiêm túc

- Vũ Công Tiến, "Để thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của

Đảng", Tạp chí Kiểm tra, số 2-2006 Tác giả cho rằng kiểm tra, giám sát là

cụm từ gắn liền với nhau, nêu rõ chức năng và bản chất của kiểm tra, giám sát của Đảng Kiểm tra là điều kiện "cần" để xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng: không kiểm tra coi như không lãnh đạo và giám sát là điều kiện "đủ" để hoàn thiện chức năng lãnh đạo của Đảng Kiểm tra, giám sát là những điều kiện cần

và đủ để cho việc đề ra chủ trương, nghị quyết và tổ chức thực hiện, đưa chủ trương, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống một cách nhất quán, toàn diện và hiệu quả, thông qua nhận thức và hành động của mỗi tổ chức và mỗi đảng viên của Đảng"

- Hà Quốc Trị, "Về thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát trong

Đảng", Tạp chí Kiểm tra, số 3-2006 Trên cơ sở phân tích về khái niệm kiểm

tra và giám sát, tác giả cho rằng việc giám sát trong nội bộ Đảng và chịu sự giám sát của nhân dân là tất yếu Đưa ra một số ý kiến về vấn đề giám sát

Đảng như nội dung tập trung giám sát; đối tượng và nội dung giám sát đối với

Trang 11

tổ chức đảng; đối tượng và nội dung giám sát đối với đảng viên, tác giả khẳng

định: "Trong quá trình giám sát nếu phát hiện tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi giám sát có dấu hiệu vi phạm thì uỷ ban kiểm tra tiến hành kiểm tra dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên đó

Qua thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát, tạo điều kiện thuận lợi cho uỷ ban kiểm tra trong việc tăng khả năng, điều kiện chủ động nắm tình hình, phát hiện dấu hiệu vi phạm để kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đúng trọng tâm, trọng điểm, đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn; khắc phục được những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra"

Tóm lại, nhìn chung vấn đề giám sát trong Đảng đã được đưa vào trong

Dự thảo báo cáo xây dựng Đảng và bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng trình Đại hội X của Đảng Vấn đề này đã được thảo luận ở Đại hội đảng bộ các cấp, trong quá trình thảo luận vẫn còn có nhận thức khác nhau Trong phát biểu của đồng chí Phan Diễn, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư tại Hội nghị tổng kết công tác kiểm tra toàn quốc nhiệm kỳ 2001-2005, có đoạn:

"Giám sát cái gì? giám sát việc thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ, Nghị quyết, chủ trương của Đảng, nguyên tắc sinh hoạt đảng Đây sẽ là một nhiệm vụ mới mà chúng ta lại chưa có kinh nghiệm"; "sắp đến còn có công tác giám sát, nó rất mới Nếu được Đại hội giao cho nhiệm vụ này, chúng ta phải có sự khẩn trương tìm hiểu nội dung, kinh nghiệm của các nước chúng ta có thể thực hiện từng bước được tốt"

Liên quan đến nghiên cứu công tác giám sát của một số đảng cầm quyền nước ngoài có thể tham khảo một số tài liệu sau:

- "Điều lệ giám sát nội bộ của Đảng Cộng sản Trung Quốc (thi hành

thử)" Ban hành chính thức ngày 31/12/2003, công bố trên báo chí ngày

18-2-2004 (47 điều, bản tiếng Trung)

- Tôn Phụ Trí, "Bàn về tăng cường giám sát cán bộ lãnh đạo", Tạp chí

Diễn đàn cán bộ Trung Quốc, số 1 năm 1997 (bản tiếng Trung)

- Lý Tông Lâu, "Tăng cường chế độ giám sát trong Đảng Cộng sản

Trung Quốc", Tạp chí Nghiên cứu chủ nghĩa xã hội, (Bản tiếng Trung)

- Vương Thiều Hưng, "Bàn về vấn đề kiểm tra, giám sát của Đảng",

Trang 12

Tạp chí Khoa học xã hội, số 11-2001 (bản tiếng Trung)

- Gần đây, tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá

X, Trung ương Đảng đã thông qua Nghị quyết số 14-NQ/TW (ngày 2007) về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

30-7-Ngày 25 tháng 7 năm 2007, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đã ban hành các Hướng dẫn số 03, 04, 05, 06 – Hướng dẫn thực hiện công tác giám sát của các ban của cấp uỷ, của uỷ ban kiểm tra, của cấp uỷ và ban thường vụ cấp uỷ

và của chi bộ Đây là những căn cứ, định hướng quan trọng giúp cho chúng tôi tiến hành đề tài được thuận lợi

3 Mục tiêu nghiên cứu

Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giám sát trong Đảng, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm tăng cường công tác giám sát trong Đảng giai đoạn hiện nay

4 Nhiệm vụ nghiờn cứu

Nghiờn cứu những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mỏc-Lờnin, tư tưởng Hồ Chớ Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về cụng tỏc giỏm sỏt của Đảng; vận dụng để làm rừ vị trớ, vai trũ, tầm quan trọng của cụng tỏc giỏm sỏt trong Đảng cả về mặt lý luận và thực tiễn cụng tỏc xõy dựng Đảng

Khảo sỏt, đỏnh giỏ thực trạng cụng tỏc giỏm sỏt trong Đảng thời gian qua; chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyờn nhõn khỏch quan và chủ quan của những

ưu, khuyết điểm đú; đồng thời rút ra một số kinh nghiệm và những vấn đề đặt

ra cần giải quyết đối với cụng tỏc giỏm sỏt trong Đảng

Dự bỏo những nhõn tố tỏc động và yờu cầu đối với cụng tỏc giỏm sỏt trong Đảng từ nay đến năm 2020

Xỏc định mục tiờu, phương hướng và đề xuất những giải phỏp cơ bản nhằm nõng cao chất lượng cụng tỏc giỏm sỏt trong Đảng từ nay đến năm 2020

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác giám sát

trong Đảng giai đoạn hiện nay (2007- 2020) (có thể hiểu công tác giám sát trong Đảng là việc của cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp và đảng

Trang 13

viên theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ

Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng bảo đảm tính nghiêm minh, thống nhất và

có hiệu quả cao trong toàn Đảng), cụ thể là xác định các vấn đề sau:

+ Về chủ thể: Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát trong Đảng

là của toàn Đảng trong đó có uỷ ban kiểm tra các cấp là cơ quan chuyên trách

và là lực lượng nòng cốt thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát trong Đảng

+ Về đối tượng: Đối tượng giám sát đối với tổ chức đảng là cấp uỷ, ban

thường vụ cấp uỷ cấp dưới, các ban của cấp uỷ, ban cán sự, đảng đoàn

Đối tượng giám sát đối với đảng viên là: Mọi đảng viên kể cả cấp uỷ

viên các cấp và cán bộ do cấp uỷ các cấp quản lý

- Thời gian nghiên cứu: trước và sau Đại hội X của Đảng đến nay (12/2007)

6 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng nói chung và công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng nói riêng; các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam; các văn bản hướng dẫn thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của Ban Bí thư và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương; các báo cáo sơ kết, tổng kết về thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng của cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp Đề tài sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, hội thảo, toạ đàm khoa học xin ý kiến các chuyên gia, đặc biệt coi trọng phương pháp sử dụng chuyên gia, đồng thời kế thừa, tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo các công trình khoa học có liên quan phục vụ nghiên cứu đề tài

7 Đúng gúp mới của đề tài

Đưa ra quan niệm, khẳng định vị trớ, vai trũ, nội dung và nguyờn tắc cơ bản chỉ đạo cụng tỏc giỏm sỏt trong Đảng hiện nay

Đỏnh giỏ đỳng thực trạng cụng tỏc giỏm sỏt trong Đảng, chỉ rừ nguyờn nhõn, rỳt ra những kinh nghiệm về cụng tỏc giỏm sỏt, làm rừ vai trũ của giỏm sỏt trong việc thỳc đẩy sự phỏt triển kinh tế-xó hội, trong cụng tỏc xõy dựng Đảng

Trang 14

Dự báo những nhân tố tác động đối với công tác giám sát trong Đảng và

đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng của công tác giám sát trong Đảng từ nay đến năm 2020

