Kết quả nghiên cứu của đề tài thể hiện được tính khả thi và hiệu quả của việc áp dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học theo hướng tích cực hóa người học, qua đó đã góp phần nâng cao t
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ
LÊ THỊ LỆ TÂM
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC CHO MÔN TIẾNG ANH 9 TẠI TRƯỜNG THCS LINH ĐÔNG, QUẬN THỦ ĐỨC, TP.HCM
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401
Tp Hồ Chí Minh, năm 2014
S K C0 0 4 3 7 3
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ
LÊ THỊ LỆ TÂM
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC CHO MÔN TIẾNG ANH 9 TẠI TRƯỜNG THCS LINH ĐÔNG, QUẬN THỦ ĐỨC, TP.HCM
Tp Hồ Chí Minh, năm 2014 NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401
Trang 4LÝ LỊCH KHOA HỌC
I LÝ LỊCH SƠ LƢỢC:
Họ và tên: LÊ THỊ LỆ TÂM Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 04/5/1978 Nơi sinh: TP.HCM
Chức vụ, đơn vị công tác trước khi học tập, nghiên cứu: Phó Hiệu trưởng trường THCS Linh Đông, quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh
Chỗ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: 489 Kha Vạn Cân, KP5, phường Linh Đông, quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh
II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO:
Thời gian Nơi công tác Công việc đảm nhiệm
Từ 9/2001 đến 7/2011 Trường THCS Linh Đông Giáo viên
Từ 8/2011 đến 7/2013 Trường THCS Linh Đông Phó Hiệu trưởng
Từ 8/2013 đến nay Phòng GD-ĐT Quận Thủ Đức Chuyên viên
Thủ Đức, ngày 01 tháng 10 năm 2014 Người khai ký tên
Lê Thị Lệ Tâm
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 10 năm 2014
Ký tên
Lê Thị Lệ Tâm
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Người nghiên cứu xin chân thành cám ơn:
TS Đoàn Thị Huệ Dung đã tận tình giúp đỡ, định hướng và hướng dẫn cho người nghiên cứu trong quá trình nghiên cứu đề tài Quý Thầy Cô trong Hội đồng báo cáo chuyên đề 2 đã nhận xét, góp ý và khuyến nghị cho người nghiên cứu hoàn thiện đề tài
Quý Thầy, Cô Viện Sư phạm Kỹ thuật trường Đại học Sư Phạm
Kỹ thuật TP.HCM đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu Ban Giám hiệu, quý Thầy Cô và các em học sinh trường THCS Linh Đông đã nhiệt tình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài
Các Anh, Chị học viên lớp Cao học Giáo dục học 12B của trường Đại học Sư Phạm Kỹ thuật TP.HCM đã đóng góp ý kiến chân thành cho đề tài của người nghiên cứu
LÊ THỊ LỆ TÂM
Trang 7TÓM TẮT
Mục tiêu giáo dục nước ta hiện nay đang tập trung vào việc phát triển tính năng động, sáng tạo và tích cực của HS Để đạt được mục tiêu này việc thay đổi PPDH theo hướng tích cực hóa người học, coi HS là chủ thể hoạt động, khuyến khích các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình dạy học là rất cần thiết
Môn tiếng Anh cung cấp cho HS một công cụ giao tiếp mới để tiếp thu những tri thức khoa học, kỹ thuật tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hóa đa dạng và phong phú trên thế giới, dễ dàng hội nhập với cộng đồng quốc tế Vì thế, áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học trong quá trình giảng dạy cũng chính là thực hiện yêu cầu đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay
Nội dung đề tài gồm có 3 phần:
Phần Mở đầu
Phần Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận về dạy học theo hướng tích cực hóa người học
Chương 2: Thực trạng dạy học môn tiếng Anh 9 tại trường THCS Linh Đông, quận Thủ Đức
Chương 3: Áp dụng phương pháp và kỹ thuật dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho môn tiếng Anh 9 tại trường THCS Linh Đông
Phần Kết luận và Kiến nghị
Đề tài đã được thực nghiệm sư phạm các phương pháp và kỹ thuật dạy học môn tiếng Anh như trò chơi, đóng vai, thảo luận nhóm, ca hát, bản đồ tư duy và động não cho HS lớp 9/6 tại trường THCS Linh Đông
Đề tài góp phần làm phong phú hơn cơ sở lý luận về phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho môn tiếng Anh 9 tại trường THCS Linh Đông
Trang 8Kết quả nghiên cứu của đề tài thể hiện được tính khả thi và hiệu quả của việc
áp dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học theo hướng tích cực hóa người học, qua đó đã góp phần nâng cao tính tích cực và chủ động học tập môn tiếng Anh 9 của HS tại trường THCS Linh Đông
Trang 9ABSTRACT
The aim of our country’s education is focusing on the development of students’dynamic, creativity and initiative To attain this aim, the change in teaching methods in the active-oriented learning is very necessary to raise the sense
of initiative for students
English subject provides a communicative instrument for students to master scientific knowledge, developed technology, get to know the various culture in the world, integrate easily into the international community Therefore, the application
of the teaching methods and techniques in the active-oriented learning means carrying out the demand of innovation of teaching methods in the present stage The thesis is divided into three sections:
The first section: Introduction
The second section:
Chapter 1: Rationale for teaching in the active-oriented learning
Chapter 2: Reality of teaching and learning English of grade 9 at Linh Dong Secondary school in Thu Duc District
Chapter 3: Application of the teaching methods and techniques in the oriented learning in English of grade 9 at Linh Dong Secondary school
active-The third section: Conclusion and Petition
The thesis was experimented by using the teaching methods and techniques such as language games, role-play, group collaboration, songs, mindmap and brainstorming for students of class 9/6 at Linh Dong Secondary school
The thesis contributes the variety to rationale for teaching methods in the active-oriented learning in English of grade 9 at Linh Dong Secondary school
The result of thesis research expresses the realizability and the effect on applying the teaching methods and techniques in the active-oriented learning,
