o Các chế độ một lần: + Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu theo Điều 54 Luật BHXH; + BHXH một lần theo khoản 1 Điều 55 Luật BHXH; + Trợ cấp tuất một lần trong các trường hợp được quy định khi
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỒNG HUY ÁNH
ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC CHI TRẢ LƯƠNG HƯU BẢO HIỂM XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thị Thanh Bình
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn được tập hợp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Kạn, Bưu điện tỉnh Bắc Kạn và chưa từng được ai nghiên cứu và công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
Người cam đoan
Đồng Huy Ánh
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài "Đổi mới phương thức chi trả lương hưu
Bảo Hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn” tôi đã nhận được sự quan tâm giúp
đỡ của các thầy, cô giáo Khoa đào tạo sau đại học, Trường Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên; Ban Giám đốc, cán bộ cơ quan BHXH tỉnh Bắc Kạn, Bưu điện tỉnh Bắc Kạn, Cục Thống kê Bắc Cạn, Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Kạn và các doanh nghiệp Đặc biệt là sự tận tình hướng dẫn của PGS.TS Phạm Thị Thanh Bình; sự ủng hộ, động viên của gia đình và bè bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các quý cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Sự giúp đỡ này đã cổ vũ và giúp tôi nhận thức, làm sáng tỏ thêm cả lý luận và thực tiễn về lĩnh vực mà luận văn nghiên cứu
Luận văn là quá trình nghiên cứu công phu, sự làm việc khoa học và nghiêm túc của bản thân, song do khả năng và trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định
Tôi mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và những độc giả quan tâm đến đề tài này
Tác giả
Đồng Huy Ánh
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4
5 Những đóng góp của đề tài 4
6 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CHI TRẢ BẢO HIỂM XÃ HỘI 5
1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của BHXH 5
1.1.1 Khái niệm và bản chất của BHXH 5
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội 8
1.2 Chi trả bảo hiểm xã hội 9
1.2.1 Một số vấn đề về quản lí chi BHXH 9
1.2.2 Lý luận chung về chế độ trợ cấp hưu trí 14
1.2.3 Đặc điểm hoạt động triển khai và công tác chi trả chế độ trợ cấp hưu trí ở Việt Nam 24
1.3 Thống kê về các chế độ trợ cấp hưu trí ở một số nước trên thế giới 26
1.3.1 Về điều kiện tuổi đời 26
1.3.2 Về xác định số năm đóng góp chế độ trợ cấp hưu trí 26
1.3.3 Về mức trợ cấp hưu trí 27
1.3.4 Về mức đóng góp 28
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
1.4 Một số kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện chế độ hưu trí ở một số nước
trên thế giới 28
1.4.1 Chế độ hưu trí của Nhật Bản 28
1.4.2 Chế độ hưu trí của Đức 30
1.4.3 Chế độ hưu trí ở Mỹ 31
1.4.4 Chế độ hưu trí ở Thụy Điển 32
1.4.5 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 33
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài 35
35
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 35
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 36
2.2.3 Phương pháp phân tích 36
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 38
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHI TRẢ LƯƠNG HƯU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN 41
3.1 Một vài nét về BHXH tỉnh Bắc Kạn 41
3.2 Thực trạng chi trả lương hưu và chế độ BHXH trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 42
3.2.1 Tình hình chi trả lương hưu và chế độ BHXH của BHXH tỉnh Bắc Kạn hiện nay 42
3.2.2 Công tác thí điểm chi trả lương hưu qua bưu điện tại BHXH tỉnh Bắc Kạn 55
3.3 Đánh giá thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân ảnh hưởng 63
3.3.1 Đặc điểm tình hình 63
3.3.2 Đánh giá 64
3.3.3 Nguyên nhân thành công 66
3.3.4 Hạn chế, tồn tại 67
Chương 4: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CÔNG TÁC CHI TRẢ LƯƠNG HƯU QUA BƯU ĐIỆN TẠI BHXH TỈNH BẮC KẠN 69
4.1 Phương hướng, mục tiêu thực hiện chi trả lương hưu qua bưu điện tại BHXH tỉnh Bắc Kạn 69
4.2 Một số mục tiêu chi trả lương hưu qua bưu điện đến năm 2020 71
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
4.3 Một số giải pháp thực hiện chi trả lương hưu qua bưu điện tại BHXH tỉnh
Bắc Kạn 72
4.3.1 Tổ chức mạng lưới chi trả 72
4.3.2 Tổ chức đảm bảo an toàn chi trả 73
4.3.3 Xây dựng qui trình chi trả và quản lý đối tượng 74
4.3.4 Giải pháp về phương án chi phí cung cấp dịch vụ 80
4.3.5 Xây dựng mối quan hệ giữa các bên 80
4.3.6 Phối hợp kiểm tra, giám sát 83
4.3.7 Các phương thức thanh quyết toán 84
4.4 Đề xuất, kiến nghị 84
