Một số mô hình nông nghiệp có hiệu quả kinh tế và có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu a- Mô hình trồng rau theo tiêu chuẩn Viet GAP Kết quả nghiên cứu tại một số hộ sản xuất nôn
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NAM
LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM
KỶ YẾU HỘI THẢO
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU KHU VỰC MIỀN TRUNG
BỘ VÀ TÂY NGUYÊN – THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ
Quảng Nam, ngày 19 tháng 11 năm 2013
Trang 2PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI THẢO TS.Nguyễn Ngọc Quang – Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh kiêm
Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Nam
Kính thưa: Giáo sư, Tiến sỹ khoa học, Đặng Vũ Minh- Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Thưa các quý vị đại biểu tham dự Hội thảo
Biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và suy giảm đa dạng sinh học là những vấn đề lớn, mang tính toàn cầu, đã và đang làm thay đổi các hệ sinh thái tự nhiên, đời sống kinh tế xã hội trên toàn thế giới, trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21
Ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý và bảo vệ tài nguyên môi trường có ý nghĩa sống còn, là nhân tố quyết định đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc Vì vậy, để bảo vệ khí hậu, nhiều quốc gia đã ký vào Công ước Khung của Liên Hợp quốc về Biến đổi khí hậu năm 1992 và Nghị định thư Kyoto của Liên Hợp quốc vào năm 1998 nhằm thực thi Công ước trên, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững
Chính vì thế tại Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 11 đã thông qua Nghị quyết “ Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”
Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu và đưa ra những giải giáp nhằm ứng phó với những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt Hiện nay, nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, nhiều vấn đề đặt ra trong sự phát triển hài hòa giữa công nghiệp, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, khai thác tài nguyên khoáng sản,… với bảo vệ tài nguyên môi trường và sinh kế người dân; vì vậy vấn đề đặt ra cho sự phát triển bền vững khi mà biến đổi khí hậu ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ đến chúng ta là hết sức cần thiết hơn bao giờ hết Do vậy, ngay từ bây giờ chúng ta phải chủ động hành động để có những giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu cho chính chúng ta
và cho nhân loại
Tỉnh Quảng Nam nói riêng, Khu vực Miền Trung và Tây nguyên nói chung là nơi chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu rõ rệt nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến
an ninh lương thực và năng lượng, môi trường và đời sống xã hội,…Trong những năm trở lại đây, Miền Trung và Tây nguyên thường xảy ra hạn hán, bão, lũ lụt ngày càng lớn, nhiệt độ trái đất ngày càng tăng làm cho môi trường sống bị đe dọa nghiêm trọng Cụ thể trong những năm gần đây, Miền Trung đã hứng chịu nhiều cơn bão, lũ với sự tàn phá nghiêm trọng, gây thiệt hại nặng nề đến đời sống và an sinh xã hội
Trang 3Hôm nay, tỉnh Quảng Nam rất vinh dự được đăng cai tổ chức Hội thảo khoa
học “Biến đổi khí hậu khu vực Miền Trung và Tây nguyên- Thực trạng và giải pháp ứng phó” Đây là Hội thảo lớn, mang nhiều ý nghĩa, mục đích yêu cầu của
Hội thảo là nhằm tìm ra những giải pháp ứng phó có hiệu quả để thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay
Tại Hội thảo này, rất mong các nhà khoa học, các tổ chức khoa học phát huy trách nhiệm của mình đề ra những giải pháp cụ thể nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu cho khu vực miền Trung và Tây nguyên, nâng cao nhận thức của cộng đồng về biến đổi khí hậu; tôi cũng đề nghị Hội thảo tập trung vào vấn đề chính sau đây:
1 Giải pháp về chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu mà chúng ta đang đối mặt: cảnh báo sớm, giảm thiệt hại do rủi ro thiên tai
2 Giải pháp phát triển kinh tế- xã hội bền vững và tăng trưởng xanh khu vực Miền Trung và Tây nguyên: An ninh lương thực, sử dụng hợp lý tài nguyên, tài nguyên nước, sinh kế người dân
3 Giải pháp về nâng cao nhận thức cộng đồng để thích ứng với biến đổi khí hậu
4 Giải pháp về phát triển khoa học và công nghệ để tạo ra những công trình nghiên cứu thích ứng với biến đổi khi hậu
5 Vai trò của nhà nước, các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội như thế nào trong công tác ứng phó biến đổi khí hậu
Với tinh thần đó, tôi xin tuyên bố khai mạc Hội thảo “Biến đổi khí hậu khu vực Miền Trung và Tây nguyên– Thực trạng và giải pháp ứng phó”
Thay mặt cho Lãnh đạo tỉnh Quảng Nam, Ban Chấp hành Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Nam, tôi xin cảm ơn đến Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã phối hợp với Quảng Nam tổ chức Hội thảo này
Đồng thời xin gửi lời cảm ơn đến các quý vị đại biểu là nhà khoa học, cán bộ khoa học, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật các tỉnh, thành phố miền Trung
và Tây nguyên, các hội thành viên của Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Nam đã quan tâm tham dự và báo cáo tham luận tại Hội thảo
Xin chúc quý vị đại biểu sức khỏe, chúc Hội thảo của chúng ta thành công tốt đẹp
-
Trang 4ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC VEN BIỂN MIỀN TRUNG
TS Võ Văn Minh
Trưởng Khoa Sinh – Môi trường, Trường ĐHSP, Đại học Đà Nẵng, Trưởng nhóm Nghiên cứu – Giảng dạy “Môi trường & Tài nguyên Sinh học – DN-EBR”
Việt Nam được xếp thứ 13/16 nước có rủi ro cao nhất bởi BĐKH Theo dự đoán của Ủy ban liên chính phủ về BĐKH, nếu mực nước biển dâng thêm 0,1 m thì 40.000
km2 đất trồng trọt ở Việt Nam sẽ bị ngập, sản lượng lương thực sẽ giảm đi một nửa BĐKH gián tiếp làm mất diện tích đất canh tác, giảm sản lượng cây trồng hoặc trực tiếp ảnh hưởng đến các hệ sinh thái, đặc biệt là hệ sinh thái nông nghiệp ở các vùng ven biển
Đồng bằng duyên hải miền Trung là một dải kéo dài từ Thanh Hóa đến Bình Thuận
Do theo cấu tạo địa chất, địa hình, vị trí với đường xích đạo, chí tuyến đã dẫn tới việc phân chia rõ rệt về khí hậu, thời tiết thành 2 vùng riêng biệt là Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ Hoạt động sản xuất nông nghiệp ở vùng này còn gặp nhiều khó khăn
do điều kiện môi trường đất cát nghèo dinh dưỡng và khả năng giữ nước thấp, bên cạnh
đó là những tác động tiêu cực từ những biểu hiện thời tiết cực đoan trong bối cảnh BĐKH đã làm gia tăng khó khăn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, hiện nay ở khu vực này vẫn có một số mô hình nông nghiệp tự phát có hiệu quả kinh tế cao Điều đó cho thấy trong điều kiện khí hậu thay đổi, nông nghiệp vẫn có thể phát triển nếu xác định được hướng đi phù hợp
1 Đặc điểm môi trường vùng ven biển miền Trung
Ở khu vực miền Trung, đi từ trong ra phía biển, địa hình thấp dần: 40-25m, 25-15m, 15-5m, 5-4m, và có tuổi trẻ dần Điều đó chứng tỏ địa hình được nâng cao dần và liên tục Bờ biển lùi ra xa, các con lươn con trạch tạo nên những cồn cát, những cồn cát này được gió vun lên thành những đụn cát và ngăn chặn các đầm phá Ở đồng bằng duyên hải miền Trung có những cồn cát cao tới 40-50m Địa hình đồng bằng bị cắt xẻ bởi các nhánh núi ăn sát ra tới biển như: dãy núi Hoành Sơn-đèo Ngang, dãy núi Bạch Mã-đèo Hải Vân, dãy núi Nam Bình Định-đèo Cả Vì vậy, địa hình đồng bằng duyên hải miền Trung mang tính chất chân núi-ven biển Ngoài bị cắt xẻ ngang bởi các nhánh núi ăn sát
ra biển, thì ở đây còn có sự phân chia dọc theo đồng bằng, đi từ trong ra ta sẽ gặp: cồn cát
→ đụn cát → đồi núi sót → mõm đá Phía trong các cồn cát là các đồng bằng nhỏ hẹp có thể canh tác nông nghiệp Còn ở dưới chân núi là vùng sỏi đá khô cằn, cỏ cây hoang dại mọc
Đất nông nghiệp ở khu vực này có đặc điểm chung gồm các cồn cát , đu ̣n cát phân bố thành mô ̣t dải he ̣p, chạy dài ven biển, phần lớn là những vùng đất khô hạn, thiếu nước tưới, thành phần cơ giới nhẹ, tầng dày, nghèo mùn, giữ nước kém và thường bị nhiễm mặn
Nhìn chung, khí hậu khu vực này được chia làm hai mùa rõ rệt: mùa khô thường kéo dài 8 tháng (từ tháng 1 đến tháng 8), lượng mưa chỉ chiếm khoảng 20-25% lượng
Trang 5mưa năm; mùa mưa kéo dài 4 tháng (từ tháng 9 đến tháng 12), lượng mưa chiếm khoảng 75-80% lượng mưa năm Mưa phân bố không đều giữa các tháng và các mùa trong năm
Do đặc điểm đất cát ven biển được hình thành từ các trầm tích sông, trầm tích biển, các sản phẩm dốc tụ, tích lũy từ sự phá hủy các đá giàu thạch anh, quarzit, cát kết, thành phần
cơ giới chủ yếu là cát, hàm lượng chất dinh dưỡng thấp nên cường độ bốc thoát hơi nước trong mùa khô cao, dễ xảy ra hạn cục bộ hoặc trên diện rộng, đồng thời thường ngập úng vào mùa mưa
Tài nguyên sinh vật ở dưới nước có độ đa dạng cao, tuy nhiên lại nghèo nàn ở trên cạn, chủ yếu là các loài thực vật có khả năng chịu hạn tốt như dứa dại, xương rồng Những loại cây nông nghiệp chính được trồng ở đây là các loại cây hoa màu và các cây công nghiệp ngắn ngày và lúa nước
Vùng đất cát ven biển thường dốc và chủ yếu là các đồi cát, hệ thống giữ nước chưa nhiều nên chưa đáp ứng đủ nhu cầu nước tưới cho diện tích đất nông nghiệp hiện có cũng như gây khó khăn cho phát triển thủy lợi Các vùng ven biển thường có gió mạnh và chịu tác động mạnh mẽ của bão, lũ nên ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất cũng như năng suất cây trồng, vật nuôi
2 Những thuận lợi và khó khăn của hoạt động nông nghiệp vùng đất cát ven biển miền Trung
2.1 Thuận lợi
Chủ trương “Nông dân – Nông nghiệp – Nông thôn” đã góp phần vào thay đổi bộ mặt nông thôn đáng kể, thu nhập của người dân từng bước được nâng cao, đời sống nông dân được cải thiện Nhiều chủ trương, chính sách của Nhà nước đã được triển khai thực hiện kịp thời, cùng với việc quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ở các địa phương ven biển, quy hoạch ngành thủy sản, quy hoạch lâm nghiệp và thủy lợi,… thời gian qua sản xuất nông nghiệp ở vùng đất cát ven biển miền Trung đã cơ bản đúng đi định hướng, tăng hiệu quả sản xuất trên mỗi đơn vị diện tích, kinh tế hộ gia đình ngày càng được phát huy
Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật như giống, trình độ đầu tư thâm canh, chăm sóc phòng trừ dịch bệnh… đã được người dân vận dụng vào sản xuất và mang lại hiệu quả cao, hệ thống thủy lợi ngày càng được nâng cấp và mở rộng Lĩnh vực thủy sản ngày càng được hiện đại hóa, năng lực khai thác của tàu thuyền không ngừng tăng lên Tiềm năng thủy sản lớn, thuận lợi cho việc đầu tư phát triển toàn diện ngành thủy sản bao gồm
