Nhìn chung, ngành Sữa tại Việt Nam khá tiềm năng do 1 ngành sữa đang trong giai đoạn tăng trưởng 2 các sản phẩm từ sữa được xem như mặt hàng thiết yếu nên ít chịu ảnh hưởng bởi khủng hoả
Trang 1NGÀNH SỮA: NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRỰC
TUYẾN CỦA DOANH NGHIỆP
TP.HCM, năm 2014
Trang 22 Ngành Sữa – Tổng quan thị trường Copyright by Moore 2014
Ngành sữa đạt doanh thu 62.2 nghìn tỷ đồng (2.9 tỷ USD) vào năm 2013 tăng 16.5% so với năm
2012, là một trong số các ngành hàng phát triển nhanh nhất trong lĩnh vực hàng tiêu dùng thiết yếu của Việt Nam Tốc độ tăng trưởng bình quân (CAGR) của ngành sữa là 14% trong giai đoạn 2010-
2013 Doanh thu ngành sữa Việt Nam chủ yếu đến từ 2 phân khúc, sữa bột và sữa uống Hai phân khúc này chiếm 74% trong thị trường sữa với 45.9 nghìn tỷ đồng (2.2 tỷ USD) (Euromonitor 2013)
Nhìn chung, ngành Sữa tại Việt Nam khá tiềm năng do (1) ngành sữa đang trong giai đoạn tăng trưởng (2) các sản phẩm từ sữa được xem như mặt hàng thiết yếu nên ít chịu ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế (3) tăng trưởng kinh tế và độ thị hóa nhanh dẫn đến nhu cầu cải thiện sức khỏe và tầm vóc (4) kinh doanh sữa có lợi nhuận biên lớn và rào cản gia nhập ngành được đánh giá ở mức trung bình
Có khoảng 60 doanh nghiệp Sữa tại Việt Nam cùng cạnh tranh với nhau Trong đó, Vinamlik và Abbott dẫn đầu thị trường, kế đến là FrieslandCampina Vietnam(Dutch Lady) 15.8%, Mead Johnson 14.4%, Nestle 9.1%
Trang 33 Ngành Sữa – Tổng quan thị trường Copyright by Moore 2014
Nguồn: Euromonitor
Cả doanh nghiệp nội và ngoại điều chi rất mạnh cho quảng cáo, chi phí quảng cáo của các công ty sữa luôn vượt khung qui định chiếm đến 30% chi phí kinh doanh Ngoài các chương trình quảng cáo truyền thống trên Tivi, Outdoor, Báo & Tạp chí, các nhãn sữa còn chi rất mạnh trên các kênh truyền thông mới như LCD (Frame media), Quảng cáo online và Mạng xã hội
Tính đến tháng 7/2013, thị phần Sữa uống hiện nay chủ yếu nằm trong tay các doanh nghiệp sữa nội, trong đó, Vinamilk nắm giữ 48,7% thị phần, kế đến là FrieslandCampina Việt Nam với 25,7% và
TH True Milk là 7,7% thị phần Vinamilk hiện có 5 thương hiệu sữa uống FrieslandCampina Việt Nam hiện có 4 dòng sản phẩm sữa uống trong đó Dutch Lady (Sữa Cô gái Hà Lan) chiếm vị trí chủ lực Sữa Bột cũng là mảng thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, với sự hiện diện của hơn 300 thương hiệu sữa, trong đó sữa ngoại chiếm 75% (2013) Abbott với hơn 120 nhãn sữa đang bày bán trên thị trường nội địa đã chiếm khoảng 30% thị phần, với mức doanh thu trung bình 3.000-4.000 tỷ đồng/năm Vinamilk đứng thứ 2 với 24.6% thị phần Riêng phân khúc thị trường Sữa Bột trẻ em Vinamilk hiện dẫn đầu thị phần với 25.8%