4.4.1 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 85 4.4.2 Kiến nghị với Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 90
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH An sinh xã hội
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHXH huyện Bảo hiểm xã hội huyện, thị xã
ILO Tổ chức Lao động quốc tế
NSDLĐ Người sử dụng lao động
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Điều kiện độ tuổi và thời gian đóng BHXH quy định tại một số nước để
được hưởng trợ cấp hưu trí áp dụng với các ngành nghề thông thường 21
Bảng 1.2: Tuổi nghỉ hưu của một số nước trên thế giới 26
Bảng 3.1: Biểu tổng hợp khảo sát hiện trạng chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng 48
Bảng 3.2: Tỷ lệ phí dịch vụ được hưởng từ công tác chi trả lương hưu 50
Bảng 3.3: Biểu tổng hợp chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH 61
Bảng 3.4: Tổng hợp kết quả kiểm phiếu thăm dò ý kiến khách hàng 65
Bảng 4.1: Tổ chức mạng lưới chi trả 72
Bảng 4.2: Tổ chức nhân lực trong công tác chi trả lương hưu 73
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy BHXH tỉnh Bắc Kạn 42
Sơ đồ 3.2: Quy trình luân chuyển tiền và thành quyết toán 51
Sơ đồ 3.3: Qui trình chi trả bằng tiền mặt tại điểm chi trả 51
Sơ đồ 3.4: Qui trình thủ tục và điều kiện thực hiện chi trả 54
Sơ đồ 3.5: Mô hình tổ chức dịch vụ 58
Sơ đồ 4.1: Quy trình chi trả tại tổ, bàn chi trả 75
Sơ đồ 4.2: Quy trình chi trả tại địa chỉ người hưởng 76
Sơ đồ 4.3: Qui trình nghiệp vụ quản lý các đối tượng tại các điểm chi trả 77
Sơ đồ 4.4: Qui trình trả lời, giải đáp những thắc liên quan đến các đối tượng hưởng chế độ 78
Sơ đồ 4.5: Qui trình phối hợp kiểm tra, giám sát giữa BHXH và Bưu điện 83
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác BHXH và xác định đây là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất nhằm đảm bảo thu nhập, đời sống cho hàng triệu người lao động cùng các đối tượng hưởng các chế độ BHXH, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an sinh xã hội, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nền kinh tế nước ta đang chuyển mạnh sang cơ chế thị trường, các thành phần kinh tế đan xen lẫn nhau, các quan hệ lao động cũng trở nên đa dạng và phức tạp hơn Do vậy, chính sách BHXH không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Để chính sách BHXH đi vào đời sống
xã hội, ổn định và phát triển, đòi hỏi phải có một nguồn tài chính đủ lớn và được quản
lý có hiệu quả để đảm bảo cân đối thu - chi, bảo toàn và tăng trưởng
Một trong những chính sách quan trọng nhất trong Luật Bảo hiểm xã hội là chính sách hưu trí Hiện nay, do có nhiều chính sách khác nhau trong Luật Bảo hiểm xã hội đang thay đổi là chính sách hưu trí, trong đó vấn đề chi trả lương hưu
có nhiều bất cập và thiếu thống nhất Việc sửa đổi, đổi mới lại các chính sách chi trả lương hưu, xem hưu trí là trụ cột an sinh xã hội để cho người lao động đến một độ tuổi nào đó không còn lao động được nữa vẫn nhận được tiền lương hưu kịp thời, đẩy đủ và nhanh nhất để ổn định cuộc sống là vấn đề cấp thiết
Từ năm 2008 đến nay, Chính phủ đã thực hiện 5 lần điều chỉnh lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội, theo đó lương hưu của người nghỉ hưu đã được điều chỉnh tăng thêm 85% so với mức lương hưu (12/2007) nhằm đảm bảo đời sống của người nghỉ hưu Tuy nhiên, do chỉ số giá tiêu dùng tăng cao ảnh hưởng lớn đến đời sống của người về hưu Để giảm bớt khó khăn cho người về hưu có mức lương hưu thấp, bên cạnh việc điều chỉnh tăng thêm 13,7% mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ đã xem xét, thay đổi phương thức trả lương hưu đối với cán bộ hưu trí phù
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
hợp hơn, khắc phục những nhược điểm (trả chậm, đi lại nhiều mất thời gian và công sức của người về hưu vốn đã già cả, đi lại khó khăn…), phương án trả chi trả lương hưu qua thẻ ATM, phương án chi trả lương hưu qua hệ thống bưu điện đã được áp dụng Tuy nhiên, do phương thức chi trả lương hưu qua thẻ ATM chưa quen với người cao tuổi, thủ tục làm thẻ và sử dụng thẻ khá phức tạp với người cao tuổi, nhiều cụ không biết sử dụng thẻ, nhiều khi cây ATM tiền hết, không rút được tiền
và hệ thống ATM chưa được lắp đặt rộng khắp gây khó khăn cho người cao tuổi khi phải đi xa mới rút được tiền Vì vậy, phương thức chi trả lương hưu qua ATM chưa được phần lớn người cao tuổi “mặn mà” đón nhận
Để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các đối tượng hưu trí khi đi lĩnh lương hưu, cơ quan BHXH buộc phải nghiên cứu hình thức chi trả đảm bảo thuận lợi nhất,