Trang 10therefore it makes the contribution to raise the sense of initiative in learning English
of grade 9 at Linh Dong Secondary school in Thu Duc District
Trang 11MỤC LỤC
TRANG
Lý lịch khoa học i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Tóm tắt iv
Mục lục viii
Danh mục các chữ viết tắt xii
Danh mục các bảng xiii
Danh mục các hình xiv
Danh mục các biểu đồ xv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng – Khách thể nghiên cứu 3
5 Giả thuyết nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 4
NỘI DUNG 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Tại Việt Nam 8
1.2 Các khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Phương pháp 11
1.2.2 Phương pháp dạy học 11
Trang 121.2.3 Kỹ thuật dạy học 11
1.2.4 Tích cực hóa 11
1.2.5 Tính tích cực học tập 12
1.3 Một số phương pháp dạy học ngoại ngữ 12
1.3.1 Phương pháp ngữ pháp – dịch 12
1.3.2 Phương pháp nghe – nói 13
1.3.3 Phương pháp thuyết trình 14
1.3.4 Phương pháp vấn đáp – đàm thoại 15
1.3.5 Kết luận 15
1.4 Cơ sở khoa học dạy học theo hướng TCH người học 16
1.4.1 Quan điểm dạy học “lấy người học làm trung tâm” 16
1.4.2 Đặc điểm tâm sinh lý của HS THCS 17
1.4.3 Bản chất “TCH hoạt động học tập của HS” trong dạy học ngoại ngữ 18 1.5 Khái quát về phương pháp dạy học theo hướng TCH người học 19
1.6.1 Khái niệm PPDH theo hướng TCH người học 19
1.6.2 Đặc trưng của các PPDH theo hướng TCH người học 20
1.6 Một số phương pháp dạy học môn tiếng Anh theo hướng TCH người học 22 1.6.1 Phương pháp đóng vai 22
1.6.2 Phương pháp trò chơi ngôn ngữ 22
1.6.3 Phương pháp dạy tiếng Anh qua bài hát 24
1.6.4 Phương pháp hợp tác trong nhóm 24
1.6.5 Phương pháp dạy học và giải quyết vấn đề 25
1.6.6 Kỹ thuật bản đồ tư duy 26
1.6.7 Kỹ thuật động não 26
Tiểu kết Chương 1 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH 9 TẠI TRƯỜNG THCS LINH ĐÔNG QUẬN THỦ ĐỨC 29
2.1 Giới thiệu về trường THCS Linh Đông 29
2.2 Giới thiệu về giáo viên tổ tiếng Anh 30
Trang 132.3 Giới thiệu về chương trình môn tiếng Anh 9 31
2.3.1 SGK tiếng Anh 9 31
2.3.2 Các chủ điểm và đơn vị bài học 33
2.3.3 Số tiết và số bài kiểm tra 33
2.4 Thực trạng dạy và học môn tiếng Anh 9 tại trường THCS Linh Đông 34
2.4.1 Thực trạng học môn tiếng Anh 9 của HS 34
2.4.2 Thực trạng dạy môn tiếng Anh 9 của GV 39
Tiểu kết chương 2 43
CHƯƠNG 3: ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC MÔN TIẾNG ANH 9 TẠI TRƯỜNG THCS LINH ĐÔNG QUẬN THỦ ĐỨC 44
3.1 Cơ sở khoa học của việc áp dụng phương pháp và kỹ thuật dạy học theo hướng tích cực hóa người học 44
3.1.1 Cơ sở pháp lý 44
3.1.2 Cơ sở thực tiễn 45
3.2 Thực nghiệm sư phạm các phương pháp và kỹ thuật dạy học theo hướng TCH người học môn Tiếng Anh 9 tại trường THCS Linh Đông 46
3.2.1 Mục đích thực nghiệm 46
3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 46
3.2.3 Kế hoạch thực nghiệm 46
3.2.4 Quy trình thực nghiệm 46
3.2.5 Giáo án thực nghiệm 54
3.3 Xử lý kết quả thực nghiệm 75
3.4 Khảo sát ý kiến chuyên gia về tính khả thi của việc áp dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho môn tiếng Anh 9 tại trường THCS Linh Đông 79
3.4.1 Đối với nội dung môn tiếng Anh 9 80
3.4.2 Đối với đặc điểm lứa tuổi HS 80
3.4.3 Tạo hứng thú học tập và phát huy tính tích cực của HS 81
Trang 143.4.4 Đối với điều kiện thực tế và HS tại trường THCS Linh Đông 81
3.5 Ý kiến đóng góp của GV và chuyên gia sau khi dự giờ 82
Tiểu kết chương 3 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Đóng góp của đề tài 84
3 Kiến nghị 85
4 Hướng phát triển của đề tài 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 15DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CNTT Công nghệ thông tin
Trang 16DANH MỤC CÁC BẢNG
TRANG Chương 1:
Bảng 1.1: Sự khác nhau của hai quan điểm giáo dục 16
Bảng 1.2: Cấu trúc hành động của dạy học tích cực – sáng tạo 25
Chương 2: Bảng 2.1: Mức độ HS thích các phương pháp dạy tiếng Anh 38
Chương 3: Bảng 3.1: Mức độ HS yêu thích môn tiếng Anh 75
Bảng 3.2: Mức độ HS chuẩn bị bài 76
Bảng 3.3: Mức độ HS phát biểu trong tiết học 76
Bảng 3.4: Mức độ HS thảo luận, luyên tập với bạn trong tiết học 77
Bảng 3.5: Mức độ HS làm bài tập về nhà 78
Bảng 3.6: Sự phù hợp của các PPDH đối với nội dung môn tiếng Anh 9 80
Bảng 3.7: Sự phù hợp của các PPDH đối với đặc điểm lứa tuổi HS 80
Bảng 3.8: Sự phù hợp của các PPDH để tạo hứng thú học tập và phát huy tính tích cực của HS 81
Bảng 3.9: Sự phù hợp của các PPDH đối với điều kiện thực tế và HS trường THCS Linh Đông 81
Trang 17DANH MỤC CÁC HÌNH
TRANG Chương 2:
Hình 2.1: Tập thể Cán bộ, GV trường THCS Linh Đông 30
Hình 2.2: GV tổ tiếng Anh trường THCS Linh Đông 30
Chương 3: Hình 3.1: HS đang thực hành đóng vai 47
Hình 3.2: HS đang thực hành đóng vai 47
Hình 3.3: HS đang tham gia trò chơi 48
Hình 3.4: HS đang tham gia trò chơi 48
Hình 3.5: HS đang biểu diễn bài hát 49
Hình 3.6: HS đang biểu diễn bài hát 49
Hình 3.7: HS thực hiện thảo luận nhóm 50
Hình 3.8: HS thực hiện thảo luận nhóm 50
Hình 3.9: Bản đồ tư duy Unit 5 (Read) 52
Hình 3.10: Bản đồ tư duy Unit 10 (Read) 52
Hình 3.11: HS trình bày bằng BĐTD 53
Hình 3.12: HS trình bày bằng BĐTD 53
Hình 3.13: HS đang động não 54
Hình 3.14: HS giới thiệu ý tưởng động não 54
Trang 18
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
TRANG Chương 2:
Biểu đồ 2.1: Mức độ yêu thích học môn tiếng Anh của HS 35
Biểu đồ 2.2: Nhận thức của HS đối với nội dung chương trình môn tiếng Anh 9 35
Biểu đồ 2.3: Mức độ chuẩn bị bài của HS 36
Biểu đồ 2.4: Mức độ phát biểu của HS trong tiết học 37
Biểu đồ 2.5: Mức độ thảo luận, luyện tập của HS trong tiết học 37
Biểu đồ 2.6: Mức độ HS thích các phương pháp dạy tiếng Anh 38
Biểu đồ 2.7: Mức độ HS làm bài tập về nhà 39
Biểu đồ 2.8: Mức độ các hoạt động GV tổ chức để để tạo hứng thú học tập và phát huy tính tích cực cho HS 41
Chương 3: Biểu đồ 3.1: Mức độ HS yêu thích môn tiếng Anh 75
