1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định tính cách cá nhân của bản thân thông qua bài tập trắc nghiệm big5 và MBTI

9 966 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 134,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP CÁ NHÂNMÔN QUẢN TRỊ HÀNH VI TỔ CHỨC ______________ Xác định tính cách cá nhân của bản thân Thông qua bài tập trắc nghiệm Big5 và MBTI GIỚI THIỆU Đối với tập thể và lãnh đạo của đ

Trang 1

BÀI TẬP CÁ NHÂN

MÔN QUẢN TRỊ HÀNH VI TỔ CHỨC

Xác định tính cách cá nhân của bản thân Thông qua bài tập trắc nghiệm Big5

và MBTI

GIỚI THIỆU

Đối với tập thể và lãnh đạo của đội, của nhóm hay của tổ chức việc đánh giá, nhận biết, xác nhận tính cách cá nhân giúp cho lãnh đạo, tổ chức trong việc tuyển dụng và lựa chọn nhân lực và quản lý nhân lực trong tổ chức có hiệu quả cao, là cơ sở cho việc phân công nhiệm vụ phù hợp với yêu cầu công việc, phát huy được năng lực chuyên môn, sở trường, tính cách cá nhân, nhằm tạo động lực để cá nhân thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả cao, góp phần vào mục tiêu, kết quả chung của tổ chức

Thông qua kết quả ghi nhận, đánh giá tính cách cá nhân của bản câu hỏi

Big 5 và MBTI giúp chúng ta hiểu biết rõ hơn về tính cách của bản thân, từ đó

có định hướng điều chỉnh hành vi cư xử, giao tiếp của bản thân với những người khác trong cuộc sống, đặc biệt với đồng nghiệp và những người trong tổ chức, nhằm xây dựng và duy trì môi trường văn hóa trong tổ chức, hướng nghiệp, khen thưởng, khích lệ, đổi mới, quản lý thông tin, tôn vinh giá trị cá nhân, đánh giá, gây dựng thương hiệu, phát triển nhân cách, điều chỉnh, quản lý hành vi ứng

xử trong tổ chức Xây dựng mối quan hệ, giao tiếp, ứng xử hài hòa trong tập thể,

tổ chức, hạn chế tối đa phát sinh xung đột trong tổ chức, xây dựng tổ chức đồng thuận, ổn định, phát triển vì mục tiêu chung của tổ chức trong đó có vai trò đóng góp quan trọng của từng thành viên trong tổ chức

PHÂN TÍCH

Đạo đức, tính đa văn hóa và các giá trị khác là các đặc tính tương đối vững chắc, vì vậy chúng có tầm ảnh hưởng quan trọng tới các hành vi cá nhân Một đặc điểm cá nhân khác cũng có tính ổn định lâu dài là cá tính Trong thực

tế, có những bằng chứng xác đáng rằng các giá trị và các đặc điểm chính của tính cách có mối tương quan và tương hỗ với nhau

Tính cách cá nhân thường được liên tưởng đến mô hình ổn định trong các hành vi ứng xử và tính thống nhất trong suy nghĩ dùng để giải thích xu hướng cư

xử của một con người Cá tính bao gồm cả các nhân tố chủ quan và khách quan Các tính cách biểu hiện ra bên ngoài có thể quan sát được và chúng ta có thể dựa vào đó để nhận biết tính cách con người Chẳng hạn, chúng ta có thể nhận biết một con người hướng ngoại qua cách người đó giao tiếp với người khác Các

Trang 2

trạng thái bên trong thể hiện những suy nghĩ, các giá trị và các tính cách bẩn sinh mà ta suy ra từ các hành vi bên ngoài

Có thể nói, tính cách giải thích xu hướng của hành vi bởi vì hành vi không phải lúc nào cũng đồng nhất với tính cách của mỗi con người trong mọi hoàn cảnh Cá tính sẽ không còn rõ rệt trong hoàn cảnh mà các quy tắc xã hội, hệ thống thưởng phạt và các điều kiện khác chi phối hành vi của chúng ta

