Một trong những giải pháp quan trọng của chiến lược này là cần phải: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tích cực, tự giác,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN THỊ PHÊ
VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO DỰ ÁN VÀO MÔN HOA
TRANG TRÍ CHO SINH VIÊN NGÀNH SƯ PHẠM
CÔNG NGHỆ - KINH TẾN GIA ĐÌNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401
Tp Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2013
S KC 0 0 4 1 6 8
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC – 601401 Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Diệu Thảo
Tp Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2013
Trang 3
i
LÝ LỊCH KHOA HỌC
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: Nguyễn Thị Phê Giới tính: Nữ
Ngày sinh: 02/8/1973 Nơi sinh: Quảng Ngãi
Quê quán: Quảng Ngãi Dân tộc: Kinh
Địa chỉ: Tổ 12, phường Lê Hồng Phong, Quảng Ngãi
Điện thoại cơ quan: Điện thoại nhà: 01693609975
Email: phuongpheqn@yahoo.com
II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO
Hệ đào tạo: Đại học Thời gian đào tạo: Từ 9/1991 đến 5/1995 Nơi học: Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
Ngành học: Kỹ thuật Nữ công
Tên đồ án: Các dạng bột nở xốp nhờ men
Người hướng dẫn: Nguyễn Thị Hồng
III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN TỪ KHI TỐT NGHIỆP
ĐẠI HỌC
Thời gian Nơi công tác Công việc đảm nhiệm
9/1995 – 12/2003 Công ty đường Quảng Ngãi Thống kê phân xưởng
Trang 4
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 8 năm 2013
Ký tên và ghi rõ họ tên
Nguyễn Thị Phê
Trang 5giúp đỡ tận tình, động viên, khuyến khích tôi từ những bước đầu xây dựng
chuyên đề nghiên cứu cho đến khi hoàn thành luận văn này
- Xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô Viện Sư phạm Kỹ thuật trường Đại
học Sư phạm Kỹ thuật TP HCM tham gia giảng dạy lớp GDH 19B, đã truyền cho
tôi những kinh nghiệm, kiến thức quý báu trong thời gian học tập và nghiên cứu
- Xin gởi lời cảm ơn đến lãnh đạo trường Đại học Phạm Văn Đồng cùng toàn
thể giáo viên khoa Sư phạm Tự nhiên và tập thể SV lớp CCN10 tạo điều kiện, giúp
đỡ và cùng tham gia trong quá trình thực hiện luận văn
- Cảm ơn tất cả thành viên lớp GDH19B đã cho tôi những kinh nghiệm và kỷ
niệm trong thời gian học tập qua
Tác giả xin bày tỏ lòng tri ân đến gia đình, bạn bè đã ủng hộ, động viên chia sẻ
và tạo điều kiện tốt cho tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đề tài
tại trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật.TPHCM
TP Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 10 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Phê
Trang 6
“Vận dụng dạy học theo dự án vào môn Hoa trang trí cho sinh viên ngành sư
phạm Công nghệ - Kinh tế gia đình tại trường Đại học Phạm Văn Đồng” là cần
thiết và có ý nghĩa trong việc đào tạo GV ngành Sư phạm của nhà trường
Cấu trúc của luận văn:
PHẦN MỞ ĐẦU
Nêu lý do, mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận về DHTDA
Chương 2: Thực trạng dạy học môn Hoa trang trí của SV ngành sư phạm Công nghệ - Kinh tế gia đình tại trường đại học Phạm Văn Đồng
Chương 3: Vận dụng DHTDA vào môn Hoa trang trí tại trường đại học Phạm Văn Đồng
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trình bày những kết quả đạt được của quá trình nghiên cứu, tự nhận xét và đánh giá Hướng phát triển và khuyến nghị của đề tài
Trang 7Pham Van Dong University That is why the writer chose the thesis: "Using
project-based learning into Decorative Flowers subject for the students majoring
in pedagogical technology - Home economics at Pham Van Dong University"
The writer find this study necessary and meaningful in teachers training of the local university
The Organisation of the study:
INTRODUCTION
The introduction includes the rationale, aims and objectives, research questions and scope of the study
CONTENT
Chapter 1: The theoretical base for project-based learning
Chapter 2: Learning Decorative Flowers subject of the students majoring in pedagogical technology - family economics at Pham Van Dong University
Chapter 3: Using project - based learning into decorative Flower subjects at Pham Van Dong University
THE CONCLUSIONS AND RECOMMENDATIONS
This part presents the results of the study, some comments and reviews Developing directions and recommendations of topic are also made
Trang 8
vi
MỤC LỤC
LÝ LỊCH KHOA HỌC i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT iv
ASTRACT v
MỤC LỤC vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ixix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ xxi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
5 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 3
6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 3
7 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 3
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3
8.3 Phương pháp thống kê toán học 4
9 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 4
10 PHÂN TÍCH CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 5
PHẦN NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 7
1.1.1 Lịch sử phát triển của DHTDA trên thế giới 7
Trang 9
vii
1.1.2 Lịch sử phát triển của DHTDA ở Việt Nam 9
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 11
1.3 ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ CÁC TIẾP CẬN DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 17
1.3.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 17
1.3.2 Các quan điểm của dạy học theo dự án 18
1.4 DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 21
1.4.1 Mục tiêu dạy học theo dự án 22
1.4.2 Nội dung dạy học theo dự án 22
1.4.3 Các hình thức tổ chức dạy học theo dự án 23
1.4.4 Phương tiện dạy học theo dự án 23
1.4.5 Kiểm tra đánh giá dạy học theo dự án 24
1.4.6 Đặc điểm dạy học theo dự án 25
1.4.7 Phân loại dự án 27
1.4.8 Quy trình dạy học theo dự án 29
1.4.9 Ưu, nhược điểm và phạm vi áp dụng 33
1.4.10 Vai trò của giáo viên và sinh viên trong dạy học theo dự án 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN HOA TRANG TRÍ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG 36
2.1 TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG 36
2.1.1 Lịch sử hình thành của trường ĐH Phạm Văn Đồng 36
2.1.2 Nhiệm vụ của nhà trường 37
2.2 GIỚI THIỆU KHOA SƯ PHẠM TỰ NHIÊN 39
2.3 GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC HOA TRANG TRÍ 40
2.4 THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN HOA TRANG TRÍ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG 42
2.4.1 Đối với GV 42
2.4.2 Đối với SV 43
Trang 10
viii
2.5 KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN HOA TRANG