Sữa Chua là thị trường được đánh giá là có tiềm năng lớn trong dài hạn Tại các nước phát triển, tỷ trọng tiêu dùng sữa chua cao hơn so với sữa uống Chẳng hạn, tại Singapore, tỷ lệ này là 70/30, Pháp 80/20 và nước gần Việt Nam là Thái Lan cũng đạt 50/50 (theo IDP) Theo ước tính của các chuyên gia ngành sữa, tỷ lệ doanh số bán sữa chua so với sữa uống hiện chỉ đạt 20/80 Dự kiến khoảng hơn 5 năm nữa Việt Nam sẽ nâng được tỷ lệ sử dụng sữa chua so với sữa uống lên ngang bằng với Thái Lan (50/50)
Vietnam Nutrition Meiji Holdings Others
Trang 44 Ngành Sữa – Tổng quan thị trường Copyright by Moore 2014
Nguồn: Doanhnhansaigon.vn
Hiện nay, Vinamilk là công ty dẫn đầu trên thị trường Sữa Chua với 90% thị phần, 10% thị phần còn lại được chia cho các đối thủ TH Milk (sữa chua ăn Yogurt), IDP (sữa chua uống Love In Fram), FrieslandCampina (sữa chua uống Yomost), Kinh Đô (sữa chua uống Well-do), Dalat Milk (Yogus) và gần 10 thương hiệu nhập khẩu khác như Milch Geister (Đức), Kids Mix (Đức),…
Trang 55 Ngành Sữa – Cơ hội và thách thức Copyright by Moore 2014
II CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
Đặc điểm địa lý và khí hậu tự nhiên của Việt Nam
Với những điều kiện về địa lý và tự nhiên cũng như khí hậu nhiệt đới và địa hình đồi núi cao thời tiết mát mẻ đã tạo những điều kiện rất thuận lợi cho việc chăn nuôi và phát triển đàn bò sữa ở Việt Nam Các đồng cỏ như Hà Tây, Mộc Châu, Bình Dương… cung cấp nguồn thức ăn dồi dào, phong phú và điều kiện sinh trưởng tốt Do lợi thế về đất đai và đồng cỏ tự nhiên và truyền thống chăn nuôi (Tây Nguyên, Nam Trung bộ) và gần thị trường tiêu thụ lớn, nên các vùng nêu trên có số lượng trang trại
bò lớn nhất trong 8 vùng sinh thái Theo thống kê của Tổng cục thống kê thì tổng đàn bò sữa năm
2013 của cả nước đạt 186.3 nghìn con, tăng 11.6% Và tính đến giữa tháng 9/2014, đàn bò sữa tiếp tục phát triển khá, tập trung nhiều ở một số địa phương: Hà Nội, Nghệ An, Sơn La, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh và Long An
Thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng
Việt Nam là quốc gia đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á về dân số, theo thống kê của Tổng cục thống
kê thì tính đến cuối năm 2013, dân số Việt Nam đã chạm đến ngưỡng 90 triệu người Với quy mô dân số lớn, cùng với mức tăng dân số cao (khoảng 1.2%), thị trường sữa Việt Nam được đánh giá là một thị trường vô cùng tiềm năng với tốc độ phát triển nhanh, mạnh và quy mô tương đối lớn Như một minh chứng cho nhận định này đó là nhu cầu sử dụng sữa tại Việt Nam đã tăng lên đáng kể trong nhiều năm trở lại đây Theo thống kê của Hiệp hội Thức ăn gia súc Việt Nam, nhu cầu sữa uống nguyên liệu tăng khoảng 61% , từ 500 triệu lít (năm 2010) lên đến 805 triệu lít (năm 2015) Các nhà chuyên môn đánh giá rằng tiềm năng phát triển của thị trường sữa tại Việt Nam vẫn còn rất lớn Bên cạnh đó, theo định hướng phát triển ngành công nghiệp chế biến sữa đến năm 2015, cả nước phấn đấu đạt 1.9 tỷ lít quy sữa uống, ước tính trung bình 21 lít/người/năm, đáp ứng khoảng 35% nhu cầu người tiêu dùng Đến năm 2025, con số này là 3.4 lít quy sữa uống, trung bình 34 lít/người/năm Tuy nhiên, lượng sữa uống sản xuất trong nước mới chỉ thỏa mãn khoảng dưới 25% nhu cầu của người tiêu dùng, hiện mới chỉ đáp ứng khoảng 22% nguyên liệu, dự kiến đến năm 2020 nguồn nguyên liệu sữa uống đáp ứng từ 38 - 40% cho sản xuất