để mỗi khi đến kỳ lĩnh lương những người đã nghỉ hưu vẫn cảm nhận được sự trân trọng của xã hội đối với những đóng góp của mình và tìm hiểu nhu cầu, tâm tư nguyện vọng của người dân để lựa chọn hình thức chi trả hợp lý nhất Vấn đề đổi mới phương thức chi trả lương hưu nhận được nhiều sự quan tâm của không chỉ người cao tuổi trong xã hội, mà còn nhận được sự chú ý của nhiều nhà lãnh đạo
cũng như giới chuyên gia kinh tế Nghiên cứu đề tài “Đổi mới phương thức chi trả
lương hưu Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn” là rất cấp thiết và đó là lý
do để em chọn làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
* Ở trong nước
Vấn đề chi trả lương hưu nhận được sự quan tâm không chỉ của người cao tuổi trong nước, mà còn nhận được sự chú ý của nhiều nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia kinh tế, như Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh - Phó trưởng ban các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam, Tổng giám đốc BHXH Việt Nam - ông Lê Bạch Đằng Tác giả Phạm Thị Hải Chuyền với bài viết “Xung quanh vấn đề điều chỉnh lương hưu” đăng trên Báo Bình Thuận (2/2012) đã đề cập đến mức tăng lương hưu cũng như cách chi trả lương hưu nhằm làm thế nào để lương hưu đến người cao tuổi một cách nhanh nhất và chính xác nhất với mục đích ổn định cuộc sống của gia đình và bản thân người nhận được lương Trong năm 2012, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Nam và Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam (Vietnam Post) sẽ lựa chọn khoảng 10 địa phương để tiếp tục triển khai thực hiện thí điểm chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH qua hệ thống các điểm phục vụ của Vietnam Post Vì vậy, vấn để càng nhận được sự quan tâm của nhiều ban, ngành trong nước Tác giả Đức Nam với bài viết “ Thí điểm chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH qua bưu điện” đăng trên T/C Pháp Luật Việt Nam (10/2011) Trong bài viết, tác giả đề cập Bắc Kạn là một trong 5 địa phương (cùng với Lâm Đồng, Đắk Nông, Phú Yên và Quảng Trị) được áp dụng thí điểm đầu tiên trong năm 2011 với phương thức chi trả lương mới qua hệ thống bưu điện Trên cơ sở đó, đánh giá tình hình triển khai thực hiện thí điểm hợp đồng quản
lý, chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH qua hệ thống bưu điện của tỉnh Bắc Kạn, báo cáo Thủ tướng Chính phủ Tác giả Trần Anh Tuấn, với bài viết “Bưu điện tỉnh - Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Kạn: Ký kết hợp đồng chi trả lương hưu và trợ cấp Bảo
hiểm xã hội hàng tháng” đăng trong T/C Công đoàn bưu điện Việt Nam (8/2011)
Trong bài viết, tác giả đề cập phương thức ký kết hợp đồng chi trả lương hưu và trợ cấp Bảo hiểm xã hội hàng tháng qua hệ thống Bưu điện giữa Bưu điện tỉnh và Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Kạn
* Ở nước ngoài
Vấn đề chi trả lương hưu qua hệ thống ATM đã được một số chuyên gia nước ngoài đề cập Tuy nhiên, hầu như chưa có chuyên gia nước ngoài nào đề cập đến chi trả lương hưu qua hệ thống bưu điện Nguyên nhân có lẽ do đây là đề tài rất mới, chỉ được áp dụng lần đầu tiên tại 5 tỉnh trong năm 2011 (trong đó có tỉnh Bắc Kạn) Dự kiến, năm 2012 sẽ áp dụng đồng loạt tại 10 tỉnh Chính vì vậy, đề tài luận văn của em không chỉ mới mà hy vọng sẽ làm nổi bật một cách toàn diện phương thức đổi mới cách chi trả lương hưu trí qua hệ thống bưu điện tỉnh, từ đó đánh giá những lợi ích của sự đổi mới này
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục tiêu chung
Đề tài tập trung phân tích thực trạng chi trả lương hưu trong Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Kạn, từ đó đề xuất phương thức chi trả lương hưu mới (qua hệ thống Bưu điện tỉnh) và đánh giá những lợi ích của phương thức chi trả lương hưu mới này
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vẫn đề lý luận và thực tiễn về BHXH và chi BHXH, trường hợp chi trả lương hưu qua bưu điện
- Đánh giá thực trạng chi BHXH trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn thời gian qua
- Đánh giá lợi ích của phương thức chi trả lương hưu mới (trả qua hệ thông bưu điện) và đề xuất các giải pháp chi trả lương hưu mới
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
hệ thống Bưu điện tỉnh Bắc Kạn
5 Những đóng góp của đề tài: Luận văn có những đóng góp cơ bản sau:
Thứ nhất: Hệ thống hoá một số vấn đề về khái niệm BHXH và bản chất của
BHXH trong phát triển kinh tế Luận văn tổng quan cách thức chung của chi trả lương hưu trong BHXH
Thứ hai: Phân tích một cách tổng quát thực trạng chi trả lương hưu tại tỉnh
Bắc Kạn trước đổi mới và cách thức chi trả lương hưu qua hệ thống Bưu điện tỉnh