Để có cơ sở đánh giá hay tìm hiểu một vấn đề gì đó, ta cần tìm hiểu nguồn gốc, quá trình hình thành phát triển và các vấn đề liên quan Ở đây chúng ta cùng tìm hiểu nguồn gốc của tính cách cá nhân:

* Nguồn gốc của tính cách cá nhân: Có nhiều cách để quan niệm về tính cách cá nhân, theo cách nói của người phương đông mà đặc biệt phổ biến ở Việt Nam, người ta có câu “mẹ sinh con, trời sinh tính”, đây không phải là một định nghĩa khoa học, nhưng trong dân gian câu nói này được truyền từ đời này sang đời khác, đến giờ nó vẫn được nhắc tới như là một mặc định để giải thích một vấn đề về tính cách cá nhân của một con người

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số người quan niệm, tính cách cá nhân được truyền theo con đường sinh học (do bộ gen của con người quyết định), để giải thích vấn đề này, họ đưa ra bằng chứng rằng tính cách cá nhân có liên quan trực tiếp tới một số phần xác định của não bộ, và các phản ứng hóa học diễn ra trong cơ thể

Không chỉ dừng ở những vấn đề nêu trên, với các nhà tâm lý học theo trường phái cách tân đã tiến thêm một bước quan trọng quan điểm của mình bằng cách giải thích tính cách cá nhân được định hình bởi sự ra đời của tiến bộ

xã hội Các nhà tâm lý học khác, không phủ nhận ảnh hưởng của di truyền học, biện luận rằng môi trường mà chúng ta đang sống có ảnh hưởng tới tính cách Tính cách của chúng ta phát triển phần nào qua các giao tiếp xã hội lúc còn nhỏ Tính cách cá nhân cũng có thể phát triển thông qua các giao tiếp với xã hội và các kinh nghiệm sống sau này trong cuộc đời

* Tính cách cá nhân trong tổ chức: tính cách cá nhân đã được nhìn nhận một cách nghiêm túc trong tổ chức Các nghiên cứu gần đây cho thấy tính cách mang lại hành vi tương ứng trong công việc, trong các phản ứng stress và cảm xúc tương đối chính xác trong các điều kiện nhất định Các học giả cũng nêu lại

ý kiến rằng các nhà lãnh đạo thành công có những đặc điểm tính cách điển hình

và tính cách cũng giải thích thái độ lạc quan và yêu đời của mỗi con người Tính cách cá nhân dường như cũng giúp con người tìm được công việc thích hợp nhất với nhu cầu của mình Kiểm tra tính cách cá nhân dường như vẫn là phương pháp tuyển dụng còn nhiều hạn chế, song vẫn có nhiều công ty dùng bài kiểm tra tính cách cá nhân để chọn ra các nhà điều hành

* Năm loại chính của tính cách cá nhân: Hiện tại bằng các phương pháp nghiên cứu, đúc kết người ta đã rút ra và đang công nhận kết quả là có 5 mảng của tính cách cá nhân, cụ thể như sau:

Trang 3

- Tận tâm là những người thận trọng, đáng tin cậy và có lý trí Ngược lại, con người thiếu tận tâm thường là người bất cẩn, không rõ ràng, thiếu ngăn nắp

và thiếu trách nhiệm

- Dễ chấp nhận là những người có tính cách lịch thiệp, bản chất tốt, biết cảm thông và chia sẻ Vài học giả thích gọi kiểu tính cách này là “thân thiện, dễ gần” Ngược lại, những người với chỉ số dễ chấp nhận thấp, có xu hướng không hòa đồng, dễ nổi nóng và thiếu kiên nhẫn

- Lo âu là người rất hay phiền muộn, không thân thiện, chán nản và hay thiếu tự tin Ngược lại, những người ít lo âu có độ ổn định cảm xúc cao thường

tự tin, cẩn thận và bình tĩnh

- Sẵn sàng học hỏi là những người nhạy bén, linh động, sáng tạo và ham học hỏi Ngược lại là những người thường không thích sự thay đổi, khó chấp nhận ý tưởng mới và cứng nhắc trong hành động