Lý giải cho việc nhu cầu sử dụng sữa của người dân ngày càng tăng một phần cũng nhờ vào mức sống, thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện cùng với sự tăng trưởng trong niềm tin tiêu dùng cũng như ý thức quan tâm đến sức khỏe của người dân Theo nghiên cứu của Kantar Worldpanel Việt Nam, thì các sản phẩm sữa uống giữ vị trí dẫn đầu trong ngành thực phẩm đồ uống với mức tăng trưởng 12 % ở thành thị và 20% ở nông thôn, sữa chua men sống tăng 15 % là những mặt hàng sản xuất chủ yếu trong nước Riêng mặt hàng sữa bột, theo thống kê của Bộ Công Thương thì 5 tháng đầu năm 2014 sản lượng sản xuất tăng 5.52 % so với cùng kỳ năm 2013 cho thấy mặt hàng này đã dần chiếm thị trường trong nước với sản lượng ngày càng tăng
Trang 66 Ngành Sữa – Cơ hội và thách thức Copyright by Moore 2014
Bên cạnh đó,với lực lượng lao động dồi dào, việc đầu tư phát triển ngành sữa vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển sản xuất với chi phí nhân công thấp đồng thời mang lại sinh kế cho người dân thiếu việc làm và thiếu thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh xã hội, gắn liền lợi ích doanh nghiệp với cộng đồng
a Thách thức
Cuối tháng 8/2013, TP.HCM khánh thành Trại trình diễn và thực nghiệm chăn nuôi bò sữa công nghệ cao (DDEF) với sự hỗ trợ của Israel Mặc dù mới vận hành từ đầu năm 2013 nhưng đến nay đã ghi nhận được một số kết quả bước đầu khá khả quan như năng suất sữa trung bình của trại tăng lên 22.7kg/con/ngày với 70 con đang cho sữa, tương đương 6,300kg/con/chu kỳ, mục tiêu dự án là 8,000kg/con/chu kỳ
Chăn nuôi bò sữa còn mang tính nhỏ lẻ
Kết quả từ DDEF cho thấy, chỉ có đầu tư ứng dụng khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ cao; kết hợp việc quản lý chặt chẽ các quy trình chăn nuôi, kiểm soát an toàn dịch bệnh và nguyên liệu đầu vào – đầu ra một cách đồng bộ thì mới mang lại hiệu quả cao cho nghề nuôi bò sữa
Song, trên thực tế thì có hơn 95% số bò sữa ở nước ta được nuôi phân tán trong các nông hộ với quy
mô nhỏ lẻ, thiếu chuyên nghiệp Trong 32 tỉnh chăn nuôi bò sữa, chỉ có 10 tỉnh có kinh nghiệm 8 –
33 năm, chiếm 80% số bò sữa, còn lại 22 tỉnh mới nuôi từ 3 – 6 năm, kinh nghiệm còn hạn chế Phần lớn các hộ chăn nuôi ở những tỉnh này gặp nhiều khó khăn, gây thiệt hại cho người mới lần đầu chăn nuôi Quy mô chăn nuôi bò sữa của Việt Nam hiện còn nhỏ, chủ yếu số hộ nuôi dưới 5 con/hộ Người dân không được hướng dẫn bài bản về kỹ thuật chăn nuôi, biện pháp phòng trừ bệnh tật Và người nuôi bò hoàn toàn thụ động trước các tác động kinh tế, xã hội khác ảnh hướng trực tiếp đến quá trình chăn nuôi như việc tăng giá của con giống, thức ăn đầu vào hay chi phí đầu ra cho sản phẩm sữa thu hoạch