Thứ ba: Đánh giá tổng quan những lợi ích của phương hướng đổi mới cách
thức chi trả lương hưu qua hệ thống Bưu điện tỉnh
6 Kết cấu của luận văn
: Chương I: Một số vấn đề cơ bản về BHXH và chi BHXH
Chương II: Phương pháp nghiên cứu
Chương III: Thực trạng công tác chi trả lương hưu trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Chương IV: giải pháp thực hiện công tác chi trả lương hưu qua bưu điện tại BHXH tỉnh Bắc Kạn
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
VÀ CHI TRẢ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của BHXH
1.1.1 Khái niệm và bản chất của BHXH
1.1.1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội
Trong hoạt động kinh tế - xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển được trước hết phải ăn, mặc, ở và đi lại… Để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người
ta phải lao động để làm ra những sản phẩm cần thiết Như vậy, việc thoả mãn nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ Nhưng trong thực tế, con người không chỉ lúc nào cũng gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho con người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác Chẳng hạn, bất ngờ bị
ốm đau hoặc bị tai nạn trong lao động, mất việc làm hay khi tuổi già đến, khả năng lao động hay khả năng tự phục vụ bị suy giảm… Khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới như: cần được khám và điều trị khi ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôi dưỡng… Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phải tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong một nội bộ cộng đồng; đi vay, đi mượn hoặc dựa vào sự cứu trợ của nhà nước… Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động tự phát và không chắc chắn
Từ thế kỷ 19 đến nay, nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê nhân công trở nên phổ biến, mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc chủ phải thực hiện cam kết Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn Sự can thiệp này một mặt làm tăng vai trò của nhà nước, mặt khác buộc các giới chủ và giới thợ phải đóng một khoản tiền nhất định
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê Số tiền đóng góp của các chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia Quỹ này còn được bổ sung từ ngân sách nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi Chính những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng, khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên được thế giới quan niệm là BHXH đối với người lao động Như vậy, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH Hay nói cách khác: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm cho yếu tố lao động của quá trình sản xuất” nhằm duy trì quá trình hoạt động sản xuất xã hội được diễn ra thường xuyên, liên tục
Bảo hiểm xã hội ra đời và lan rộng rất nhanh Quá trình phát triển của BHXH trải qua các mốc sau:
- Năm 1838 chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ra đời lần đầu tiên ở nước Phổ (Cộng hòa liên bang Đức)
- Năm 1850 và năm 1861 các quỹ ốm đau được thành lập ở Đức, Bỉ
- Năm 1883, Đức ban hành đạo luật đầu tiên về BHXH
- Năm 1894 và 1896 nước Bỉ và Hà Lan đã được ban hành Bộ luật đầu tiên
về các tổ chức tương tế
- Ở Mỹ, đạo luật đầu tiên về ASXH (trong đó BHXH là hạt nhân) được ban hành vào năm 1935 Trong đạo luật này, có quy định về chế độ bảo hiểm tuổi già, tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp cho người lao động
Ở Việt Nam, BHXH đã có mầm mống dưới thời phong kiến Pháp thuộc Sau cách mạng tháng 8/1945 thành công, trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của nước Việt
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc lệnh quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức Nhà nước (Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947; Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950) Cơ sở pháp lý tiếp theo của BHXH được thể hiện trong Hiến pháp năm
1959 đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH
Ngày 29/6/2006, Quốc hội ban hành Luật BHXH số 71/2006/QH11, có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/01/2007
Theo Luật BHXH: "BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH"
Tại Điều 3: Luật Bảo hiểm xã hội quy định: BHXH bắt buộc là loại hình BHXH
mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia
1.1.1.2 Bản chất bảo hiểm xã hội
BHXH có bản chất từ tính người của con người trong xã hội công xã nguyên thuỷ, những khó khăn, rủi ro, bất trắc của cá nhân hay một nhóm người nào đó đã được cộng đồng san sẻ và gánh vác Đến thời kỳ phong kiến, các quan lại thì được triều đình cho hưởng bổng lộc và bảo vệ, còn dân thường thì thông qua các hoạt động đùm bọc tương trợ trong họ hàng, làng xóm hoặc sự giúp đỡ cưu mang của những người hảo tâm khi gặp phải rủi ro trong cuộc sống Khi xã hội phát triển, do sự tiến