8 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu giảng dạy, học tập bộ môn Xây dựng Đảng, giảng dạy các lớp bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát v.v Đồng thời những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sẽ được dùng làm tài liệu tham khảo cho cơ quan UBKT Trung ương

9 Kết cấu đề tài

Gồm phần mở đầu, 3 chương với 9 tiết, kết luận, danh mục sản phẩm nghiên cứu đề tài, danh mục tài liệu tham khảo

Trang 15

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ CÔNG TÁC GIÁM SÁT TRONG ĐẢNG

1.1 Quan niệm về công tác giám sát trong Đảng

Đảng ta là đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo xã hội bằng chủ trương, đường lối, nghị quyết, chính sách của Đảng; bằng công tác tư tưởng, tổ chức

và bằng kiểm tra, giám sát ; Đảng lãnh đạo thông qua Nhà nước, các đoàn thể chính trị-xã hội, hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng

Tổ chức của Đảng ở các cấp, các ngành không những có trách nhiệm trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện mà còn có trách nhiệm phải kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm cho Cương lĩnh chính trị, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng được chấp hành nghiêm chỉnh, thắng lợi trong thực tiễn Nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng dù có được xác định đúng, có tính khả thi nhưng nếu

tổ chức đảng các cấp tổ chức thực hiện thiếu chặt chẽ, nhất là không kiểm tra, giám sát hoặc kiểm tra, giám sát không đến nơi đến chốn thì kết quả thực hiện

sẽ bị hạn chế, thậm chí phạm sai lầm Để hạn chế, khắc phục những thiếu sót

có thể xảy ra trong quá trình thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, đưa đất nước chuyển sang thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khâu then chốt là phải xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đóng vai trò quan trọng Đại hội lần thứ X của Đảng đã xác định rõ: kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng và giao cho UBKT các cấp làm cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ giám sát Điều

30, Điểm 1, Điều lệ Đảng được Đại hội X của Đảng thông qua đã khẳng định

vị trí, vai trò của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng: “Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh

Trang 16

đạo của Đảng Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng"(1)

Quy định này xác định rõ công tác kiểm tra, giám sát là trách nhiệm của toàn Đảng Các tổ chức đảng (từ Trung ương đến cơ sở) vừa phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát vừa phải chịu sự kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên

Công tác giám sát là một nhiệm vụ mới được bổ sung thêm cho UBKT các cấp - UBKT các cấp là cơ quan kiểm tra, giám sát chuyên trách của Đảng

- do vậy cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống, trên tất cả các mặt Trong công tác của UBKT, giữa công tác kiểm tra và công tác giám sát có sự đan xen với nhau Việc phân biệt giữa công tác kiểm tra và công tác giám sát chỉ là tương đối Bởi vì ngay trong hoạt động giám sát đã mang tính chất kiểm tra, và nếu giám sát mà không kiểm tra thì không thể đi đến kết luận xử lý triệt để các vụ việc nảy sinh phục vụ cho sự lãnh đạo của Đảng Còn nếu kiểm tra mà không giám sát, không đi sâu, đi sát, theo dõi, xem xét thường xuyên các vấn đề thực tế thì kiểm tra sẽ phân tán, thiếu trọng tâm, trọng điểm, thiếu cơ sở thực tế để đánh giá, kết luận Nói một cách khác, khi tiến hành giám sát là đã bắt đầu một quá trình kiểm tra, kiểm tra là kết thúc một quá trình giám sát Trong thực tế công tác của UBKT các cấp, không thể giám sát xong rồi để đấy, không xử lý mà phải kiểm tra để làm rõ đúng, sai và

có biện pháp xử lý Muốn kiểm tra có chất lượng thì phải giám sát Giám sát

và kiểm tra bổ sung cho nhau để hoàn chỉnh sự lãnh đạo của Đảng Do có mối quan hệ khăng khít với nhau nên trong thực tế chúng ta thường dùng cụm từ

“kiểm tra, giám sát”gắn liền với nhau Vì vậy, để nghiên cứu vấn đề giám sát, cần phải đặt nó trong mối quan hệ với công tác kiểm tra

- Quan niệm về kiểm tra:

Theo “Đại từ điển tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý (chủ biên), kiểm tra

(Đgt): là xem xét thực chất, thực tế(2); kiểm soát(Đgt) là: kiểm tra, xem xét nhằm ngăn ngừa những sai phạm các qui định(3)

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG, H., 2006, tr.48

Trang 17

Còn theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam” do Hội đồng quốc gia chỉ đạo

biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, kiểm tra (luật): là một chức năng quản

lý, một khâu trong quy trình quản lý, có chức năng xem xét tình hình và kết quả thực tế thi hành luật, chính sách, chủ trương của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế- xã hội được giao(4)

Và theo “Từ điển luật học”, kiểm tra: là xem xét tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét(5)

Cũng theo “Từ điển luật học” kiểm soát: là xem xét để phát hiện, ngăn ngừa việc làm sai trái với thoả thuận, với quy định(6)

- Quan niệm về giám sát :

Theo “Đại từ điển tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý (chủ biên), giám

sát(đgt): là theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ(7)

Còn theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam” do Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, giám sát: là một hình thức hoạt động của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những qui tắc chung nào đó(8)

Trong “Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính”(9) của Mai Hữu Khuê

và Bùi Văn Nhơn và “Từ điển Luật học”(10) của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa-Hà Nội, giám sát còn được hiểu: là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh

Dù cho cách diễn đạt có sự khác nhau, nhưng các quan niệm trên đều

có nội hàm chung: là sự theo dõi, quan sát, xem xét hoạt động Có thể đưa ra

(4) Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Từ

điển Bách khoa, H., 2002, tr.565

(5) (6) Nxb Từ điển Bách khoa, Từ điển Luật học, H., 1999, tr.264

(7) Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá thông tin, H., 1999, tr.728

(8) Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Từ

Trang 18

quan niệm sau: Giám sát là sự theo dõi, quan sát, xem xét hoạt động của các

tổ chức có thẩm quyền mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để bắt buộc và hướng hoạt động của các tổ chức và cá nhân chịu sự giám sát thực hiện đúng những điều đã quy định

Như vậy, đã giám sát là phải theo dõi, xem xét đối tượng giám sát có thực hiện đúng các quy định mà đối tượng đó phải thực hiện hay không để trước hết nhằm nhắc nhở, đôn đốc thực hiện và là cơ sở để quyết định có tiến hành kiểm tra hay không? Do đó, muốn thực hiện tốt việc kiểm tra thì phải thường xuyên có giám sát Giám sát và kiểm tra đều nhằm đạt được mục đích

là nắm vững và đánh giá đúng tình hình, từ đó điều chỉnh, uốn nắn mọi hành

vi liên quan của đối tượng được kiểm tra, giám sát Nhưng giám sát được tiến hành thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình hoạt động và phát triển của

tổ chức và cá nhân, nên có nội dung rất rộng bao gồm: giám sát các hoạt động

về tư tưởng, chính trị; giám sát về các mối quan hệ; giám sát về sinh hoạt, đạo đức, lối sống; giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao, việc thực hiện các quy định, quy chế nên giám sát mang tính chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm nhiều hơn so với kiểm tra Qua hoạt động giám sát có thể kịp thời cảnh báo, nhắc nhở các cá nhân và tổ chức có biểu hiện không đúng trong quá trình triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết và quyết định hoặc có biểu hiện không đúng trong đạo đức, lối sống và sinh hoạt Còn nội dung của kiểm tra chủ yếu là kiểm tra theo các nội dung

cụ thể (chấp hành hoặc khi có dấu hiệu vi phạm trong việc thực hiện các nội dung trên) gắn với trách nhiệm của mỗi cá nhân hay tổ chức, được tiến hành theo chương trình, kế hoạch và quy trình, phương pháp nhất định theo yêu cầu của từng nhiệm vụ kiểm tra, được tổ chức thành cuộc kiểm tra; qua mỗi cuộc kiểm tra phải có đánh giá, nhận xét, kết luận cụ thể và xử lý (nếu có vi phạm đến mức phải xử lý)

Xét về nội hàm, “giám sát” rộng hơn “kiểm tra”, “kiểm soát” Trong hoạt động giám sát đã bao hàm hoạt động kiểm tra và kiểm soát