TRÍ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG 44
2.5.1 Đối với GV 44
2.5.2 Đối với SV 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO DỰ ÁNVÀO MÔN HOA TRANG TRÍ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG 62
3.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO DỰ ÁN VÀO MÔN HOA TRANG TRÍ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG 62
3.2 VẬN DỤNG DHTDA VÀO MÔN HOA TRANG TRÍ 62
3.2.1 Cấu trúc chương trình môn học Hoa trang trí 62
3.2.2 Các dự án được vận dụng vào môn Hoa trang trí 64
3.2.3 Vận dụng các dự án cụ thể vào qui trình dạy học theo dự án 65
3.2.4 Các hình thức đánh giá dự án 76
3.3 Ý KIẾN CHUYÊN GIA 80
3.4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 81
3.4.1 Mục đích, đối tượng và nội dung thực nghiệm 81
3.4.2 Thực nghiệm 82
3.4.3 Kết quả thực nghiệm 83
3.4.3.1 Kết quả nhận được từ phương pháp chuyên gia 83
3.4.3.2 Kết quả định tính thực nghiệm sư phạm 85
3.4.3.3 Kết quả định lượng thực nghiệm sư phạm 89
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
1 KẾT LUẬN 96
1.1 Tóm tắt đề tài 96
1.2 Tự nhận xét, đánh giá 96
1.3 Hướng phát triển đề tài 97
2 KIẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 12Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của trường ĐH Phạm Văn Đồng 38
Hình 3.4: SV báo cáo dự án “Mừng Đảng mừng Xuân 2013” 71
Hình 3.8: SV báo cáo dự án “Hoa trang trí và quà lưu niệm” 76
Hình 3.9: SV trình bày sản phẩm và chụp hình kỷ niệm nhóm 77
Hình 3.10: GV dự giờ báo cáo dự án góp ý kiến 87
Trang 13
xi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Trình độ của GV tại khoa Sư phạm Tự nhiên 40
Biểu đồ 2.2: Kết quả ý kiến GV về việc đổi mới PPDH 44
Biểu đồ 2.3: Kết quả ý kiến về xu hướng GV lựa chọn PPDH 45
Biểu đồ 2.4: Kết quả GV áp dụng PPDH vào môn học 46
Biểu đồ 2.5: Các hình thức kiểm tra đánh giá được GV sử dụng 47
Biểu đồ 2.6: Kết quả về việc GV áp dụng DHTDA 48
Biểu đồ 2.7: Ý kiến của GV về nội dung chương trình môn học Hoa trang trí 48
Biểu đồ 2.8: Ý kiến của GV về cấu trúc lại nội dung môn học Hoa trang trí 49
Biểu đồ 2.9: Kết quả các PPDH được áp dụng trong môn Hoa 50
Biểu đồ 2.10: Kết quả GV áp dụng DHTDA vào môn Hoa trang trí 51
Biểu đồ 2.11: Kết quả khảo sát các hình thức đánh giá được GV sử dụng trong môn Hoa trang trí 52
Biểu đồ 2.12: Kết quả điểm của SV môn Hoa trang trí qua các khóa học 53
Biểu đồ 2.13: Kết quả khảo sát SV đồng ý về nội dung môn học Hoa trang trí 54
Biểu đồ 2.14: Kết quả các PPDH được GV áp dụng vào môn Hoa trang trí 55
Biểu đồ 2.15: Kết quả GV áp dụng các hình thức kiểm tra đánh giá môn Hoa 56
Biểu đồ 2.16: Kết quả mức độ tích cực của SV học môn Hoa trang trí 57
Biểu đồ 2.17: Mức độ năng lực được hình thành trong quá trình học môn Hoa trang trí 58
Biểu đồ 2.18: Mức độ hứng thú của SV học môn Hoa trang trí 59
Biểu đồ 2.19: Kết quả các đề xuất nâng cao hiệu quả dạy học Hoa trang trí từ người học 59
Trang 14
xii
Trang 1540.2 của Luật giáo dục Việt Nam, đã chỉ rõ: “Phương pháp giảng dạy đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng thực hành, ứng dụng”1
Ngày 13 tháng 6 năm 2012, Quyết định số 711/QĐ - TTg của Thủ tướng
Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã phê duyệt: "Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020" với mục tiêu tổng quát đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn
bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và
hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện Một trong
những giải pháp quan trọng của chiến lược này là cần phải: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học…” 2
Theo đó, đổi mới phương pháp dạy học trong các trường sư phạm là một xu thế tất yếu trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi thầy và trò có quyết tâm cao để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của nhà trường Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học như thế nào? Việc cốt yếu là phải tạo sự tự tin cho người học, trong đó vai trò của người thầy là người hướng dẫn, cố vấn cho người học tự tìm kiếm phát hiện và giải quyết vấn đề nhằm hình thành ở SV tính độc lập, năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo các nhiệm vụ thực tiễn, mở rộng những tri thức lĩnh hội trong quá trình học tập Hoa trang trí là một trong những môn học thuộc phân môn Kinh tế gia đình (KTGĐ) được giảng dạy trong chương trình đào tạo GVsư phạm Công nghệ Với
Trang 16
2
đặc điểm của môn học gắn lý thuyết và thực hành, có tính phức hợp cao, rèn luyện
kĩ năng thực hành Từ đó, người học phát triển tư duy, sáng tạo trong việc nâng cao khả năng ứng dụng vào thực tiễn góp phần trong việc học tập và chuyên môn sau này
Qua thực tế dạy và học môn Hoa trang trí còn một số bất cập như GV chưa có
sự đầu tư đúng mức cho môn học về phương pháp, kiểm tra đánh giá và ứng dụng những nội dung mang tính cập nhật Bên cạnh đó SV chưa phát huy tính tự lực, tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập Dạy học theo dự án (DHTDA) có đặc điểm định hướng vào người học, phát triển năng lực làm việc cộng tác, năng lực giải quyết vấn đề có tính phức hợp
Từ những lý do trên, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vận dụng dạy học
theo dự án vào môn Hoa trang trí cho SV ngành sư phạm Công nghệ - Kinh tế gia đình tại trường Đại học Phạm Văn Đồng”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Vận dụng dạy học theo dự án vào môn Hoa trang trí cho SV ngành sư phạm Công nghệ - Kinh tế gia đình
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nhiệm vụ thứ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận về DHTDA
Nhiệm vụ thứ 2: Nghiên cứu thực trạng dạy và học môn Hoa trang trí tại trường ĐH Phạm Văn Đồng
Nhiệm vụ thứ 3: Vận dụng và triển khai DHTDA vào môn Hoa trang trí, cụ thể:
- Cấu trúc lại nội dung chương trình môn học;
- Xây dựng quy trình DHTDA và môn Hoa trang trí;
- Xây dựng hồ sơ bài giảng DHTDA;
- Xây dựng bộ công cụ đánh giá DHTDA;
- Kiểm nghiệm sư phạm
Trang 17
3
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Phương pháp DHTDA, cụ thể là qui trình DHTDA và bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn Hoa trang trí
5 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
- Chương trình và nội dung môn học Hoa trang trí tại trường ĐH Phạm Văn Đồng
- GV, SV và cơ sở vật chất của trường ĐH Phạm Văn Đồng
- Quá trình tổ chức dạy học môn Hoa trang trí tại trường ĐH Phạm Văn Đồng
6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nếu vận dụng DHTDA vào môn Hoa trang trí theo qui trình mà tác giả đã đề xuất, sẽ nâng cao kết quả học tập của SV ngành Sư phạm Công nghệ - Kinh tế gia đình của trường ĐH Phạm Văn Đồng