- Hướng ngoại là những người thường thích di chuyển, hay chuyện, chan hòa và quyết đoán Đối lập là những người hướng nội, thường trầm lặng, nhút nhát và cẩn trọng Người hướng nội dễ chịu khi ở một mình, còn người hướng ngoại thì không

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng các mảng tính cách trên có ảnh hưởng nhất định tới hành vi và hiệu quả công việc Những người có khả năng ổn định cảm xúc cao làm việc tốt hơn những người khác trong môi trường làm việc stress Những người có khả năng chấp nhận cao thường có thiên hướng xử lý các mối quan hệ đồng nghiệp, khách hàng và giải quyết mâu thuẫn tốt hơn Những người tận tâm đặt mục tiêu cá nhân cao hơn cho bản thân mình, làm việc siêng năng hơn, và đạt kết quả cao hơn các nhân viên không tận tâm bằng Những người có tính tận tâm cao thường cho thấy có nhiều bổn phận hơn và làm việc tốt hơn ở nơi làm việc mang lại cho họ tính tự chủ cao, hơn là nơi làm việc mang tính kiểm soát và ra lệnh Những người có độ tận tâm cao, cũng như tính chấp nhận

và ổn định cảm xúc sẽ mang đến dịch vụ khách hàng tốt hơn

* Phương pháp đánh giá MBTI: một cách đánh giá được thiết kế nhận diện xu hướng cơ bản tiếp nhận và xử lý thông tin của cá nhân MBTI được xây dựng dựa trên lý thuyết về tính cách con người được giới thiệu năm 1920 của Carl Jung nhà tâm lý học người Thụy Sĩ để phân biệt cách con người cảm nhận

về môi trường xung quanh cũng như tiếp nhận và xử lý thông tin Jung nhấn mạnh rằng con người vừa hướng nội, vừa hướng ngoại trong việc định hướng và

có xu hướng cụ thể trong nhận thức (qua trực quan hay cảm giác) và đánh giá hoặc quyết định hành động (suy nghĩ hay cảm xúc) MBTI được thiết kế để đo lường những điều trên cũng như khía cạnh con người định hướng mình trước thế giới bên ngoài (đánh giá và cảm nhận)

Hiệu quả của MBTI có hữu dụng trong các tổ chức, là một trong những phương pháp đánh giá tính cách cá nhân phổ biến nhất trong môi trường làm việc MBTI cũng khá phổ biến trong việc tư vấn nghề nghiệp và huấn luyện nhân viên cao cấp Mặc dù rất phổ biến, nhưng các bằng chứng về tính hiệu quả của MBTI vẫn chưa rõ rệt, các bằng chứng khác về khả năng của MBTI trong

Trang 4

việc đoán trước hiệu quả công việc thì chưa thuyết phục lắm, một ngoại lệ có thể xảy ra là vài thể loại của MBTI trùng với vài khía cạnh khác của trí thông minh cảm xúc Hơn hết, MBTI dường như nâng cao ý thức tự giác của việc phát triển

sự nghiệp và hiểu biết qua lại

Xác định tính cách cá nhân của bản thân Thông qua bài tập trắc

nghiệm Big5 và MBTI đã giúp cho tôi hiểu rõ hệ thống, đặc điểm tính cách của

bản thân Cụ thể:

- Với mười điểm ghi nhận tính cách cá nhân: Tôi không phải thuộc người

có cá tính hướng ngoại nhiệt huyết; không thích chỉ trích tranh luận; đáng tin cậy, tự chủ; không hay lo lắng, buồn phiền; không phải người sẵn sàng trải nghiệm, một con người phóng khoáng; là người trầm lặng, kín đáo; cảm thông, nồng ấm ở mức trung bình; là người ngăn lắp, cẩn thận; điềm tĩnh, cảm xúc ổn định; sáng tạo và nguyên tắc: ở mức trung lập;