Trang 19

Tất cả các hoạt động giám sát đều thể hiện những đặc điểm chung:

+ Giám sát là biểu hiện của mối quan hệ giữa một chủ thể giám sát nhất định với các đối tượng cụ thể chịu sự giám sát về những nội dung xác định

+ Giám sát là sự theo dõi, xem xét đối tượng làm đúng hay làm sai những điều đã quy định Và do đó, hoạt động giám sát là hoạt động có chủ đích của chủ thể giám sát, nhằm hướng đối tượng chịu sự giám sát phải làm đúng những điều đã quy định thông qua những giải pháp nào đó của chủ thể giám sát

+ Để thực hiện sự giám sát, các chủ thể giám sát bao giờ cũng phải có những quyền hạn nhất định (được “luật hoá” thành điều lệ, quy định hay được luật pháp quy định) đối với đối tượng chịu sự giám sát

Nói cách khác, giám sát có ba đặc trưng sau:

Thứ nhất, giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ

động thường xuyên, liên tục Như vậy, chủ thể giám sát phải luôn có mặt tại chỗ, bên cạnh và tiếp xúc trực tiếp, chủ động theo dõi và quan sát đối với đối tượng giám sát

Thứ hai, giám sát phải thực hiện các biện pháp, hành động để tác động

bằng các biện pháp tích cực của chủ thể giám sát đối với đối tượng giám sát để buộc và hướng hoạt động của đối tượng giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế

Vì vậy, chủ thể giám sát phải có phương pháp, hình thức, biện pháp và thẩm quyền giám sát thích hợp với từng loại đối tượng được giám sát Đối tượng bị giám sát luôn phải chịu sự theo dõi, quan sát, kể cả việc kiểm tra, kiểm soát của chủ thể giám sát Nếu phát hiện đối tượng bị giám sát có những hoạt động chưa đúng với các quy định của Đảng và Nhà nước… có thiếu sót, khuyết điểm thì chủ thể giám sát kịp thời nhắc nhở, cảnh báo, đề nghị thực hiện đúng quy định, nếu thấy có những việc làm sai trái thì kiến nghị với cấp

có thẩm quyền biết để có biện pháp chấn chỉnh, xử lý hoặc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm

Thứ ba, hoạt động giám sát phải nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã

được xác định từ trước, bảo đảm cho chủ trương, đường lối, chính sách của

Trang 20

Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc những quy tắc chung nào đó của một tổ chức, cơ quan, đơn vị được chấp hành nghiêm túc, có kết quả Như vậy, hoạt động giám sát phải xác định rõ phạm vi, nội dung, đối tượng giám sát một cách cụ thể trong từng thời điểm cụ thể khác nhau, không có hoạt động giám sát chung chung, hình thức

- Quan niÖm vÒ gi¸m s¸t trong §¶ng:

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc đề phòng và khắc phục nguy cơ của Đảng Cộng sản cầm quyền Người thường nhắc nhở phải đề phòng nguy cơ sai lầm về đường lối; cán bộ, đảng viên quan liêu xa rời quần chúng, đặc quyền, đặc lợi, thoái hoá, biến chất Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải tăng cường kiểm tra, kiểm soát và giám sát cán bộ, đảng viên Người chỉ rõ: Có kiểm soát mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm cho qua chuyện, chỉ có một cách

là khéo kiểm soát Kiểm soát khéo bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định sẽ bớt đi

Trong bài nói chuyện với các đại biểu thân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hoá (ngày 20/2/1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Từ ngày thành lập Chính phủ, trong nhân viên còn nhiều khuyết điểm Có người làm quan cách mạng, chợ đỏ, chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân, phì ra… xin đồng bào hãy phê bình, giúp đỡ giám sát công việc của Chính phủ”

Giám sát là công việc không thể thiếu trong hoạt động lãnh đạo và quản

lý, diễn ra trong tất cả các khâu của quy trình lãnh đạo và quản lý Đảng ta đã rất quan tâm đến công việc giám sát hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên

và các cơ quan trong hệ thống chính trị Ngay trong Điều lệ Đảng (sửa đổi) tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng từ năm 1960 đã yêu cầu:

“Phải tăng cường công tác kiểm tra và giám sát của Đảng đối với cán bộ và cơ

Trang 21

quan nhà nước, giữ gìn kỷ luật nghiêm minh, xử lý thích đáng đối với những phần tử quan liêu gây tác hại nghiêm trọng cho Đảng và Nhà nước”

Trong Điều lệ Đảng khoá VIII, khoá IX cũng ghi: “ … Đảng chịu sự

giám sát của nhân dân…” do đó, Đảng cần cả “Sự giám sát trong nội bộ Đảng” Và cả “Chịu sự giám sát của nhân dân” sẽ giúp cho việc tăng cường

kỷ cương, kỷ luật của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của

tổ chức đảng và đảng viên

Theo quy định của Điều lệ Đảng khoá VI, khoá VII, khoá VIII, khoá

IX, các cấp uỷ, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp chủ yếu mới thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, còn chức năng, nhiệm vụ giám sát trong Điều

lệ Đảng chỉ quy định: “Đảng chịu sự giám sát của nhân dân”, lại chưa được quy định cụ thể để thực hiện Nhưng thực chất các cấp uỷ (kể cả Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư), tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp và đảng viên đã và đang thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát Riêng UBKT các cấp thì việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát với phạm vi, đối tượng, nội dung còn hạn hẹp và chưa có nền nếp Nhiệm vụ giám sát của các tổ chức đảng trong các nhiệm kỳ trước đây tuy có làm nhưng không được quy định cụ thể, không có chương trình, kế hoạch, khi tiến hành không theo một quy trình nào và chưa có sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm Trong thực tế, giám sát chưa thành một nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của các tổ chức đảng Điều 14, Chương III, Quy chế làm việc của Ban

Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khoá IX quy định: “Uỷ

ban Kiểm tra Trung ương chủ trì phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Văn phòng Trung ương và các cơ quan liên quan giúp Ban Chấp hành Trung ương theo dõi việc thực hiện Quy chế này” Theo quan niệm đã nêu ở trên thì

giám sát chính là theo dõi việc thực hiện những quy định, quyết định, quy chế

mà cấp uỷ đã giao cho uỷ ban kiểm tra

Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát là của toàn Đảng, trong

đó có uỷ ban kiểm tra các cấp là cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát trong Đảng Bởi vì, trong điều kiện Đảng duy nhất cầm

Trang 22

quyền, một Đảng lónh đạo cả hệ thống chớnh trị mà khụng được giỏm sỏt chặt chẽ, rất dễ lộng quyền, lạm quyền và làm giảm lũng tin của nhõn dõn, tất nhiờn sẽ dẫn đến tiờu cực, tệ quan liờu, tham nhũng Đú là nguy cơ bờn trong làm suy yếu, thậm chớ làm tan ró Đảng Đõy là điều cần được cảnh bỏo để chỳng ta thấy rừ và kiờn quyết tỡm mọi biện phỏp khắc phục cho bằng được

Vỡ vậy, giỏm sỏt hoạt động của tổ chức đảng và đảng viờn là rất bức thiết, nú xuất phỏt từ đũi hỏi khỏch quan của cụng tỏc xõy dựng Đảng và yờu cầu của giai đoạn cỏch mạng mới, bảo đảm cho Đảng ta, trước hết là cỏc cơ quan lónh đạo và những người lónh đạo của Đảng luụn kiờn định về chớnh trị, giữ vững đường lối, chớnh sỏch, quy định, nguyờn tắc của Đảng, khụng để chệch hướng; xõy dựng đội ngũ cỏn bộ, đảng viờn cú phẩm chất đạo đức cỏch mạng tốt, ngăn ngừa suy thoỏi về tư tưởng chớnh trị, đạo đức và lối sống Do đú, trong giai đoạn cỏch mạng mới, cần phải tăng cường cụng tỏc giỏm sỏt trong Đảng nhằm chủ động phũng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm của tổ chức đảng và đảng viờn Từ sự phân tích nh− trên, có thể khẳng định:

Giỏm sỏt trong Đảng là việc cỏc cấp ủy, tổ chức đảng theo dừi, xem xột, đỏnh giỏ hoạt động của tổ chức đảng và đảng viờn trong việc chấp hành Cương lĩnh chớnh trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương

Tổ chức đảng cấp trờn được giỏm sỏt tổ chức đảng cấp dưới và đảng viờn; đảng viờn được tham gia giỏm sỏt theo sự phõn cụng của tổ chức đảng

cú thẩm quyền

Như vậy, về nguyờn tắc giỏm sỏt, cần chỳ ý là chỉ cú tổ chức đảng cấp trờn được quyền giỏm sỏt tổ chức đảng cấp dưới và đảng viờn; đảng viờn khụng được tự ý giỏm sỏt, chỉ được tham gia giỏm sỏt theo sự phõn cụng của

tổ chức đảng cú thẩm quyền Tổ chức đảng cấp dưới khụng được giỏm sỏt tổ chức đảng cấp trờn

Chủ thể giỏm sỏt: cỏc tổ chức đảng là chủ thể giỏm sỏt gồm cú: chi bộ

(chi bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ bộ phận), đảng

ủy bộ phận, đảng ủy cơ sở; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, UBKT, cỏc ban

đảng, văn phũng cấp ủy, đảng đoàn, ban cỏn sự đảng cỏc cấp

Trang 23

Đối tượng giám sát:

Các tổ chức đảng là đối tượng giám sát gồm có: chi bộ (chi bộ cơ sở,

chi bộ trong đảng bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ bộ phận), đảng ủy bộ phận, đảng ủy cơ sở, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy các cấp; UBKT, các ban đảng, văn phòng cấp ủy; ban cán sự đảng, đảng đoàn; các tiểu ban, hội đồng, tổ công tác do cấp ủy các cấp lập ra

Đối tượng giám sát là đảng viên gồm có: Cấp ủy viên cùng cấp (kể cả

bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ)

Tất cả mọi đảng viên (kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý)

+ Mối quan hệ giữa giám sát trong Đảng với giám sát của Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội:

Giám sát không chỉ là chức năng lãnh đạo của Đảng, là nhiệm vụ của

các tổ chức đảng trong đó có UBKT các cấp, mà nó còn là chức năng quản lý của Nhà nước và chức năng lãnh đạo của các đoàn thể chính trị - xã hội

Giám sát trong Đảng là giám sát trực tiếp đối với tổ chức đảng và đảng viên theo nguyên tắc, phương pháp công tác Đảng, được tiến hành trong nội

bộ Đảng

Giám sát của Nhà nước là giám sát của Quốc hội, của Hội đồng nhân dân các cấp đối với các cơ quan nhà nước Đây là giám sát mang tính quyền lựcnhà nước mang tính chính trị

Giám sát của các đoàn thể chính trị - xã hội: thông qua Ủy ban Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử

và cán bộ, công chức nhà nước Tính chất của loại hình giám sát này mang ý nghĩa nhân dân, ý nghĩa xã hội

Công tác giám sát trong Đảng, giám sát của Nhà nước và giám sát của các đoàn thể chính trị - xã hội đều là giám sát hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành các quy định, quyÕt định cụ thể, đều có cùng mục đích là nhằm bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được thực hiện đầy đủ, thống nhất ở cơ quan, đơn vị, địa phương; nhằm

Trang 24

tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý nhà nước; góp phần xây dựng tổ chức đảng, bộ máy nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh Tuy nhiên, công tác giám sát trong Đảng với công tác giám sát của các cơ quan nhà nước cũng có những điểm khác nhau về nội dung, đối tượng, phương pháp, lực lượng tiến hành …Về phương pháp giám sát trong Đảng chủ yếu là trực tiếp, thường xuyên, liên tục đối với tổ chức đảng và đảng viên Giám sát của Nhà nước thông qua thanh tra, được pháp luật quy định, giám sát của nhân dân là thông qua phản biện xã hội, giám sát trực tiếp thông qua cơ quan đại diện, thông qua tổ chức của mình mà giám sát đảng viên

Công tác giám sát trong Đảng có quan hệ mật thiết với giám sát của các đoàn thể chính trị - xã hội khác, trong đó chủ yếu với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng… Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng

1.2 Vị trí, vai trò công tác giám sát trong Đảng

Trong lịch sử thế giới, chế độ giám sát đã có từ đời Tần Thủy Hoàng (năm 221 tr.Cn) Từ đó đến nay, nó vẫn tồn tại, phát triển cùng với các nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội

Vào thời kỳ C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lê-nin, các Ông chưa sử dụng khái niệm giám sát mà thường sử dụng khái niệm kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát Tuy nhiên khi nói kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát các Ông đã bao hàm cả nội dung giám sát

Trong các tác phẩm của mình, do điều kiện hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, C.Mác chưa đề cập sâu đến công tác kiểm tra, giám sát của một đảng cầm quyền, nhưng đã thể hiện rõ quan điểm về kiểm tra, giám sát trong quản lý kinh tế-xã hội Theo C.Mác, để đạt được kế hoạch, mục tiêu đã đề ra phải tiến hành kiểm tra, giám sát Kiểm tra, giám sát là phương thức hành động quan trọng để thực hiện mục tiêu

Trang 25

Vấn đề kiểm kờ, kiểm tra, kiểm soỏt là một trong những vấn đề được V.I.Lờ-nin đặc biệt quan tõm Ngay từ trước khi Cỏch mạng Thỏng Mười năm

1917 nổ ra và trong những năm đầu của Nhà nước Xụ-viết (khi V.I.Lờ-nin cũn sống), Người đó cú rất nhiều bài viết, bài phỏt biểu trong cỏc hội nghị và những bức thư gửi cho cỏc đồng chí lónh đạo Đảng và Chớnh quyền đề cập đến vấn đề kiểm kờ, kiểm tra, kiểm soỏt; việc xõy dựng, cải tổ bộ mỏy làm cụng tỏc kiểm kờ, kiểm tra, kiểm soỏt; việc tổ chức và phương phỏp kiểm kờ, kiểm tra, kiểm soỏt V.I.Lờ-nin luụn coi cụng tỏc kiểm kờ, kiểm tra, kiểm soỏt là một cụng cụ hữu hiệu và là một trong những nội dung lónh đạo quan trọng đối với cỏc tổ chức đảng, cơ quan nhà nước Theo V.I.Lờ-nin muốn thực hiện tốt nhiệm vụ chớnh trị đó đề ra thỡ những người cộng sản phải nắm chắc công cụ kiểm kờ, kiểm tra, kiểm soỏt, coi đú như là: “những nhiệm vụ đó trở thành tự nhiờn đối với những người xó hội chủ nghĩa sau khi đó giành được chớnh quyền”(11)

Sau khi Cỏch mạng Thỏng Mười năm 1917 thành cụng, giai cấp vụ sản

Nga đó giành được chớnh quyền và thực hiện “việc tước đoạt kẻ đi tước đoạt”

Trọng tõm của cuộc đấu tranh cỏch mạng Nga lỳc bấy giờ chuyển sang lĩnh vực quản lý đất nước, mà nội dung chủ yếu là quản lý kinh tế, trong đú bao hàm hai nhiệm vụ quan trọng nhất: tổ chức kiểm kờ, kiểm soỏt việc sản xuất, phõn phối sản phẩm và nõng cao năng suất lao động V.I.Lờ-nin viết: “Trọng tõm của cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản đang chuyển sang cụng tỏc tổ chức việc kiểm kờ, kiểm soỏt”(12) “Và vỡ vậy, kiểm kờ và kiểm soỏt phải được đặt thành vấn đề nổi bật trong toàn bộ việc quản lý nhà nước”(13)

Bằng những kinh nghiệm thực tế lónh đạo Đảng Bụnsờvớch Nga và Chớnh quyền Xụviết trong những năm đầu tiờn, V.I.Lờ-nin đó rỳt ra tớnh tất yếu Đảng và Nhà nước phải nắm chắc cụng tỏc kiểm kờ, kiểm tra, kiểm soỏt Theo V.I.Lờ-nin nếu buụng lỏng kiểm kờ, kiểm tra, kiểm soỏt thỡ những người

vụ sản sẽ lại trở lại thành người nụ lệ Người viết:

(11) V.I.Lờnin, Toàn tập, tập 36, Nxb Tiến bộ, M., 1977, tr.298

(12) Sđd, tập 38, tr.221

(13) (14) Sđd, tập 38, tr.166, 224

Trang 26

rằng nếu nhà nước không tiến hành kiểm kê và kiểm soát toàn diện đối với việc sản xuất và phân phối các sản phẩm, thì chính quyền của những người lao động, nền tự do của họ, sẽ không thể nào duy trì được và nhất định

họ sẽ phải sống trở lại dưới ách của chủ nghĩa tư bản(14)

V.I.Lê-nin cho rằng việc tổ chức kiểm kê và kiểm soát toàn dân để

“điều tiết đời sống kinh tế” là nhiệm vụ trọng tâm mà tất cả các nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đều phải thực hiện, V.I.Lê-nin viết:

“Thống kê và kiểm soát, đó là điều chủ yếu cần thiết cho cả việc “tổ chức”, lẫn hoạt động đều đặn của xã hội cộng sản chủ nghĩa, trong giai đoạn đầu của nó”(15)

Như vậy, khi trọng tâm của cuộc đấu tranh cách mạng đã chuyển sang lĩnh vực quản lý đất nước, theo V.I.Lê-nin, muốn thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị đã đề ra thì những người cộng sản phải nắm chắc công cụ kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát Phải coi công tác kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát là một công cụ hữu hiệu và là một trong những nội dung lãnh đạo quan trọng đối với

tổ chức đảng, cơ quan nhà nước Thực hiện việc tổ chức kiểm kê và kiểm soát toàn dân để quản lý và điều hành các hoạt động của xã hội là nhiệm vụ trọng tâm mà tất cả các nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đều phải thực hiện

Trong cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là lý luận của V.I.Lênin về xây dựng Đảng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và của Đảng ta, nhất là trong điều kiện ®ảng cầm quyền Trong đó có công tác giám sát của Đảng và Nhà nước, bao gồm cả giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên, giám sát của các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói về giám sát một cách linh hoạt, bằng những ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu; bao hàm cả giám sát trong Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, giám sát đối với cán bộ, đảng viên, công chức Nhìn chung, khó tách bạch trong tư

Trang 27

tưởng của Người đâu là giám sát đối với Đảng và đảng viên, đâu là giám sát đối với Nhà nước và cán bộ, công chức (cũng có trường hợp Người nói riêng

về giám sát trong Đảng, giám sát đối với cán bộ, đảng viên) Thực tế cho thấy, trong suốt cuộc đời hoạt động và lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng khái niệm giám sát không nhiều Trong các bài nói bài viết của mình, Người thường dùng các khái niệm “kiểm soát”, “kiểm tra”, “xem xét”, “điều tra”, “nắm tình hình”, “nghe báo cáo” là chủ yếu và để thay cho khái niệm “giám sát” Thực chất trong tư tưởng của Người, khái niệm “giám sát” đã bao hàm cả “kiểm soát”, “kiểm tra”, Dùng như vậy sẽ vừa chính xác, vừa sát hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của tình hình thực tế; có nhấn mạnh mặt công tác kiểm soát hay mặt công tác kiểm tra trong từng trường hợp, từng tình huống cụ thể

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi đã có đường lối, chủ trương, chính sách đúng, thì việc thành công hay thất bại của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong thực tế còn do cách tổ chức công việc, do lựa chọn cán

bộ và do kiểm tra, kiểm soát - tức là phải giám sát xem việc thực hiện có đến nơi đến chốn hay không Trong bài “Một việc mà các cơ quan lãnh đạo cần làm ngay”, Người viết: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán

bộ, và do nơi kiểm tra Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng

vô ích”(16)

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích, ý nghĩa, tác dụng của công tác giám sát là giúp Đảng và Nhà nước nắm chắc được tình hình lãnh đạo, thực hiện các chủ trương, chính sách trong thực tế cuộc sống, thấy được tổ chức, cá nhân nào chấp hành tốt, tổ chức, cá nhân nào chấp hành không tốt, có gì đúng đắn, có gì không phù hợp cần phải uốn nắn, bổ khuyết Đồng thời, Người yêu cầu phải luôn luôn chú trọng và thường xuyên tiến hành công tác giám sát trong Đảng, Nhà nước, đối với cán bộ, đảng viên Vì theo Người, tác dụng của công tác giám sát, kiểm tra là: “Vì kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo

Trang 28

dục đảng viên và cán bộ làm tròn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân Do đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng

về tư tưởng, về tổ chức”(17)

Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng; là một khâu quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng; là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng Công tác giám sát giúp Đảng và Nhà nước nắm chắc được tình hình lãnh đạo, thực hiện các chủ trương, chính sách trong thực tế cuộc sống, thấy được tổ chức,

cá nhân nào chấp hành tốt, tổ chức, cá nhân nào chấp hành không tốt, có gì đúng đắn, có gì không phù hợp cần phải uốn nắn, bổ khuyết; công tác giám sát giúp Đảng và Nhà nước quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, giúp cho họ tự tu dưỡng, trau dồi đạo đức cách mạng, tính tiền phong gương mẫu của người cộng sản; công tác giám sát còn giúp Đảng chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những sai phạm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, phòng chống “bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị”, “có mắt

mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững, ”

Kiểm tra, giám sát là việc làm cần thiết đối với mọi tổ chức và con người trong xã hội, đặc biệt là đối với chính Đảng của giai cấp vô sản và những người cộng sản Đảng Cộng sản Việt Nam, chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ Nam cho hành động Vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác giám sát, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng ta luôn coi trọng và tiến hành công tác giám sát Đảng ta luôn nhận thức đúng và cho rằng, giám sát là công việc không thể thiếu trong hoạt động lãnh đạo và quản

lý, diễn ra trong tất cả các khâu của quy trình lãnh đạo và quản lý của Đảng

(16) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.520

Trang 29

và Nhà nước Do đó, Đảng ta đã rất quan tâm đến công việc giám sát hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên và các tổ chức trong hệ thống chính trị

Điều lệ Đảng chính thức được thông qua tháng 10 năm 1930 đã quy định: trách nhiệm của đảng viên và cán bộ là giữ gìn kỷ luật Đảng một cách nghiêm khắc Tất cả đảng viên đều phải chấp hành các nghị quyết của Quốc

tế Cộng sản, của Đảng đại hội, của Trung ương và của thượng cấp cơ quan Đối với vấn đề phạm kỷ luật thì do toàn bộ chi bộ hoặc cấp đảng bộ tra xét Các cấp ủy viên có thể đặt ra đặc biệt ủy viên để tra xét những vấn đề vi phạm

kỷ luật đảng

Trong Nghị quyết chính trị của Đại hội Đại biểu lần thứ Nhất Đảng Cộng sản Đông Dương – Đại hội họp từ 27 đến 31 tháng 3 năm 1935 (Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay) đã khẳng định: “Cần giữ kỷ luật sắt cho Đảng, những phần tử đi trái đường chính trị chung của Đảng, của Quốc tế Cộng sản

mà không chịu sửa lỗi, những kẻ không phục tùng nghị quyết, Điều lệ, phá hoại kỷ luật của Đảng thì nhất thiết phải khai trừ ”(18)

Ngày 16 tháng 10 năm 1948 Ban Kiểm tra Trung ương được thành lập, đây là sự kiện rất quan trọng đánh dấu sự ra đời của cơ quan kiểm tra chuyên trách của Đảng và sự phát triển của ngành kiểm tra Đảng, đồng thời cũng thể hiện rõ quan điểm của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức bộ máy kiểm tra Đảng

Tại Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (từ 11 đến 19 tháng 02 năm 1951), Đảng ta đã khẳng định: “Đảng Lao động Việt Nam phải có kỷ luật sắt”(19)

Trong Báo cáo về việc sửa đổi Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ở Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (năm1960) đã yêu cầu: “Phải tăng cường công tác kiểm tra và giám sát của Đảng đối với cán bộ và cơ quan Nhà nước, giữ gìn kỷ luật nghiêm minh,

xử lý thích đáng đối với những phần tử quan liêu gây tác hại nghiêm trọng

(18) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1998, tr.31

(19) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội, 1998, tr.159

Trang 30

cho Đảng và cho Nhà nước”(20) Và nhấn mạnh: “Lãnh đạo mà không có kiểm tra thì lãnh đạo sẽ trở thành quan liêu”(21)

Trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại Đại hội VIII, Đại hội IX của Đảng cũng ghi “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ và chịu sự giám sát của nhân dân ”(22) Do đó, Đảng cần

cả “sự giám sát nội bộ Đảng” và chịu “sự giám sát của nhân dân” điều đó sẽ giúp cho việc tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, cơ hội thực dụng, cá nhân chủ nghĩa, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; sự tê liệt của một số tổ chức đảng, ngăn ngừa các nguy cơ của một đảng cầm quyền, nhất là nguy cơ chệch hướng, nguy cơ tham nhũng, Tuy nhiên, theo quy định của Điều lệ Đảng, trước đây các cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp chủ yếu là thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, còn chức năng, nhiệm vụ giám sát trong Điều lệ Đảng chỉ quy định “Đảng chịu sự giám sát của nhân dân”, chưa quy định cụ thể việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp và đảng viên Nhưng trong thực tế các cấp ủy (kể cả Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư), tổ chức đảng, UBKT các cấp và đảng viên đã và đang thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát với nội dung, phạm vi, đối tượng còn hẹp Tuy nhiên, nhiệm vụ này chưa được xác định một cách rõ ràng và chưa được thực hiện theo chương trình, kế hoạch cũng như quy trình, biện pháp cụ thể và đặc biệt chưa bố trí lực lượng tiến hành thường xuyên

Giám sát hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên là vấn đề cấp bách trong tình hình hiện nay, nó xuất phát từ đòi hỏi khách quan của công tác xây dựng Đảng và yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, bảo đảm cho Đảng ta, trước hết là các cơ quan lãnh đạo và những người lãnh đạo của Đảng luôn kiên định về chính trị, vững vàng về đường lối, không chệch hướng; có phẩm chất cách mạng tốt, ngăn ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống Nhất là trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, một Đảng lãnh

(20) (21) Sđd,, tập 21, tr.703, 744

Trang 31

đạo cả hệ thống chính trị mà không được giám sát chặt chẽ rất dễ dẫn đến tình trạng lộng quyền, lạm quyền và làm giảm lòng tin của nhân dân, tất nhiên sẽ dẫn đến tiêu cực, quan liêu, tham nhũng Đó là những nguy cơ bên trong làm suy yếu, thậm chí làm tan rã Đảng Do đó, trong giai đoạn cách mạng mới, cần phải tăng cường công tác giám sát trong Đảng nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát là của toàn Đảng, trong đó có UBKT các cấp là cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát trong Đảng

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ phải tăng cường công tác giám sát của Đảng; Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X cũng đã quy định chính thức chức năng, nhiệm vụ giám sát cho các cấp ủy, tổ chức đảng và UBKT của cấp Đại hội nhấn mạnh coi việc kiểm tra, giám sát trước hết là nhiệm vụ của cấp ủy đảng, phải gắn công tác kiểm tra với công tác giám sát, có giám sát mới phát hiện được các vấn đề, mới khắc phục được các thiếu sót, khuyết điểm ngay từ lức còn manh nha

Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ giám sát trong Đảng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, tiếp tục tiến hành cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đảng, của dân tộc ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay, đòi hỏi Đảng phải nghiên cứu vận dụng sáng tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác giám sát, kiểm tra, kiểm soát Trên cơ sở đó, xác định rõ nội dung, đối tượng giám sát phù hợp; đề ra những phương pháp, hình thức và thẩm quyền giám sát hữu hiệu đối với từng cấp ủy, tổ chức đảng và UBKT các cấp Việc giám sát phải thực hiện một cách toàn diện; giám sát việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; giám sát việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, giữ gìn kỷ luật trong Đảng Thực hiện sự giám sát của tổ chức đối với tổ chức; của tổ chức đối với cá nhân; kể cả đối với những người giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt

ở tất cả các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước Đối với những tổ chức càng cao, càng cần phải được

Trang 32

giám sát chặt chẽ Người giữ quyền hành càng lớn càng cần phải được giám sát nghiêm ngặt Bởi vì, kinh nghiệm của một số nước cho thấy rằng: có khi chỉ là sai lầm của một số người có quyền lực có thể dẫn đến làm suy yếu hoặc thậm chí tan rã cả một tổ chức Do đó, Đảng phải tăng cường sự giám sát trong nội bộ Đảng và chịu sự giám sát của nhân dân

Lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng

ta đã chỉ rõ những mặt mạnh, đồng thời cũng nhấn mạnh những nguy cơ của một đảng cầm quyền có thể xảy ra, nếu như không có những giải pháp ngăn ngừa hữu hiệu tư tưởng quan liêu, xa rời thực tế và sự sai lầm về đường lối

Để ngăn chặn những nguy cơ của ®ảng cầm quyền, một trong những công cụ quan trọng là phải kiểm tra, giám sát thường xuyên Do đó, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn coi trọng công tác giám sát, coi giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của mọi tổ chức đảng và đảng viên, là “nhiệm vụ trọng tâm mà tất cả các nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đều phải thực hiện” Công tác giám sát giúp cho Đảng và Nhà nước nắm chắc được tình hình lãnh đạo, thực hiện các chủ trương, chính sách trong thực tế cuộc sống; xem xét, đánh giá đường lối, chính sách có gì phù hợp, có gì không phù hợp để uốn nắn lệch lạc, bổ sung, hoàn thiện đường lối, quan điểm, nguyên tắc và đổi mới nội dung, hình thức lãnh đạo của Đảng Bảo đảm cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng được chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị; công tác giám sát góp phần phục

vụ công tác xây dựng Đảng, xây dựng tổ chức đảng vững mạnh về chính trị,

tư tưởng, tổ chức Giúp cho việc tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong Đảng Công tác giám sát giúp Đảng và Nhà nước quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức; giúp cho họ tự tu dưỡng, trau dồi đạo đức cách mạng, tính

Trang 33

tiền phong gương mẫu của người cộng sản; đấu tranh phũng ngừa, ngăn chặn

sự suy thoỏi về tư tưởng chớnh trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, cơ hội thực dụng, cỏ nhõn chủ nghĩa, phũng chống bệnh quan liờu, tham nhũng của một

bộ phận cỏn bộ, đảng viờn, sự tờ liệt của một số tổ chức đảng, ngăn ngừa cỏc nguy cơ của một đảng cầm quyền, nhất là nguy cơ chệch hướng, nguy cơ tham nhũng, Qua thực hiện chức năng, nhiệm vụ giỏm sỏt, tạo điều kiện thuận lợi cho UBKT trong việc tăng khả năng, điều kiện chủ động nắm bắt tỡnh hỡnh, phỏt hiện dấu hiệu vi phạm để kiểm tra khi cú dấu hiệu vi phạm đỳng trọng tõm, trọng điểm, đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn; khắc phục được những khú khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra

1.3 Nội dung và nguyên tắc cơ bản chỉ đạo, tiến hành giám sát trong Đảng

1.3.1 Nội dung cơ bản chỉ đạo, tiến hành giám sát trong Đảng

Qua khảo sát, kế thừa kết quả nghiên cứu, chúng tôi cho rằng có 4 nội dung sau:

Thứ nhất : Công tác giám sát trong Đảng phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, nhằm thực hiện thắng lợi những nhiệm

Một: Tính chủ động của công tác giám sát trong Đảng:

Hai: Tính chiến đấu của công tác giám sát trong Đảng:

Ba: Tính giáo dục của công tác giám sát trong Đảng:

Bốn: Tính hiệu quả của công tác giám sát:

Thứ ba: Phải nắm vững và thực hiện tốt phương pháp cơ bản của công tác giám sát trong Đảng

Trang 34

Công tác giám sát trong Đảng là công tác lãnh đạo của Đảng, là công tác xây dựng Đảng, là sinh hoạt nội bộ Đảng Do đó, tiến hành công tác giám sát phải theo đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đúng tính chất công tác Đảng Phải nắm vững và thực hiện tốt phương pháp cơ bản của công tác giám sát là: dựa vào đảng viên và tổ chức đảng; phát huy tinh thần tự giác, phê bình và tự phê bình của đảng viên và tổ chức đảng; phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng; kết hợp công tác giám sát trong Đảng với công tác thanh tra của Nhà nước, thanh tra nhân dân, công tác kiểm tra của các