Biểu đồ 3.2: Mức độ HS chuẩn bị bài 76
Biểu đồ 3.3: Mức độ HS phát biểu trong tiết học 77
Biểu đồ 3.4: Mức độ HS thảo luận, luyên tập với bạn trong tiết học 78
Biểu đồ 3.5: Mức độ HS làm bài tập về nhà 79
Trang 19thống giáo dục quốc dân” (gọi tắt là Đề án ngoại ngữ 2020) Thể hiện quyết tâm
thực thi đề án này, ngày 8/4/2011 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 1400/QĐ-BGDĐT thành lập Ban Quản lý Đề án “Dạy và học ngoại ngữ
trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”
Tiếng Anh, với tư cách là môn tiếng nước ngoài, là môn văn hóa cơ bản, bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông, là bộ phận không thể thiếu của học vấn phổ thông Môn tiếng Anh ở trường phổ thông cung cấp cho HS một công cụ giao tiếp mới để tiếp thu những tri thức khoa học, kỹ thuật tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hóa đa dạng và phong phú trên thế giới, dễ dàng hội nhập với cộng đồng quốc tế đồng thời góp phần phát triển tư duy, hình thành và phát triển nhân cách
HS, giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở trường phổ thông
Trong luật Giáo dục (2005) tại khoản 2 điều 5 cũng quy định rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say
mê học tập và ý chí vươn lên” [19, tr.37]
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục nước ta đã và đang tiến hành tốt yêu cầu đổi mới về mục tiêu, chương trình, nội dung, đã đưa SGK mới vào trường phổ thông Song song với việc đưa SGK mới vào trường phổ thông là đổi mới PPDH Nhưng đổi mới PPDH như thế nào để phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của người học; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS là
Trang 20điều rất đáng để cho những “kỹ sư tâm hồn” phải suy nghĩ Hơn nữa, không phải ngẫu nhiên, trong các nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học lại được đặt ra như một yêu cầu quyết định sự thành bại của cả mô hình
Tuy nhiên, qua thực tế 7 năm giảng dạy môn tiếng nh 9 tại Trường TH S Linh Đông, người nghiên cứu nhận thấy rằng HS càng lên lớp lớn càng ít phát biểu trong giờ học, tính tích cực học tập cũng giảm, các em ít tham gia vào các hoạt động trên lớp hơn Đây không còn là hiện tượng hiếm, cá biệt, mà là hiện tượng phổ biến trong nhà trường, đặc biệt đối với HS THCS Có thể khẳng định rằng có nhiều yếu
tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học, tuy nhiên với cách tiếp thu kiến thức còn thụ động như thế cũng đã ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học môn tiếng Anh nói riêng và chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung
Qua thời gian tìm hiểu và được tập huấn về công tác đổi mới PPDH trong trường phổ thông, người nghiên cứu nhận thấy các PPDH theo hướng tích cực hóa người học đã đáp ứng được yêu cầu đổi mới: thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học “lấy người học làm trung tâm”, giúp HS phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức; tạo niềm vui, hứng thú trong học tập
Xuất phát từ những lý do trên, người nghiên cứu chọn đề tài: Áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho môn tiếng Anh 9 tại trường THCS Linh Đông Quận Thủ Đức TP.HCM
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học để tổ chức dạy học môn tiếng Anh 9 nhằm góp phần nâng cao tính tích cực của học sinh tại trường TH S Linh Đông
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học
Nghiên cứu thực tiễn dạy học môn tiếng Anh 9 tại trường TH S Linh Đông
Trang 21Áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học để tổ chức
dạy học môn tiếng Anh 9 tại trường TH S Linh Đông
4 Đối tượng – Khách thể nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Việc tổ chức hoạt động dạy học môn tiếng nh 9 theo hướng tích cực hóa người học tại trường TH S Linh Đông
4.2 Khách thể nghiên cứu:
HS lớp 9, GV tiếng Anh tại trường TH S Linh Đông
Hoạt động dạy học môn tiếng Anh 9 tại trường TH S Linh Đông
5 Giả thuyết nghiên cứu:
Nếu người nghiên cứu áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học để tổ chức dạy học môn tiếng Anh 9 thì sẽ góp phần nâng cao tính tích cực của HS tại trường TH S Linh Đông
6 Phạm vi nghiên cứu:
Do thời gian có hạn nên người nghiên cứu chỉ áp dụng phương pháp trò chơi, phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp đóng vai, bài hát, kỹ thuật bản đồ tư duy và động não để tổ chức dạy học môn tiếng Anh 9, trình bày trong luận văn 6 giáo án vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học trên và dạy thực nghiệm cho
HS lớp 9/6 tại trường TH S Linh Đông
7 Phương pháp nghiên cứu:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Người nghiên cứu đã tìm hiểu, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến những văn bản pháp quy về giáo dục, phương pháp dạy học, quan điểm dạy học theo hướng tích cực hóa người học
Người nghiên cứu đã tham khảo các tạp chí, báo cáo khoa học, tài liệu lưu trữ, SGK về dạy học theo hướng tích cực hóa người học ở Việt Nam và trên thế giới
Trang 227.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp khảo sát:
Người nghiên cứu đã thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi đối với HS lớp 9 và
GV tiếng Anh để tìm hiểu thực trạng dạy và học môn tiếng Anh tại trường THCS Linh Đông
Phương pháp phỏng vấn:
Người nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn HS lớp 9 và GV tiếng Anh để có thêm thông tin về thực trạng dạy và học cũng như những khó khăn của GV khi dạy môn tiếng Anh tại trường TH S Linh Đông
Phương pháp quan sát:
Người nghiên cứu đã dự giờ, quan sát hoạt động học của HS lớp 9 và hoạt động dạy của GV tiếng Anh tại trường TH S Linh Đông
Phương pháp thống kê toán học:
Người nghiên cứu đã xử lý, thống kê, mô tả và đánh giá kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
hương 1: ơ sở lý luận về dạy học theo hướng tích cực hóa người học