- Kết quả đánh giá theo Bảng MBTI, kết quả xác định tôi thuộc nhóm người có tính cách cá nhân ISTJ là tính cách hướng nội (I): suy nghĩ, xét trước

rồi mới hành động, thường cần một khoảng thời gian riêng tư để tái tạo năng

lượng; Các đặc điểm giác quan (S): tinh thần sống với hiện tại, chú ý tới các cơ

hội hiện tại, sử dụng các giác quan thông thường và tự động tìm kiếm giải pháp mang tính thực tiễn, ứng biến giỏi nhất từ các kinh nghiệm trong quá khứ, thích những thông tin rành mạch và rõ ràng; không thích phải đoán khi thôn tin mù

mờ; Các đặc điểm suy nghĩ (T): tự động tìm kiếm thông tin và sự hợp lý trong

một tình huống cần quyết định, luôn phát hiện ra công việc cần hoàn thành, dễ dàng đưa ra các phân tích giá trị và quan trọng, chấp nhận mâu thuẫn như một phần tự nhiên và bình thường trong mối quan hệ của con người; Tính cách đánh

giá (J): Lập kế hoạch tỉ mỉ trước khi hành động; tập trung vào hành động hướng

công việc; hoàn thành các phần việc quan trọng trước khi tiến hành Làm việc tốt nhất và tránh stress khi cánh xa thời hạn cuối cùng; sử dụng các mục tiêu, thời hạn và chu trình chuẩn để quản lý cuộc sống

Qua tìm hiểu về bản thân, tôi nhận thấy bản thân mình có những ưu điểm

và những hạn chế trong tính cách; với tính cách ISTJ, thì hạn chế của tính cách

này là: hạn chế trong việc giao tiếp với số đông, thường thích mối quan hệ và trao đổi với số ít người; việc suy nghĩ trước mới hành động vừa là điểm mạnh nhưng đôi thi cũng là điểm yếu, với các trường hợp cần ứng phó nhanh thì việc suy tính thấu đáo là một hạn chế; với bảng Big 5 thì việc hạn chế trong vấn đề tranh luận là một điểm tồn tại, không hoàn toàn tốt cho các tình huống cần thảo luận để đi đến thống nhất; và với cá tính không sẵn sàng trải nghiệm đây là yếu

tố không đưa con người ta đến chỗ mạo hiểm nhưng cũng là một hạn chế trong việc triển khai các công việc cần đòi hỏi có tính thực tiễn cao, và hạn chế trong việc đúc rút kinh nghiệm, thật khó đúc kết các vấn đề thực tiễn

Với tính cách trên, tuy không làm tôi thất bại trong cuộc sống, nhưng việc khẳng định thành công của mình thì tôi đánh giá chưa đạt kết quả cao nhất; vấn

đề này cần được điều chỉnh trong thời gian tới để giúp bản thân mình thành đạt hơn trong cuộc sống

Trang 5

Để minh hoạ về tính cách của mình, tôi có thể lấy ví dụ trong quá trình công tác: Tôi hiện là Trưởng phòng Kế hoạch Đầu tư và Xây dựng cơ bản, Sở

Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Yên Bái, trong việc điều hành công việc của mình, quan điểm của tôi là phân công công việc của các thành viên trong phòng theo nhóm, phù hợp với trình độ chuyên môn của mỗi người nhằm giải quyết tốt các công việc (những người được đào tạo chuyên ngành giao thông sẽ tham gia thẩm định các dự án thuộc lĩnh vực giao thông, người được đào tạo chuyên ngành xây dựng dân dụng đảm nhiệm công việc thẩm định dự án phần xây dựng dân dụng…), trong một lần giải quyết công việc của phòng, sau khi nhóm giao thông nghiên cứu và thống nhất đề xuất quy mô dự án đường đến trung tâm xã Lang Thíp nên duyệt với quy mô đường loại A giao thông nông thôn, nên bám sát bờ sông và chạy dọc theo đường sắt để bảo đảm cơ tuyến, phục vụ được nhiều hộ dân sinh sống, nhóm giao thông báo cáo lại tôi là người phụ trách phòng, sau khi nghe báo cáo và sự tìm hiểu của bản thân tôi đã đưa ra ý kiến của mình và đề nghị nhóm giao thông thực hiện theo đúng ý kiến chỉ đạo, các thành viên trong nhóm giao thông đề nghị tôi nghiên cứu thêm vì kết quả tham mưu của họ đã dựa trên cơ sở thực tiễn, nhưng tôi bằng kinh nghiệm của mình, không nghe các kiến nghị của nhóm giao thông vẫn yêu cầu là đề xuất dự án với quy

mô đường cấp VI miền núi, chạy cắt qua đường sắt, bám vào sườn núi để tránh hiện tượng sạt lở bờ sông; dù rất muốn tranh luận và bảo vệ quan điểm của nhóm với tôi, vì thế mà đại diện nhóm giao thông có đề xuất lại nhưng vẫn không được chấp nhận Nếu dừng lại ở trên hồ sơ thì kết quả thật sự chưa thể hiện được quan điểm là ai đúng, ai sai nhưng qua đi kiểm tra thực địa trong quá trình dự án triển khai, tôi đã tự nhận thấy phương án mà nhóm giao thông đã đề xuất là phù hợp với điều kiện thực tế, hiệu quả hơn phương án của tôi, tại hiện trường người có thẩm quyền đã quyết định điều chỉnh lại phương án tuyến, tránh giao cắt với đường sắt để bảo đảm an toàn giao thông và tiết kiệm cho ngân sách khi không thiết kế đường ngang, việc xác định vị trí cụ thể cần nghiên cứu để tránh gây áp lực cho mái taluy bờ sông nhằm tránh sạt lở trong quá trình khai thác sử dụng Qua phân tích về tính cách cá nhân tôi nhận thấy việc bản thân không thích tranh luận đã làm cho công việc của tôi chưa thật sự hiệu quả, không sử dụng được phương án tốt nhất cho công việc tham mưu của mình, việc

tổ chức làm việc theo nhóm tuy đã được áp dụng nhưng hiệu quả chưa cao do còn có sự áp đặt, thiếu sự thảo luận Việc không sẵn sàng trải nghiệm (kiểm tra thực địa trong quá trình thẩm định) đã làm cho vận dụng kinh nghiệm một cách chưa khoa học, thiếu tính thực tiễn…Tình huống này, được thực hiện khi tôi chưa được tham gia học theo chương trình MBA, chưa học môn OB Sau khi học môn OB, tôi nhận thấy mình cần phải khắc phục những điểm hạn chế của mình để nhằm đạt được kết quả cao hơn trong vấn đề giải quyết công việc ở cơ quan, có cách ứng xử hợp lý với đồng nghiệp, tránh áp đặt quan điểm cá nhân

Tính cách của tôi là hướng nội, với quan điểm của một người tương đối trung lập (phản đối không quyết liệt, không thích chỉ trích…), vì thế mà trong cuộc sống hàng ngày, tôi tự tin vào bản thân, sống vui vẻ, chân tình, được nhiều người quý mến nhưng cũng không ít người còn chưa thật sự tin tôi do họ nhận

Trang 6

thấy tôi còn có thái độ thiếu cởi mở, không sôi nổi, đặc biệt trong vấn đề tranh luận giải quyết công việc Để giải quyết vấn đề tồn tại cũng như khắc phục điểm hạn chế trong tích cách của mình, vì thế tôi xác định là cần phải thường xuyên tu dưỡng rèn luyện bản thân phấn đấu nỗ lực giải quyết công việc bằng năng lực và trí tuệ của mình; hoàn thiện tính cách, điều chỉnh hành vi ứng xử để gây dựng môi trường văn hóa tổ chức, xây dựng phát triển đơn vị bền vững trước xu thế hội nhập và giao lưu các nền văn hóa các dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