bộ của khoa học công nghệ, với các cuộc cách mạng công nghiệp và sự khủng hoảng kinh tế thiên tai, dịch bệnh đã làm cho đời sống của người lao động bấp bênh, con người đã tự giác nhân ra, cần có các quỹ dự trữ tiền tệ với sự đóng góp của 3 bên (nhà nước - giới chủ - giới thợ) nhằm mục đích chia sẻ khó khăn khi người lao động không may gặp rủi ro như mất việc, hết tuổi lao động, ốm đau và tử vong Cho đến nay, BHXH trong hệ thống ASXH của các quốc gia trên thế giới phát triển một cách đa dạng, nhiều loại hình và nhiều chế độ khác nhau
Ở Việt Nam, BHXH là một trong những công cụ của chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước ta thực hiện nhằm góp phần ổn định và đảm bảo sự công bằng trong xã hội Cũng như bản chất chung của BHXH trên thế giới, ở Việt Nam hiện nay bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung cụ thể sau đây:
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Thứ nhất là về phương diện kinh tế: Hoạt động BHXH ở Việt Nam không
vì mục đích lợi nhuận mà trên cơ sở cân đối thu, chi quỹ BHXH Tổ chức BHXH luôn thực hiện bảo toàn và phát triển quỹ BHXH Bên cạnh đó, BHXH tham gia vào quá trình phân phối lại thu nhập giữa những người lao động có cùng nhóm thu nhập (trong khoảng từ 1 lần đến 20 lần mức lương tối thiểu chung), thông qua việc hình thành quỹ tiền tệ tập trung để đáp ứng nhu cầu chi trả bảo hiểm cho người lao động và các thành viên trong gia đình họ
- Thứ hai là về phương diện xã hội: Có thể nói BHXH là nhu cầu tất yếu trước
hết của người lao động, sau đó là mọi thành viên trong xã hội Sự phát triển của BHXH là một trong những công cụ để đánh giá sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia BHXH còn mang tính nhân văn sâu sắc, đó là sự sẻ chia sẻ rủi ro của cộng đồng xã hội cho một nhóm người gặp rủi ro khi họ mất việc, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hay hết tuổi lao động, hoặc chết… Đó cũng là phù hợp sự phát triển truyền thống văn hoá tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách của người Việt Nam
- Thứ ba là về phương diện chính trị: BHXH luôn được Đảng và Nhà nước
điều chỉnh bằng Luật và các văn bản dưới Luật BHXH đã trở thành quyền cơ bản của người lao động Mọi người lao động đều có quyền và nghĩa vụ tham gia và hưởng thụ các quyền lợi của chính sách BHXH BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng, giữa vị trí trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội của quốc gia
Vì vậy hoạt động BHXH là loại hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao, lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vị trí, vai trò của BHXH trong hệ thống an sinh xã hội ngày càng to lớn, có thể khái quát vai trò của BHXH trên các mặt sau:
Một là, an toàn cho người lao động: BHXH góp phần ổn định đời sống của
người lao động tham gia BHXH Những người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị suy giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết một cách kịp thời, từ đó khắc phục nhanh chóng được những tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khoẻ, ổn định cuộc sống để tiếp tục hoạt động lao động bình thường
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Hai là, an toàn cho nền kinh tế và các doanh nghiệp: BHXH góp phần đảm bảo ổn định, an toàn cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề ra các quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ Khi có rủi ro xảy ra với người lao động, quỹ BHXH kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động nhanh chóng ổn định cuộc sống và sản xuất
Ba là, tăng cường quan hệ ba bên: Người lao động, doanh nghiệp, nhà nước: BHXH làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước Người lao động, Người sử dụng lao động, Nhà nước đều tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, điều đó làm cho Người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, trong lao động sản xuất
Bốn là, nâng cao tính nhân văn của xã hội: BHXH góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và công bằng xã hội BHXH là sự phân phối lại theo hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khoẻ mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người “yếu thế hơn” hay gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống
Năm là, BHXH trực tiếp thể hiện mục tiêu, lý tưởng, bản chất tốt đẹp của chế