Bên cạnh đó, vốn cũng là một bài toán khó của các doanh nghiệp vì để xây dựng một hệ thống chăn nuôi bò sữa đạt chuẩn, doanh nghiệp phải đầu tư một số vốn rất lớn Hơn nữa, muốn đáp ứng yêu cầu thị trường, các doanh nghiệp trong ngành sữa phải nhập khẩu công nghệ, nguyên liệu, thiết bị từ nước ngoài do kỹ thuật trong nước còn hạn chế ảnh hưởng đến giá thành của sản phẩm, doanh thu của doanh nghiệp
Bài toán nguyên liệu đầu vào
Trang 77 Ngành Sữa – Cơ hội và thách thức Copyright by Moore 2014
Vì những thực tế trên mà đàn bò sữa trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 20- 30% tổng nhu cầu ngành sữa cả nước, và điều đó cũng đã kéo theo hệ quả là các công ty sữa phụ thuộc vào sữa bột nhập khẩu hơn là sản xuất sữa uống trong nước Sự phụ thuộc nhiều vào thị trường nước ngoài đối với nguyên liệu đầu vào tạo ra một nguy cơ chèn ép lợi nhuận do biến động giá của các sản phẩm sữa nhập khẩu
Cạnh tranh gay gắt, đặc biệt đến từ các nhãn hàng sữa ngoại
Với xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa, đặc biệt là khi VN gia nhập WTO cũng như TPP thì cũng mang lại cho ngành sữa Việt Nam không ít những thách thức Đó là khi doanh nghiệp sữa Việt Nam chịu sức ép cạnh tranh ngày một gia tăng do việc giảm thuế cho sữa ngoại nhập theo chính sách cắt giảm thuế quan của Việt Nam khi thực hiện các cam kết Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung trong Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (cam kết CEPT/AFTA) và cam kết với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Tâm lý “sính ngoại” của người Việt cũng tác động tiêu cực đến số lượng tiêu thụ các sản phẩm sữa Việt Nam Hiện nay, các sản phẩm sữa trong nước chỉ chiếm 30% thị phần nội địa Theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì tính sơ bộ trong 8 tháng đầu năm 2014 thì cả nước ta đã nhập khẩu 772,091.83 nghìn USD mặt hàng sữa và các sản phẩm từ sữa
Trang 88 Ngành Sữa – Người tiêu dùng Copyright by Moore 2014
III NGƯỜI TIÊU DÙNG
1 Đặc điểm người tiêu dùng Việt Nam
Báo cáo về người tiêu dùng Việt Nam 2013 của Nielsen cho thấy, sau những lo ngại về nền kinh tế chưa ổn định và việc làm, sức khỏe là mối quan tâm thứ ba của người tiêu dùng Việt Nam
Người Việt chi tiêu ngày càng nhiều cho những thực phẩm có lợi cho sức khỏe như nước ép trái cây, sữa uống/thanh trùng/tiệt trùng, sữa đậu nành, sữa chua,… Trong tổng ngân sách chi tiêu cho mặt hàng FMCG ở thành thị là 1.13 triệu đồng/tháng thì các sản phẩm sữa chiếm 372,000 đồng, chiếm khoảng 32% Ở khu vực nông thôn, trong ngân sách trung bình 515,000 đồng chi tiêu cho FMCG hàng tháng, sữa chỉ đứng thứ
ba với 114,000 đồng, sau thực phẩm và nước uống Mức tiêu thụ sữa của người Việt Nam khoảng 15 lít/ người/năm (2012), tuy nhiên vẫn thấp hơn một số nước châu Á Cụ thể, Viện Nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp của Indonesia viện dẫn, người Malaysia tiêu thụ 23 lít sữa/năm; Thái Lan là 25 lít, đảo quốc Singapore đạt mức 32 lít
Phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong quyết định chi tiêu Nhìn chung , phụ nữ Việt Nam thường lập danh sách trước khi mua sắm cũng như theo dõi quảng cáo trên truyền hình và đài phát thanh Chất lượng sản phẩm tác động lớn đến sự trung thành của phụ nữ đối với một thương hiệu Phụ nữ trong độ tuổi 30 có hành vi mua sắm bốc đồng nhất và thường xuyên sử dụng các phương tiện truyền thông, trong khi phụ nữ với tuổi trung bình là 47 có thói quen mua sắm chuẩn bị trước, có
ý thức về giá trị hàng hóa tốt và ưa chuộng các quảng cáo thương mại Phụ nữ trong độ tuổi
67 là người mua sắm thường xuyên nhất và luôn đánh giá cao tầm quan trọng của truyền miệng
Trong gia đình, phụ nữ thường là người ra quyết định mua sắm sản phẩm dinh dưỡng Nghiên cứu của Nielsen 2011 cho thấy, trung bình trong 100 quyết định mua sắm sản phẩm dinh dưỡng thì 71 lần người ra quyết định chính là phụ nữ So với nam giới, phụ nữ Việt thích xem tivi, nghe nhạc, đọc báo và đi mua sắm hơn Họ cũng quan tâm nhiều hơn đến gia đình và sức khỏe
2 Các yếu tố tác động đến người mua sữa
Trang 99 Ngành Sữa – Người tiêu dùng Copyright by Moore 2014
Các yếu tố sản phẩm
Theo nghiên cứu của Nielsen, những yếu tố quan trọng có ảnh hướng đến quyết định mua sản phẩm dinh dưỡng là “Thành phần đầy đủ dinh dưỡng”, “Giảm nguy cơ mắc bệnh”, “Giá cả phải chăng” và
“Được sự chứng nhận bởi các chuyên gia y tế”
Những người xung quanh
Mặc dù người mua thường là giới nữ nhưng đối tượng sử dụng có phạm vi rộng lớn hơn, gồm cả nam giới, trẻ em, người lớn tuổi Do đó, việc chọn loại sữa, thương hiệu sữa bị ảnh hưởng nhiều bởi người sử dụng Ví dụ, người lớn tuổi trong gia đình khuyến khích sử dụng sữa bột trong khi người mẹ trẻ có xu hướng cho con uống sữa uống Hay mẹ chọn mua nhãn hiệu sữa này nhưng con muốn uống nhãn hiệu vì không hợp khẩu vị hay vì thích thú với món quà tặng kèm
Bạn bè, đồng nghiệp cũng tác động đến quyết chọn mua sữa, nhất là các sản phẩm sữa cho bé Các
mẹ có con nhỏ rất quan tâm đến vấn đề “nên mua sữa gì cho con?” Họ luôn muốn biết “loại sữa nào
là tốt nhất cho bé” và “có an toàn không? Giá có cao không?” Họ nỗ lực tìm kiếm thông tin trên các diễn đàn, mạng xã hội, kinh nghiệm từ bạn bè, đồng nghiệp Trong giai đoạn này, những lời khuyên
từ người xung quanh đã định hướng hành vi mua của người tiêu dùng, dẫn người tiêu dùng đi đến quyết định mua loại sữa này thay vì loại khác hoặc từ chỗ đang dùng loại này chuyển sang dùng loại khác
Trang 1010 Ngành Sữa – Người tiêu dùng Copyright by Moore 2014
Tuy theo từng loại sữa mà người xung quanh có vai trò khác nhau, giá bán và giá trị dinh dưỡng càng cao vai trò người xung quanh càng quan trọng Vai trò này tăng cao trong một số trường hợp như: loại sữa đang uống gây tác dụng không mong muốn, thiếu sữa đột xuất, xuất hiện thông tin xấu, khả năng mua giảm/tăng đột biến