7 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Vận dụng DHTDA trong môn học Hoa trang trí phần Kinh tế gia đình ngành
Sư phạm Công nghệ, hệ Cao đẳng của trường ĐH Phạm Văn Đồng;
- Thực nghiệm sư phạm DHTDA cho SV năm thứ ba các lớp CCN10A và CCN10B, ngành Công nghệ - Kinh tế gia đình của trường
8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các văn kiện, văn bản pháp qui về đổi mới PPDH
- Các tạp chí giáo dục, báo cáo khoa học, tài liệu lưu trữ, sách giáo khoa, số liệu thống kê, thông tin đại chúng,… có liên quan đến đề tài nghiên cứu
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi
- Khảo sát bằng bảng hỏi đối với GV và SV để tìm hiểu thực trạng dạy học môn Hoa trang trí và những nguyên nhân hạn chế việc phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo của SV
Trang 18- Xử lý kết quả thực nghiệm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
8.2.4 Phương pháp chuyên gia
Người nghiên cứu sử dụng phương pháp chuyên gia để lấy ý kiến của chuyên gia về việc vận dụng DHTDA vào môn Hoa trang trí cho SV ngành Sư phạm Công nghệ - Kinh tế gia đình tại trường Đại học Phạm Văn Đồng và tìm hiểu việc áp dụng DHTDA môn học này ở một số trường Đại học trong nước
8.3 Phương pháp thống kê toán học
Người nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê toán học để:
- Xử lý kết quả khảo sát thực trạng dạy và học môn Hoa trang trí tại trường
ĐH Phạm Văn Đồng
- Kiểm nghiệm giả thuyết của đề tài về sự hứng thú tính tích cực trong học tập, các kĩ năng, năng lực làm việc hợp tác và giải quyết vấn đề trong thực tiễn cuộc sống Từ đó người nghiên cứu phân tích, so sánh kết quả học tập cuối cùng của môn học để khẳng định giả thuyết nghiên cứu là đúng đắn
9 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Kết quả nghiên cứu của đề tài nếu được áp dụng thành công, sẽ:
Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Hoa trang trí và môn học Phương pháp dạy học Kinh tế gia đình trong chương trình đào tạo GV sư phạm Công nghệ - Kinh tế gia đình của trường ĐH Phạm Văn Đồng
Trang 19
5
Vận dụng được quy trình DHTDA cho các môn học khác của phân môn Kinh tế gia đình trong chương trình đào tạo GVngành sư phạm Công nghệ
Phát triển tính tích cực hóa người học và hình thành các kĩ năng, năng lực
xã hội cho SV, để họ thích ứng nhanh với nhu cầu thực tiễn
Đánh giá các kĩ năng làm việc hợp tác của SV qua việc thực hiện các dự
án học tập
10 PHÂN TÍCH CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Để thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài, việc tham khảo các công trình nghiên cứu là cần thiết Các công trình nghiên cứu gần đây nhất là:
- ThS Trần Hùng Phong (2012), “Dạy mô đun kĩ năng tổng hợp theo phương pháp dự án cho hệ trung cấp tại khoa cơ khí chế tạo trường Cao đẳng nghể Việt Nam Singapore”, ngành Lý luận và dạy học kỹ thuật, trường ĐH Sư Phạm Kỹ thuật
TP.HCM
- ThS Trần Kế Thuận (2012), “Vận dụng DHTDA trong giảng dạy môn Trang bị Điện tại trung tâm Việt Đức”, ngành Lý luận và dạy học kỹ thuật, trường
ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
Những vấn đề đạt được của các công trình nghiên cứu trên
- Tổng hợp và phân tích các vấn đề cơ bản về lý luận DHTDA
- Tổng hợp được những ưu điểm và nêu bật được hạn chế của PPDA: hiệu quả dạy học khó đạt đồng đều cho mọi học sinh và yêu cầu đối với GV về xác định mục tiêu tổng thể của môn học, có năng lực đa ngành đa môn học
- Đánh giá thực trạng về tổ chức dạy và học ở các trường dạy nghề
- Xây dựng hồ sơ dạy học cho 03 dự án cụ thể của môn trang bị Điện và 03 dự
án mô đun Kỹ năng tổng hợp có thời lượng lớn 140 giờ cho hệ trung cấp nghề tại trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM và trường Cao đẳng nghề Việt Nam Singapore
- So sánh DHTDA và dạy học theo truyền thống
- Xây dựng các tiêu chí đánh giá năng lực cá thể trong hoạt động nhóm
Những vấn đề chưa được nghiên cứu
Trang 20
6
- Các đề tài trên đã xác định DHTDA là phương pháp dạy học theo nghĩa hẹp như là một phương pháp cụ thể với cơ sở lý luận DH định hướng hoạt động, học thông qua làm và trải nghiệm đồng thời gắn với chuẩn năng lực thực hiện thể hiện thông qua một sản phẩm cụ thể Nhưng trong đề tài của người nghiên cứu, DHTDA được định nghĩa là một PPDH theo nghĩa rộng (được hiểu như là một hình thức dạy học), trong đó có nhiều PPDH cụ thể khác nhau được sử dụng trong dự án học tập
- Mặc dù các đề tài trên đã xây dựng các tiêu chí đánh giá chung về năng lực
xã hội, năng lực phương pháp, năng lực cá thể của học sinh nhưng đề tài của người
nghiên cứu sẽ kế thừa và tiếp tục xây dựng các tiêu chí đánh giá dự án như SV tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng công việc nhóm để người học tự đánh giá và đánh
giá lẫn nhau trong quá trình học tập, giúp cho SV tích cực hơn, năng động hơn và
tự chịu trách nhiệm về công việc được giao
Trang 21
7
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN
1.1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
1.1.1 Lịch sử phát triển của DHTDA trên thế giới
DHTDA có nguồn gốc từ Châu Âu thế kỉ XVI ở Ý và Pháp Cuối thế kỉ XIX
và đầu thế kỉ XX, DHTDA được các nhà sư phạm Mỹ (John Dewey, William Heard Kilpatrick,…) xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án và được xem đó là phương pháp dạy học (PPDH) quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống; và được đưa vào sử dụng chủ yếu trong dạy học thực hành các môn Kĩ thuật Cùng với sự ứng dụng ngày càng rộng rãi, các dự án dạy học sau đó được sử dụng ở hầu hết các môn học khác, kể cả các môn khoa học xã hội
Ngày nay DHTDA được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt ở các nước phương Tây
DHTDA là một trong những PPDH mới được thực hiện trong vài thập kỷ gần đây, chủ yếu trong các trường THPT và Đại học ở các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Canada, …và là một trong những PPDH hướng vào người học, tích cực hóa người học Các công trình nghiên cứu đã được công bố của các nhà nghiên cứu như sau:
- William Heard Kilpatrick nhà sư phạm Mỹ với bài viết “Phương pháp dự án“ (The project method) công bố 1918 Ông đã miêu tả chi tiết về DHTDA3
- Regie Stites (Viện Nghiên cứu quốc tế SRI, Mỹ) đã phân tích hiệu quả của DHTDA trên một số đối tượng người học nhất định4
3
William Heard Kilpatrick (1918), The Project Methode, Teachers College, (Record 19), trang 319 - 334
4
Regie Stites, “Evaluation of Project Based Learning What does research say about outcomes from project-based
learning?”, SRI International
Trang 22
8
- Susan J Wolff (Đại học Bang Oregon, Mỹ) đã đưa ra 32 kiểu môi trường học tập tự nhiên đặc trưng thích hợp cho dạy học hợp tác và DHTDA ở bậc cao đẳng cộng đồng5