độ chính trị, xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang phấn đấu, xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Với vai trò và chức năng “trụ cột” của BHXH trong hệ thống chính sách xã hội như vậy, cho nên tại Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản
Việt Nam Đại hội XI chỉ rõ: "Bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất
là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương"
1.2 Chi trả bảo hiểm xã hội
1.2.1 Một số vấn đề về quản lí chi BHXH
1.2.1.1 Giới thiệu chung về quản lý BHXH
Quản lý BHXH chung nhất, được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng và khách thể quản lý trong các hoạt động của BHXH, nhằm đạt được mục tiêu đề ra với những nguyên tắc và phương pháp quản lý phù hợp với hệ thống quản
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
lý chung của nền kinh tế Quản lý BHXH cho thấy phương thức quản lý BHXH và các cơ quan chức năng có nhiệm vụ quản lý BHXH (bao gồm quản lý Nhà nước về BHXH và quản lý hoạt động sự nghiệp BHXH)
Do điều kiện kinh tế - xã hội và chính trị của mỗi nước khác nhau nên hệ thống BHXH của các nước được xây dựng khác nhau và vì vậy không có mô hình
tổ chức BHXH chung cho tất cả các nước Có một số nước giao cho một bộ phận nào đó đảm nhận cả chức năng quản lý Nhà nước về BHXH và tổ chức thực hiện các nghiệp vụ BHXH Quản lý hoạt động sự nghiệp BHXH bao gồm có quản lý quỹ, quản lý đối tượng, thực hiện thanh tra, kiểm tra
Về quản lý đối tượng: Trong hoạt động BHXH có hai nhóm đối tượng là nhóm đối tượng tham gia BHXH và nhóm đối tượng thụ hưởng BHXH Nhóm đối tượng tham gia BHXH bao gồm các doanh nghiệp và người lao động Khi tham gia BHXH, doanh nghiệp và người lao động đều phải đóng phí BHXH Vì vậy, để đảm bảo nguồn thu cho quỹ BHXH, các cơ quan BHXH phải nắm chắc được số lượng các đơn vị tham gia BHXH, những biến động trên từng địa bàn và trong toàn quốc Đồng thời cũng phải có được những thông tin đầy đủ về người lao động để xác định được nguồn thu và dự báo được các khoản chi trong tương lai Để quản lý tốt đối tượng, các cơ quan BHXH có các công cụ quản lý đó là sổ thẻ BHXH, trong đó có ghi chép các thông tin cần thiết về đối tượng, đặc biệt là đối tượng thụ hưởng BHXH Hiện nay đa số các nước đã ứng dụng công nghệ tin học hiện đại để quản lý đối tượng tham gia và thụ hưởng BHXH
Về thực hiện thanh tra, kiểm tra: Tuỳ theo mô hình của từng nước mà nhiệm
vụ thanh tra, kiểm tra về BHXH khác nhau Tuy nhiên trong hệ thống BHXH của mỗi quốc gia đều có chức năng thanh tra kiểm tra nhằm đảm bảo các hoạt động BHXH đúng với các quy định của pháp luật
Về quản lý quỹ BHXH: Quản lý quỹ BHXH bao gồm công tác thu BHXH và quản lý công tác chi BHXH nhằm đảm bảo cho quỹ được an toàn và đảm bảo thu đúng, thu đủ; chi đúng, chi đủ cho đối tượng thụ hưởng BHXH; hạn chế tối đa sự thất thoát quỹ BHXH Đồng thời xây dựng chiến lược tăng trưởng quỹ BHXH thông qua các hoạt động đầu tư Trong quản lý quỹ BHXH thì việc thu chi BHXH
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
được thực hiện thông qua bộ máy và cơ sở pháp luật BHXH của mỗi nước, các cơ quan BHXH tiến hành thu phí BHXH và triển khai chi trả các trợ cấp cho người thụ hưởng BHXH và các chi phí quản lý khác
1.2.1.2 Nội dung công tác chi BHXH
Công tác chi BHXH liên quan trực tiếp đến quyền lợi và đời sống của người tham gia, cơ quan BHXH phải có trách nhiệm chi trả các loại trợ cấp đến tận tay tất
cả các đối tượng, đủ số lượng và đảm bảo thời gian quy định Trong khi đó hiện nay
cơ quan BHXH phải đảm bảo chi trả cho rất nhiều loại trợ cấp khác nhau, với các nguồn chi khác nhau Công tác chi BHXH bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
* Chi trả các chế độ BHXH từ nguồn NSNN
Các chế độ BHXH hàng tháng:
- Lương hưu: hưu quân đội, hưu viên chức;
- Trợ cấp mất sức lao động;
- Trợ cấp công nhân cao su;
- Trợ cấp 91(theo quyết định số 91/2000/QĐ- TTg ngày 4/8/2000 của Thủ tướng chính phủ );
- Trợ cấp tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp;
- Trợ cấp tuất (định suất cơ bản và nuôi dưỡng );
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
a Chi trả các chế độ BHXH từ nguồn quỹ BHXH
Quỹ ốm đau và thai sản:
+ Trợ cấp tuất (định suất cơ bản, định suất nuôi dưỡng)
o Các chế độ một lần:
+ Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu theo Điều 54 Luật BHXH;
+ BHXH một lần theo khoản 1 Điều 55 Luật BHXH;
+ Trợ cấp tuất một lần trong các trường hợp được quy định khi TNLĐ- BNN hàng tháng đã nghỉ việc; người lao động đang đóng BHXH và đang bảo lưu thời gian đóng BHXH bị chết;
+ Trợ cấp mai táng khi người hưởng lương hưu, trợ cấp cán bộ xã; người hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN hàng tháng đã nghỉ việc; người lao động đang đóng BHXH và đang bảo lưu thời gian đóng BHXH bị chết;