4 khâu cơ bản là khai thác, nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ hậu cần nghề cá
Diện tích đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp ở vùng ven biển miền Trung vẫn còn khá lớn Nguồn nhân lực của địa phương dồi dào, người dân có nhiều kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp Kết quả nghiên cứu ở tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng năm
2010 cho thấy, diện tích đất nông nghiệp huyện Núi Thành chiếm khoảng đến 70% (tỷ lệ lao động ngành nông nghiệp là 61%); huyện Thăng Bình là chiếm khoảng 65 % (tỷ lệ lao động ngành nông nghiệp là 86%) và quận Ngũ Hành Sơn chiếm khoảng 27% đất tự nhiên toàn huyện (tỷ lệ lao động ngành nông nghiệp là 52%)
2.2 Khó khăn
Điều kiện tự nhiên là yếu tố chi phối mạnh đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Những năm qua bão và lũ lụt thường xuyên xảy ra tuy ở mức độ khác nhau nhưng đã làm
Trang 6thiệt hại không nhỏ đến sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; kết cấu hạ tầng nông thôn ngày càng xuống cấp
Tác động của suy thoái kinh tế thế giới những năm gần đây cùng với giá cả nông sản bấp bênh, trong khi giá vật tư đầu vào cho sản xuất ngàycàng tăng làm giảm hiệu quả sản xuất, một số cây trồng, vật nuôi sản xuất bị suy giảm chất lượng, thậm chí một số nông sản không tiêu thụ được
Vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân còn thấp, chưa có nguồn vốn đầu tư mạnh mẽ từ nhà nước cũng như các nguồn tín dụng, vì vậy hoạt động sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn Mặt khác, việc tiếp cận và áp dụng khoa học hiện đại vào quá trình sản xuất còn nhiều hạn chế, đa số người dân sử dụng phương thức canh tác truyền thống nên năng suất và hiệu quả sản xuất còn thấp Một số hộ chưa chấp hành tốt thời vụ sản xuất; các mô hình sản xuất mang tính tự phát không theo quy hoạch, manh mún vì vậy hiệu quả sản xuất trên diện rộng chưa cao
Môi trường các thủy vực nước lợ ngày càng xấu đi do tác động của các hoạt động nạo hút luồng lạch, hút cát, hút đất phục vụ cho xây dựng, những hoạt động này làm ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất đặc biệt là hoạt động nuôi trồng thủy sản, ao nuôi qua nhiều năm đã bị thoái hóa nên việc đầu tư nuôi gặp nhiều khó khăn, hiệu quả sản xuất thấp, nhiều hộ bị thua lỗ, nhất là những hộ nuôi thâm canh Rất nhiều ao nuôi trong khu vực sau một thời gian hoạt động đã bị bỏ hoang không đưa vào sử dụng
Hoạt động sản xuất nông nghiệp ở vùng đất cát ven miền Trung vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún, thiếu quy hoạch Các khu sản xuất nông nghiệp bị chia cắt nhỏ lẻ bởi các khu dân cư, khu nghĩa trang, nghĩa địa
3 Nghiên cứu trường hợp tại vùng ven biển Quảng Nam – Đà Nẵng
3.1 Một số mô hình nông nghiệp có hiệu quả kinh tế và có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu
a- Mô hình trồng rau theo tiêu chuẩn Viet GAP
Kết quả nghiên cứu tại một số hộ sản xuất nông nghiệp tại xã Bình Triều cho thấy,
mô hình trồng rau sạch theo tiêu chuẩn VietGAP ở đây được bao quanh bởi những rặng cây có tác dụng chắn gió vào mùa bão, giữ nước và điều hòa khí hậu vào mùa khô Luống trồng rau được đắp lên cao nên hạn chế sự ngập úng vào mùa mưa Mô hình sản xuất nông sản theo tiêu chuẩn VietGAP đã thúc đẩy sự kết nối giữa sản xuất với thị trường, từ
đó mang lại lợi ích, thu nhập cao hơn cho người sản xuất, từng bước xây dựng thương hiệu cho rau, quả an toàn, góp phần bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng
Sản xuất rau, củ, quả theo tiêu chuẩn VietGAP là cơ hội cho nền nông nghiệp phát triển theo hướng hàng hóa trong tiến trình hội nhập Các sản phẩm nông nghiệp không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ dần bị đào thải để thay thế vào đó những sản phẩm
an toàn Nhu cầu sử dụng rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP ngày càng lớn khi hệ thống siêu thị, các chợ đầu mối, các nhà hàng, khách sạn, công ty, trường học tiêu thụ hàng trăm tấn rau quả mỗi ngày Riêng khu vực Đà Nẵng và các vùng lân cận có nhu cầu tiêu thụ khoảng 6.000 đến 9.000 tấn rau mỗi tháng là điều kiện thuận lợi để nông dân các địa phương đầu tư phát triển vùng chuyên canh rau màu
Trang 7Hình 1 Mô hình trồng rau theo tiêu chuẩn Viet GAP ở xã Bình Triều
b- Mô hình nuôi cá nước ngọt
Nghiên cứu trường hợp về mô hình nuôi cá nước ngọt tại một số hộ ở xã Bình Triều cho thấy mang lại hiệu quả kinh tế rất cao Chỉ với 250m2
diện tích ao nuôi cá quả và 50
m2 diện tích ao nuôi cá trê nhưng nguồn thu từ mô hình này luôn ổn định về kinh tế Thức
ăn dư thừa của cá quả có thể làm thức ăn cho ao nuôi cá trê, vì vậy có thể tận dụng tối đa nguồn thức ăn Ngoài ra, mô hình này ít chịu tác động của dịch bệnh, năng suất cao, cần
ít nhân công, đầu ra rộng và ổn định Trong hoàn cảnh dịch cúm gia cầm gia tăng như hiện nay thì đây là mô hình mang lại hiệu quả cao
Hình 2 Mô hình nuôi cá nước ngọt ở xã Bình Triều, huyện Thăng Bình
Tuy nhiên, do không chủ động được giống (giống phải nhập ở các tỉnh miền Tây), nguồn thức ăn bấp bênh (thức ăn tươi) nên chưa phổ biến nuôi trên quy mô rộng lớn Mặt khác, các hộ nuôi ở đây chỉ mới manh mún, chưa có quy hoạch, nếu nuôi đại trà thì dễ gây ô nhiễm môi trường nước cục bộ
c- Mô hình nuôi tôm trên cát
Nghiên cứu trường hợp về mô hình nuôi tôm trên cát tại xã Tam Hòa huyện Núi Thành và xã Bình Minh huyện Thăng Bình cho thấy, hiệu quả kinh tế của mô hình này mang lại khá cao So với nuôi tôm thẻ chân trắng trên vùng triều, giá trị kinh tế thu được nhờ nuôi tôm thẻ trên cát lớn hơn gấp nhiều lần Nếu sản xuất ở vùng triều luôn gặp phải những bị động về nguồn nước, thời vụ,… thì nuôi tôm trên cát, nhờ sản xuất theo quy trình khép kín bằng cách tự điều hòa và xử lý nguồn nước cũng như đảm bảo về giống, thức ăn và quy trình kỹ thuật riêng, nhờ đó giá trị kinh tế thu được cao hơn Bên cạnh đó
hệ thống các hồ nuôi ở đây còn có hệ thống rừng phi lao phòng hộ chắc gió và chắn sóng
Trang 8Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ của tôm thẻ chân trắng rất rộng, giá cả ổn định, hiệu quả kinh tế cao, ít chịu tác động bất lợi của điều kiện thời tiết.Tuy nhiên, mô hình này dễ bị ảnh hưởng của dịch bệnh, cần vốn đầu tư và công chăm sóc lớn
Hình 3 Mô hình nuôi tôm trên cát ven biển ở xã Bình Minh huyện Thăng Bình
d- Mô hình nuôi nhông trên đất cát
Nhông là loài bò sát sống thích nghi trên vùng đất cát tự nhiên ven biển miền Trung, sinh sản nhanh, mau lớn, ít bị dịch bệnh, thức ăn cho nhông đều tận dụng từ hoa màu Nghiên cứu trường hợp về mô hình nuôi Nhông trên cát tại xã Tam Thanh, TP.Tam
Kỳ và xã Tam Tiến huyện Núi Thành cho thấy, mô hình này mang lại hiệu quả kinh tế rất cao, thị trường tiêu thụ ngày càng rộng rãi, 1kg nhông bán ra thị trường có giá từ 250.000
- 300.000 đồng Nhông nuôi khoảng 4-5 tháng có thể xuất bán Nếu thổ nhưỡng và nguồn thức ăn tốt, một con nhông có thể cho trọng lượng 0,5 - 0,7kg
Tuy nhiên, mô hình này chỉ mới dừng lại ở việc nuôi nhỏ lẻ, manh mún ở từng hộ gia đình, để nông dân mạnh dạn đầu tư nuôi có quy mô lớn, cần sự trợ giúp của cán bộ thuật cũng như nguồn vốn vay hỗ trợ của nhà nước
3.2 Những ưu điểm rút ra từ sự thành công của các mô hình nông nghiệp
Các mô hình sản xuất nông nghiệp như mô hình trồng sau sạch, nuôi tôm trên cát, nuôi cá nước ngọt… có được sự hiệu quả cao là do người dân đã áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất từ khâu chọn giống, thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, bón phân đúng cách, chọn thức ăn phù hợp cho đến khâu thu hoạch đúng thời gian, Bên cạnh đó, việc giữ lại được rừng phòng hộ ven biển đã hạn chế được các ảnh hưởng của gió mạnh thổi từ biển và gió mạnh khi mưa bão
Hình 4 Mô hình trồng sau sạch ở xã Bình Triều, nuôi tôm trên cát và nuôi cá nước ngọt
ở xã Bình Minh có được hiệu quả cao do người dân đã áp dụng các biện pháp khoa học
kỹ thuật vào sản xuất
Trang 9Để các mô hình nông nghiệp đạt được hiệu quả kinh tế cao, cần có sự đầu tư mạnh
mẽ về vốn để xây dựng cơ sở vật chất, nguồn giống, thức ăn, công chăm sóc cũng như có nguồn vốn lưu động khi có sự cố phát sinh Đây là một yếu tố rất quan trọng, quyết định đến sự thành công của các mô hình sản xuất Qua khảo sát, đề tài nhận thấy đa số các hộ gia đình có các mô hình nông nghiệp thành công đều là những hộ có sự đầu tư mạnh mẽ
về nguồn vốn bằng nguồn lực tự có hoặc vay vốn tín dụng
Một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến sự thành công của các mô hình là do các chủ sản xuất có sự phân tích nhu cầu thi trường và đã đáp ứng được nhu cầu của thị trường vào những thời điểm cần thiết
Ngoài những yếu tố trên, việc người dân có niềm tin vào những thành tựu khoa học
kỹ thuật và quyết tâm theo đuổi đến cùng mô hình sản xuất của mình cũng là một yếu tố quan trọng để mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao Đây là những con người dám đối mặt với thử thách, luôn tìm cách vượt qua khó khăn, luôn tìm tòi những cái mới để đưa mô hình sản xuất của mình ngày càng hoàn thiện, nâng cao được hiệu quả sản xuất
5 Một số định hướng phát triển nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu ở ku vực ven biển miền Trung
5.1 Cần có sự đầu tư về khoa học và kỹ thuật
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng các giống cây chịu mặn, chịu hạn, giống kháng sâu bệnh, giống có thời gian sinh trưởng ngắn, bố trí cây trồng theo mùa vụ, sử dụng các biện pháp canh tác thích hợp Chẳng hạn, sử dụng nguồn gen bản địa hoặc các giống cây, giống vật nuôi có khả năng chống chịu tốt, sử dụng các giống địa phương hoặc con lai giữa giống địa phương và giống nhập nội, có khả năng thích ứng tốt với điều kiện thời tiết khắc nghiệt
Hình 5 Mô hình trồng luân canh, xen canh giữa cải củ và hành tây ở xã Bình Triều
Sử dụng hợp lý phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng đất canh tác đi đôi với cải tạo Chủ động nghiên cứu sản xuất được nguồn thức ăn chăn nuôi công nghiệp để tránh phụ thuộc vào nguồn thức ăn tự nhiên