hương 2: Thực trạng dạy học môn tiếng Anh 9 tại trường TH S Linh Đông hương 3: Áp dụng phương pháp và kỹ thuật dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho môn tiếng Anh 9 tại trường TH S Linh Đông
Trang 23Tư tưởng về tính tích cực của người học đã có từ lâu Từ thời cổ đại, các nhà
sư phạm lỗi lạc đã đề cập đến tầm quan trọng của vấn đề này và đã bàn đến nhiều biện pháp phát huy tính tích cực của người học
Socrates (469 – 339 TCN), người thầy vĩ đại của Hy Lạp cổ đại đã từng dạy các học trò của mình bằng cách luôn đặt các câu hỏi gợi mở nhằm giúp người học dần dần phát hiện ra chân lý [33, tr.6]
Ở Trung Hoa, Khổng Tử (551 – 479 T N) đòi hỏi người học phải tìm tòi, suy nghĩ, đào sâu trong quá trình học Ông nói: “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực tức vì không rõ được thì không bày vẽ cho Vật có bốn gốc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa” [32, tr.8] Montaigne (1533 – 1592) nhà quý tộc Pháp, người chuyên nghiên cứu lý luận, đặc biệt là về giáo dục đã đề ra phương pháp giáo dục “học qua hành” Ông cho rằng: “Muốn đạt được mục tiêu này, tốt nhất là bắt trò liên tục hành để học, học qua hành Vậy vấn đề không phải là giảng dạy một cách giáo điều, thầy nói liên tục Trái lại, chủ yếu bắt trò hoạt động, vận dụng khả năng phán đoán của mình [14, tr.9]
J.A.Komensky (1592 – 1670), nhà giáo dục Tiệp Khắc đã đưa ra bí quyết về phương pháp giảng dạy: “Bí quyết của giáo dục là rèn luyện cho các em một tâm hồn dễ dàng, tích cực, tự do, ngăn cản được các điều mà các em muốn làm, ngược lại đẩy được các em làm những điều mà chúng không muốn” Ông nêu rõ: “ hủ yếu dạy các em qua việc làm chứ không phải qua lời giảng” Trong tác phẩm “Lý luận
Trang 24dạy học vĩ đại” của mình, ông đã nêu tính tự giác, tính tích cực với tư cách là một trong những nguyên tắc dạy học quan trọng và cơ bản nhất [11]
J.J.Rousseau (1712 – 1778) là lý luận thiên tài của Pháp thời kỳ khai sáng, kịch liệt phê phán nhà trường đương thời lạm dụng lời nói, ông coi trọng sự phát triển tự nhiên, tự do, coi trọng tự giáo dục của trẻ, phản đối việc chèn ép cá tính của trẻ Ông cho rằng muốn giáo dục con người tốt phải bằng hoạt động tiếp cận đối tượng với hoạt động, với thực tế Ông nhận xét cách giảng dạy ba hoa sẽ tạo nên những con người ba hoa, đừng cho trẻ em khoa học mà phải để tự nó tìm tòi ra khoa học Ông viết: “Không dạy các em môn khoa học mà chỉ khêu gợi tinh thần yêu chuộng khoa học và cấp cho các em phương pháp học khoa học, khi nào tinh thần yêu chuộng khoa học phát triển hơn nữa Đó là nguyên tắc căn bản của mỗi nền giáo dục tốt” [23, tr.10]
Như vậy, với các tư tưởng giáo dục tiến bộ trên, chúng ta thấy giáo dục có ý nghĩa rất rộng, bao hàm phần lớn các lĩnh vực và khái niệm học tập tích cực như: học qua trải nghiệm, học thông qua giải quyết vấn đề,
Kế thừa ý tưởng giáo dục của các thời đại trước, trong thế kỷ XIX, XX các nhà giáo dục Đông – Tây đều tìm đến con đường phát huy tính tích cực học tập, chủ động, sáng tạo của người học
Nước Đức là một quốc gia điển hình chịu ảnh hưởng sâu rộng quan điểm sư phạm hiện đại của Pestalozzi “lấy học sinh làm trung tâm”, nhiều trường học được thiết lập và áp dụng phương pháp giáo dục mới Vào đầu thế kỷ XIX, nước Anh nhận định rằng phương pháp mới đối với họ có giá trị nhưng chưa có điều kiện thực hiện và phổ biến Tại Mỹ, phương pháp sư phạm mới được giới thiệu Philadelphia Tại Thụy Sĩ, một trung tâm giáo dục được thiết lập để giảng dạy theo phương pháp lấy học sinh làm trung tâm [33, tr.8]
L.X.Vugôtxki, X.L.Rubinstein, A.N.Leônchiep, P.La.Galperin và J.Piaget cho rằng: “dựa trên quan điểm cá nhân luôn hoạt động, không có hoạt động thì cá nhân không tồn tại trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh mình Chỉ có trong
Trang 25hoạt động thì tính tích cực, tâm lý, ý thức của con người mới bộc lộ, nảy sinh, hình thành và phát triển” [20]
X.L.Rubinstein khẳng định: “Bất kỳ hoạt động nào của con người cũng xuất phát từ chỗ nó là một cá nhân, như một chủ thể của hoạt động đó” Học là một hoạt động, một hành vi tích cực chứ không phải là chỉ tiếp nhận, có động cơ cá nhân chứ không phải có sự khác biệt cá nhân, do xã hội quy định chứ không phải nội sinh và phụ thuộc cao độ vào phương pháp Muốn học sinh chuyển tri thức nhân loại thành kiến thức của bản thân thì người thầy phải tổ chức cho học sinh tích cực hoạt động [35] Nghiên cứu của S.Franz về những biểu hiện thái độ học tập tích cực đã được công nhận và sử dụng rộng rãi đó là: 1/ trên lớp chú ý nghe giảng; 2/ học bài và làm bài đầy đủ; 3/ cố gắng vươn lên học được nhiều; 4/ không vội vàng phản ứng tiêu cực nếu có chỗ nào chưa hiểu hoặc không nhất trí với bài giảng; 5/ đảm bảo kỷ luật
để học tốt; 6/ cố gắng đạt thành tích học tập tốt và nâng cao thành tích học tập của mình một cách trung thực; 7/ thích độc lập thực hiện nhiệm vụ học tập; 8/ hăng hái nhiệt tình trong giờ thảo luận và chữa bài tập; 9/ hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nghiêm túc; 10/ giữ gìn tài liệu học tập cẩn thận [27]
V.Ôkôn trong cuốn “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề” cho rằng tính tích cực là lòng mong muốn hành động được nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hay bên trong của sự hoạt động Chủ thể đã ý thức được mục đích hành động [34]
G.Pôlia trong cuốn “Sáng tạo toán học”-1977, I.F.Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào”-1978 đã cho rằng tính tích cực
là trạng thái hoạt động của chủ thể [13], [18]
Trong cuốn “Dạy học nêu vấn đề” của I.Ia.Lecne, nhà giáo dục Xô Viết đã nói: “Mục đích của tập sách này là làm sáng rõ bản chất của PPDH gọi là dạy học nêu vấn đề, vạch rõ cơ sở của phương pháp đó, tác dụng của nó và phạm vi áp dụng nó” [14, tr.11]
Đầu thế kỷ XIX trong tác phẩm của mình, nhà giáo dục Nga K.Đ.Usinxki, đã nhiều lần khẳng định tầm quan trọng của tính tích cực và độc lập trong quá trình