o Đóng BHYT cho người hưởng lương hưu, trợ cấp cán bộ xã hàng tháng;
o Lệ phí chi trả;
o Các khoản khác nếu có
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
* Phân cấp thực hiện chi trả các chế độ BHXH
Hoạt động của cơ quan BHXH được phân cấp theo ngành dọc để đảm bảo
sự thống nhất, tránh chồng chéo lãng phí Hoạt động chi trả các chế độ cũng được phân cấp thực hiện Mỗi cấp quản lý có nhiệm vụ khác nhau trong việc chi trả chế
độ BHXH BHXH cấp trung ương chịu trách nhiệm quản lý chung Hàng năm tiến hành cấp kinh phí, kinh phí bổ sung cho cơ quan BHXH cấp dưới, đảm bảo chi trả kịp thời cho đối tượng BHXH tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện trong việc chi trả, quyết toán các chế độ BHXH trên địa bàn quản lý Đồng thời, BHXH tỉnh còn có nhiệm vụ trực tiếp chi trả; quyết toán chế độ ốm đau, thai sản, và chi trả các chế độ BHXH một lần cho người lao động do BHXH tỉnh quản lý thu BHXH BHXH huyện có nhiệm vụ tổ chức chi trả và quyết toán chế độ ốm đau, thai sản, chi trả các chế độ BHXH một lần cho ngưòi lao động do BHXH huyện quản lý thu BHXH và các trường hợp BHXH tỉnh uỷ quyền Đồng thời,BHXH huyện chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng, trợ cấp tuất một lần, trợ cấp mai táng cho các đối tượng hưởng hàng tháng trên địa bàn; chi trả các chế độ BHXH cho người lao động có hồ
sơ đề nghị giải quyết hưởng BHXH nộp tại BHXH huyện theo quy định
Dù là đơn vị BHXH thuộc cấp quản lý nào cũng phải thường xuyên có những đóng góp, tham mưu và tích cực trong công tác hoàn thiện chính sách BHXH cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và cần phải lưu ý các vấn đề sau:
- Xây dựng mô hình quản lý chi trả hợp lý tuỳ điều kiện kinh tế - xã hội mỗi quốc gia.Tuân thủ nguyên tắc chi trả chế độ BHXH dựa trên cơ sở quy định Nhà nước đó và các điều ước quốc tế đã được cam kết
- Phân cấp và quy định cụ thể, rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cấp, từng đơn vị, từng cá nhân khi thực hiện nhiệm vụ quản lý chi trả chi trả chế độ BHXH Do hoạt động BHXH có liên quan đến tất cả các ngành, các đơn vị, tổ chức kinh tế - xã hội và người lao động nên cần chú trọng nâng cao trình độ, chuyên môn, kỹ năng làm việc sao cho đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia BHXH khi họ được hưởng chế độ theo quy định
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời, thuận tiện và an toàn cho người hưởng các chế độ BHXH Lựa chọn phương thức chi trả (trực tiếp hoặc gián tiếp) sao cho công tác chi trả thuận lợi nhất
- Quản lý hồ sơ của các đối tượng được hưởng chế độ kể cả trước và sau khi được chi trả chế độ BHXH Nắm bắt thông tin quản lý đối tượng trong phạm vi quản lý của mình để lập kế hoạch chi trả chính xác, đầy đủ
- Thường xuyên tổ chức tuyên truyền cho các đối tượng tham gia BHXH hiểu được vai trò của BHXH, trách nhiệm và quyền lợi của họ khi tham gia BHXH Nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và giải đáp thắc mắc về chế độ BHXH cho người tham gia bảo hiểm trong thời gian chi trả chế độ
- Thường xuyên kiểm tra, giám sát công tác chi trả các chế độ BHXH, kịp thời phát hiện những sai sót trong các khâu giải quyết chế độ Từ đó, có những biện pháp xử lý và tạo niềm tin cho người lao động và gia đình họ
- Tổng kết quá trình thực hiện chi trả theo từng giai đoạn để phân cấp trách nhiệm quản lý đạt hiệu quả cao và tránh thất thoát quỹ BHXH khi chi trả các chế
độ BHXH
1.2.2 Lý luận chung về chế độ trợ cấp hưu trí
1.2.2.1 Giới thiệu chung về chế độ trợ cấp hưu trí
a Cơ sở hình thành chế độ trợ cấp hưu trí trong hệ thống BHXH
Trong bất cứ hệ thống BHXH nào cũng có những chế độ chính thể hiện đặc
trưng những mục tiêu chủ yếu của hệ thống BHXH, một trong những chế độ đó là
chế độ hưu trí hay chế độ bảo hiểm tuổi già cho người lao động
Con người trong quá trình tồn tại và phát triển của mình đều trải qua các giai đoạn: sinh ra - lớn lên - trưởng thành - già yếu - chết đi; không một ai có thể tránh được quy luật của tự nhiên ấy Bên cạnh đó, trong quá trình tồn tại của mình, con người còn phải lao động để tạo ra của cải vật chất; muốn sống con người phải lao động Tuy nhiên, con người chỉ có thể lao động được khi còn sức lao động, đến một
độ tuổi nào đó, khi đã về già con người không còn lao động được nữa; lúc này họ cần có một cuộc sống ổn định, cần có nguồn tài chính ổn định để đảm bảo những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống của họ Để đảm bảo lợi ích của người lao động và
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