Thay đổi phương thức canh tác truyền thống bằng các phương thức tiết kiệm nước, chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ dạng độc canh sang dạng luân canh, xen canh; trồng các giống câycần ít nước như: ngô lai, lạc, rau đỗ Xen cây ngô với lạc để tăng độ che phủ, tạo độ ẩm cho đất, giảm bớt sâu hại cho cây trồng Xây dựng các hệ thống vành đai chắn cát, chắn gió, chắn sóng ven biển để giảm tác động của gió biển, bão lũ tới hoạt động sản xuất Bố trí lịch mùa vụ thích hợp, dựa trên 5 cơ sở chính là dự báo của trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia, thời gian sinh trưởng của từng giống, kinh nghiệm sản xuất, lứa
Trang 10sâu bệnh và lịch vạn niên để tránh được bão, lũ; linh hoạt dễ thực hiện và phù hợp với phong tục tập quán sản xuất như mô hình dễ làm, dễ triển khai
5.2 Cần có sự đầu tư nguồn lực
Cần có các chính sách hỗ trợ vốn để người dân đầu tư vào quá trình sản xuất, cũng như có các chính sách hỗ trợ kịp thời khi hoạt động sản xuất bị ảnh hưởng nặng nề do gặp thời tiết cực đoan (chính sách Bảo hiểm nông nghiệp)
Cần đầu tư đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ phát triển nông nghiệp thay cho thực trạng hiện nay “làm nông nghiệp vẫn gọi là thất nghiệp” Cần quy hoạch sử dụng đất phù hợp để tận dụng tối đa diện tích sản xuất nông nghiệp như quy hoạch riêng các khu dân cư, khu nghĩa địa và khu sản xuất nông nghiệp; quy hoạch những vùng nuôi trồng chung nhằm hạn chế và kiểm soát dịch bệnh Bên cạnh
đó cần xây dựng hệ thống thủy lợi để phục vụ tưới tiêu (cấp nước vào mùa khô, tiêu nước vào mùa mưa)
5.3 Cần thay đổi mô hình quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Một trong những yếu tố quan trọng liên quan tới lợi ích của người sản xuất chính là khâu đưa sản phẩm ra thị trường Cần thành lập một tổ chức có tư cách pháp nhân, tổ chức này có vai trò tìm hiểu nắm bắt nhu cầu thị trường để có định hướng sản xuất phù hợp, tập hợp các hộ sản xuất nhỏ lẻ thành các tổ chức sản xuất có quy mô lớn từ đó xây dựng canh phân phối sản phẩm hiệu quả và bình ổn về giá cả đảm bảo quyền lợi cho người sản xuất
5.4 Cần áp dụng các mô hình nông nghiệp sinh thái và bảo vệ môi trường nơi sản xuất
Sự thành công của mô hình trồng rau sạch theo tiêu chuẩn VietGAP ở xã Bình Triều hay mô hình nuôi tôm trên cát ở xã Bình Minh một phần do người dân biết vận dụng mô hình nông nghiệp sinh thái Họ không san lấp để trồng trên diện tích lớn mà tiến hành sản suất ngay trên các vùng tự nhiên sẵn có, giữ lại hệ thống cây trồng phòng hộ xung quanh Với kinh nghiệm đó, người dân không những luôn chủ động được nguồn nước cung cấp cho sản xuất mà còn hạn chế được tối đa các tác động bất lợi của điều kiện thời tiết cực đoan
Hình 6 Việc giữ lại hệ thống cây trồng phòng hộ xung quanh các khu sản xuất giúp chủ động được nguồn nước và hạn chế được các tác động bất lợi của thời tiết cực đoan
KẾT LUẬN
Trang 11Trước mọi thách thức đều có cơ hội Nền nông nghiệp truyền thống hoạt động dựa trên kinh nghiệm là chính, rất phù hợp với điều kiện khí hậu ổn định, kinh tế tự cung tự cấp Ngày nay, nông nghiệp cần phải chuyển sang sản xuất hàng hóa, thích ứng với thị trường và khí hậu biến đổi Chính vì vậy, việc áp dụng thành tựu của khoa học hiện đại, kết hợp với tri thức bản địa là hết sức cần thiết Khoa học kỹ thuật phải xem là đòn bẩy
để phát triển nông nghiệp Việt Nam như những gì Isrel, Nhật bản đã áp dụng
Đầu tư cho nông nghiệp hiện nay chưa xứng tầm với tiềm năng mà nông nghiệp có thể đóng góp cho sự phát triển của xã hội, cũng như chưa xứng tầm với tỷ lệ lực lượng tham gia hoạt động nông nghiệp Cần xem xét đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội thông qua phân tích chi phí – lợi ích giữa đầu tư cho nông nghiệp và các ngành khác Ở đây cần xem xét cả về đầu tư tài chính, khoa học kỹ thuật, giáo dục – đào tạo,…
Nguyên lý “rủi ro càng cao, lợi nhuận càng lớn” vẫn đúng với sản xuất nông nghiệp hiện nay ở Việt Nam, vấn đề đang tồn tại lớn là sự phân phối lợi nhuận rất không bình đẳng Do vậy cần thay đổi mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp để cân bằng lợi nhuận giữa người trực tiếp tham gia sản xuất và những người hưởng lợi gián tiếp, từ đó kích thích sự sáng tạo trong sản xuất, tạo niềm tin cho đầu tư,
Mọi sự tồn tại đều do sự thích ứng có, mà thích ứng có được là nhờ sự cân bằng Chính vì vậy việc giữ cân bằng hệ sinh thái ven biển sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp nói riêng và phát triển bền vững nói chung ở vùng ven biển miền Trung
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đào Xuân Học (2009), Kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp
và phát triển nông thôn, Hội thảo Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu
2 Võ Văn Minh, Nguyễn Văn Khánh (2011), Nghiên cứu một số tiêu chí để làm cơ
sở khoa học cho việc xây dựng mô hình nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu vùng ven biển Quảng Nam – Đà Nẵng, đề tài cấp ĐHĐN, mã số: Đ2011-03-08
3 Rattan Lal and et al (2011), Climate Change and Food Security in South Asia,
Springer Science+Business Media B.V
Trang 12ĐÁNH GIÁ SỰ ẢNH HƯỞNG ĐIỆN NĂNG CỦA CÁC HỒ CHỨA THỦY ĐIỆN TRÊN HỆ THỐNG SÔNG VU GIA – THU BỒN KHI GIAO THÊM NHIỆM VỤ
PHÕNG LŨ
TS.Lê Hùng, ThS.Tô Thúy Nga
Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng
Tóm tắt: Vận hành hệ thống hồ chứa thủy điện trên các lưu vực sông sao cho đảm bảo
lợi ích mục tiêu phát điện của các hồ chứa đồng thời giảm thiểu thiệt hại do lũ gây ra cho
hạ du là vấn đề rất bức thiết tại 9 lưu vực sông lớn ở Việt Nam nói chung và lưu vực sông
Vu Gia – Thu Bồn nói riêng Trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ phân tích vai trò điều tiết của các hồ thuỷ điện A Vương, Đăk Mi 4, sông Tranh 2, sông Bung 2 và sông Bung 4 đến ngập lụt hạ du sông Vu Gia - Thu Bồn Các kịch bản tăng thêm dung tích phòng lũ cho các hồ chứa thuỷ điện và đồng thời đánh giá thiệt hại sản lượng điện mất đi của các
hồ này Xây dựng giải pháp thỏa hiệp tối ưu Pareto quan hệ giữa tổn thất sản lượng điện
và khả năng tăng dung tích cắt lũ cho hạ du
1 Đặt vấn đề
Lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn là một trong 9 lưu vực sông lớn ở Việt Nam, cũng như các lưu vực sông ở Miền Trung, thì các hồ chứa thủy điện xây dựng trên lưu vực này đều với mục tiêu chính là phát điện, còn việc giảm lũ chỉ là kết hợp, dung tích dùng để cho cắt lũ là không có hoặc không đáng kể, trên lưu vực Vu Gia - Thu Bồn, có 5
hồ chứa thủy điện lớn điều tiết năm, có 3 hồ chứa đã đi vào vận hành như hồ A Vương (F=682km2), ĐăkMi 4a (F=1125km2), sông Tranh 2 (F=1100km2), hiện có 2 hồ chứa bậc thang sông Bung là sông Bung 2 (F=335km2) và sông Bung 4 (F=1440km2) Bên cạnh quy trình vận hành cho từng hồ chứa thì năm 2010 Chính phủ đã ban hành quy trình vận hành liên hồ gồm 3 hồ chứa thủy điện hồ A Vương (vận hành năm 2009) hồ ĐăkMi 4a, Sông Tranh 2 (vận hành năm 2011)
Hình 1 Mạng lưới sông Vu Gia – Thu Bồn và các hồ chứa thủy điện (Nguồn: ”Mô hình
thủy văn thủy lực phát triển đô thị thành phố Đà Nẵng”)
Trang 13Các hồ chức thủy điện ở Miền Trung khi đi vận hành trong những năm qua gây nhiều tranh luận, về việc xã lũ như hồ A Vương (2009) và sông Tranh 2 (2011) cũng như vận hành mùa cạn như hồ ĐăkMi 4 (năm 2011, năm 2912) Để khắc phục những vấn đề trên, trong nghiên cứu này chúng tôi tính toán các kịch bản tăng thêm dung tích phòng lũ 10%, 20%, 30% Vhi cho các hồ chứa thuỷ điện và đồng thời đánh giá sản lượng điện suy giảm tương ứng của các hồ này Xây dựng giải pháp thỏa hiệp tối ưu Pareto quan hệ giữa tổn thất sản lượng điện và khả năng tăng dung tích cắt lũ cho hạ du
a Điều tiết hệ thống hồ chứa sao cho mức độ giảm lũ hạ lưu là lớn nhất
- Kịch bản điều tiết của 5 hồ chứa thủy điện lớn ở thưọng nguồn lưu vực Vu Gia - Thu Bồn Sử dụng trận lũ lịch sử từ ngày 27/9/2009 đến ngày 2/10/2009 để đánh giá mức
độ điều tiết của các hồ chứa thượng nguồn Vu Gia – Thu Bồn
- Tính toán điều tiết hệ thống hồ chứa ứng với các dung tích phòng lũ 10%, 20%, 30% Vhi, sao cho giảm lũ hạ du là lớn nhất có thể, thể hiện kết quả mực nước giảm tại các điểm kiểm soát, Hội Khách, Ái Nghĩa, Cẩm Lệ, Giao Thủy, Cao Lâu
b Tổng sản lượng giảm khi tăng dung tích chống lũ là bé nhất
- Tính toán sản lượng điện ứng với các trường hợp tăng dung tích chống lũ 10%, 20%, 30% và mực nước trước lũ tương ứng với từng dung tích là từ 1/9 đến 30/9, từ ngày 1/9 đến 31/10, và từ 1/9 đến 31/11
Bảng 1 Các thông số chính của các hồ chứa thủy điện trên lưu vực Vu Gia – Thu Bồn
Các thông số hồ chứa ĐăkMi 4aA A Vương Sông Tranh 2 Sông Bung 2 Sông Bung 4
Trang 14và sông Bung 2, sông Bung 4 Hiện có 3 hồ chứa chính thức vận hành và được Chính phủ ban hành Quy trình vận hành liên hồ (A Vương, ĐăkMi 4a và sông Tranh 2)
3 Mô hình mô phỏng và tối ưu
Vì lưu vực Vu Gia Thu Bồn các hồ chứa dung tích nhỏ, không có khả năng điều tiết cắt giảm lũ cho hạ du, do đó trong nghiên cứu này tôi đề xuất hàm mục tiêu như sau:
1 Minimum Lượng xả xuống hạ du của các hồ chứa
i
E F
1
6 1
10 / 81
Bước 1: Áp dụng mô hình NAM, HMS dùng để xác định các biên trong mô hình xem tài
liệu [1];
Bước 2 Mô hình vận hành điều tiết hồ chứa kết hợp với mô hình truyền lũ Muskigum,
chúng tôi sử dụng mô hình HEC-RESSIM;
Mô hình HEC – RESSIM là sản phẩm của Trung Tâm Kỹ Thuật Thủy Văn (HEC),
Viện Tài nguyên nước, cục công binh Mỹ tính toán vận hành hệ thống hồ chứa lợi dụng
tổng hợp, (Cấp nước, phòng lũ, phát điện), mô phỏng trong mô hình bao gồm mô hình hoạt động hồ chứa, và các quá trình vận chuyển nước trong hệ thống sông
Cấu trúc mô hình bao gồm 3 modun chính, Modun thiết lập lưu vực: Watershed
Setup, Modun mạng lưới hồ chứa: Reservoir Network và Modun mô phỏng (Simulation)
Trang 15Hình 2 Sơ đồ mạng lưới hồ chứa Vu Gia – Thu Bồn trong mô hình HEC-RESSIM
Hình 3a Đường quá trình lưu lượng đến và xả lũ, Mực nước vận hành hồ sông
Tranh 2 (khi mực nước hồ ứng với dung tích 70% Vhi, 80% Vhi, 90%Vhi)
Hình 3bcde Đường quá trình lưu lượng đến và xả lũ, mực nước vận hành các hồ A Vương, ĐăkMi 4, sông Bung 2
và sông Bung 4 (khi mực nước hồ ứng với dung tích 70% Vhi, 80% Vhi, 90%Vhi)
Trang 16Bảng 2 Kết quả giữa lưu lượng đến và lưu lượng điều tiết của các hồ chứa khi dung tích
Qđến/Qxả
ĐăkMi 4a (m/3s)
Qđến/Qxả
Sông Tranh 2 (m/3s)
20% Vhi 3706/1800 4784/3450 4107/2085 1068.6/600 3080.5/2500
30% Vhi 3706/1450 4784/3125 4107/1610 1068.6/485 2876.9/2075
Mực nước hồ A Vương ĐakMi 4a
Sông tranh 2
Bước 3: Mô hình MIKE FLOOD
Mô hình MIKE FLOOD mô phỏng ngập lụt xác định mực nước giảm trước và sau khi điều tiết tại các điểm kiểm tra ứng với các phương án điều tiết Hình thức kết nối mô hình MIKE 11 và MIKE 21 ở đây sử dụng mô hình kết nối bên (kết nối theo hình thức đập tràn từ mạng lưới sông một chiều chảy tràn sang bãi hai chiều)