- Viện nghiên cứu giáo dục Buck (USA) tổ chức đào tạo và xuất bản sổ tay
hướng dẫn các GV trung học tích hợp DHTDA vào chương trình học
- Tổ chức Phát triển giáo dục Quốc gia (USA): Cuốn Gắn kết các mảnh nhỏ
(2000) bao gồm một chương về “Dạy học theo dự án và công nghệ thông tin”
- Cách tiếp cận dự án: Trang web được duy trì bởi Sylvia Chard, giáo sư
trường Đại học Alberta (Canada) và đồng tác giả cuốn kích thích óc tư duy của trẻ: Cách tiếp cận dự án (2000)
Quá trình lịch sử nổi bật của dạy học theo dự án được chia thành 5 giai đoạn như sau6:
- Từ 1590 - 1765: Khởi đầu SV được làm việc theo dự án tại các học viện kiến trúc Châu Âu
- Từ 1765 - 1880: dự án đã trở thành một PPDH và lan tỏa ở khắp nước Mỹ
- Năm 1880 – 1915: Dự án được làm việc ở trường kỹ thuật và các trường học công
- Năm 1915 - 1965: Định nghĩa DHTDA và đưa DHTDA từ Mĩ quay lại Châu Âu
- Từ 1965 - nay: Làn sóng thứ 3 PPDA được lan rộng trên quốc tế
5
Susan J Wolff, Ed.D, “Relationships among People and Spaces: Design Features for the Optimal Collaborative,
Project – Based Learning Experience“, Oregon State University
http://www.designshare.com/Research/Wolff/Project_Learning.htm
6
Michael Knoll, The Project Method: Its Vocational Education Origin and International Development, University of
Bayreuth, Volume 34, Spring 1997, Number 3
http://edutechwiki.unige.ch/en/Project-based_learning
Trang 23
9
1.1.2 Lịch sử phát triển của DHTDA ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các đồ án môn học, đồ án tốt nghiệp từ lâu đã được sử dụng trong đào tạo đại học trước hết là các trường đại học kĩ thuật Hiện nay các bài tập lớn, tiểu luận, khóa luận thực hiện trong các trường đại học rất gần gũi với DHTDA Trong lĩnh vực lý luận, DHTDA bước đầu được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây Cụ thể một số kết quả nghiên cứu ở Việt Nam như sau:
- Năm 1997, tác giả Nguyễn Văn Cường sử dụng thuật ngữ DHTDA, trong đó trình bày những vấn đề cơ bản về DHTDA và có các tên gọi khác nhau như: đề án, phương pháp dự án, dự án, DHTDA Và từ đây, DHTDA đã được đề cập nhiều trong các tài liệu tiếng Việt cùng với việc quan hệ hợp tác quốc tế được giới thiệu
và vận dụng ở Việt Nam
- Từ năm 2004, DHTDA được Bộ Giáo dục và Đào tạo kết hợp với tập đoàn Intel triển khai thí điểm tại 20 trường học thuộc 9 tỉnh thành trên cả nước trong chương trình (Intel Teach to the Future, Teach Essentials, Teach Elements) nhằm giúp các GV khối phổ thông trở thành những nhà sư phạm hiệu quả thông qua việc hướng dẫn họ cách thức đưa công nghệ vào bài học, cũng như thúc đẩy kĩ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán và kĩ năng hợp tác đối với học sinh
- Năm 2005, GS Bernd Meier - TS Nguyễn Văn Cường, chương trình hội thảo tập huấn“Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới” Tháng 5/2006 chương trình hội thảo của Việt – Bỉ, “Nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng GV Tiểu học và Trung học cơ sở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”
- Tập đoàn Microsoft đã triển khai chương trình PIL (Partners in learning) tập huấn cho các GV về một số phương pháp dạy học thế kỉ XXI, trong đó có phương pháp DHTDA Đầu năm 2009, để hỗ trợ các tỉnh miền núi phía Bắc thực hiện tốt đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy và học tích cực, dự án Việt – Bỉ đã triển khai nhiều hoạt động nhằm phát triển, nâng cao năng lực sư phạm, hình thành
kĩ năng, kĩ xảo về dạy và học tích cực cho giáo viên, trong đó DHTDA cũng được chú trọng và giới thiệu chi tiết
Trang 24
10
- Gần đây nhất vào tháng 10 năm 2012, chương trình đào tạo GV hướng tới việc nâng cao chất lượng dạy và học ở cấp trung học cơ sở tại 5 tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam (Thái Nguyên,Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Nam và Quảng Ngãi) thông qua việc hỗ trợ thúc đẩy Dạy học tích cực VVOB (VVOB là Tổ chức Hợp tác Phát triển và Hỗ trợ Kĩ thuật vùng Fla - măng, Vương quốc Bỉ, một tổ chức phi lợi nhuận Đại diện cho chính phủ vùng Fla-măng và chính phủ Vương quốc Bỉ)
hỗ trợ các trường Cao đẳng/Đại học Sư phạm tại năm tỉnh này trong việc điều chỉnh cách đào tạo, đảm bảo SV có được năng lực cần thiết để trở thành những thầy cô dạy học theo hướng tích cực, lấy người học làm trung tâm Đồng thời, VVOB cũng
hỗ trợ các trường trong việc phát triển tài liệu cho dạy học tích cực Công nghệ thông tin và Giáo dục Môi trường được coi là phương tiện thích hợp để khởi động quá trình này
- DHTDA được rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, nghiên cứu sinh,
GVcủa các bậc học khác nhau từ giáo dục phổ thông, đào tạo nghề, cao đẳng đại học trên cả nước quan tâm nghiên cứu:
TS Nguyễn Thị Diệu Thảo, “DHTDA và vận dụng trong đào tạo GV trung học cơ sở môn Công nghệ”, luận án Tiến sĩ giáo dục học, Hà Nội, 2009 Trong luận
án, tác giả đã khái quát hóa và làm sáng tỏ vấn đề liên quan đến lý luận DHTDA Tác giả đã xây dựng tiến trình DHTDA trong đào tạo GV môn Kinh tế gia đình và vận dụng DHTDA trong đào tạo GV môn Công nghệ
ThS Nguyễn Như Khương, “Áp dụng DHTDA vào quá trình dạy học môn
Giáo dục học ở trường Đại học Sư Phạm Kĩ thuật Thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn thạc sĩ giáo dục học, TP.HCM, 2009 Nội dung luận văn của tác giả đã vận dụng DHTDA để phát huy tính tích cực, độc lập của SV có sự hỗ trợ của đa phương tiện, đặc biệt là công nghệ thông tin và thiết kế một số dự án học tập lý thuyết cho môn học Giáo dục học của SV trường Đại học Sư phạm Kĩ thuật - Thành phố Hồ Chí Minh
ThS Nguyễn Kim Nhụy, “Vận dụng phương pháp DHTDA cho Công nghệ lớp12 tại trường THPT Trần Văn Ơn Tỉnh Bình Dương”, luận văn thạc sĩ giáo dục
Trang 25
11
học,TP HCM, 2012.Tác giả đã vận dụng DHTDA để phát huy tư duy phê phán, kĩ năng học tập hợp tác và đã thiết kế được hai dự án học tập vào môn Công nghệ 12 của trường THPT Trần Văn Ơn tỉnh Bình Dương
ThS Phạm Hồng Bắc, “Kinh nghiệm đưa DHTDA vào dạy học Hóa học vô cơ Trung học phổ thông có hiệu quả”, tạp chí Giáo dục số 282 (kỳ 2-3/2012), trang
42 Tác giả đã đưa ra những kinh nghiệm về DHTDA đó là cách lựa chọn chủ đề, việc chọn nhóm và cách trình bày sản phẩm của dự án trong môn học Hóa học vô
cơ trung học phổ thông có hiệu quả
ThS Lê Khoa, “Tổ chức DHTDA một số kiến thức Vật lý về sản xuất điện năng ở trường trung học phổ thông”, tạp chí Giáo dục số 290 (kỳ 2 -7/2012), trang
52 Tác giả đã xây dựng qui trình DHTDA với 4 giai đoạn, 03 dự án và bộ câu hỏi định hướng cho HS Thực nghiệm 3 dự án trên và kết quả HS đã biết vận dụng kiến thức đã học được vào việc thiết kế, chế tạo máy phát điện và phát huy tính tích cực,