KẾT LUẬN

Tính cách cá nhân liên quan tới mô hình ổn định trong các hành vi cư xử

và tính thống nhất trong suy nghĩ dùng để giải thích xu hướng cư xử của một con người Các nhà tâm lý học vẫn còn chưa thống nhất với nhau về nguồn gốc của tính cách cá nhân, tuy nhiên hầu hết đều cho rằng nó được hình thành bởi cả yếu tố di truyền và môi trường bên ngoài Phần lớn các đặc điểm tính cách đều được mô tả trong “Năm mảng lớn của nhân cách, bao gồm: Tận tâm, Dễ chấp nhận, Lo âu, Sẵn sang học hỏi và Hướng ngoại Sự tận tâm được xem như công

cụ dự đoán hiệu quả công việc

Về nguồn gốc hình thành và thay đổi điều chỉnh tính cách cá nhân, bản thân tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của các nhà tâm lý học là nó được hình thành cả yếu tố bẩm sinh di truyền và nó cũng được hình thành bởi sự tác động mạnh mẽ của môi trường xung quanh, đó là môi trường gia đình, nhà trường, xã hội, cơ quan, tổ chức Việc thay đổi điều chỉnh tính cách cá nhân phụ thuộc nhiều vào văn hóa từng dân tộc, văn hóa gia đình, văn hóa tổ chức, các quy tắc luật lệ, tính cách cá nhân cũng được điều chỉnh bởi tính cách người đứng đầu tổ chức, đơn vị, và thay đổi theo môi trường công tác, theo thời gian, lứa tuổi, hoàn cảnh và môi trường sống

Sau khi nghiên cứu môn Quản trị hành vi tổ chức, được tiếp cận với những kiến thức lý luận và những ví dụ minh họa thực tiễn, đặc biệt là với những học thuyết nghiên cứu tính cách con người hiện đại giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tính cách hành vi của mình giúp chúng hình thành phát triển, điều chỉnh tính cách cá nhân, ứng xử thích hợp với những tình huống cụ thể Từ đó tạo cho chúng ta có thêm động lực phấn đấu vươn tới sự phát triển toàn diện nhằm ngày càng hoàn thiện mình hơn./

Trang 7

BIG 5

Mười điểm ghi nhận tính cách cá nhân

Một số tính cách cá nhân (có thể đúng hoặc không đúng với bạn) được liệt kê trong bảng dưới đây Hãy đánh dấu vào các ô tương ứng bên cạnh mỗi câu để thể hiện sự đồng ý hay không đồng ý của bạn với nó Bạn nên đánh dấu thể hiện sao cho các mức độ của mỗi tính cách phù hợp nhất với mình ngay

cả khi có một tính cách khác phù hợp hơn nó.

1 = Cực kỳ phản đối

2 = Rất phản đối

3 = Phản đối

4 = Trung lập

5 = Đồng ý

6 = Rất đồng ý

7 = C c k ực kỳ đồng ý ỳ đồng ý đồng ýng ý

2 Chỉ trích, tranh luận x

4 Lo lắng, dễ phiền muộn x

5 Sẵn sang trải nghiệm, một

con người phóng khoáng

x

8 Thiếu ngăn nắp, bất cẩn x

Trang 8

Tính cách cá nhân – Bản đánh giá học viên bắt đầu ở đây:

Q1 Nguồn năng lượng định hướng tự nhiên nhất của bạn là gì? Mỗi con người đều có hai mặt

Một mặt hướng ra thế giới bên ngoài của hành động, của sự nhiệt tình, con người, và sự vật Một mặt khác lại hướng vào thế giới bên trong của suy nghĩ, mối quan tâm, sáng tạo và sự tưởng tượng