Mô hình MIKE 11: Thiết lập mô hình mạng lưới sông một chiều Vu Gia – Thu Bồn với các nút kiểm tra Hội Khách, Ái Nghĩa, Cẩm Lệ, Giao Thủy và Cao Lâu
Hình 4 Hệ thống nút hồ chứa và các nút kiểm tra để kiểm định và xác định thông số mô hình
Hội Khách
Cẩm Lệ
Giao thủy
Ái Nghĩa
Trang 17Mô hình MIKE 21: Để mô phỏng quá trình ngập lụt các vùng đất ven sông và vùng đồng
trũng, mô hình thủy lực hai chiều được sử dụng làm công cụ tính toán Quá trình dòng
chảy trong sông do mô hình thủy lực một chiều đảm trách
Kết quả mô phỏng mực nước tại các trạm đo ứng với các kịch bản sau:
Bảng 3 Mực nước mô phỏng tại các vị trí có trạm đo mực nước theo các kịch bản (mô
phỏng trận lũ 2009), đơn vị m
Hội Khách Ái Nghĩa Giao Thủy Cao Lâu Biên hồ chứa là dòng chảy đến các hồ 20.11 11.02 10.05 5.44 Điều tiết lũ với dung tích chống lũ 10% Vhi 18.97 10.84 9.945 5.313 Điều tiết lũ với dung tích chống lũ 20% Vhi 18.34 10.65 9.789 5.235 Điều tiết lũ với dung tích chống lũ 30% Vhi 17.87 10.51 9.65 5.16
Bước 4: Xây dựng chương trình tối ưu với mục tiêu điện năng và dung tích phòng lũ
- Mô hình toán với mục tiêu phát điện và cắt giảm lũ, được sử dụng phương pháp
quy hoạch động để giải, xây dựng thuật toán và chương trình tính bằng ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng Delphi
- Để có thể đánh giá mức độ giảm sản lượng điện của các hồ chứa, khi giao thêm dung tích chống lũ, (chúng tôi sẽ tính toán sản lượng điện ứng với các kịch bản dung tích phòng lũ của hồ chứa là 10%, 20%, 30% và thời điểm cho phép tích lũ đến mực nước dâng bình thường của hồ là sau ngày 30/9, 31/10, 30/11
- Tính toán điện năng toàn liệu chuỗi dòng chảy của 3 hồ chứa là sông Tranh 2, Đăk Mi4 và A Vương, ứng với các trường hợp dung tích chống lũ 10%, 20%, 30% và thời gian duy trì mực nước ứng với các dung tích chống lũ với các trường hợp cuối tháng
9, tháng 10 và tháng 11
Bảng 4 Kết quả tính toán chuỗi dữ liệu từ năm 1977-2008 của hồ chứa sông Tranh 2
Tháng Dung tích phòng lũ
Mực nước hồ trước lũ
Dung tích phòng lũ lớn nhất (triệu m3
)
Điện lượng bình quân nhiều năm (triệu Kwh)
Thiệt hại sản lượng điện năng
Tỷ lệ % sản lượng điện thiệt hại Vận hành theo biểu đồ điều phối 695.4
Trang 1820%Vhi 169.9 104.234 704.19 12.59 1.757%
30%Vhi 167 157.522 697.03 19.75 2.755%
Tương tự như sông Tranh 2 ta có kết quả hồ ĐăkMi 4a và A Vương như sau:
Bảng 5 Kết quả tính toán chuỗi dữ liệu từ năm 1976-2009 của hồ chứa ĐăkMi 4a
Dung tích
phòng lũ
Mực nước
hồ
Dung tích phòng lũ lớn nhất
(triệu m3
)
Điện lượng bình quân nhiều năm (triệu Kwh)
Thiệt hại sản lượng điện năng
Tỷ lệ % sản lượng
điện thiệt hại Vận hành theo biểu đồ điều phối 614.99
Hình 5 Sản lượng điện tối ưu từ năm 1977-2008 của hồ chứa sông Tranh 2, ứng với các
Hình 6 Mặt Pareto thỏa giữa phần trăm điện lượng mất đi khi tăng thêm dung tích chống lũ
hồ chứa thủy điện sông Tranh 2 cho đến hết ngày 31/10
Trang 1930%Vhi 253.3 47.48 614.55 0.74 0.117% Tháng 11 10% Vhi 256.5 15.83 613.75 1.93 0.302%
m3)
Điện lượng bình quân nhiều năm (106 kwh)
Thiệt hại sản lượng điện năng
Tỷ lệ % sản lượng điện thiệt hại
31/10 hàng năm Kết quả bảng 2 và các hình 3abcde, việc cắt lũ ứng với dung tích
chống lũ 30%Vhi là rất lớn, đối với hồ sông Tranh 2, lưu lượng xả lũ chỉ bằng khoảng 0,4 lần lưu lượng đỉnh lũ lần 1610/4107 m3/s, tương tự là các hồ chứa A Vương lưu lượng đỉnh lũ Qxả=0,39Qđến, hồ chứa ĐăkMi 4 lưu lượng đỉnh lũ Qxả=0,65Qđến Hồ chứa ĐăkMi
4 cắt lũ không lớn bởi vì dung tích hồ này bé hơn nhiều so với dung tích hồ chứa A Vương, sông Tranh 2, mặc dù hồ chứa này có diện tích lưu vực lớn hơn 2 hồ trên
- Việc kết hợp giữa điều tiết xả lũ và vận hành phát điện tối ưu có hiệu quả rõ rệt Nếu xả lũ theo thiết kế (không đưa thêm dung tích phòng lũ) so sánh giữa vận hành thông thường theo biểu đồ điều phối và vận hành theo chương trình vận hành tối ưu của tác giả sản lượng điện tăng lên đáng kể cụ thể : đối với thủy điện sông Tranh 2 tăng 3%, thủy điện ĐakMi 4 tăng 3,55% Trường hợp nếu huy động 30% dung tích hồ cho đến ngày 31/10 thì có thể giảm ngập lụt ở hạ lưu đáng kể thì mực nước tại Hội Khách giảm 2,24m
Ái Nghĩa 0,51m, Giao thủy 0,4m, Cao Lâu 0,28m xem bảng 3 và kết hợp vận hành phát
điện theo phương pháp quy hoạch động thì điện lượng mất đi không lớn cụ thể hồ sông Tranh 2 giảm 0,607% và hồ ĐăkMi 4a giảm 0,117% và A Vương giảm 0,236% Kết quả tính toán sản lượng điện theo phương pháp tối ưu hồ chứa thủy điện sông Tranh 2, trường hợp chưa có dung tích chống lũ là 716,18 triệu kwh, trong khi theo biểu đồ điều phối
Trang 20695,4 106kwh, sản lượng bình quân tăng gần 3% Do đó rất cần thiết phải áp dụng phương pháp xây dựng biểu đồ điều phối tối ưu vào trong thực tế hiện nay
- Qua kết quả tính toán ở hình 3abcde của hồ chứa, ta thấy đối với trường hợp khi dòng chảy đến hồ nhỏ hơn mực nước trước lũ, thì không nên tích nước vào đầu thời điểm
lũ lên mà tích nước thời kỳ lũ xuống thì các hồ chứa vẫn đầy hồ để phục vụ cho phát điện, mà hiệu quả cắt giảm lũ là rất lớn
4 Kết luận và kiến nghị
- Nghiên cứu đã xây dựng được các mặt Pareto giữa dung tích chống lũ tăng thêm (mực nước hạ lưu giảm tương ứng) và sự giảm sản lượng của các hồ chứa Dựa trên các mặt Pareto đã xây dựng, giúp cho cơ quan quản lý có thể chọn các điểm tối ưu thỏa hiệp tương ứng để vận hành hồ chứa sao cho hiệu quả
Các kết quả đã chứng minh đây là hướng tiếp cận vận hành điều tiết tương đối phù hợp với đặc thù lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn cũng như các lưu vực hệ thống sông Miền Trung tương ứng
- Với các kết quả tính toán đã chứng minh sự hiệu quả cắt lũ khi ta tăng dung tích chống lũ cho các hồ, đồng thời đã đánh giá được sản lượng điện thiệt hại của các hồ chứa, đây là cơ sở cần thiết để kiến nghị thành lập Ban quản lý lưu vực sông để phối hợp vận hành giữa các hồ tìm ra được điểm tối ưu hợp lý trên các mặt thoả hiệp Pareto thì mới có thể cho hiệu quả tối ưu
- Nghiên cứu cũng đã đề xuất ra được cách vận hành hồ chứa đối với các trường hợp mực nước hồ chứa trước lũ nhỏ hơn mực nước trước lũ;
Tài liệu tham khảo
Tô Thúy Nga (2013), “Thiết lập mô hình mô phỏng lũ phục vụ vận hành hệ thống hồ chứa trên
sông Vu Gia-Thu Bồn thời kỳ mùa lũ”, Tạp chí Khoa học thủy lợi và môi trường, Vol 3 (2013) Hà Nội
Tô Thúy Nga, Lê Hùng (2013), “Ảnh hưởng xả lũ của các hồ chứa thủy điện trên hệ thống sông
Vu Gia – Thu Bồn đến ngập lụt hạ lưu Quảng Nam – Đà Nẵng”, Tuyển tập Công trình Hội
nghị Khoa học Cơ học thủy khí toàn quốc năm 2012, pp 537÷547
Long Le Ngo, Henrik Madsen, Dan Rosbjerg, 2007, “Simulation and optimisation modelling
approach for operation of the Hoa Binh reservoir, Vietnam”, Journal of Hydrology, vol 336,
pp 269÷281
Chih-Chiang Wei, Nien-Sheng Hsu (2008), “Multireservoir real-time operations for flood
control using balanced water level index method”, Journal of Environmental management,
pp 1624-1639
[5] Nien-Sheng Hsu, Chih-Chiang Wei (2007), “A Multipurpose reservoir real-time operation
model for flood control during typhoon invasion”, Journal of Hydrology, vol 336, pp 282-293
Trang 21NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT QUY TẮC VẬN HÀNH XẢ LŨ AN TOÀN CHO HỆ THỐNG HỒ CHỨA TRÊN LƯU VỰC SÔNG VU GIA – THU BỒN TRONG MÙA
MƯA LŨ
Tô Thúy Nga 1 ; Nguyễn Thế Hùng 1 ,
1 Trường Đại học Bách Khoa, Đại học Đà Nẵng
Tóm tắt: Lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn sau khi xây dựng các hồ chứa thượng
nguồn chế độ lũ và ngập lụt hạ du sẽ bị ảnh hưởng bởi các hồ chứa này Nếu có chế độ vận hành hợp lý cho các hồ chứa này sẽ có tác động tích cực đối với vùng hạ du mà vẫn đảm bảo được mục tiêu phát điện và an toàn hồ chứa; ngược lại, nếu không có chế độ vận hành thích hợp sẽ có tác động tiêu cực và trong nhiều trường hợp gây thiệt hại lớn cho vùng hạ du Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất quy tắc vận hành hồ chứa của các hồ ứng với trường hợp tạo mực nước đón lũ ở các hồ chứa nhỏ hơn mực nước đón lũ quy định trong quy trình nhằm xả lũ an toàn cho hạ du, đồng thời đề xuất phương pháp
xả lũ hợp lý cho hệ thống Vu Gia – Thu Bồn để giảm lũ cho hạ du mà không ảnh hưởng lớn đến mục tiêu phát điện của các hồ chứa
1 Đặt vấn đề
Trong số 5 hồ chứa thủy điện lớn trên sông Vu Gia Thu Bồn có nhiệm vụ cắt giảm lũ cho
hạ du có 3 hồ chứa là Sông Tranh 2, A Vương và Đakmi 4 thuộc nhóm các hồ chứa đã có quy định về vận hành cắt lũ hạ du với tổng dung tích phòng lũ là 175,71 triệu m3 Phần dung tích phòng lũ của các hồ chứa này giới hạn bởi mực nước đón lũ (ZDL) đến mực nước dâng bình thường (HBT) và chỉ được sử dụng để cắt lũ ở khu vực đỉnh lũ khi dự báo trong khoảng từ 6-12 h tới lũ tại mỗi hồ chứa đạt đỉnh Cũng theo quy trình liên hồ chứa, trong thời kỳ mùa lũ các hồ chứa này được tích đến mực nước lớn hơn mực nước đón lũ và có thể tích đến mực nước dâng bình thường, chỉ khi dự báo trong khoảng 24h tới lưu lượng lũ vượt qua một giá trị nhất định đối với từng hồ chứa mới xả nước để đưa
về mực nước đón lũ Như vậy, các hồ chứa này ưu tiên nhiệm vụ tích nước phát điện Điều này cũng hơ ̣p lý vì đối với lưu vực Vu Gia -Thu Bồn, lũ lên xuống rất nhanh và lưu lượng cơ bản thời kỳ mùa lũ rất nhỏ, nếu duy trì mực nước hồ ở mức thấp mà không có lũ lớn thì không thể tích đầy hồ Tuy nhiên, với quy mô dung tích phòng lũ như vậy thì hiệu quả cắt lũ cho hạ du không cao Hơn nữa, với yêu cầu dự báo chỉ có 6-12h trước khi cắt đỉnh lũ sẽ có nhiều rủi ro do không thể bắt được đỉnh và không kịp vận hành theo đúng quy định Mặt khác, do khu vực ngập lụt ở hạ du có khả năng điều tiết rất lớn, nếu chỉ xả nước trước 24h để đón lũ thì lượng xả xuống cũng lớn, một phần lớn lượng xả xuống hạ
du bị trữ lại ở khu vực hạ du chưa kịp thoát ra biển trước khi lũ về Điều này làm cho hiệu quả cắt lũ của các hồ chứa không hiệu quả
Từ những đặc điểm trên cho thấy cần nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cắt giảm lũ cho hạ du nhưng vẫn đảm bảo an toàn tích nước cho nhiệm vụ phát điện và cấp nước hạ du thời kỳ mùa kiệt
Sơ đồ hệ thống bao gồm các đoạn sông, nút nhập lưu, nút hồ chứa và các nút kiểm soát Khu vực nghiên cứu được mô phỏng 18 nhập lưu, 15 đoạn sông và 5 nút hồ chứa Có 3 nút kiểm soát được chọn tại các ví trí trạm thủy văn Nông Sơn, Thành Mỹ và Hội Khách, trong đó trạm Hội Khách là trạm đo mực nước, trạm Thành Mỹ và Nông Sơn là trạm đo lưu lượng, cũng là các trạm đo kiểm định thông số của mô hình hệ thống