tự lực và sáng tạo trong học tập đồng thời hình thành năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Dạy học - hoạt động dạy học
- Dạy học: Theo từ điển tiếng Việt: dạy để nâng cao trình độ văn hóa và
phẩm chất đạo đức, theo chương trình nhất định 7
Dạy và học là hai mặt trong một quá trình có mối quan hệ mật thiết tương tác với nhau Dạy học là một dạng hoạt động đặc thù của xã hội, nhằm truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, trên cơ sở đó hình thành và phát triển nhân cách của người học Đó là sự vận động của một hoạt động kép, trong đó diễn ra hai hoạt động
có chức năng khác nhau, đan xen và tương tác lẫn nhau trong khoảng không gian và
thời gian nhất định: hoạt động dạy và hoạt động học 8
- Hoạt động dạy: là một quá trình tác động đến người học có mục đích, có kế
hoạch, để truyền thụ, tổ chức nhận thức kiến thức, kinh nghiệm xã hội và nghề nghiệp cho người học Nhằm hình thành và phát triển nhân cách nói chung và nhân
Trang 26
12
cách nghề nghiệp nói riêng Hoạt động dạy không chỉ hướng đến yêu cầu truyền thụ kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và thái độ nghề nghiệp đúng đắn ở người học
mà còn góp phần phát triển tính tích cực và tổ chức các hoạt động học tập của SV
- Hoạt động học: là một hoạt động nhận thức độc đáo của người học, thông
qua đó người học chủ yếu thay đổi chính bản thân mình và ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động tích cực nhận thức và cải biến hiện thực khách quan Hoạt động học, chủ thể là người học, hướng vào đối tượng học, tiếp nhận và chuyển hóa
nó, biến thành của riêng, qua đó phát triển chính bản thân mình
Phương pháp dạy học
Thuật ngữ phương pháp (PP) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methods) có nghĩa là con đường đi đến mục đích Theo đó, PPDH là con đường để đạt mục đích dạy học
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "PPDH là cách thức làm việc của thầy
và trò dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức kĩ năng, kĩ xảo một cách tự giác, tích cực, tự lực, phát triển những năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành thế giới quan duy vật khoa học "
- Theo PGS.TS Hà Thế Truyền," PPDH là những cách thức hoạt động tương tác được điều chỉnh của GV và SV hướng vào việc giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học"9
- Theo PGS.TS.Võ Thị Xuân, PPDH là cách thức hoạt động của GV và SV
sao cho phát huy được tính tích cực, tự lực, tự giác của SV để đạt mục tiêu dạy học; bản chất của PPDH là hoạt động của GV và SV.10
Tóm lại: PPDH là những cách thức, con đường tiến hành hoạt động dạy và học để
đạt mục tiêu dạy học
Cho đến nay không có sự thống nhất về định nghĩa PPDH Khái niệm PPDH ở
đây được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là các PPDH, các mô hình hành động cụ thể
PPDH cụ thể là những cách thức hành động của GV và SV nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể
9 PGS.TS Hà Thế Truyền,Giáo dục học đại học, Hà nội 2006, trang 88
10 PGS.TS.Võ Thị Xuân, Phương pháp dạy học chuyên ngành kĩ thuật,Tạp chí giáo dục, số 283 (kì 1 – 4/2012), trang 29
Trang 27
13
PPDH cụ thể bao gồm những phương pháp chung cho nhiều môn và các phương pháp đặc thù bộ môn Bên cạnh các phương pháp truyền thống quen thuộc như thuyết trình, đàm thoại, trực quan, có thể kể một số phương pháp khác như: phương
pháp giải quyết vấn đề, phương pháp học tập theo tra cứu, … Và PPDH còn được
hiểu theo nghĩa rộng, là những hình thức và cách thức hoạt động của GV và SV trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt được mục tiêu dạy học
Dự án
- Theo từ điển Tiếng việt: Dự thảo văn kiện luật pháp hoặc kế hoạch 11
- Thuật ngữ “dự án” tiếng Anh: “project” có nguồn gốc từ tiếng La tinh
“projecere”, "Progetto" theo tiếng Ý, "Projet" tiếng Pháp, "Projekt" tiếng Đức và
"Proekt" tiếng Nga: phác thảo, dự thảo hay một kế hoạch và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch.12
- Khái niệm “dự án” được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh
tế - xã hội và trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn là một phương pháp hay hình thức dạy học
- Theo tiêu chuẩn DIN (Deutsches Institut fuer Normung) 69901 của cộng
đồng Châu Âu: dự án là một kế hoạch, một dự tính, về cơ bản được đặc trưng bởi tính duy nhất của các điều kiện trong tính tổng thể của nó, ví dụ có mục đích trước, giới hạn về thời gian, nhân lực và các điều kiện trước; phân biệt với các dự án khác; có tổ chức dự án chuyên biệt.13
Như vậy, khái niệm dự án có thể hiểu là một dự định, một kế hoạch, trong đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện, tài chính, vật chất, nhân lực cần được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra 14
Michael Knoll, The Project Method: Its Vocational Education Origin and International Development, University of
Bayreuth, Volume 34, Spring 1997, Number 3
Trang 28
14
Dự án học tập (DAHT) là một dự án, trong đó người học thực hiện một nhiệm
vụ học tập phức hợp có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành; kết hợp kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau
Mục tiêu của dự án học tập tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu được và đây
là con đường để đạt mục tiêu dạy học
Đặc điểm của dự án học tập:
- Dự án học tập (DAHT) do SV trực tiếp lựa chọn và thực hiện;
- DAHT có quy mô nhỏ so với dự án trong thực tiễn;
- Gắn liền với nội dung chương trình của môn học;
- Tạo ra sản phẩm có thể giới thiệu được;
- SV làm việc theo nhóm để giải quyết những vấn đề, những tình huống có trong đời sống
Dạy học theo dự án
DHTDA có tên gốc tiếng Anh là Project - based learning (viết tắt là PBL),
đôi khi được gọi tắt “dạy học dự án”, hoặc “học tập dựa trên dự án”, “phương pháp DHTDA”
Có nhiều định nghĩa về DHTDA như sau:
- Một số nhà nghiên cứu về DHTDA của Hoa Kỳ như Thomas, Mergendoller
hay Michaelson, “DHTDA là một mô hình tổ chức học tập xung quanh dự án Các
dự án có nhiệm vụ phức tạp, dựa trên các câu hỏi hay vấn đề đầy thử thách, đòi hỏi
SV phải thiết kế, giải quyết vấn đề, hoặc tiến hành các hoạt động điều tra; nó cung cấp cho người học cơ hội để làm việc tương đối tự động trong một khoảng thời gian
mở và kết quả cuối cùng là tạo ra các sản phẩm thực tế hoặc các bài thuyết trình trước lớp học”15
- Theo Intel “Chương trình dạy học cho tương lai”: DHTDA là một mô hình dạy học lấy SV làm trung tâm Nó giúp phát triển kiến thức và các kĩ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, khuyến khích SV tìm tòi, hiện thực hoá
15
.http://data4kid.wordpress.com,day-hoc-theo-du-an-mot-phuong-phap-day-hoc-moi-tai-ietnam,12/10/2012
Trang 29bộ quá trình học tập, tạo ra những sản phẩm có thể trình bày, giới thiệu”.17