Quảng cáo khuyến mãi
Quảng cáo ít nhận được sự tin tưởng của người tiêu dùng nhưng có khả năng tạo ra sự nhận biết về thương hiệu và thông tin sản phẩm Nghiên cứu của Euromonitor cho thấy hầu hết người có thu nhập trung bình trở lên điều có xu hướng dùng sữa ngoại Điều này một phần là do các thương hiệu ngoại luôn có độ nhận biết thương hiệu cao và tung các chiến dịch quảng cáo đánh trúng tâm lý người tiêu dùng Người tiêu dùng thường thường tìm kiếm một thành phần cụ thế nào đó trong thông tin sản phẩm như “DHA” hay “chất bảo quản” nhưng không có nghĩa là họ thật sự hiểu thành phần đó là gì, theo nghiên cứu của Nielsen
Các chương trình khuyến mãi và chính sách hậu mãi có vai trò quan trọng trong ngành sữa Đặc biệt là sản phẩm sữa giành cho trẻ em Người tiêu dùng muốn học hỏi kiến thức về dinh dưỡng cho trẻ nên thường tham gia các câu lạc bộ, hội nhóm, muốn được sự quan tâm chia sẻ của nhãn hiệu trong việc nuôi dạy con như gọi điện hỏi thăm, quà tặng (đồ chơi) kèm sản phẩm
3 Thói quen người mua sữa
Người mua có thói quen lựa chọn sữa theo nhãn hiệu lâu năm (trong tâm trí họ), có thương hiệu và
uy tín trên thị trường Họ có xu hướng đánh giá chất lượng sữa qua giá thành và nguồn gốc xuất xứ, giá cao hơn chất lượng sẽ tốt hơn (đặc biệt là sản phẩm sữa giành cho trẻ em và người cao tuổi) và hàng ngoại sẽ tốt hơn hàng nội Tuy nhiên giá không phải là yếu tố tiên quyết để chọn lựa nhãn hiệu sữa vì các sản phẩm sữa hiện nay rất đa dạng và có thể thay thế cho nhau Người mua lựa chọn nhãn sữa dựa trên thông tin chất lượng, sức mạnh thương hiệu, phản hồi của người dùng khác… rồi mới đến giá cả
Không bít sữa Enfa của Thái liệu có tốt hơn của Việt
Nam như các mẹ vẫn nói không nhỉ??? !!!Thành phần
của nó cũng có khác hơn không? Webtretho
Các mẹ ơi, em băn khoăn không biết sữa ngoại có tốt
hơn sữa nội nhiều không nhỉ ? Hôm đến cơ quan thấy
có chị nói là chưa bao giờ cho con uống sữa ngoại,
chỉ uống sữa của Vinamilk, cô gái Hà Lan thô
nữa Webtretho
Trang 1111 Ngành Sữa – Người tiêu dùng Copyright by Moore 2014
Sự tin tưởng là yếu tố lớn nhất và thành công nhất khi tiếp cận người tiêu dùng trong lĩnh vực sức khỏe và dinh dưỡng Người mua tin tưởng thông tin từ người dùng khác, người bán hàng và dễ bị tác động đến quyết định mua
Trang 1212 Ngành Sữa – Hoạt động quảng cáo trực tuyến Copyright by Moore 2014
IV HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRỰC TUYẾN
Theo báo cáo của We Are Social vào đầu tháng 1/2014 thì tổng số người dùng Internet ở Việt Nam
đã lên đến 36,140,967 và có xu hướng phát triển hơn nữa trong thời gian tới Điều đó, chứng tỏ rằng bên cạnh những kênh truyền thống thì đây là một môi trường vô cùng tiềm năng cho các doanh nghiệp, các nhãn hàng muốn tiếp cận với người tiêu dùng
Bên cạnh đó, với những số liệu ở biểu đồ về cơ cấu nguồn traffic đến website của hơn 16 nhãn hàng tiêu biểu trong ngành sữa, ta dễ dàng nhận ra kênh Referrals và Display trung bình của ngành chiếm