Trang 22
2 Phương hướng đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả cắt giảm lũ cho hạ du
Việc đề xuất phương án dung tích phòng lũ và chế độ điều tiết cắt lũ dựa trên những căn
quả cắt lũ của các hồ chứa theo hướng sau : Hạ thấp mực nước đón lũ còn go ̣i là “ tạo mực nước đón lũ” đã được quy định trong quy trình liên hồ chứa trên cơ sở kéo dài thời
gian dự kiến của dự báo lũ đến hồ theo mô hình MOPHONG-LU Theo hướng này, tác giả tôn trọng quy định về việc cho phép các hồ chứa được tích nước cao hơn mực nước đón lũ và chỉ hạ mực nước về mực nước đón lũ khi xuất hiện lũ lớn hơn một quy mô nào
đó Tuy nhiên, mực nước đón lũ được hạ thấp hơn so với quy trình
3 Thiết lập mạng sông khu vực sông Vu Gia-Thu Bồn
Bảng 3: Các thông số chính của các hồ chứa
Các thông số hồ chứa Đakmi 4 A Vương Sông Tranh 2 Sông Bung 2 Sông Bung 4
Trang 23MNDGC (m): 258,2 382,2 178,5 608,11 228,11
Cao trình ngưỡng tràn (m) 242,5 363 161 363 210,5 Qmax qua nhà máy (m3
Kích thước van (m x m) 14 x 16 14 x 16 16 x 16 14 x 16 12 x 12
Ghi chú: (*) mực nước đón lũ do tác giả đề nghị giả định vì các hồ chứa này
Phía thượng lưu sông từ Nông Sơn trên sông Thu Bồn và Hội Khách trên sông Vu Gia trở lên dùng chương trình tính “MOPHONG-LU” do tác giả xây dựng trên cơ sở tích hợp các mô hình mưa-dòng chảy, mô hình vận hành hồ chứa và diễn toán lũ trong sông cho phép kéo dài thời gian dự báo lũ đến nút hồ chứa và các nút sông là cơ sở để tác giả
Lưu lượng đến hồ và các nút nhập lưu trong trường hợp không có tài liệu đo thủy văn được tính toán theo mô hình mưa-dòng chảy Trong nghiên cứu này chúng tôi chọn hai phương pháp tính toán: Phương pháp đường đơn vị tổng hợp SCS và phương pháp tính toán theo mô hình NAM
- Mô hình NAM có ít thông số (9 thông số) so với mô hình TANK (36 thông số), các tham số của mô hình ít biến động đối với các lưu vực nhập lưu của cùng lưu vực sông Bởi vậy, đối với lưu vực ít tài liệu như lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn sẽ có sai số tính toán nhỏ hơn so với các mô hình khác
- Mô hình đường đơn vị SCS có các tham số chỉ phụ thuộc vào các đặc trưng hình thái của lưu vực: Diện tích lưu vực, chiều dài sông, độ dốc bình quân của lưu vực Các đặc trưng này hoàn toàn được xác định từ tài liệu địa hình và không cần phải xác định theo tài liệu thực đo của lưu vực Vì vậy, mô hình này không những phù hợp với lưu vực
có ít tài liệu đo đạc mà còn được sử dụng để tính dòng chảy nhập lưu của các lưu vực thuộc vùng hạ du sông Vu Gia -Thu Bồn như lưu vực Ly Ly , sông Con , Túy Loan v v Hơn nữa, mô hình SCS được tổng hợp từ hàng trăm lưu vực sông cho kết quả đáng tin cậy và đã được sử dụng trong các mô hình HEC-HMS, MIKE 11 v v
- Diễn toán dòng chảy cho từng đoạn sông được mô phỏng theo phương pháp Muskingum
- Diễn toán lưu lượng qua hồ chứa :Tai các nút hồ chứa, lưu lượng xả qua các cửa
xả được tính toán bằng cách hợp giải phương trình cân bằng nước dV = (Q(t)-qx(t)) và khả năng xả qua công trình xả lũ qx (t) =f(Zt, Zh, A)
Trang 24Trong đó: V là dung tích hồ chứa; Q(t) là lưu lượng đến hồ tại thời điểm t; qx(t) là lưu lượng xả qua công trình xả lũ; Zt, Zh là mực nước hồ và mực nước sau công trình xả lũ;
A là thông số hình thức mô tả loại công trình xả, số cửa xả được mở và độ mở của mỗi cửa xả lũ
Phía Hạ lưu sông từ Nông Sơn và Hội Khách trở xuống chúng tôi dùng mô hình Mike 11
để mô phỏng
Bộ thông số của mô hình được hiệu chỉnh theo trận lũ năm 2009 và kiểm định bằng trận
lũ năm 2007
3 Xây dựng hệ thống kịch bản điều tiết hồ chứa cắt lũ
Nghiên cứu đề xuất bốn phương án được thống kê dưới đây và từ kết quả tính toán phân tích sẽ chọn phương án khả thi
Phương án 1 (PA1-1): Vận hành theo quy trình liên hồ chứa
- Mực nước ban đầu bằng mực nước dâng bình thường;
- Trước 24 giờ khi dự báo lũ xuất hiện vượt lưu lươ ̣ng giới hạn đến hồ bắt đầu xả lũ đưa
về mực nước đón lũ đã quy định trong quy trình;
- Chỉ cắt lũ dự báo đỉnh lũ xuất hiện sau thời gian từ 6-12h;
Phương án 2 (PA1-2): Đề nghị mức nước đón lũ thấp hơn quy trình liên hồ chứa
- Mực nước ban đầu bằng mực nước dâng bình thường;
- Trước khi lũ về 24h mở dần các cửa xả về mực nước đón lũ thấp hơn mực nước đón lũ theo quy trình liên hồ chứa sao cho quá trình xả không gây ra sự thay đổi đột biến ở hạ lưu
- Chỉ cắt lũ dự báo đỉnh lũ xuất hiện sau thời gian từ 6-12h;
Phương án 3 (PA1-3): Xả lũ trước khi lũ về 48h-60h Cụ thể như sau:
- Mực nước ban đầu bằng mực nước dâng bình thường;
- Dự báo lũ xuất hiện sau 48-60h, tiến hành xả lũ để hạ mực nước hồ về mực nước đón lũ sao cho đến thời điểm 24h trước khi có lũ, mực nước hồ đạt mực nước đón lũ quy định trong quy trình;
- Trước 24h nếu có lũ sẽ tiếp tục hạ mực nước xuống mức thấp hơn mực nước đón lũ theo quy trình đã đươ ̣c phê duyệt sao cho quá trình xả không gây ra sự thay đổi đột biến ở
hạ lưu
Phương án 4 (PA1-4): Phương án mực nước ban đầu thấp hơn mực nước đón lũ, đây là
kịch bản xảy ra trong trận lũ năm 2009 với mực nước ban đầu của hồ A Vương ngang với cao trình mực nước chết Phương án tính toán như sau:
- Mực nước ban đầu bằng hoặc xấp xỉ mực nước chết;
- Khi lũ về tích nước hồ chứa đến cao trình ngưỡng tràn;
- Nếu lũ tiếp tục lên, sẽ xả lũ từ từ đảm bảo lưu lượng xả nhỏ hơn hoặc bằng lưu lượng đến để không gây ra sự thay đổi đột biến ở hạ lưu
- Cắt lũ cho hạ du trước khi xuất hiện đỉnh lũ từ 6-12h (hoặc sớm hơn tùy thuộc vào tính toán cụ thể cho trận lũ điển hình)
Trang 254 Tính toán vận hành theo các phương án
4.1 Kết quả tính toán theo các phương án mực nước đón lũ
Các phương án tính toán được tiến hành với trận lũ tháng 9 năm 2009, là trận lũ lớn tương đương với tần suất khoảng 5-10% tại các nút hạ du, là tần suất cần trong quy hoạch
đã lựa chọn khi xem xét lựa chọn quy mô của các dung tích phòng lũ của các hồ chứa để cắt giảm lũ cho hạ du
Tính toán theo được tính toán theo mô hình MOPHONG-LU, kết quả tính toán được liên kết với mô hình MIKE 11 cho vùng hạ du Kết quả tính toán điều tiết cắt lũ các hồ chứa
và diễn biến lưu lượng tại các nút kiểm soát Nông Sơn, Thành Mỹ, hợp lưu sông Bung với sông A Vương và nút Hội khách trình bày trong các hình vẽ ở phụ lục Kết quả tính toán thủy lực tại các nút Giao Thủy , Cẩm Lệ, Câu Lâu, Ái Nghĩa, Hội Khách trình bày trong các phu ̣ lu ̣c Tổng hợp tổng lượng cắt giảm tại các nút Nông Sơn, Thành Mỹ, Hội Khách, nút nhập lưu sông Bung +A Vương được tổng hợp trong bảng 2
Mức độ giảm mực nước theo các phương án vận hành cắt giảm lũ hạ du được tổng hợp trong bảng 3 và 4
4.2 Nhận xét
Từ kết quả tính toán cho các phương án điều tiết cắt giảm lũ cho hạ du có nhận xét như sau:
1 Với việc sử dụng mô hình MOPHONG-LU cho phép kéo dài thời gian dự kiến dự báo
và do đó dự báo được quy mô của cả trận lũ Do đó có thể giảm mực nước đón lũ thấp hơn mực nước đón lũ đã quy định trong quy trình liên hồ chứa Đồng thời, cũng chủ động được thời gian bắt đầu cắt đỉnh lũ để giảm lũ cho hạ du
2 Mực nước lớn nhất vùng hạ du theo Phương án PA1-1 và PA1-2 không chênh lệch nhiều Do vậy việc điều khiển mực nước trước lũ theo (PA1-2) hiệu quả không cao Phương án PA1-3 cho mực nước giảm đáng kể so với 2 phương án trên Bởi vậy, nếu vận hành hệ thống hồ chứa theo hướng điều khiển mực nước đón lũ thì nên lựa chọn phương
án PA1-3, là phương án xả lũ nước từ hồ trước 48h Điều này hoàn toàn thực hiện được
do khả năng dự báo lũ có thời gian dự kiến dài hơn nhiều so với quy định trong quy trình vận hành liên hồ chứa
3 Với phương án PA1-4, trước khi lũ về, nếu mực nước hồ đang ở mức thấp (trường hợp
lũ năm 2009 của hồ A Vương), thì nên tích nước đến cao trình ngưỡng tràn, nếu lũ tiếp tục lên thì mở dần các cửa xả lũ sao cho lưu lượng xả không lớn hơn lưu lượng đến hồ để dành dung tích cắt lũ ở phần đỉnh lũ Theo kết quả thống kê ở bảng 4.3 cho thấy hiệu quả cắt lũ rất cao Đường quá trình xả lũ được chủ động điều tiết do dự báo được lũ 5 ngày nên không gây “xốc” cho hạ du như đã xả đối với hồ A Vương trong trận lũ tháng 9 năm
2009
4 Hiệu quả giảm mực nước tại Ái Nghĩa giữa các phương án không rõ ràng, Điều này
có thể giải thích do Ái Nghĩa năm phía dưới sông Quảng Huế, khi lũ lớn nước chuyển từ
Vu Gia sang Thu Bồn nên hiệu quả cắt lũ được tích lũy cho vùng hạ du sông Thu Bồn
Trang 26Bảng 2: Hiệu quả cắt lũ tại các nút Nông Sơn, Thành Mỹ, Hội Khách, nút nhập lưu sông Bung +A Vương
Phương
Tổng lượng lũ cắt giảm tại phần đỉnh lũ (106m3)
Tỷ lệ % so với tổng lượng cả trận lũ
Trang 27Chưa cắt lũ PA1-1 PA1-2 PA1-3 PA1-4
mô phỏng vừa nâng cao được hiệu quả cắt lũ hạ du mà vẫn đảm bảo nhiệm vụ phát điện
và tích nước đầy hồ vào cuối mùa lũ Điều này có thể thực hiện do thời gian dự kiến dự báo lũ được nâng lên 3 ngày so với quy định dự báo 24h của quy trình vận hành liên hồ chứa
Kiến nghị: Đề xuất bổ sung quy trình vận hành liên hồ chứa
Với kết luận trên, cùng với khả năng kéo dài thời gian dự kiến của dự báo lũ, dựa vào quy trình vận hành liên hồ chứa đã ban hành, tác giả đề xuất quy trình vận hành liên hồ chứa trên sông Vu Gia-Thu Bồn như sau:
1 Trong thời gian mùa lũ, khi không có lũ, các hồ chứa được tích nước đến cao trình lớn hơn mực nước đón lũ đã được quy định trong quy trình liên hồ chứa đã ban hành
2 Khi dự báo trong 48h tới xuất hiện lũ, lưu lượng đến các hồ chứa vượt các mức quy định trong quy trình liên hồ chứa, nếu mực nước hồ cao hơn mực nước đón lũ, các hồ chứa phải xả nước để đưa được mực nước hồ về mực nước đón lũ trước khi xảy ra lũ 24h
3 Nếu dự báo trong 24h tiếp theo, có lũ xuất hiện với lưu lượng vượt mức quy định trong quy trình vận hành, tiếp tục xả nước để đưa mực nước hồ về cao trình thấp hơn mực nước đón lũ quy định cho đến khi mực nước tại các trạm đo hạ du đạt mức báo đô ̣ng II Khi mực nước hạ du đạt mức báo đô ̣ng II, lưu lượng xả lũ không được vượt lưu lượng đến hồ Dung tích đón lũ chỉ được sử dụng để cắt lũ cho hạ du khi dự báo trong khoảng 12h tới lũ đến các hồ chứa đạt đỉnh
Tài liệu tham khảo
[1] Tô Thúy Nga: Thiết lập mô hình mô phỏng phục vụ vận hành hệ thống hồ chứa trên sông Vu Gia-Thu Bồn thời kỳ mùa lũ Đăng cùng số của tạp trí số này
[2] Quyết định số 1880/QĐ-TTg ngày 13 tháng 10 năm 2010 Về việc ban hành Quy trình vận
hành liên hồ chứa các hồ chứa A Vương, Đắk Mi 4 và Sông Tranh 2 trong mùa lũ hàng năm
Trang 28Phụ lục :
Đường quá trình lũ tại Nông Sơn trước và sau khi cắt lũ.