- DHTDA là một phương pháp dạy học (PPDH) tích cực lấy người học làm trung tâm, tạo điều kiện cho HS chủ động và tự lực trong mọi hoạt động để chiếm lĩnh tri thức bài học”.18
- DHTDA là PPDH mà trong đó người học thực hiện nhiệm vụ học tập phức hợp theo một quy trình đã xác định, nội dung học tập phải gắn với thực tiễn đời sống xã hội, khoa học kỹ thuật kết hợp lý thuyết với thực hành; tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả, dưới sự cố vấn, giám sát của người dạy Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm có thể giới thiệu được như các bài viết, tập tranh ảnh sưu tầm, chương trình hành động cụ thể 19
DHTDA ngày nay đã được quan tâm và có rất nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng rộng rãi trên thế giới, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa thống nhất về tên gọi phương pháp dạy học, hình thức dạy học, mô hình hay quan điểm dạy học
- Tác giả W H Kilpatrick đã coi DHTDA là một PPDH theo nghĩa rộng hay một nguyên tắc là phương pháp dự án và dự án trong dạy học là: “Hành động có chủ ý, với toàn bộ nhiệt tình, diễn ra trong môi trường xã hội, hay nói ngắn hơn là hoạt động có chủ ý và có tâm huyết”
- Theo K Frey, quan niệm DHTDA là một phương pháp và hiểu khái niệm phương pháp theo nghĩa rộng đó là một hình thức của hoạt động học tập và định nghĩa: “Phương pháp dự án là một hình thức của hoạt động học tập, có tác dụng
Trang 30
16
giáo dục” Đó là một hình thức của hoạt động học tập, có tác dụng giáo dục Quyết định là ở chỗ: nhóm người học xác định một chủ đề làm việc, thống nhất về nội dung làm việc, tự lực lập kế hoạch và tiến hành công việc để dẫn đến một sự kết thúc có ý nghĩa, thường xuất hiện một sản phẩm có thể trình ra được
- Một số tác giả ở Đức không sử dụng khái niệm phương pháp dự án mà dùng khái niệm DHTDA và hiểu như một hình thức dạy học, hình thức lớn của PPDH” Khái niệm dạy học “định hướng dự án” cũng được sử dụng để chỉ DHTDA theo nghĩa rộng, trong đó việc vận dụng có thể ở mức độ khác nhau
- Theo chương trình PIL của Microsof sử dụng khái niệm “Học theo dự án”, coi DHTDA là một hình thức và mô tả: “đó là các hoạt động học tập được thiết kế một cách cẩn thận, mang tính lâu dài, liên quan đến nhiều lĩnh vực học thuật, lấy
SV làm trung tâm và hòa nhập với những vấn đề và thực tiễn của thế giới thực tại
Tóm lại, không có sự thống nhất về quan niệm, cách gọi tên về DHTDA nhưng
trong hệ thống các khái niệm thuộc phạm trù PPDH có nhiều quan niệm khác nhau:
- DHTDA với tư cách là một PPDH: khi hiểu DHTDA là một PPDH, có tác giả hiểu đó là một PPDH theo nghĩa hẹp như một PPDH cụ thể, tuy nhiên nhiều tác giả sử dụng khái niệm phương pháp dự án theo nghĩa rộng, không phải là một PPDH cụ thể
- DHTDA với tư cách một HTDH: theo quan niệm này, trong DHTDA có nhiều phương pháp cụ thể khác nhau được sử dụng, do đó đây là một HTDH
- DHTDA được hiểu theo nghĩa rộng nhất như một quan điểm, mô hình hay nguyên tắc dạy học: theo quan điểm này người ta muốn mở rộng phạm vi ứng dụng của DHTDA Khi đó người ta còn dùng thuật ngữ dạy học định hướng dự án
Từ những phân tích khái niệm và quan điểm DHTDA trên, theo người nghiên cứu được hiểu DHTDA thuộc phạm trù PPDH, là PPDH theo nghĩa rộng (được hiểu như là một hình thức dạy học), trong đó có nhiều PPDH cụ thể khác nhau được sử dụng trong dự án học tập Và định nghĩa được áp dụng trong đề tài nghiên cứu như sau:
Trang 31
17
“DHTDA là một PPDH, trong đó người học thực hiện nhiệm vụ học tập
phức hợp theo một qui trình đã xác định, nội dung học tập gắn liền thực tiễn, tự lực lập kế hoạch, hoạt động theo nhóm, thực hiện và đánh giá kết quả, dưới sự
cố vấn, giám sát của người dạy Kết quả dự án là những sản phẩm có thể giới thiệu được”
1.3 ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ CÁC TIẾP CẬN DẠY HỌC THEO DỰ ÁN
1.3.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục nước ta, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo luôn được Đảng, Nhà nước và các cấp quản lý giáo dục quan tâm Kết luận số 242 - TB/TƯ ngày 15/4/2009 của Bộ Chính trị do đồng chí Trương Tấn Sang ký về tiếp tục thực hiện Nghị quyết T.Ư 2 (khóa VIII) về phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 Bộ Chính trị
đã đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp để đổi mới căn bản, toàn diện, mạnh mẽ sự
nghiệp giáo dục và đào tạo Việt Nam Tại giải pháp thứ tư có ghi "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều Phát huy PPDH tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng lý thuyết, tăng thời gian tự học và tự tìm hiểu cho SV; gắn bó chặt chẽ giữa học lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống".20
Tích cực hóa hoạt động học tập của người học là tư tưởng, là mục đích của quá trình đổi mới PPDH Người học phải đặt vị trí trung tâm của hoạt động dạy – học Theo tác giả Nguyễn Bá Kim, người nghiên cứu thống nhất định hướng đổi mới bao gồm các nội dung sau:
- Xác lập vị trí chủ thể của người học; bảo đảm tính tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của hoạt động học tập được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu
- Tri thức được cài đặt sẵn trong những tình huống có dụng ý sư phạm
- Dạy cách học, dạy tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học
20
vanban.moet.gov.vn/?page=1.15&script=viewdoc&view=1110&opt=brpage
Trang 321.3.2 Các quan điểm của dạy học theo dự án
Quan điểm dạy học (QĐDH): là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những cơ sở lý thuyết của lý luận dạy học và những điều kiện dạy học cũng như những định hướng về vai trò của GV và SV trong quá trình dạy học Các quan điểm tiếp cận của DHTDA là:
Thuyết kiến tạo 21
Tư tưởng về dạy học kiến tạo đã có từ lâu, nhưng lý thuyết kiến tạo (Construcktivism) được phát triển từ khoảng những năm 60 của thế kỷ 20, được đặc biệt chú ý từ cuối thế kỷ XX Piagiê, Vưgôtski cũng đồng thời là những đại diện tiên phong của thuyết kiến tạo Thuyết kiến tạo có thể coi là một hướng tiếp cận tiếp theo của thuyết nhận thức Tư tưởng nền tảng của thuyết kiến tạo là đặt vai trò chủ thể nhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức Thuyết kiến tạo là thuyết
DH định hướng chủ thể nhận thức Khi học tập, tất cả những gì người học tích lũy
và trải nghiệm sẽ được kiến tạo vào thế giới khách quan của người học Người học
sẽ tự tìm hiểu, học tập trải nghiệm từ bản thân và tự điều chỉnh quá trình học tập của của mình cho phù hợp
Có thể tóm tắt những quan niệm chính của thuyết kiến tạo:
21 Nguyễn Văn Cường, Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông, 2011, Hà
nội, trang 41 – 46
Trang 33
19