Trang 26dạy học như là “cơ sở vững chắc cho mọi sự học tập có hiệu quả” Các công trình nghiên cứu về tính tích cực của HS ngày càng được quan tâm và chú trọng nhiều hơn, gắn với tên tuổi của các nhà tâm lý học và giáo dục học như ristova, M.A.Danhinop, B.P.Exipop, [33, tr.9]
1.1.2 Tại Việt Nam:
Ở Việt Nam, các tác giả như Trần Bá Hoành, Nguyễn Cảnh Toàn, Vũ Hồng Tiến xem tư tưởng dạy học theo hướng tích cực hóa người học là một chủ trương quan trọng của ngành giáo dục, được giới thiệu rộng khắp trên các báo và tạp chí chuyên ngành Tác giả Trần Bá Hoành với các bài “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” đăng trên tạp chí nghiên cứu giáo dục (NCGD) số 3/1996, bài “Phát triển trí sáng tạo của học sinh và vai trò của giáo viên” đăng trên tạp chí NCGD số 9/1996 nêu rõ thế nào là dạy học lấy HS làm trung tâm, thế nào là PPDH tích cực hóa người học, thế nào là phương pháp hợp tác Tác giả cũng chỉ rõ đặc trưng tính và tính tích cực của HS trong các PPDH trên [15, tr.112-117]
Ông Trần Hồng Quân (nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) trong bài
“ ách mạng về phương pháp sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống mới cho giáo dục ở thời đại mới” đăng trên tạp chí NCGD số 1/1995 viết: “Muốn đào tạo được con người khi bước vào đời là con người tự chủ, năng động và sáng tạo thì phương pháp giáo dục cũng hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và phát triển khả năng nghĩ và làm một cách tự chủ, năng động và sáng tạo Người học tích cực học bằng hành động của mình Người học tự tìm hiểu, phân tích, xử lý tình huống và giải quyết vấn
đề, khám ra ra cái chưa biết Nhiệm vụ của người thầy là chuẩn bị cho HS thật nhiều tình huống chứ không phải là nhồi nhét thật nhiều kiến thức vào đầu óc HS” [30, tr.27]
Tác giả Nguyễn Kỳ trong bài “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”
đã đưa ra những cơ sở lý luận về PPDH theo hướng tích cực hóa người học Tác giả cũng chỉ rõ quá trình tự học là quá trình tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh dưới sự hướng dẫn, tổ chức, trọng tài của thầy Trong bài “Phương pháp giáo dục tích cực” đăng trên tạp chí NCGD số 7/1993 chỉ rõ: trẻ em là chủ thể học
Trang 27tích cực bằng hành động của chính mình Lớp học là cộng đồng các chủ thể thể [10, tr.18]
Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo với cuốn sách “Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học” đã đưa ra quan niệm học là hoạt động tích cực, tự lực và là trung tâm của quá trình dạy học và đã nêu lên các phương pháp tích cực hóa hoạt động học tập của HS [32, tr.16]
Bên cạnh đó, các tác giả như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thùy, Hồ Ngọc Đại, Trần Hữu Luyến, Nguyễn Kế Hảo, Bùi Văn Huệ, Ngô Công Hoàn tiếp cận quan điểm duy vật biện chứng và hoạt động đều coi nhân cách
là chủ thể có ý thức Tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách Tính tích cực của nhân cách bao gồm các thành tố tâm lý như nhu cầu, động cơ, hứng thú, niềm tin, lý tưởng Các thành tố tâm lý này của tính tích cực luôn tác động qua lại lẫn nhau, được thể hiện ở những hoạt động muôn màu, muôn vẻ và đa dạng nhằm biến đổi, cải tạo thế giới xung quanh, cải tạo bản thân con người, cải tạo những đặc trưng tâm lý của mình [17]
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng: “hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành Đó chính là con người đang hoạt động Tính chủ thể bao hàm trước hết tính tích cực Đây cũng là đặc tính chung của sự sống và đến con người tính tích cực phát triển tới đỉnh cao thành tính chủ động, say mê, nhiệt tình on người là chủ thể hoạt động, đồng thời con người càng tích cực hoạt động tính chủ thể càng phát triển cao và do đó con người sẽ dần hoàn thiện” Như vậy, tác giả đã vạch ra được mối liên hệ chặt chẽ giữa tính tích cực với hoạt động của con người [31, tr.74]
Tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc khi nghiên cứu thực trạng thái độ học tập của học sinh cũng đã nêu ra các chỉ số như chú ý, hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, đọc thêm
và làm các bài tập tập khác, vận dụng hay chuyển tải những gì đã học vào thực tế, hình thành và phát triển các quan hệ với thầy, với bạn nhằm mục đích giúp bản thân học tập tốt hơn ó thể nói rằng các tác giả đã thành công trong quá trình nghiên cứu thái độ học tập - một thành phần không thể thiếu của tính tích cực học tập bởi
Trang 28khi HS có thái độ học tập đúng đắn thì các em mới tích cực tìm ra cách tối ưu để lĩnh hội tri thức [24, tr 36]
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Ngô Anh Tuấn về đề tài “Dạy học tích cực hóa người học với sự trợ giúp của máy tính” cũng đã cho thấy thế giới bước vào kỷ nguyên mới nhờ sự tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực Trong Giáo dục và Đào tạo, NTT đã góp phần hiện đại hóa phương tiện, thiết bị dạy học, góp phần đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của
HS [28]
Ngoài ra, người nghiên cứu cũng tham khảo luận văn Thạc sĩ của các tác giả
đã thực hiện tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.H M qua các năm như: Tác giả Hoàng Thị Minh Nhựt với đề tài “Nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Anh chuyên ngành may và thời trang theo hướng tích cực hóa người học tại trường Trung học kỹ thuật may và thời trang II” [23] Tác giả Vũ Thị Bích Thủy với đề tài “Nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Anh chuyên ngành tại trường
ao đẳng Sư Phạm Kỹ thuật Vĩnh Long theo hướng tích cực hóa người học” [32] Tác giả Trương Thị Mỹ Huyền với đề tài “Áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho môn Kỹ thuật giảng dạy hỗ tương tại trường Đại học Trà Vinh” [14] Tác giả Nguyễn Lộc Thủy Tiên với đề tài “Nâng cao chất lượng dạy học theo hướng tích cực hóa người học môn nh Văn chuyên ngành tại trường ao đẳng Công nghề n Giang” [33] ác đề tài này đã đề xuất được các giải pháp khả thi để phát huy được tính tích cực, chủ động, khả năng tự học của sinh viên trong học tập nhằm đạt kết quả tốt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung cũng như chất lượng bộ môn tiếng Anh nói riêng của các trường Hơn nữa, các đề tài cũng làm rõ tầm quan trọng và tính hiệu quả của việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa người học, hay nói cách khác thay vì lấy “dạy” làm trung tâm sang lấy “học” làm trung tâm, thực hiện thầy chủ đạo, trò chủ động