Đây là hai mặt khác biệt nhưng không thể tách rời của bản chất con người, hầu hết mọi người đều

thiên về nguồn năng lượng của thế giới bên trong hay bên ngoài một cách tự nhiên Vì vậy một mặt

nào đó của họ, có thể là Hướng ngoại (E) hoặc Hướng nội (I), sẽ dẫn dắt sự phát triển tính cách và

đóng vai trò chủ đạo trong hành vi của họ

Tính cách hướng ngoại

 Hành động trước, suy nghĩ/ suy xét sau

 Cảm thấy chán nản khi bị cắt mối giao tiếp với thế

giới bên ngoài

 Thường cởi mở và được khích lệ bởi con người

hay sự việc của thế giới bên ngoài

 Tận hưởng sự đa dạng và thay đổi trong mối quan

hệ con người

Tính cách hướng nội

 Nghĩ/ suy xét trước, rồi mới hành động

 Thường cần một khoảng "thời gian riêng tư" để tái tạo năng lượng

 Được khích lệ từ bên trong, tâm hồn đôi khi như "đóng lại" với thế giới bên ngoài

 Thích các mối quan hệ và giao tiếp một –

m ột

Chọn điều phù hợp nhất: Hướng ngoại (E) Hướng nội (I) – Chọn

Q2 Cách lĩnh hội hoặc hiểu biết nào “tự động” hoặc tự nhiên? Phần giácquan (S) của bộ não

chúng ta cảm nhận hình ảnh, âm thanh, mùi vị và tất cả các chi tiết cảm nhận được của HIỆN TẠI Nó phân loại, tổ chức, ghi nhận và lưu giữ các chi tiết của thực tại Nó dựa trên THỰC TẠI, giải quyết

việc "là cái gì." Nó cung cấp những chi tiết cụ thể của trí nhớ & và thu thập lại từ các sự kiện trong

QUÁ KHỨ Phần Trực giác (N) của bộ não chúng ta tìm kiếm sự hiểu biết, diễn giải và hình thành

mô hình TỔNG QUÁT của các thông tin đã được thu thập, và ghi nhận các mô hình và các mối quan

hệ này Nó suy đoán dựa trên CÁC KHẢ NĂNG, bao gồm cả việc xem xét và dự đoán TƯƠNG LAI

Nó là quá trình hình tượng hóa và quan niệm Trong khi cả hai sự lĩnh hội đều cần thiết và được sử dụng bởi mọi người, mỗi người chúng ta vẫn vô thức sử dụng một cách nhiều hơn cách kia.

Các đặc điểm giác quan

 Tinh thần sống với Hiện Tại, chú

ý tới các cơ hội hiện tại

 Sử dụng các giác quan thông

thường và tự động tìm kiếm các

giải pháp mang tính thực tiễn

 Tính gợi nhớ giàu chi tiết về thông

tin và các sự kiện trong quá khứ

 Ứng biến giỏi nhất từ các kinh

nghiệm trong quá khứ

 Thích các thông tin rành mạch và

rõ ràng; không thích phải đoán khi

thông tin "mù mờ"

Các đặc điểm trực giác

 Tinh thần song với Tương Lai, chú ý tới các cơ hội tương lai

 Sử dụng trí tưởng tượng và tạo ra/ khám phá các triển vọng mới là bản năng tự nhiên

 Tính gợi nhớ nhấn mạnh vào sự bố trí, ngữ cảnh,

và các mối liên kết

 Ứng biến giỏi nhất từ các hiểu biết mang tính lý thuyết

 Thoải mái với sự không cụ thể, dữ liệu không thống nhất và với việc đoán biết ý nghĩa của

Chọn điều phù hợp nhất: Giác quan (S) – Chọn Trực giác (N)

Q3 Việc hình thành sự Phán xét và lựa chọn nào là tự nhiên nhất? Phần Lý trí (T) của bộ não

chúng ta phân tích thông tin một cách TÁCH BẠCH, khách quan Nó hoạt động dựa trên các nguyên

Trang 9

tắc đáng tin cậy, rút ra và hình thành kết luận một cách hệ thống Nó là bản chất luận lý của chúng ta.