- Không có tri thức khách quan tuyệt đối Tri thức được xuất hiện thông qua việc chủ thể nhận thức từ cấu trúc vào hệ thống bên trong của mình, vì thế tri thức mang tính chủ quan
- Với việc nhấn mạnh vai trò của nhận thức trong việc giải thích và kiến tạo tri thức, thuyết kiến tạo thuộc lý thuyết định hướng chủ thể
- Cần tổ chức sự tương tác giữa người học và đối tượng học tập, để người học xây dựng thông tin mới vào cấu trúc tư duy của chính mình, đã được chủ thể điều chỉnh
- Học không chỉ là khám phá mà còn là sự giải thích, cấu trúc mới tri thức
Những đặc điểm cơ bản của học tập theo thuyết kiến tạo:
- Tri thức được lĩnh hội trong học tập là một quá trình và sản phẩm kiến tạo theo từng cá nhân thông qua tương tác giữa người học và nội dung học tập
- Dạy học phải định hướng theo các lĩnh vực và vấn đề phức hợp gần với cuộc sống và nghề nghiệp, được khảo sát một cách tổng thể
- Việc học tập chỉ có thể thực hiện trong hoạt động tích cực của người học, vì chỉ từ những kinh nghiệm và kiến thức mới của bản thân thì mới có thể thay đổi và
cá nhân hóa những kiến thức kĩ năng đã có
- Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng, thông qua tương tác xã hội trong nhóm góp phần cho người học tự điều chỉnh sự học tập của bản thân
- Nội dung học tập cần định hướng vào hứng thú người học vì có thể học hỏi
dễ nhất từ những nội dung mà người ta thấy hứng thú hoặc có tính thách thức
- Thuyết kiến tạo không chỉ giới hạn ở những khía cạnh nhận thức của việc dạy và học Sự học tập hợp tác đòi hỏi và khuyến khích phát triển không chỉ có ý chí mà cả mặt tình cảm, thái độ, giao tiếp
- Mục đích học tập là kiến tạo kiến thức của bản thân nên khi đánh giá các kết quả học tập không định hướng theo các sản phẩm học tập, mà cần kiểm tra những tiến bộ trong quá trình học tập và trong những tình huống học tập phức hợp
Trang 34
20
Quan điểm dạy học định hướng hoạt động
- Dạy học định hướng hoạt động (DHĐHHĐ) là quan điểm dựa trên lý thuyết hành động nhận thức Cơ sở lý thuyết là trong quá trình nhận thức cần có sự kết hợp giữa tư duy và hành động, giữa lý thuyết và thực hành Tâm lý của con người hình thành và thể hiện qua hoạt động
- Quan điểm dạy học này nhằm làm cho hoạt động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau Trong đó, việc tổ chức quá trình dạy học được chi phối bởi những sản phẩm hành động đã được thỏa thuận giữa GV và người học Đây là một quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể Vận dụng DHĐHHĐ có ý nghĩa quan trọng cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội
Quan điểm dạy học giải quyết vấn đề
- Dạy học giải quyết vấn đề (DHGQVĐ) là một quan điểm nhằm phát huy năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề người học SV được đặt trong một tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề giúp người học lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức
- Theo quan điểm Tâm lí – Giáo dục, người ta coi trọng quá trình dạy học là quá trình phát triển tâm lí của con người thông qua hoạt động học tập Vì vậy, cần phải tìm mọi cách tạo mọi điều kiện, cơ hội để người học phát huy năng lực nội sinh của SV, phát triển sức mạnh trí tuệ và ý chí, nghĩa là tập trung vào việc tích cực hóa hoạt động học tập của SV, kích thích nhu cầu, hứng thú và động cơ của người học
Quan điểm dạy học tích hợp
Tích hợp (integration) có ý nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp Tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên kết với nhau và liên hệ mật thiết với nhau là tính liên kết và tính toàn vẹn
Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất
Trang 35
21
Theo từ điển tiếng Việt “Dạy học tích hợp là phương pháp sư phạm tìm cách thực hiện nhiều mục đích học tập đặt ra cho các môn học khác nhau ngay trong các bài học của một môn học nhất định”22
Dạy học tích hợp là quá trình dạy học được thiết kế trên cơ sở tiếp cận năng lực thực hiện với mục tiêu dạy học là hình thành một năng lực hoặc một thành tố năng lực nơi người học theo các yêu cầu và tiêu chuẩn của thực tiễn sản xuất Dạy học tích hợp không thể hiểu đơn thuần là tích hợp lý thuyết và thực hành vào trong một bài giảng, tích hợp có thể trong một chương trình đào tạo, trong một môn học hay mô đun, trong một chương hay trong một phần; thậm chí có thể tích hợp nhiều năng lực hành nghề khác nhau vào trong một chương trình hay mô đun
và tích hợp nhiều lĩnh vực, đa môn, liên môn…
Tích hợp đào tạo là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức lý thuyết cần thiết liên quan (môn chung, cơ sở ngành, lý thuyết chuyên môn) và kĩ năng thực hành tương ứng thành một kĩ năng nhất định, nhằm đem đến cho người học các năng lực thực hiện công việc, nhiệm vụ cụ thể
Tóm lại: Những quan điểm dạy học như quan điểm dạy học định hướng hoạt động,
dạy học giải quyết vấn đề, dạy học tích hợp, thuyết kiến tạo đều phù hợp với DHTDA và đặc biệt là thuyết kiến tạo vì:
- Tri thức là một quá trình và sản phẩm được kiến tạo theo từng cá nhân thông qua tương tác đối tượng học tập
- Nội dung học tập được định hướng theo những lĩnh vực và vấn đề phức hợp, gắn với cuộc sống và nghề nghiệp
- Nội dung học tập định hướng vào hứng thú của người học
- Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng, thông qua tương tác mang tính
xã hội giúp cho người học tự điều chỉnh việc học tập của mình
Trang 36
22
Người học lĩnh hội kiến thức bài học thông qua việc tìm hiểu và quyết định chủ đề để hoàn thành mục tiêu nhiệm vụ của dự án học tập GV giữ vai trò hỗ trợ, hướng dẫn Người học hợp tác làm việc với nhau trong các nhóm, phát huy tối đa năng lực cá nhân khi đảm nhận những vai trò khác nhau
- Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo và hình thành các năng lực cá nhân, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề trong quá trình thực hiện
dự án
- Người học thể hiện những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của mình thông qua sản phẩm hoặc quá trình thực hiện
1.4.1 Mục tiêu dạy học theo dự án
- DHTDA hướng tới phát triển các kĩ năng tư duy, nhận thức bậc cao như phân tích, tổng hợp, đánh giá, tư duy sáng tạo, tư duy tích cực
- DHTDA hướng tới việc nâng cao kĩ năng chuyên môn, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm
- DHTDA hướng tới các vấn đề của thực tiễn nhằm gắn kết nội dung học với cuộc sống thực
- DHTDA hướng tới phát triển kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng lắng nghe và giao tiếp, trao đổi, tranh luận, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng thu thập và xử lí thông tin, và bảo vệ ý kiến cá nhân
1.4.2 Nội dung dạy học theo dự án