Chưa cắt lũ
Đã cắt lũ
0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000 9000 10000
Quá trình lưu lượng đến, xả và mực nước hồ Sông A Vương ứng với các phương án xả
(từ 1h ngày 25 tháng 9 năm 2009)
Qvao qxa PA1 qxa PA2 qxa PA3 qxa PA4 Zh_PA1 Zh_PA2 Zh_PA3 Zh_PA4
D
Quá trình lưu lượng đến, xả và mực nước hồ Đakmi4 ứng với các phương án xả
(từ 1h ngày 25 tháng 9 năm 2009)
0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500 4000 4500 5000
Qvao qxa PA1 qxa PA2 qxa PA3 qxa PA4 Zh_PA1 Zh_PA2 Zh_PA3 Zh_PA4
D
Quá trình lưu lượng đến, xả và mực nước hồ sông Tranh 2 ứng với các phương án xả
(từ 1h ngày 25 tháng 9 năm 2009)
Qvao qxa PA1 qxa PA2 qxa PA3 qxa PA4 Zh_PA1 Zh_PA2 Zh_PA3 Zh_PA4
Đường quá trình lũ tại Thành Mỹ trước và sau khi cắt lũ.
Chưa cắt lũ
Đã cắt lũ
0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000
Đường quá trình lũ tại Nông Sơn trước và sau khi cắt lũ.
Chưa cắt lũ
Trang 29Quá trình lưu lượng đến, xả và mực nước hồ Sông Bung 4 ứng với các phương án xả
(từ 1h ngày 25 tháng 9 năm 2009)
Qvao qxa PA1 qxa PA3 Zh_PA1 Zh_PA2 Zh_PA4
D
Quá trình lưu lượng đến, xả và mực nước hồ Sông Bung 2 ứng với các phương án xả
(từ 1h ngày 25 tháng 9 năm 2009)
0 200 400 600 800 1000 1200 1400
Qvao qxa PA1 qxa PA3 qxa PA4 Zh_PA2 Zh_PA3
D
Đường quá trình lũ tại Hội Khách trước và sau khi cắt lũ.
Chưa cắt lũ
Đã cắt lũ
0 2000 4000 6000 8000 10000 12000 14000 16000 18000
Đường quá trình lũ tại hợp lưu Sông Bung và A Vương trước và sau khi cắt lũ.
Chưa cắt lũ
Đã cắt lũ
0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000
Quá trình mực nước tại Câu Lâu
0.0 0.5 1.0 1.5 2.0 2.5 3.0 3.5 4.0 4.5 5.0 5.5
Quá trình mực nước tại Ái Nghĩa
Quá trình mực nước tại Giao Thủy
Chưa điều tiết PA 2-1 PA 2-2 PA 2-3 PA 2-4 PA 2-5
Quá trình mực nước tại Hội An
Trang 30NÂNG CAO NĂNG LỰC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO NGƯỜI DÂN VÙNG ĐẦM PHÁ TAM GIANG – CẦU HAI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Trương Thị Yến
Bộ môn Công tác xã hội, Khoa Lịch sử
Trường Đại học Khoa học Huế Email: yentruong7@gmail.com
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập
kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)
Việt Nam được cho là một trong số mười nước trên thế giới chịu tác động lớn nhất của thiên tai và BĐKH do có bờ biển dài, phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp và trình độ phát triển thấp của khu vực nông thôn Tác động tiêu cực của BĐKH trong thời gian qua
có thể thấy rõ ở những hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán và lụt lội; nắng nóng và rét đậm, rét hại; mưa lớn và không có mưa dài ngày, bão, trượt lở…Theo WHO, từ năm
1989 đến năm 2011, trung bình mỗi năm ở Việt Nam, có 567 người chết (kể cả mất tích)
do thảm họa thiên nhiên; thiệt hại khoảng 1,9 tỉ USD tổng sản phẩm quốc nội theo sức mua GDP Miền Trung và Tây Nguyên được cho là những vùng gánh chịu hậu quả nặng
nề nhất của BĐKH Trong đó, các khu vực đầm phá, ven biển chịu tác động mạnh với nhiều loại hình thiên tai như bão, lũ với cường độ mạnh; hạn hán kéo theo xâm nhập mặn; sạt lở bờ biển và cát bay; hoang mạc hóa… Với tất cả những yếu tố đó, “Việt Nam càng khẳng định là một đất nước dễ bị tổn thương dưới tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu” (Fortier, 2010)
Tam Giang – Cầu Hai
Nằm giữa bờ biển và vùng đất liền của tỉnh Thừa Thiên Huế là đầm phá Tam Giang – Cầu Hai với chiều dài 25 km, chiều rộng 0,5 – 4 km, diện tích mặt nước khoảng 52km2,
là hệ đầm phá lớn nhất Đông Nam Á Phá Tam Giang – Cầu Hai được xem như là nơi điều hòa khí hậu giữa hai vùng cát, điều tiết lũ lụt và làm giảm khả năng ngập úng cho vùng đồng bằng, duy trì nước ngầm vùng đồng bằng ven bờ và vùng cát ven biển, duy trì nguồn nước sinh hoạt cho người dân Tuy nhiên, trong vài thập niên trở lại đây, do tác động của biến đổi khí hậu nên đã và đang làm biến đổi chất lượng nước, suy thoái tài nguyên thủy sinh vật và giảm đáng kể tính đa dạng sinh học của hệ đầm phá này Hệ quả
là, cuộc sống của hàng ngàn hộ dân nơi đây đang bị đe dọa nghiêm trọng về sinh kế, đời sống bấp bênh và phụ thuộc phần lớn vào đầm phá (khai thác, chế biến thủy sản…) Điều này, càng làm gia tăng thêm tình trạng dễ bị tổn thương của cộng đồng vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
Trang 31GS.TS.Trần Thọ Đạt và Ths Vũ Thị Hoài Thu (2012) đã chỉ rõ khả năng bị tổn thương của sinh kế ven biển trước tác động của BĐKH theo bảng dưới đây:
Nước biển dâng - Mất đất canh tác do ngập lụt
- Đất nông nghiệp bị nhiễm mặn
- Độ mặn của nước thay đổi, ảnh hưởng đến sinh trưởng của các loại thủy sản
- Cơ sở hạ tầng hiện tại
- Không thể thực hiện được hoạt động trồng trọt trên vùng đất ngập lụt/nhiễm mặn
- Hoạt động đánh bắt và nuôi trồng bị ảnh hưởng
- Các hoạt động nông nghiệp, thủy sản, du lịch bị ảnh hưởng
- Tăng độ mặn của nguồn nước và nhiệt độ
- Hoạt động trồng trọt bị ảnh hưởng do thiếu nước tưới
- Hoạt động đánh bắt và nuôi trồng bị ảnh hưởng
- Sự di chuyển các loài thủy sản
- Ngọt hóa nguồn nước sử dụng trong nuôi trồng thủy sản
- Phá vỡ cơ sở hạ tầng hiện tại (đê điều, thủy lợi, đường xá)
- Hoạt động nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, du lịch bị ảnh hưởng
Bão, triều cường - Phá vỡ hệ thống đê của các đầm
nuôi trồng thủy sản
- Sự di chuyển các loài thủy sản
- Hoạt động nuôi trồng bị ảnh hưởng
- Hoạt động đánh bắt bị ảnh hưởng
Để tìm hiểu rõ thêm những nguy cơ tổn thương do biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cư vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, chúng tôi đã sử dụng phương pháp đánh giá
có sự tham gia của người dân Công cụ đánh giá bao gồm bảng hỏi; phiếu phỏng vấn; tổ chức thảo luận nhóm Với phương pháp này, người dân địa phương tự xác định những yếu tố dẫn đến tình trạng dễ gặp rủi ro, thiệt hại, mất mát khi có thảm họa xảy ra Đồng thời, chỉ ra những điểm yếu, điểm thiếu và điểm bất lợi của cộng đồng
Dưới đây là bảng tổng hợp những loại hình tổn thương mà người dân đã và đang phải đối mặt tại điểm nghiên cứu chúng tôi có được
Lụt, bão
Rét đậm, rét hại
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp Việc đánh bắt thủy sản gần bờ không có hiệu
1
Nguồn: Tổng hợp từ MONRE, DFID và UNDP, 2010; Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu, 2011
Trang 32Thủy triều lên xuống thất thường, nước dâng
đột ngột
Lượng mưa biến đổi
Cát lấn đất liền
Xâm thực, ngập mặn
Nguồn nước sinh hoạt bị nhiễm mặn và đục
Lạch phá Tam Giang chệch về hướng biển,
sâu hơn khoảng 15m
quả Nghề nuôi trồng thủy sản phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên
Chăn nuôi khó khăn vì nguồn giống không thể chủ động và nguồn thức ăn khan hiếm Nhiều dịch bệnh xuất hiện và phát triển Tăng tỷ lệ hộ nghèo và lao động di cư
Bảng 2: Tổn thương do biến đổi khí hậu của người dân vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
Bảng trên cho thấy, những tổn thương về mặt vật chất và tinh thần do BĐKH đã tác động tiêu cực tới đời sống của cộng đồng dân cư vùng đầm phá Tam Giang Để giải quyết vấn đề này, cần thiết phải có một chiến lược lâu dài cho việc ứng phó với BĐKH
2 Năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu của người dân vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
Biến đổi khí hậu là thách thức nghiêm trọng nhất đối với toàn nhân loại, ảnh hưởng sâu sắc và làm thay đổi toàn diện đời sống xã hội toàn cầu Là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, Việt Nam coi ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề có ý nghĩa sống còn (Chiến lược Quốc gia về biến đổi khí hậu, 2011) Để xây dựng các giải pháp ứng phó với BĐKH một cách hiệu quả, cần phải tính đến năng lực ứng phó của cộng đồng chịu ảnh hưởng trực tiếp của BĐKH
Cộng đồng dân cư vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai có cuộc sống chủ yếu lệ thuộc vào nông và ngư nghiệp, với trình độ học vấn và địa vị kinh tế thấp Trước những tác động tiêu cực của BĐKH tới cuộc sống sinh hoạt, người dân thường rất lúng túng trong việc tìm cách khắc phục Khi các nguồn sinh kế tại địa phương bị đe dọa bởi BĐKH như đất nông nghiệp bị thu hẹp, nguồn thủy sản cạn kiệt, ô nhiễm môi trường…họ thường chọn những giải pháp mang tính tạm thời để thích ứng Có thể thấy
rõ điều này qua bảng dưới đây:
Những biến động về sinh kế do ảnh
hưởng của BĐKH
Thay đổi để thích ứng với BĐKH
- Sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng
thủy sản không có năng suất
- Thu hoạch thủy sản sớm hơn để tránh tổn thất
- Bỏ hoang hoặc chuyển sang trồng dưa hấu ở một số ruộng phù hợp
- Dự trữ rơm rạ nhưng không biết cách bảo quản trong điều kiện thời tiết bất thường
- Chưa có cách xử lý triệt để
Bảng 2: Giải pháp thích ứng với BĐKH của người dân vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
Trang 33Nhận thức rõ những hạn chế của người dân trong việc thích ứng với BĐKH, trong những năm qua, chính quyền địa phương phối hợp với các tổ chức phi chính phủ, tổ chức dân sự xã hội đóng trên địa bàn và người dân thực hiện các dự án nhằm tăng cường năng lực cho cộng đồng ứng phó với BĐKH Hiệu quả từ hoạt động của các dự án có thể thấy được qua những vườn cây ngập mặn đã được nhân rộng ở một số địa phương của vùng đầm phá; các khu bảo vệ thủy sản được thành lập và đi vào hoạt động; một số chi hội nghề cá cơ sở được tập huấn và nâng cao năng lực về nghiệp vụ…Điều đó cho thấy năng lực ứng phó với BĐKH của người dân vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đang dần cải thiện Tuy nhiên, để người dân thật sự chủ động trong việc thích ứng với BĐKH, đòi hỏi phải có sự tập hợp các nguồn lực, kỹ năng, kiến thức, sức mạnh của cả cộng đồng
dân vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
Giảm thiểu những tác động tiêu cực của BĐKH là vấn đề quan trọng mà nhiều quốc gia đang hướng tới hiện nay Một trong những giải pháp đang được các nước trên thế giới
áp dụng đó là xây dựng mô hình cộng đồng thích ứng với BĐKH Đây không chỉ là một biện pháp hiệu quả mà còn thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội Vì cơ chế hoạt động và định hướng của phương pháp này phù hợp với điều kiện văn hóa của mỗi địa phương, chi phí không cao nên sẽ thúc đẩy khả năng thích nghi và góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng Để giải pháp phát huy hiệu quả tối đa, cần thiết phải nâng cao năng lực ứng phó với BĐKH cho cộng đồng
3.1 Nâng cao nhận thức và kỹ năng về biến đổi khí hậu
Một trong những nguyên nhân tác động đến hiện tượng BĐKH là do hoạt động của con người Những thói quen gây hại đến môi trường như khai thác cạn kiệt tài nguyên, xả rác bừa bãi, sử dụng hóa chất độc hại trong nuôi trồng…đã đẩy nhanh hơn quá trình biến đổi trạng thái khí hậu Điều này, xuất phát từ nhận thức chưa đúng đắn về bảo vệ môi trường của người dân Để thay đổi hành vi, trước hết cần thay đổi nhận thức Nâng cao nhận thức về BĐKH cho người dân là yếu tố quan trọng trong việc tăng cường năng lực ứng phó với BĐKH cho cộng đồng Đó cũng là một nhiệm vụ được nhấn mạnh trong Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH Các biện pháp có thể thực hiện đó