Phần Cảm tính (F) của bộ não chúng ta rút ra kết luận một cách CẢM TÍNH và chút nào đó hành xử

mang tính thiếu công minh, dựa vào sự thích/ không thích, ảnh hưởng tới những thứ khác, và tính nhân bản hay các giá trị thẩm mỹ Đó là bản chất cảm tính của chúng ta Trong khi mọi người sử dụng hai phương tiện này để hình thành nên kết luận, mỗi chúng ta đều có xu hướng thiên lệch về một cách nào

đó vậy nên khi chúng hướng ta theo những hướng đối lập nhau – sẽ chỉ có một cách được lựa chọn.

Các đặc điểm suy nghĩ

 Tự động tìm kiếm thông tin và

sự hợp lý trong một tình huống

cần quyết định

 Luôn phát hiện ra công việc và

nhiệm vụ cần phải hoàn thành.

 Dễ dàng đưa ra các phân tích

giá trị và quan trọng

 Chấp nhận mâu thuẫn như một

phần tự nhiên và bình thường

trong mối quan hệ của con

người

Các đặc điểm cảm tính

 Tự động sử dụng các cảm xúc cá nhân và ảnh hưởng tới người khác trong một tình huống cần quyết định

 Nhạy cảm một cách tự nhiên với nhu cầu và phản ứng của con người

 Tìm kiếm sự đồng thuận và ý kiến tập thể một cách

tự nhiên

 Không thoải mái với mâu thuẫn; có phản ứng tiêu cực với sự không hòa hợp

Chọn điều phù hợp nhất: Lý trí (T) – Chọn Cảm tính (F)

Q4 "Xu hướng hành xử của bạn" với thế giới bên ngoài thế nào? Mọi người đều sử dụng cả hai quá

trình đánh giá (suy nghĩ và cảm xúc) và lĩnh hội (ghi nhận và cảm nhận) để chứa thông tin, tổ chức các ý

kiến, ra các quyết định, hành động và thu xếp cuộc sống của mình Tuy vật chỉ một trong số chúng (Đánh giá hoặc Lĩnh hội) dường như dẫn dắt mối quan hệ của chúng ta với thế giới bên ngoài trong khi điều còn lại làm chủ nội tâm Phong cách Đánh giá (J) tiếp cận thế giới bên ngoài VỚI MỘT KẾ

HOẠCH và mục tiêu tổ chức lại những gì xung quanh, chuẩn bị kỹ càng, ra quyết định và hướng tới sự

chỉn chu, hoàn thành

Phong cách Lĩnh hội (P) đón nhận thế giới bên ngoài NHƯ NÓ VỐN CÓ và sau đó đón nhận và hòa

hợp, mềm dẻo, kết thúc mở và đón nhận các cơ hội mới và thay đổi kế hoạch.

Tính cách đánh giá

 Lập kế hoạch tỉ mỉ và cụ thể trước khi hành động.

 Tập trung vào hành động hướng công việc;

hoàn thành các phần quan trọng trước khi tiến

hành.

 Làm việc tốt nhất và tránh stress khi cách xa

thời hạn cuối.

 Sử dụng các mục tiêu, thời hạn và chu trình

chuẩn để quản lý cuộc sống

Tính cách lĩnh hội

 Thoải mái tiến hành công việc mà không cần lập kế hoạch; vừa làm vừa tính.

 Thích đa nhiệm, đa dạng, làm và chơi kết hợp

 Thoải mái đón nhận áp lực về thời hạn; làm việc tốt nhất khi hạn chót tới gần.

 Tránh sự ràng buộc gây ảnh hưởng tới

sự mềm dẻo, tự do và đa dạng

Chọn điều phù hợp nhất: Đánh giá (J) – Chọn Lĩnh hội (P)

Bốn chữ cái biểu hiện tính cách của bạn

Ngày đăng: 29/10/2016, 09:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w