tỷ trọng khá cao Điều đó chứng tỏ, các doanh nghiệp của ngành đã chi một khoản ngân sách tương đối cho các hoạt động quảng cáo online, đặc biệt là các hoạt động tăng cường quảng bá thương hiệu Trong các hình thức quảng cáo trực tuyến hiện nay thì không thể không kể đến Display Ads – một hình thức được khá nhiều doanh nghiệp ưa chuộng không chỉ riêng ngành sữa
Sữa là nguồn dinh dưỡng thiết yếu cho cơ thể, đáp ứng đa dạng các nhu cầu bổ sung dinh dưỡng của hầu hết các lứa tuổi, cũng như các đối tượng khác nhau Cũng chính bởi sữa đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe của con người nên cũng khiến ngành sữa trở thành một thành đặc thù với sự lựa chọn cũng có đôi phần kỹ càng hơn của người tiêu dùng
1 Display Ads
Công cụ hỗ trợ đầu tiên cho quá trình nhận biết không thể không kể đến đó là các hình thức banner trên các website có tên tuổi như: Dantri.com.vn, Vnexpress.net, Afamily, Giadinh.net.vn, Vietnamnet.vn, Kênh 14, …hay các forum như webtretho, eva, phunutoday, Bên cạnh các hình thức banner truyền thống thì theo nhiều chuyên gia nhận định video online sẽ là xu hướng và hứa hẹn sẽ làm mưa làm gió trên Internet trong thời gian tới
Search 44.64%
Direct 26%
Referrals 20,82%
Social 4.11%
Display 3.48%
Biểu đồ: Cơ cấu nguồn traffic đến website của một số thương hiệu sữa tiêu biểu
Trang 1313 Ngành Sữa – Hoạt động quảng cáo trực tuyến Copyright by Moore 2014
Ngoài ra, thì việc đặt các banner quảng cáo trên các cụm website, hệ thống network hướng đến đúng các đối tượng khách hàng tiềm năng theo chủ đích của các doanh nghiệp cũng là một lựa chọn phổ biến của các doanh nghiệp
Hình: quảng cáo trên mạng lưới website Google (GDN)
Theo thống kê từ một số thương hiệu sữa nổi tiếng ở thị trường Việt Nam hiện nay thì GDN (Google Display Network) là hệ thống nhận được khá nhiều sự ưu ái của các doanh nghiệp tại Việt Nam Ví dụ điển hình có thể kể đến là nhãn hàng TH True Milk, hiện tại với website của mình, lượng traffic truy cập của nhãn hàng này đã đạt đến 65,000 đến và 0.8% con số đó đến từ GDN (Theo Similarweb)
Vì vậy, để có được niềm tin của khách hàng, bên cạnh việc chinh phục khách hàng bằng chất lượng sản phẩm thì khát khao cháy bỏng của các doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc KH nhận ra mình
mà còn phải “ghi dấu” trong tâm trí KH cùng với niềm tin Và Re-targeting và các phương tiện truyền thông khác như PR, các event và các chương trình chăm sóc khách hàng khác chính là công cụ hữu hiệu để tăng tính nhắc nhớ về thương hiệu trong tâm trí khách hàng mà các nhãn hàng có thể lựa chọn
2 Các bài viết PR
Do sữa là một ngành đặc thù liên quan đến sức khỏe người tiêu dùng nên việc doanh nghiệp tinh tế lồng hình ảnh mình vào các thông điệp truyền tải thông tin bổ ích đến khách hàng là một điều vô cùng cần thiết và quan trọng Lúc này doanh nghiệp không chỉ đứng trên phương diện là một người