là tuyên truyền, giáo dục, hình thành ý thức chủ động ứng phó với BĐKH Giáo dục nâng cao nhận thức nên tập trung vào các nội dung cơ bản về BĐKH như: Sự nóng lên toàn cầu; xâm nhập mặn; nước biển dâng; ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động sinh kế của người dân; kỹ thuật nuôi trồng các giống mới phù hợp với điều kiện địa phương…thông qua các hình thức tập huấn, hội thảo, tọa đàm, nói chuyện, chia sẻ kinh nghiệm Hoạt động tuyên truyền nên có các tờ rơi, poster, ápphích… về những tác động do BĐKH tại các nơi công cộng, đông dân cư như chợ, ủy ban nhân dân xã, các trường học…Đưa kiến thức về BĐKH vào các chương trình phát thanh định kỳ của xã, thôn, xóm Bên cạnh đó, cần tăng cường thêm thông tin và khả năng dự báo về BĐKH cho người dân; diễn tập phòng chống lụt bão; giáo dục kỹ năng ứng phó với BĐKH như kỹ năng tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, kỹ năng bơi lội cho trẻ em, kỹ năng phòng chống thiên tai…
Nâng cao nhận thức và kỹ năng ứng phó với BĐKH nên tập trung vào tất cả các đối tượng người dân, nhất là với thế hệ trẻ
3.2 Chuyển đổi mô hình sinh kế
Trang 34Chuyển đổi mô hình sinh kế nhằm tạo thêm công ăn việc làm tại chỗ, tăng thu nhập cho người dân, hạn chế sự di cư lao động và giảm thiểu thành phần tham gia vào các nghề mang tính hủy diệt môi trường Đồng thời, đảm bảo tính ổn định về kinh tế, bền vững về môi trường và sử dụng lâu dài nguồn tài nguyên của cộng đồng Một số sinh kế
áp dụng phù hợp với vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai là mô hình nuôi sinh thái: Nuôi tôm sú kết hợp với cá kình và rong câu chỉ vàng; nuôi tôm sú kết hợp với cá rô phi;
mô hình nuôi cá lồng; mô hình chuôm…Các mô hình sinh kế này nhằm đa dạng hóa ngành nghề cho người dân và giảm áp lực khai thác xuống đầm phá
Tuy nhiên, không thể tập trung toàn bộ cộng đồng vào chung một mô hình sinh kế
mà nên đa dạng hóa các loại hình sinh kế khác nhau phù hợp với điều kiện của mỗi hộ gia đình Cần nhấn mạnh đến các sinh kế ngoài ngư như trồng nấm rơm, trồng rau xanh trên giàn cao, trồng các cây lâm nghiệp (dương, thông…) hay cây công nghiệp (điển hoa vàng, keo lá tràm…), rừng ngập mặn vừa tạo ra môi trường xanh tươi, vừa chống lại các yếu tố bất lợi của môi trường như chắn cát bay, chống nhiễm mặn, đồng thời, tạo thêm thu nhập cho người dân
Việc chuyển đổi mô hình sinh kế cho cộng đồng đầm phá cần phải thực hiện theo một lộ trình cụ thể, trong đó, đặt vai trò của cộng đồng làm trung tâm Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tính bền vững của các sinh kế là mức độ khả thi của mô hình, khả năng thực hiện của địa phương Bởi vậy, cần phải cung cấp đầy đủ thông tin, tập huấn, thí điểm thực hiện cho người dân Song song với điều đó là các hoạt động giám sát, đánh giá, rút kinh nghiệm của chính quyền địa phương/tổ chức thực hiện
3.3 Bổ sung chính sách an sinh xã hội cho các nhóm dễ bị tổn thương
Một số nhóm đối tượng dễ bị tổn thương dưới tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu bao gồm nhóm người nghèo, nhóm dân tộc thiểu số, nhóm người sinh sống phụ thuộc vào nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nhóm phụ nữ và trẻ em Những nhóm đối tượng này đều thiếu những nguồn lực để tự thích ứng với BĐKH như tài chính, năng lực, kiến thức
và kỹ năng…Chính những yếu tố này khiến họ phải đối mặt với những khó khăn và thách thức trong việc ứng phó với BĐKH so với những nhóm đối tượng khác trong xã hội Bởi vậy, việc xây dựng những chính sách an sinh xã hội cho nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trước vấn đề BĐKH là một nhu cầu cần thiết Hiện nay, hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam đã có thêm một số chính sách như bảo hiểm mùa màng, quỹ cộng đồng nhằm giảm thiểu rủi ro cho người dân khi đối mặt với các thiên tai nhưng chủ yếu là hình thức tự nguyện Do đó, để đảm bảo an sinh cho nhóm đối tượng dễ bị tổn thương dưới tác động của BĐKH, cần khuyến khích họ tham gia vào hệ thống bảo hiểm và hơn hết tăng cường các chương trình và chính sách trợ giúp xã hội dành cho nhóm đối tượng này Tóm lại, BĐKH là một vấn đề phức tạp, khó kiểm soát và không thể giải quyết trong thời gian ngắn do những biến cố và thay đổi khó dự đoán trong tương lai Vì thế, việc thích ứng với BĐKH là một giải pháp mang tính chiến lược nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Việc nâng cao năng lực ứng phó với BĐKH cho cộng đồng là việc làm cần thiết để tăng tính chủ động cho người dân trong việc thích ứng với BĐKH
Trang 35TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (được thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008)
2 Trần Thọ Đạt, Vũ Thị Hoài Thu, 2012, “Biến đổi khí hậu và sinh kế vùng biển”,
Diễn đàn Phát triển Việt Nam, Hà Nội
3 Võ Văn Phú, 2000, “Tổng quan về một số yếu tố môi trường và đa dạng sinh học đầm phá Tam Giang - Cầu Hai”, Hội thảo quốc gia về đầm phá Thừa Thiên Huế
4 Trương Quang Học (chủ biên), 2011, “Hỏi và đáp về biến đổi khí hậu”, Trung tâm
Phát triển nông thôn bền vững, Hà Nội
5 Fortier, Franois (2010), “Taking climate change: A procedural critique of Vietnam’s climate change strategy”, Asia Pacific Viewpoint
Trang 36MỘT SỐ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN HAI XÃ QUẢNG THÀNH VÀ HƯƠNG PHONG, TỈNH
THỪA THIÊN HUẾ
ThS Lê Quang Cảnh
Viện Tài nguyên và Môi trường -Đại học Huế
TÓM TẮT
Xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền và xã Hương Phong, huyện Hương Trà là hai
xã nằm ở phía Tây đầm phá Tam Giang- Cầu Hai thuộc loại nghèo nhất của tỉnh Thừa Thiên Huế Hai xã này có địa hình trũng thấp nên rất dễ bị tổn thương bởi những tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu và nước biển dâng Mặt khác, người dân ở đây sinh sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, đây là những lĩnh vực sản xuất phụ thuộc rất lớn vào sự thay đổi của điều kiện tự nhiên Báo cáo này tập trung phân tích những tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai đến hoạt động sản xuất, sức khỏe và vệ sinh môi trường ở hai xã Quảng Thành và Hương Phong để có cái nhìn rõ hơn về vấn đề biến đổi khí hậu ở đây
1 MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21 BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến tất cả các mặt của đời sống từ kinh
tế, xã hội sức khỏe và tài nguyên môi trường trên phạm vi toàn Thế giới Vấn đề BĐKH
đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện, sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu như lương thực, nước năng lượng, các vấn đề về an toàn xã hội, văn hóa, ngoại giao và thương mại
Xã Quảng Thành huyện Quảng Điền và xã Hương Phong huyện Hương Trà nằm ven bờ phía Tây đầm phá Tam Giang- Cầu Hai là hai trong số những xã có địa hình trũng, thấp thường xuyên bị ngập lũ của tỉnh Thừa Thiên Huế Trận lũ lịch sử năm 1999
và cơn bão số 9 năm 2009 đã biến hai xã này thành những ốc đảo, hệ thống giao thông bị
tê liệt, việc cung ứng lương thực thực phẩm cho dân cư hai xã này gặp rất nhiều khó khăn Đặc biệt trong những năm gần đây biến đổi khí hậu đã và đang xảy ra rất mạnh mẽ
và biểu hiện bằng các hiện tượng thời tiết bất thường như: mực nước biển dâng cao, tần xuất các cơn bão và áp thấp nhiệt đới dày hơn, lũ lụt và hạn hạn xảy ra thường xuyên điều này đã tác động lớn đến môi trường và đời sống của người dân hai xã này
Quảng Thành và Hương Phong là 2 xã thuần nông với gần 80% hộ gia đình sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản (NTTS) với tỷ lệ hộ nghèo được xếp vào loại cao nhất tỉnh Vì vậy cộng đồng địa phương rất dễ bị tổn thương bởi những tác động trực tiếp và gián tiếp của BĐKH lên sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp Nếu không có các biện pháp thích ứng hiệu quả, trong tương lai không xa hai xã này sẽ gánh chịu những hậu quả nặng nề do tình trạng BĐKH và thiên tai gia tăng
Báo cáo tham luận này này đã bước đầu nhận diện những tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai đến hoạt động sản xuất, sức khỏe và vệ sinh môi trường ở hai xã Quảng Thành và Hương Phong, từ đó có cái nhìn rõ hơn về tình hình biến đổi khí hậu ở đây
Trang 372 NỘI DUNG
2.1 Giới thiệu về hai xã Quảng Thành và Hương Phong
Quảng Thành là xã đồng bằng nằm về phía Đông Nam của huyện Quảng Điền, có tổng diện tích tự nhiên 1.082,00 ha [3], chiếm 6,63% diện tích toàn huyện, với dân số tự nhiên 11.411 người gồm 2.477 hộ thuộc 9 thôn Ranh giới hành chính được xác định như sau: Phía Bắc giáp với xã Quảng An; Phía Nam giáp với xã Hương Vinh thị xã Hương Trà; Phía Đông giáp với xã Hương Phong và phía Tây giáp với xã Quảng Thọ
Hương Phong là xã cực Đông của thị xã Hương Trà có tổng diện tích tự nhiên khoảng 1.574 ha Phía Bắc giáp với xã Hải Dương, phía Nam giáp với xã Hương Vinh, phía Tây giáp với xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, phía Đông giáp với thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang
Khu vực hai xã Quảng Thành và Hương Phong nằm trong tiểu vùng khí hậu đồng bằng, gò đồi thấp với nhiệt độ trung bình 24- 25,20C, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối trên
410C,nhiệt độ thấp nhất có thể xuống dưới 100C, tổng lượng mưa trung bình thuộc loại thấp nhất tỉnh 2.600- 2.800 mm
Hai xã này nằm ở vùng thấp trũng nhất của tỉnh Thừa Thiên Huế Người dân địa phương thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi các loại hình thiên tai như: bão lớn, lũ lụt kéo dài, hạn hán và xâm nhập mặn Trong những năm gần đây các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng cả về cường độ lẫn tần suất do sự ảnh hưởng của BĐKH toàn cầu Vì thế người dân ở đây dễ bị tổn thương hơn bởi những tác động trực tiếp và gián tiếp của BĐKH Các tác động này ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
và đó chính là sinh kế chính của người dân ở hai xã này
2.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến một số hoạt động sản xuất và đời sống người dân hai xã Quảng Thành và Hương Phong
2.2.1 Đối với ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, BĐKH tác động đến sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực rất lớn, đó là biến động về diện tích đất canh tác do
5 2.5 kilometers 0
TT Tø H¹
H-¬ng Xu©n H-¬ng Ch÷
H-¬ng V¨n
H-¬ng B×nh H-¬ng V©n
B×nh §iÒn Hång TiÕn
huyÖn a l-íi
H-¬ng Thuû Nam §«ng Phó Léc Phó Vang Qu¶ng §iÒn Phong §iÒn H-¬ng Trµ
TP HuÕ
A L-íi