Tuy nhiên, người nghiên cứu nhận thấy các công trình nghiên cứu trên thực hiện đối với sinh viên ở các trường trung cấp, cao đẳng và đại học – lứa tuổi trưởng thành hơn, sở hữu nhiều kinh nghiệm sống hơn, ý thức được vị trí, vai trò của mình
Trang 29Do vậy thái độ có ý thức của các em trong hoạt động học tập ngày càng được phát triển, thúc đẩy sự phát triển chủ động của quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân Còn ở lứa tuổi HS THCS từ 11 – 15 tuổi là thời kỳ chuyển tiếp tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng các tên gọi khác nhau như “thời
kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng” hay “tuổi bất trị” Ở lứa tuổi này
có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn” nên đây còn là thời kỳ phát triển phức tạp nhất và nhiều biến động nhất ở các em Vì vậy, trong đề tài này người nghiên cứu tập trung vào việc áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học môn Tiếng Anh đối với HS THCS, cụ thể là HS lớp 9 tại trường
PPDH là cách thức hành động của GV và HS trong quá trình dạy học Cách thức và hành động bao giờ cũng diễn ra trong những hình thức cụ thể Cách thức và hình thức không tách nhau một cách độc lập PPDH là những hình thức và cách thức, thông qua đó và bằng cách đó GV và HS lĩnh hội những hiện thực tự nhiên và
xã hội xung quanh trong những điều kiện học tập cụ thể [8, tr.20]
1.2.3 Kỹ thuật dạy học:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, kỹ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức, hành động của GV trong các tình huống, hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình thảo luận [25, tr.35]
Trang 301.2.4 Tích cực hóa:
Theo từ điển tiếng Việt, tích cực được hiểu theo hai nghĩa: Một là chủ động hướng hoạt động nhằm tạo ra những thay đổi, phát triển (tư tưởng tích cực, phương pháp tích cực) Hai là hăng hái, năng nổ với công việc (tích cực học tập, tích cực làm việc) [35, tr.509]
Trong luận văn thạc sĩ khoa học “Phân tích và đánh giá hiệu quả của phương pháp dạy học tích cực hóa người học với sự hỗ trợ của máy tính” của tác giả Ngô Anh Tuấn, tích cực hóa được định nghĩa là tác động làm cho ai đó, sự vật nào đó trở nên năng động hơn, linh hoạt hơn, thể hiện hoạt tính của chúng nhiều hơn so với trước đây Trong lý luận dạy học, tích cực hóa được sử dụng theo nghĩa làm cho tích cực hơn so với thụ động, trì trệ, nhu nhược (Active so với Passive), hoàn toàn không liên quan đến việc đánh giá đạo đức, hành vi xã hội (tốt hay xấu) [28]
1.2.5 Tính tích cực học tập:
Theo tác giả Đặng Thành Hưng, tính tích cực học tập là tính tích cực cá nhân được phân hóa và hướng vào việc giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ học tập để đạt các mục tiêu học tập Tính tích cực học tập bao gồm hai hình thái bên trong và bên ngoài Hình thái bên trong của tính tích cực học tập chủ yếu bao hàm những chức năng sinh học, sinh lý, tâm lý, thể hiện rõ ở đặc điểm khí chất, tình cảm, ý chí, các chức năng và đặc điểm nhận thức như mức độ hoạt động trí tuệ, tư duy, tri giác, tưởng tượng… và các chức năng vận động thể chất bên trong (các nội quan, các quá trình sinh lý, sinh hóa) Hình thái bên ngoài của tính tích cực học tập bao hàm các chức năng, khả năng, sức mạnh thể chất và xã hội, thể hiện ở những đặc điểm hành
vi, hành động di chuyển, vận động vật lý và sinh vật, nhất là hành động ý chí, các phương thức tiến hành hoạt động thực tiễn và tham gia các quan hệ xã hội [16, tr.202]
Theo I.F.Kharlamôp: “Tích cực trong học tập có nghĩa là hoàn thành một cách chủ động, tự giác có nghị lực, có mục tiêu rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào hứng, những hành động trí óc và tay chân nhằm nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn” [18]
Trang 311.3 Một số phương pháp dạy học ngoại ngữ:
1.3.1 Phương pháp Ngữ pháp – Dịch (Grammar – Translation Method):
Về bản chất, theo phương pháp này, chương trình tập trung chủ yếu vào phát triển kỹ năng đọc hiểu, học thuộc lòng từ vựng, dịch văn bản, viết luận (composition) và phân tích ngôn ngữ (học để nắm chắc quy tắc ngôn ngữ) Các bài khóa (texts) được biên soạn và chia ra thành từng đoạn ngắn Việc giảng giải quy tắc ngôn ngữ là cơ bản, HS được học về ngữ pháp rất kỹ nên cơ sở các hiện tượng ngữ pháp được rút ra từ các bài khóa (nội dung văn hóa, đất nước học nói chung) và các quy tắc ngôn ngữ, HS bắt buộc phải dịch các bài khóa sang tiếng mẹ đẻ HS không được phép mắc lỗi, nếu có phải sửa ngay
Ưu điểm:
HS được rèn luyện rất kỹ về ngữ pháp và tiếp thu lượng từ vựng khá lớn
HS nắm được tương đối nhiều các cấu trúc câu cơ bản, thuộc lòng các đoạn văn hay hoặc bài khóa mẫu
HS có thể đọc hiểu nhanh các văn bản
Hạn chế:
Không giúp HS “giao tiếp” được Hoạt động chủ yếu trong lớp là người thầy – thầy giảng giải, nói nhiều; HS thụ động ngồi nghe và ghi chép, không có ý kiến phản hồi hoặc không tham gia giao tiếp (nói) với thầy và bạn bè
Hoạt động dạy học chỉ diễn ra một chiều – HS hoàn toàn bị động, không có cơ hội thực hành giao tiếp trong lớp, khả năng sáng tạo và đặc biệt kỹ năng nói của HS
bị hạn chế
1.3.2 Phương pháp nghe – nói (Audiolingual Method or Audio-Oral Method):
Về bản chất, phương pháp Nghe – Nói nhấn mạnh vào việc dạy kỹ năng nói và
kỹ năng nghe trước kỹ năng đọc và kỹ năng viết Như vậy, khác với phương pháp Ngữ pháp – Dịch, phương pháp này đáp ứng đúng mục tiêu cần đạt của người học