- Trong DHTDA, nội dung của dự án là sự vận dụng kiến thức và kĩ năng thông qua việc giải quyết một nhiệm vụ hay một vấn đề gắn với tình huống thực tiễn cuộc sống hoặc nghề nghiệp Nội dung DHTDA không chỉ nhằm mục đích là cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản, cần thiết và có tính hệ thống mà còn tạo cơ hội cho người học phát triển tính tích cực, chủ động, sáng tạo của bản thân, đồng thời khám phá ra những tri thức, những kĩ thuật, những năng lực cần thiết cho nghề nghiệp Bên cạnh đó, khi tổ chức DHTDA GVphải lựa chọn những nội dung kiến thức, những chủ đề của dự án có sự gắn kết giữa lý thuyết - thực
Trang 37dự án, lập kế hoạch, thực hiện dự án đến việc kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện dự án
- Làm việc độc lập: là hình thức làm việc quan trọng DHTDA Mỗi thành viên trong nhóm được phân công một nhiệm vụ cụ thể trên cơ sở kế hoạch chung của nhóm và phải tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ của mình
- DHTDA có thể tổ chức trong một số giờ học, trong một hay một số ngày dự
án, trong một môn học hay liên môn
1.4.4 Phương tiện dạy học theo dự án
Những phương tiện hỗ trợ trong DHTDA theo các nhóm:
+ Phương tiện truyền thông như: máy chiếu, máy chụp hình, camera,
+ Ứng dụng công nghệ thông tin như các phần mềm Microsoft Office (Word, Excel, Powerpoint) Bên cạnh đó, internet là phương tiện không kém phần quan trọng Bởi vì, internet đem lại nguồn thông tin vô cùng phong phú, những kiến thức
Trang 38
24
liên quan đến nội dung dự án học tập cũng như những vấn đề thực tế cuộc sống, vv…; nội dung kiến thức SV lĩnh hội trong DHTDA không chỉ có trong giáo khoa, giáo trình mà là nguồn kiến thức mở và thông qua internet cũng hình thành cho người học những kĩ năng xử lí thông tin như xử lý hình ảnh, video, âm thanh, Và internet còn là phương tiện hữu ích để SV trao đổi, thảo luận giữa các nhóm với nhau hay là sự góp ý của GV cũng được tiến hành thuận lợi thông qua internet (facebook, email,…)
1.4.5 Kiểm tra đánh giá dạy học theo dự án
Đánh giá trong DHTDA không chỉ đơn thuần là đánh giá sản phẩm của dự
án mà còn phải đánh giá khả năng nhận thức, kĩ năng và năng lực của SV đồng thời theo dõi sự tiến bộ ở người học Một số công cụ được sử dụng đánh giá trong DHTDA đó là bộ công cụ, “công cụ” được hiểu là các phương pháp, phương tiện và
kỹ thuật được sử dụng trong suốt quá trình nhằm đạt mục đích đánh giá học tập Tính năng cơ bản của các công cụ đánh giá là “thu thập thông tin” để cung cấp cho
GV và SV trong quá trình đánh giá và tự đánh giá Có nhiều loại công cụ đánh giá khác nhau, tác giả sử dụng bộ công cụ để đánh giá người học trong đề tài như sau:
Đánh giá theo tiêu chí 23
- Là phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí Nội dung của một phiếu hướng dẫn đánh giá là một tập hợp các tiêu chí thường được liên hệ với mục tiêu học tập
và được sử dụng đánh giá hoặc thông báo về sản phẩm hoặc quá trình thực hiện nhiệm vụ của người học
- Phiếu hướng dẫn đánh giá bao gồm một hoặc nhiều khía cạnh như năng lực thực hiện được đánh giá, các khái niệm hoặc ví dụ làm sáng tỏ những yếu tố đang được đánh giá và một thang điểm cho từng khía cạnh Các khía cạnh được gọi là tiêu chí, thang đánh giá được gọi là mức độ Ưu điểm của phiếu đánh giá là:
- Dễ sử dụng, dễ giải thích;
- Giúp việc đánh giá được khách quan;
- Khuyến khích SV đánh giá ngang hàng;
23 Leen Pil, Tài liệu tập huấn “Đánh giá dạy học tích cực”, Trường Đại học Leuven (Bỉ), trang 68
Trang 39
25
- Cung cấp phản hồi cho GV và SV;
- SV có thể tham gia vào việc xây dựng phiếu tiêu chí để tự đánh giá tiến bộ
Đánh giá đồng đẳng (người học đánh giá lẫn nhau)24 là người học tham gia vào việc đánh giá công việc lẫn nhau của những người học khác Một SV sẽ theo dõi bạn học của mình trong suốt quá trình học và do đó sẽ biết thêm các kiến thức cụ thể về công việc của mình khi đối chiếu với GV SV đánh giá lẫn nhau dựa theo các tiêu chí được định sẵn Thông qua việc đánh giá tích cực và thường xuyên lẫn nhau, những lợi ích của làm việc nhóm sẽ được khai thác tối ưu
Tự đánh giá (trong học tập) 25 là hình thức đánh giá mà SV tự liên hệ phần nhiệm vụ đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học Tự đánh giá không chỉ đơn thuần là tự mình cho điểm số mà là sự đánh giá những nỗ lực, quá trình và kết quả làm việc Dựa vào các tiêu chí đánh giá, người học có thể phản hồi lại và nhìn lại quá trình học của mình
Đánh giá theo năng lực 26 là việc đánh giá dựa trên khả năng thực hiện có
hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội Năng lực của cá nhân là sự tổng hòa của kiến thức, kĩ năng, thái độ và kinh nghiệm Có nhiều năng lực khác nhau như năng lựctìm tòi, năng lực khám phá, năng lực xử lý thông tin, năng lực giải quyết vấn đề
và năng lực hợp tác
Trong DHTDA, để đánh giá được năng lực của người học, người GV cần kết hợp cả đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết GV thiết kế các tiêu chí và nội dung đánh giá theo năng lực Các tiêu chí đánh giá theo năng lực mà người học đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ và giải quyết tình huống
1.4.6 Đặc điểm dạy học theo dự án
Trong các tài liệu về DHTDA có rất nhiều đặc điểm được đưa ra Các nhà
sư phạm Mỹ đầu thế kỷ XX, khi xác lập cơ sở lý thuyết cho DHTDA này đã nêu ra
24 Nguyễn Lăng Bình, Đỗ Hương Trà, Nguyễn Phương Hồng, Cao Thị Thặng, Dạy và học tích cực – Một số phương
pháp và kỹ thuật dạy học, 2010,NXB ĐHSP, trang 203.
25 Leen Pil, Tài liệu tập huấn “Đánh giá dạy học tích cực”, Trường Đại học Leuven (Bỉ), trang 201
26 Nguyễn Lăng Bình, Đỗ Hương Trà, Nguyễn Phương Hồng, Cao Thị Thặng, Dạy và học tích cực – Một số phương
pháp và kỹ thuật dạy học, 2010,NXB ĐHSP, trang 177.
Trang 40
26
ba đặc điểm cốt lõi của DHTDA: định hướng người học, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm Ngày nay, các tài liệu về DHTDA đưa ra rất nhiều đặc điểm27 Sau đây là các đặc điểm cơ bản về DHTDA:
- Gắn liền với hoàn cảnh
- Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống gần gũi với thực tiễn cuộc sống Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề cần giải quyết phù hợp với khả năng của người học
- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội
Do gắn với hoàn cảnh, các dự án học tập góp phần việc học tập ở nhà trường với thực tiễn xã hội Trong trường hợp lý tưởng, việc thực hiện dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực
lý thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học
- Tính tự lực cao của người học
Trong DHTDA, người học cần tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của SV và mức độ khó khăn của nhiệm vụ
27 Prof Dr Bernd Meier - Dr Nguyễn Văn Cường, Cơ sở đổi mới phương pháp dạy học, POTSDAM, Hà Nội, 2011,
trang 72