đoàn thể chính trị - xã hội, nghề nghiệp và phối hợp với các ban, ngành có liên quan

Một: Dựa vào tổ chức đảng

Hai: Phát huy tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng viên

Ba: Phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng

Bốn: Kết hợp chặt chẽ công tác giám sát trong Đảng với công tác thanh tra của Nhà nước, thanh tra nhân dân, công tác giám sát của các đoàn thể chính trị - xã hội, nghề nghiệp và phối hợp với các ban, ngành có liên quan

Thứ tư: Phải nắm vững và thực hiện tốt các hình thức giám sát

Tùy vào yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng và nội dung giám sát để lựa chọn hình thức giám sát thích hợp

* Giám sát thường xuyên

* Giám sát chuyên đề

1.3.2 Nguyên tắc giám sát trong Đảng

Theo quy định của Điều lệ Đảng khoá X thì giám sát trong Đảng phải bảo đảm bốn nguyên tắc:

Một là, tổ chức đảng cấp trên được quyền giám sát tổ chức đảng cấp

dưới và đảng viên Tổ chức đảng cấp trên (cấp uỷ, các ban của cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp ) được quyền giám sát tổ chức đảng cấp dưới (cấp uỷ, các ban của cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp, ban cán sự đảng, đảng đoàn) và đảng viên thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý của cấp uỷ, hoặc thuộc lĩnh vực được

Trang 35

phân công phụ trách (các ban của cấp uỷ, ban cán sự đảng, đảng đoàn), hoặc theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao (uỷ ban kiểm tra các cấp)

Hai là , đảng viên không được tự ý giám sát, chỉ được tham gia giám sát theo sự phân công của tổ chức đảng có thẩm quyền Nếu để đảng viên tự ý

giám sát thì rất khó quản lý, sẽ gây phức tạp, nhất là trong trường hợp đảng viên giám sát vì mục đích cá nhân (tự theo dõi, điều tra )

Ba là , quá trình tiến hành giám sát của tổ chức đảng và việc tham gia giám sát của đảng viên theo sự phân công của tổ chức đảng có thẩm quyền phải bảo đảm công khai, dân chủ Giám sát trong Đảng phải bảo đảm các

nguyên tắc, phương pháp cơ bản của công tác đảng, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, tức là phải công khai, dân chủ, không sử dụng hình thức giám sát bí mật của các cơ quan bảo vệ pháp luật vào công tác giám sát của Đảng Trong quá trình tiến hành giám sát, chủ thể giám sát phải có chương trình, kế hoạch, xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, đối tượng, hình thức giám sát,

có sự gặp gỡ, quan sát, theo dõi, trao đổi, chất vấn trực tiếp giữa chủ thể giám sát và đối tượng giám sát Qua giám sát, có nhận xét, đánh giá cụ thể và được thông báo công khai giữa chủ thể giám sát với đối tượng giám sát Phải bảo

đảm dân chủ giữa chủ thể giám sát với đối tượng giám sát, không thiên tư, thiên kiến, không có sự áp đặt trong quá trình tiến hành giám sát

Bốn là, Đảng (tổ chức đảng và đảng viên) chịu sự giám sát của nhân dân bằng quy chế, quy định cụ thể

Từ các nguyên tắc đó của giám sát trong Đảng, đòi hỏi phương pháp, hình thức giám sát phải toàn diện và sát hợp Về phương pháp giám sát, có giám sát từ trên xuống, có giám sát từ trong ra, từ ngoài vào Về hình thức

giám sát, có hình thức giám sát trực tiếp và hình thức giám sát gián tiếp Giám

sát trực tiếp thông qua: các hội nghị, các kỳ họp của cấp uỷ, tổ chức đảng; yêu

cầu tổ chức đảng và đảng viên trực tiếp báo cáo với tổ chức đảng cấp trên hoặc

đại diện của tổ chức đảng cấp trên; trực tiếp chỉ đạo, theo dõi tổ chức đảng cấp

dưới thực hiện yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức cấp trên giao Giám sát gián tiếp

Trang 36

thông qua việc nắm tình hình phản ảnh của các tổ chức nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội, phản ảnh của quần chúng và cán bộ, đảng viên đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi giám sát; qua các văn bản, báo cáo của

tổ chức đảng cấp dưới gửi tổ chức đảng cấp trên hoặc tổ chức đảng cấp trên gửi cho tổ chức đảng cấp dưới theo quy định

Để thực hiện tốt việc giám sát, ngoài các quy định, hướng dẫn thi hành

Điều lệ Đảng của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương cần phải ban hành các quy chế, quy định cụ thể về công tác giám sát, như Quy chế giám sát trong

Đảng, quy chế nhân dân giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên, Quy chế chất vấn trong Đảng; quy chế dân chủ trong Đảng; Quy chế phối hợp trong việc

thực hiện giám sát của uỷ ban kiểm tra với các tổ chức đảng có liên quan

Chương 2

CễNG TÁC GIÁM SÁT TRONG ĐẢNG HIỆN NAY - THỰC TRẠNG, NGUYấN NHÂN, KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

2.1 Cụng tỏc giỏm sỏt trong Đảng trước Đại hội X

Để gúp phần ngăn chặn và phũng ngừa vi phạm, trong những năm qua, cấp uỷ cỏc cấp, cỏc ban của cấp ủy, UBKT cỏc cấp đó cú sự quan tõm đến cụng tỏc giỏm sỏt tổ chức đảng cấp dưới và đảng viờn, nhất là cấp uỷ viờn cỏc cấp và cỏn bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý trong việc lónh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cỏc chương trỡnh mục tiờu của cấp uỷ đề ra; việc thực hiện cỏc chủ trương, chớnh sỏch, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chớnh sỏch phỏp luật của Nhà nước

- Chủ thể giỏm sỏt là cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ, cỏc ban tham mưu của cấp uỷ căn cứ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao tiến hành giỏm sỏt theo sự phõn cụng của cấp uỷ

- Đối tượng giỏm sỏt là tổ chức đảng cấp dưới và cỏn bộ, đảng viờn

Trang 37

- Phương thức giám sát: Công tác giám sát không tiến hành độc lập,

riêng lẻ mà có sự kết hợp chặt chẽ giữa giám sát và kiểm tra, kết luận, xem xét, xử lý vi phạm

Ở Trung ương: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, các ban ở Trung ương phân công cán bộ, chuyên viên chuyên trách theo dõi, kiểm tra, giám sát địa phương, đơn vị Các cán bộ, chuyên viên được phân công theo dõi địa phương, đơn vị dự các cuộc họp của cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ, nghiên cứu, thu thập tài liệu, nghe cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân phản ánh báo cáo tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, kiểm tra,

xử lý

Ở cấp tỉnh: ban thường vụ tỉnh uỷ phân công mỗi đồng chí thường vụ phụ trách, theo dõi, giám sát từ 1 đến 2 huyện Ở cấp huyện, ban thường vụ huyện uỷ phân công mỗi đồng chí giám sát theo cụm xã Các ban của cấp ủy phân công cán bộ, chuyên viên theo dõi, giám sát địa bàn, khu vực

Thông qua công tác giám sát, các tổ chức đảng có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, kết luận kịp thời phát huy những ưu điểm, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm của các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện

a- Kết quả kiểm tra, giám sát việc chấp hành Nghị quyết Đại hội Đảng khóa VIII, Đại hội Đảng IX, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương,

Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp uỷ về kinh tế- xã hội, về xây dựng Đảng

và quốc phòng, an ninh

Qua kết quả giám sát các lĩnh vực trên, nổi lên một số vấn đề đáng chú ý là:

- Khi kiểm tra, giám sát lĩnh vực kinh tế, tài chính đã phát hiện thiếu sót, khuyết điểm hoặc có dấu hiệu vi phạm xảy ra ở mọi cấp, mọi ngành, trên hầu hết nội dung đã được giám sát; có lĩnh vực ngày càng nặng nề và nghiêm trọng hơn Kết quả giám sát cho thấy, nơi nào có lợi ích thì ở đó đều có khuyết điểm hoặc sai phạm Kiểm tra, giám sát hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu tuy đã được cảnh báo rất nhiều, nhưng việc vi phạm vẫn xảy ra nghiêm trọng, điển hình như vụ việc xảy ra tại Cửa khẩu Tân Thanh (Lạng

Trang 38

Sơn); Hải quan Tây Ninh; vụ việc cấp Quota dệt may ở Bộ Thương mại… Trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, việc bỏ sót nguồn thu, lập quỹ trái phép, cho vay tuỳ tiện thành nợ xấu, nợ khó đòi dẫn đến mất khả năng thanh toán xảy ra ở không ít nơi Đây thực sự là vấn đề nghiêm trọng đặt ra, cấp uỷ cần phải suy nghĩ để có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết dứt điểm

- Kiểm tra, giám sát về thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong quản lý,

sử dụng ngân sách Nhà nước: Mặc dù Đảng và Nhà nước đã có những quy định khá cụ thể, nhưng vi phạm vẫn tràn lan, như việc mua xe ô tô con vượt quá định mức tiêu chuẩn Có nơi mua xe hàng mấy tỷ đồng để trang bị cho lãnh đạo Việc mua sắm và thanh toán tiền cước phí điện thoại tại nhà riêng, chỉ trong 2 năm 2001, 2002 cũng vượt tiêu chuẩn hơn 10 tỷ đồng; việc xây dựng trụ sở làm việc diện tích vượt quy định; có nơi đem sử dụng vào mục đích khác và cho thuê cũng tới hàng chục vạn mét vuông… ngoài ra còn có nhiều hình thức lãng phí khác

- Kiểm tra, giám sát lĩnh vực văn hoá- xã hội, cũng phát hiện nhiều vi phạm Bệnh thành tích trong giáo dục, tiêu cực, gian lận trong thi cử và vi phạm văn bằng, chứng chỉ trong giáo dục (nạn bằng thật học giả hoặc bằng giả) vẫn còn nhiều; trong lĩnh vực y tế, nổi nên là tình trạng buông lỏng quản

lý việc khám, chữa bệnh và giá thuốc tân dược; vấn đề y đức bị xuống cấp, một số bác sĩ móc nối với c¸c d−îc sÜ, với các nhà thuốc, kê đơn theo toa thu lợi bất chính Trong giới thiệu việc làm, còn một số trung tâm được sự tiếp tay của một số cán bộ thoái hoá, biến chất lừa đảo giới thiệu xuất khẩu lao động để trục lợi Đặc biệt là trong các chương trình, dự án xoá đói, giảm nghèo cho vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, tiền dự án cũng bị ăn chặn và thất thoát Thậm chí trong thực hiện chính sách thương binh- xã hội, cũng xuất hiện việc cấp và sử dụng thẻ thương binh giả để hưởng sai chính sách, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước; trong tìm kiếm hài cốt liệt sĩ cũng xuất hiện tiêu cực… Các quỹ đền ơn đáp nghĩa, vì người nghèo, từ thiện, ủng

hộ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt… cũng bị tham ô, bớt xén, gây bất bình đối với quần chúng nhân dân

Trang 39

Những vấn đề như: tài chính, đất đai, mua sắm trang thiết bị… trong lực lượng Công an, Quân đội lâu nay ít được kiểm tra, giám sát nên cũng chứa đựng nhiều sai phạm; một số đơn vị quân đội đã xảy ra những sai phạm về sử dụng đất đai, quản lý, chi tiêu các quỹ, có nơi vị phạm rất nghiêm trọng

- Kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực tư pháp đã phát hiện trong điều tra, truy tố, xét xử còn nhiều sai phạm, án tồn đọng lớn; quá trình tố tụng và xét

xử một số vụ án không công bằng, khách quan, còn để oan sai, lọt tội Ở một

số cơ quan bảo vệ pháp luật, việc vi phạm về thu chi ngân sách không đúng quy định vẫn còn xảy ra

b-Kiểm tra, giám sát việc chấp hành chủ trương, chính sách của Nhà nước; lãnh đạo, chỉ đạo việc quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực: sản xuất kinh doanh, tài chính, ngân hàng, xây dựng cơ bản, quản lý, sử dụng đất đai…

Đây là những lĩnh vực khó khăn, phức tạp, nhạy cảm và hay xảy ra sai phạm Qua công tác kiểm tra, giám sát các lĩnh vực trên, đã phát hiện:

- Về quản lý đất đai và đầu tư xây dựng cơ bản, đây là những lĩnh vực hết sức nóng bỏng, bức xúc và có tính thời sự nhất hiện nay Trong khi nhiều

vụ việc tồn đọng chưa được giải quyết dứt điểm thì hàng loạt những vụ việc nghiêm trọng mới được phát hiện hoặc tiếp tục phát sinh Theo báo cáo của các cơ quan chức năng trong tổng số tố cáo, khiếu nại thì có tới 65-70% tố cáo, khiếu nại thuộc về lĩnh vực đất đai Vi phạm về đất đai chủ yếu là cấp, bán đất trái thẩm quyền; cấp sai đối tượng, sai quy hoạch; bỏ đất hoang, buông lỏng quản lý để dân lấn chiếm đất công, tự ý sang nhượng trái phép…Kết quả kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng đất đai trong thời gian qua cho thấy tình hình vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra còn nhiều và phổ biến ở hầu hết các địa phương, các cấp, các ngành Từ việc vi phạm khi giao đất, thu và sử dụng tiền sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cho thuê, chuyển nhượng trái phép đất đã được giao cho thuê nhưng để quá thời hạn theo quy định, không sử dụng, đến việc sử dụng tài sản công là nhà, đất gây lãng phí rất lớn, như: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Dương, Khánh Hoà, Bắc Ninh, Cần Thơ… Theo báo cáo tự kiểm tra của 25

Trang 40

địa phương, số đất phải thu hồi trong 03 năm gần đây là 96.789 ha, phần nhiều là ở các tỉnh: Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Khánh Hoà, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh *

Các thiếu sót, khuyết điểm hoặc vi phạm về đất đai hầu như ở địa phương nào cũng có, càng ở các trung tâm đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch càng nghiêm trọng hơn Có nơi việc duyệt cấp và chuyển nhượng trái phép đất đai xảy ra rất nghiêm trọng, không theo đúng quy định của Nhà nước, như ở Hà Tây, Hải Phòng, Tây Ninh… Thậm chí còn tự do chuyển nhượng cả đất quốc phòng; san cả rừng phòng hộ, cấp đất đã có quyết định xây dựng đồn biên phòng cho doanh nghiệp để làm khu dân cư mà không được phép, như ở huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

- Kết quả kiểm tra, giám sát về đầu tư xây dựng cơ bản trong thời gian qua đã phát hiện nhiều vi phạm trong việc bố trí, quản lý và sử dụng vốn, thực hiện quy chế đấu thầu, khảo sát, thiết kế, trong giám sát thi công công trình… gây thất thoát, lãng phí nghiêm trọng Đáng kể là việc nợ vốn sau khi quyết toán các công trình xây dựng cơ bản

Theo báo cáo tự kiểm tra của 41 cấp uỷ địa phương, tính đến hết năm

2005, tổng số nợ đọng về xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách của các công trình hoàn thành đưa vào sử dụng là 6.434 tỷ đồng (không tính các công trình chưa hoàn thiện đang trong thời gian thi công) Trong đó, chưa xác định được nguồn vốn thanh toán 79 tỷ đồng, tập trung ở một số tỉnh Hà Tây, Hà Tĩnh, Đắc Lăk…Đặc biệt, tỉnh Hà Giang còn 2.176 công trình, dự án còn thiếu vốn; trong đó 972 công trình hoàn thành nhưng chưa quyết toán đã gây

dư luận không tốt đối với cả nước

- Kiểm tra, giám sát về công tác cán bộ; về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; về quy hoạch cán bộ; về đào tạo, bồi dưỡng; về đề bạt, luân chuyển cán bộ; về thực hiện chính sách cán bộ

Ngày đăng: 29/10/2016, 16:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w