là hình thành và phát triển cả bốn kỹ năng, nhưng ưu tiên phát triển nói, nghe trước đọc và viết Việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) được thực hiện xen lồng trong quá trình dạy học Phương pháp Nghe – Nói ngăn cấm việc
Trang 32dùng tiếng mẹ đẻ trong lớp; khuyến khích đối đa dùng tiếng Anh trong quá trình dạy học
Ưu điểm:
Phương pháp này có hiệu quả đối với những người mới học, đặc biệt là HS tiểu học hoặc ở đầu cấp THCS HS cảm thấy phấn khởi và tự tin khi được nghe và tập bắt chước theo GV, ví dụ: HS làm theo lệnh của GV hoặc hát các bài hát tiếng
1.3.3 Phương pháp thuyết trình (Lecture Method):
Phương pháp thuyết trình là cách thức GV dùng lời nói để trình bày một nội dung nào đó theo một hệ thống chủ động trước lớp HS bị động
Điểm nổi bật của phương pháp này là tính chất thông báo trong lời giảng của
GV, còn HS thì tiếp thu một cách thụ động những thông tin đó mà không cần tác động gì đến đối tượng nghiên cứu HS chỉ nghe, nhìn theo lời giảng của GV và ghi nhớ Phương pháp này cho phép HS chỉ đạt tới trình độ tái hiện của sự lĩnh hội
Trang 33Cung cấp cho HS khuôn mẫu và phương pháp nhận thức, phương pháp tổng hợp, cấu trúc tài liệu học tập
Thời gian thu hút và duy trì sự chú ý của người học vào nội dung bài học thấp hơn các phương pháp khác
1.3.4 Phương pháp vấn đáp, đàm thoại (Oral Method):
Vấn đáp, đàm thoại là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi để HS trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học
Mục đích của phương pháp này là nâng cao chất lượng của giờ học bằng cách tăng cường hình thức hỏi – đáp , đàm thoại giữa GV và HS, rèn cho HS bản lĩnh tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể
Có ba mức độ: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích – minh họa, và vấn đáp tìm tòi
Trang 34Giúp GV thu được tín hiệu ngược từ học sinh một cách nhanh, gọn, kịp thời để kịp điều chỉnh hoạt động của mình và của HS Đồng thời qua đó mà HS cũng thu được tín hiệu ngược để kịp thời điều chỉnh hoạt động nhận thức – học tập của mình Ngoài ra, thông qua đó mà GV có khả năng chỉ đạo hoạt động nhận thức của
cả lớp và của từng HS
Hạn chế:
Nếu vận dụng không khéo sẽ dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạch lên lớp, biến vấn đáp thành cuộc đối thoại giữa GV và một vài HS, không thu hút toàn lớp tham gia vào hoạt động chung Nếu câu hỏi đặt ra chỉ đòi hỏi nhớ lại tri thức một cách máy móc thì sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy logic, tư duy sáng tạo của HS
1.3.5 Kết luận:
Có thể kết luận rằng, mỗi PPDH đều có những đặc điểm, ưu thế và hạn chế riêng Không có PPDH nào là chìa khóa vạn năng Vì vậy, việc lựa chọn PPDH để đạt được hiệu quả và phát huy tính tích cực của HS còn tùy thuộc vào nội dung bài học cụ thể, đặc trưng môn học, đối tượng HS và điều kiện thực tế của nhà trường
1.4 Cơ sở khoa học dạy học theo hướng tích cực hóa người học:
1.4.1 Quan điểm dạy học “lấy người học làm trung tâm”:
Một xu hướng chung của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là đổi mới theo quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm Quan điểm này có cơ sở lý luận từ việc nhận thức quá trình dạy học là quá trình có hai chủ thể: Thầy và Trò
Cả hai chủ thể này đều chủ động, tích cực, bằng hoạt động của mình hướng tới tri thức, thầy thì hoạt động truyền đạt tri thức, còn trò thì hoạt động chiếm lĩnh tri thức
và biến nó thành vốn hiểu biết của mình để tiếp tục hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn… Đây là quan điểm dạy học được đa số các nước có nền giáo dục tiên tiến quan tâm Hoạt động của thầy và hoạt động của trò đều là hoạt động có ý thức, dưới sự chỉ huy của ý thức để đạt mục tiêu của mình Vì vậy, kết quả nhận thức của họ trong các quá trình nhận thức, trước khi đạt đến mức chuyển hóa được thành phương pháp, là công cụ cho họ thực hiện mục đích của mình Do vậy, bàn về
Trang 35phương pháp dạy học chúng ta phải bàn đến cả phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò Sự phù hợp của hai phương pháp này sẽ cho chúng ta hiệu quả thực sự của việc dạy học
Bảng 1.1: Sự khác nhau của hai quan điểm giáo dục [6, tr.19]
Quan điểm dạy học lấy giáo viên làm
3 Thầy áp đặt những kiến thức có sẵn 3 Đối thoại giữa trò với trò; giữa trò với
thầy (trò đưa ra câu hỏi)
4 Trò học thuộc lòng
4 Cùng với thầy khẳng định kiến thức lĩnh hội được Hình thành các phương pháp học, tư duy và giải quyết các vấn đề cụ thể
5 Thầy độc quyền đánh giá cho điểm 5 Tự đánh giá, tự điều chỉnh, để thầy cho
điểm
Sự khác nhau căn bản của hai quan điểm dạy học dẫn đến sự khác nhau trong việc xác định các phương pháp cụ thể cho từng môn học, bài học, từng phần, từng đối tượng học sinh…
Thực hiện chương trình dạy học theo quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm thì hoạt động của thầy và trò tương ứng như sau:
Người học khai phá tri thức, tự nghiên cứu - Thầy chỉ hướng dẫn và cung cấp thông tin
Người học tự trả lời các thắc mắc do chính mình đặt ra, tự kiểm tra mình - Thầy
là trọng tài
Người học tự hành động, tự kiểm tra, tự điều chỉnh - Thầy làm cố vấn
Trang 361.4.2 Đặc điểm tâm sinh lý của HS THCS:
Lứa tuổi HS THCS từ lớp 6 đến lớp 9 (còn gọi là lứa tuổi thiếu niên) là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 đến 15 tuổi Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em Đây là lứa tuổi có bước phát triển nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và
sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời
kỳ này Ở lứa tuổi này có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống và hoạt động của các em
Riêng ở độ tuổi HS lớp 9, hoạt động học tập có những đặc điểm riêng, khác với lứa tuổi trước đó Lúc này học tập là hoạt động chủ đạo nhưng được xây dựng lại một cách cơ bản, có sự phát triển dần từ chỗ ít độc lập sang mức độ độc lập cao hơn và dần dần được xem là hoạt động hướng vào sự thỏa mãn nhu cầu nhận thức Các nghiên cứu cho thấy động cơ học tập của HS là một cấu trúc phức tạp, đa dạng nhưng chưa bền vững, đôi khi còn thể hiện sự mâu thuẫn Nhìn chung ý thức về việc học tập là tích cực, nhưng biểu hiện thiếu nhất quán: lúc thì nghiêm túc, lúc thì lười biếng, thiếu trách nhiệm Biểu hiện của hứng thú học tập cũng đa dạng: từ mức