Trang 38nước biển dâng; Biến động năng suất, sản lượng cây trồng và vật nuôi; Thay đổi cơ cấu, thời vụ cây trồng; Biến đổi nhu cầu nước; Quy hoạch và xây dựng hệ thống thủy lợi Nông nghiệp là một trong những lĩnh vực chịu tác động nặng nề từ các rủi ro do BĐKH gây ra, đặc biệt là ở xã Quảng Thành, do nguồn thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập của người dân ở đây Các loại hình thiên tai như lũ, lụt và bão không chỉ tàn phá mùa màng, mà còn gây hư hỏng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như: cơ sở hạ tầng thủy lợi, kho chứa vật tư nông nghiệp và giao thông đi lại Theo báo cáo của chính quyền địa phương, cơn bão số 9 năm
2009 đã gây hư hại hoàn toàn cho 65ha rau và làm chết hơn 500 con gà, vịt của người dân xã Quảng Thành Những năm gần đây, lũ ở Quảng Thành có xu hướng đến sớm và kết thúc muộn hơn bình thường, các đợt lũ tiểu mãn xảy ra từ tháng 5- 6 mọi năm gây ngập, lũ nghiêm trọng cho các thôn ven đầm phá Tam Giang- Cầu Hai [3,7] Trong thời gian diễn ra lũ, lụt, người dân không thể canh tác làm cho đời sống của họ vốn đã khó khăn nay lại càng khó khăn hơn Những hiện tượng thời tiết bất thường cũng ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp của người dân Đợt rét đậm, rét hại kéo dài gần 30 ngày xảy ra trong cuối năm 2008 đầu năm 2009 đã làm thiệt hại 1.200 ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp, 500 con gia súc, gia cầm bị chết
Xã Hương Phong với hơn một nửa dân số sinh sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 5 triệu đồng/người/năm (2008) [7] Sản xuất nông nghiệp ở đây rất manh mún, trình độ khoa học kỹ thuật chưa cao và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết Do đó, nông nghiệp sẽ chịu tác động nặng nhất và trực tiếp nhất bởi những rủi ro do BĐKH gây ra
Trong những năm gần đây, thiên tai xuất hiện ngày càng nhiều hơn, thất thường hơn
và cường độ mạnh hơn, gây ra những thiệt hại lớn cho ngành nông nghiệp, làm giảm sản lượng lúa và các loại hoa màu khác
- Lũ, lụt xuất hiện không theo một quy luật nào, điều đó ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp theo thời vụ Vụ đông- xuân 2009, trận mưa lớn kéo dài gây ngập úng và thiệt hại đến 90% sản lượng lúa của toàn xã
- Rét đậm, rét hại xảy ra cũng ảnh hưởng lớn đến diện tích lúa và hoa màu ở xã Hương Phong, đặc biệt trong vụ sản xuất đông- xuân Đợt rét đậm, rét hại xảy ra cuối năm
2008, đầu năm 2009 đã làm chết hơn 3,6 ha lúa mới xạ của người Mặt khác do rét kéo dài nên một số trâu, bò đã bị chết rét dẫn đến cảnh nợ nần ở một bộ phận người dân
- Xã Hương Phong có địa hình thấp trũng lại nằm ở hạ nguồn các con sông lớn và tiếp giáp với hệ đầm phá Tam Giang- Cầu Hai nên thương xuyên bị ngập úng khi nước sông và nước biển dâng cao Diện tích nông nghiệp bị thu hẹp, đồng nghĩa với sản lượng lương thực suy giảm ảnh hưởng đến vấn đề an ninh lương thực và đời sống của người nông dân từ lâu đã gắn liền với đồng ruộng
Như vậy BĐKH có nguy cơ làm tăng tần suất, cường độ của các loại thiên tai và thời tiết nguy hiểm, ảnh hưởng lớn đến năng suất và sản lượng cây trồng BĐKH cũng góp phần quan trọng làm thay đổi tập quán canh tác, cơ cấu cây trồng đã tồn tại từ lâu đời của người dân địa phương
2.2.2 Đối với hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản
Thu nhập của cộng đồng người dân khu vực đầm phá và ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và xã Quảng Thành nói riêng chủ yếu từ hoạt động khai thác và nuôi trồng
Trang 39thủy sản (NTTS) Thời tiết diễn biến thất thường, ô nhiễm môi trường do thiên tai là những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp tác động đến hoạt động đánh bắt và NTTS ở xã Quảng Thành [6] Ở đây người dân không có điều kiện để trang bị những đội thuyền đánh bắt cá xa bờ, mà chỉ có những loại thuyền nhỏ dùng để đánh bắt cá trên sông và đầm phá Vì vậy, thu nhập của người dân chủ yếu từ hoạt động NTTS Do vậy, thiên tai xảy ra hàng năm làm cho công cụ sản xuất bị hư hỏng, hoạt động sản xuất gặp nhiều khó khăn Theo kết quả tính toán đối với kịch bản thấp (B1), mực nước biển dâng 65cm, thì diện tích ngập ở Quảng Thành sẽ là 60,71 ha [1] Trong đó diện tích ao NTTS là 54,06 ha [1] BĐKH không chỉ ảnh hưởng đến diện tích các ao NTTS mà còn đến sản lượng của chúng Lũ, lụt xảy ra không theo quy luật, cường độ và tần suất ngày càng tăng lên đã tác động đến kế hoạch thả giống của người dân, nhiều hộ gia đình còn mất trắng do lũ cao tràn qua bờ ao nuôi Nhiệt độ nước trong ao nuôi thường tăng quá nhanh quá ngưỡng chịu đựng của nhiều loài sinh vật, trong đó có các loài nuôi Nhiệt độ tăng cũng làm giảm lượng oxy hòa tan ở một số thời điểm làm chết hoặc giảm quá trình sinh trưởng của một
số loài thủy sản như tôm, cá Thay đổi nhiệt độ cũng tạo điều kiện cho việc phát sinh dịch bệnh cho các loài nuôi Nhiệt độ nước tăng và môi trường nước xấu đi cũng đã điều kiện thuận lợi để phát triển của một số loài sinh vật gây bệnh cho các loại tôm Điều này
đã được ghi nhận ở nhiều địa phương, trong đó có xã Quảng Thành
So với xã Quảng Thành, thu nhập từ hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản ở xã Hương Phong cao hơn và chiếm tỷ lệ lớn hơn trong tổng thu nhập của người nông dân Tuy nhiên, trong những năm gần đây hoạt động nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở đây gặp nhiều khó khăn và bất lợi do thời tiết, môi trường ngày càng bị ô nhiễm, dịch bệnh xảy ra nhiều hơn các đợt rét đậm, rét hại kéo dài và lũ, lụt xảy ra khó dự đoán hơn đã ảnh hưởng đến kế hoạch thả con giống của bà con nông dân, nước biển dâng, xâm nhập mặn ảnh hưởng xấu đến các ao nuôi
Hương Phong là xã có địa hình trũng thấp nhất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế với
độ cao trung bình <4m, đặc biệt khu vực cánh đồng 66 mẫu có độ cao trung bình <1,8m Với đặc điểm NTTS của người dân ở đây như: làm ao, lồng, bè, khoanh nuôi bằng ô lưới đều chủ yếu diễn ra ở khu vực ven đầm phá, do đó dễ bị chi phối và ảnh hưởng khi xảy
ra thiên tai, lũ, lụt Mặc dù, xã Hương Phong có những điều kiện hết sức thuận lợi để cho hoạt động NTTS như: có diện tích ven phá Tam Giang lớn, người dân có kinh nghiệm trọng hoạt động NTTS Tuy nhiên cũng như ở xã Quảng Thành, trong những năm trở lại đây lũ lụt xảy ra thường xuyên, điều kiện thời tiết thay đổi, tình hình dịch bệnh tràn lan
đã ảnh hưởng mạnh đến hoạt động NTTS ở đây Nhiều hộ nuôi tôm ở đây sau một thời gian có thu nhập khá nay phải đối mặt với cảnh nợ ngân hàng, nguy cơ tái nghèo đang hiển hiện trước mắt
Mực nước dâng cao làm cho chế độ thủy lý, thủy hóa và thủy sinh trong các ao, đầm NTTS xấu đi, có thể làm cho các quần xã sinh vật hiện hữu thay đổi cấu trúc và thành phần Theo một số kết quả nghiên cứu được công bố, sản lượng một số loài thủy sản kinh
tế đã giảm 1/3 so với trước đây Những năm gần đây chế độ mưa thay đổi trong các mùa khác nhau đã làm độ mặn của hệ thống đầm phá Tam Giang- Cầu Hai thay đổi nhanh chóng Vào mùa mưa thường xảy ra quá trình ngọt hóa, ngược lại vào mùa khô lại xảy ra quá trình mặn hóa Độ mặn không còn phù hợp đối với một số đối tượng nuôi, gây ảnh hưởng cho hoạt động đánh bắt và NTTS đã ở đầm phá Tam Giang- Cầu Hai
2.2.3 Tác động đến các hoạt động sản xuất khác
Trang 40Trên địa bàn hai xã Quảng Thành và Hương Phong vẫn duy trì một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như: mộc mỹ nghệ, nghề rèn, may mặc, sản xuất trầm hương, đan nón và một số dịch vụ vận chuyển phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Các ngành nghề này chủ là những nghề phụ tuy nhiên cũng đã thu hút một lực lượng lao động nhàn rỗi ở địa phương, góp phần cải thiện thu nhập của các hộ dân Vào mùa mưa lũ, các nghề này là nguồn thu nhập chính của các hộ dân ở 2 xã này Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây các ngành nghề này đang đối mặt với những khó khăn lớn, do khó khăn trong việc tìm đầu ra cho các sản phẩm, thiếu nguồn lao động tại chỗ do một lượng lao động trẻ đi tìm việc ở các địa phương khác Tuy nhiên, so với hoạt động sản xuất nông nghiệp và NTTS, tác động của biến BĐKH đến các ngành sản xuất này là không đáng kể và đây được xem là một trong những phương thức sinh kế phù hợp với các cộng đồng thường xuyên bị đe dọa bởi thiên tai
2.2.4 Tác động đến sức khỏe, nhà cửa và vệ sinh môi trường
1) Sức khỏe và tài sản
Tiến hành phỏng vấn trực tiếp người dân 2 xã Quảng Thành và Hương Phỏng, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng: hầu hết những người được hỏi đều khẳng định thiên tai, BĐKH đã và đang tác động đến sức và tài sản của họ Vào mùa lũ chính vụ thường bắt đầu vào cuối tháng 9 và kết thúc cuối tháng 12, thì phần lớn 2 xã này đều bị ngập sâu, nước lũ làm ngập các đường giao thông trong xã và tràn vào nhà dân Cơn lũ lịch sử năm
1999, đã làm ngập đến 1,5m, đặc biệt có những nơi ngập sâu đến 2m Cơn lũ này đã gây
ra những thiệt hại vô cùng to lớn đối với người dân 2 xã Quảng Thành và Hương Phong Theo thống kê từ chính quyền địa phương, đã có hàng chục người chết, hàng trăm héc ta lúa và hoa màu bị phá hoại, nhiều nhà cửa và tài sản bị nước lũ cuốn trôi Sau lũ lụt nhiều dịch bệnh xuất hiện đặc biệt bệnh tiêu chảy, thương hàn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân trong thời gian dài sau khi cơn lũ đi qua Bên cạnh lũ, lụt bão cũng gây ra những thiệt hại về người và tài sản Những cơn bão mạnh đã xảy ra ở địa phương như: bão năm 1985, 1993 và gần nhất là cơn bão số 9 năm 2008 đã làm tốc mái nhiều nhà cửa, trường học Một vài hộ gia đình kể rằng khi bão lớn hoặc lốc xảy ra họ phải tìm đến những nơi trú ẩn an toàn hơn thay vì ngôi nhà của họ rất dễ bị sập khi gặp phải gió mạnh (Đa số các nhà này không có chức năng chống bão) Những đợt thiên tai xảy ra thường xuyên, cùng với sự thất thường của hệ thống thời tiết đã ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của người dân như gây ra những thương tích và làm phát sinh một số loại dịch bệnh mới Nước lụt chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh sẽ là nguồn lan truyền dịch bệnh, cùng với đó là
số người chết và bị thương tăng lên do các tai nạn liên quan đến nước, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ Nước lụt dâng cao còn mang theo chất thải, rác, bùn, bèo lục bình và những chất bẩn khác vào nhà, làm nhiễm bẩn các vật dụng, do đó tăng nguy cơ gây bệnh cho người
và vật nuôi
2) Vệ sinh môi trường nông thôn
Xã Quảng Thành và Hương Phong là hai trong những xã có địa hình thấp trũng nhất của tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm ở hạ lưu sông Hương và sông Bồ nên khi xảy ra lũ lụt các chất ô nhiễm từ thượng lưu của hai con sông nay dồn về vùng hạ lưu gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân [2,3] Những năm gần đây, ở địa phương liên cứu liên tục xảy ra các lũ, lụt lớn làm cho mực nước sông dâng cao mang theo nhiều loại rác thải như: xác chết động thực vật, bao
bì ny lông…các chất bẩn này theo dòng nước lụt xâm nhập vào các ao nuôi thủy sản,