độ có hứng thú rõ rệt đối với một lĩnh vực cụ thể nào đó đến hoàn toàn không hứng thú nhận thức (việc học hoàn toàn là bắt buộc, gò ép) Sự đa dạng này thể hiện ở phương thức học tập của HS: từ chỗ có kỹ năng học tập độc lập đến chỗ chỉ biết học thuộc lòng từng câu, từng chữ
Bên cạnh đó, khi học ngoại ngữ, HS THCS có nhiều điểm khác với các cấp học khác ở những mặt sau:
Suy nghĩ nhanh nhạy trong nhận thức kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) Khả năng tưởng tượng linh hoạt, logic hơn; nhất là dễ dàng liên tưởng và so sánh
sự giống nhau và khác nhau giữa ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ
Khả năng ghi nhớ, tái hiện các mẫu lời nói và khả năng diễn đạt bằng ngoại ngữ lưu loát, phản xạ ngôn ngữ nhanh
Trang 371.4.3 Bản chất “tích cực hóa hoạt động học tập của HS” trong dạy học ngoại ngữ: 1.4.3.1 Những biểu hiện đặc trƣng của tính tích cực học tập của HS:
HS có nhu cầu tiếp thu kiến thức, kỹ năng, vận dụng kỹ năng để giao tiếp, gây hứng thú học tập
Từ chỗ có nhu cầu tiếp thu kiến thức, rèn luyện và vận dụng kỹ năng trong giao tiếp, HS sẽ tự giác học tập, chủ động huy động vốn kinh nghiệm đã tích lũy để bắt chước, tái hiện, tìm tòi cách ứng xử và ứng xử sáng tạo trong các tình huống giao tiếp
HS chủ động lựa chọn kiến thức và thao tác tư duy thích hợp để có những ứng
xử ngôn ngữ cần thiết, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
HS biết bộc lộ nhận thức và sự hiểu biết của mình bằng lời nói, bài viết thông qua ngoại ngữ
HS biết cách làm việc theo cặp, theo nhóm, hợp tác với bạn khi cần thiết trong quá trình luyện tập ngôn ngữ theo yêu cầu và nhiệm vụ của GV
HS biết cách tự học, biết chủ động trình bày những ý định của mình thông qua giao tiếp nói hoặc viết
Tính tích cực hoạt động học tập của HS thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
1.4.3.2 Những biểu hiện tích cực của một giờ học:
Trang 38Là người biết khuyến khích, động viên thành tích học tập của HS
1.5 Khái quát về phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học: 1.5.1 Khái niệm PPDH theo hướng tích cực hóa người học:
PPDH theo hướng TCH người học để chỉ phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học Làm cho quá trình “Học” là quá trình kiến tạo, HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin, HS tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất
Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, dạy HS cách tìm ra chân lý Chú trọng hình thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác, ) dạy phương pháp và kỹ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại
và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho sự phát triển xã hội
1.5.2 Đặc trưng của PPDH theo hướng TCH người học:
1.5.2.1 Dạy học tăng cường phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của HS:
Dạy học thay vì lấy “Dạy” làm trung tâm lấy “Học” làm trung tâm Trong phương pháp tổ chức, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức
và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được
Trang 39kiến thức kỹ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kỹ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
1.5.2.2 Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của HS:
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập của HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng , thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho
họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ
tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong có sự hướng dẫn của GV
1.5.2.3 Dạy học phân hóa kết hợp với học tập hợp tác:
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng PPDH theo hướng T H người học buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, mức độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi hoạt động độc lập
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của thầy giáo
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc
Trang 40phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữ các cá thể để hoàn thành nhiệm vụ chung Hoạt động nhóm làm cho từng thành viên bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết, thái độ của mình; được tập thể uốn nắn, điều chỉnh; phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỷ luật, tính tập thể, tinh thần tương trợ, hợp tác, ý thức cộng đồng, tạo ý thích, niềm vui; hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, tăng tính tự tin Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
1.5.2.4 Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của bạn, với tự đánh giá:
Hoạt động đánh giá đa dạng: đánh giá chính thức và không chính thức; đánh giá bằng định tính và định lượng; đánh giá bằng kết quả và bằng biểu lộ thái độ – tình cảm; đánh giá thông qua sản phẩm được giới thiệu và định hướng phát triển các mối quan hệ xã hội
1.5.2.5 Tăng cường khả năng, kỹ năng vận dụng vào thực tế: phù hợp với
điều kiện thực tế về cơ sở vật chất, về đội ngũ GV, khả năng của HS, tối ưu các điều kiện hiện có Sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học hiện đại khi có điều kiện
1.5.2.6 Đem lại niềm vui, tạo hứng thú trong học tập cho HS, đạt hiệu quả cao: tăng tính tích cực, chủ động, sáng tạo; tăng khả năng tự học; tăng tính tự tin;
tăng khả năng hợp tác trong học tập và làm việc; tăng cơ hội được đánh giá; chất lượng, hiệu quả dạy học cao
1.6 Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học môn tiếng Anh theo hướng tích cực hóa người học:
1.6.1 Phương pháp đóng vai (Role-play):
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này và hơn thế điều quan trọng nhất là sự thảo luận sau phần diễn ấy