giúp họ ổn định cuộc sống, mang lại cho họ phần nào giá trị vật chất và tinh thần, hầu hết các quốc gia đều thực hiện chế độ hưu trí để đạt được mục đích trên Chế độ hưu trí nhằm cung cấp một khỏan trợ cấp thay thế cho phần thu nhập không được nhận nữa của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu Chế độ này dựa trên cơ sở số tiền mà người lao động và chủ sử dụng lao động đóng góp định kì, dựa trên tiền công mà người lao động nhận được và tỷ lệ này khác nhau theo quy định của từng nước Khoảng thời gian đóng góp số tiền này là rất dài, gần như là cả cuộc đời lao động của con người Dựa trên những yếu tố đó, với một số tiền đóng góp hàng tháng là rất nhỏ, khi về già người lao động sẽ được nhận khoản trợ cấp hàng tháng
Số tiền này phụ thuộc vào mức mà người lao động và chủ sử dụng lao động đóng góp và dựa trên khoảng thời gian đóng góp để tính toán mức trợ cấp cho hợp lý
Thực tế, tất cả những người tham gia vào BHXH đều có mong muốn tham gia và được thực hiện chế độ hưu trí Hơn nữa, trong phần đóng góp vào quỹ BHXH nói chung thì phần chủ yếu là đóng để thực hiện chế độ hưu trí và hoạt động của hệ thống BHXH cũng chủ yếu tập trung vào thực hiện chế độ hưu trí cho người lao động Theo quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì chế độ này là một trong những chế độ bắt buộc, là chế độ chính khi mỗi quốc gia muốn xây dựng cho mình một hệ thống BHXH
Thêm vào đó, xu hướng của dân số thế giới hiện nay đang già hoá dẫn đến
số lượng người nghỉ hưu ngày càng tăng, để đảm bảo ổn định xã hội và an toàn xã hội, yêu cầu BHXH hưu trí là không thể thiếu và ngày càng phải được mở rộng
Chế độ hưu trí giúp người già đảm bảo cuộc sống và những nhu cầu tối thiểu khi họ đã về hưu Đối với nhiều người, nguồn trợ cấp hưu trí là nguồn tài chính sống còn, giúp họ ổn định cuộc sống của mình, giúp đỡ họ về mặt tinh thần, tạo điều kiện
để họ có thể giúp đỡ con cháu hoặc đem những kinh nghiệm trong quá trình làm việc của mình trau dồi cho thế hệ trẻ Nếu không có chế độ này, cuộc sống khi về già của người lao động không được đảm bảo và sẽ gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại
Có chế độ hưu trí, những lao động đang làm việc có thể nhìn thấy sự bảo đảm cho tương lai của họ, vì thế họ yên tâm lao động, lao động một cách hăng say hơn, năng suất lao động cao hơn, tạo nhiều của cải vật chất, góp phần phát triển đất nước
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Chế độ là hưu trí chế độ rất quan trọng trong chính sách BHXH của một quốc gia, hầu hết người lao động của quốc gia đó đều tham gia chế độ hưu trí gần như cả cuộc đời mình, trong một khoảng thời gian rất dài, như vậy chế độ hưu trí có ảnh hưởng đến hầu như toàn bộ dân số của một nước; do những đặc điểm đó số tiền thu - chi cho chế độ này là rất lớn; vì vậy chế độ hưu trí nói riêng và chính sách BHXH nói chung của một quốc gia có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều mặt kinh tế xã hội của quốc gia đó Nếu các nước thực hiện tốt chính sách BHXH và chế độ hưu trí
sẽ tạo tiền đề, là cơ sở, là nền tảng tạo cơ sở xã hội bền vững và ngược lại, nếu chưa thực hiện tốt, người lao động luôn rơi vào trạng thái bất ổn định, ảnh hưởng đến xã hội, nền kinh tế và thậm chí là cả chế độ chính trị của một quốc gia
Ở nước ta, là một nước dân chủ, với quan niệm người già không chỉ là một thành phần của xã hội, họ còn là những người góp công, góp sức xây dựng Tổ quốc; chính sách BHXH nói chung và chế độ hưu trí nói riêng đã được thành lập từ rất sớm, đã đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của người dân Ngày nay, cùng với sự phát triển chung của đất nước, chế độ hưu trí ngày càng được hoàn thiện hơn, đảm bảo cuộc sống cho những người về hưu, góp phần ổn định xã hội, đưa đất nước đi đúng theo con đường xã hội chủ nghĩa
b Nguyên tắc và đặc trưng của chế độ trợ cấp hưu trí
* Nguyên tắc của chế độ trợ cấp hưu trí
- Nguyên tắc thứ nhất: Đảm bảo mọi thành viên trong xã hội có quyền tham gia và hưởng quyền lợi về BHXH
- Nguyên tắc thứ hai: Đảm bảo thực sự cho người lao động về mức thu nhập
để có thể duy trì được cuộc sống khi bị mất sức lao động tạm thời cũng như khi tuổi già hết khả năng lao động
- Nguyên tắc thứ ba: Vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện
- Nguyên tắc thứ tư: Bảo đảm sự thống nhất và liên tục của BHXH cũng như bảo hiểm hưu trí
- Nguyên tắc thứ năm: Đảm bảo công bằng trong BHXH
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
* Đặc trưng của chế độ trợ cấp hưu trí
- Là chế độ BHXH dài hạn nằm ngoài quá trình lao động nhưng lại được thể hiện ngay trong quá trình lao động Người lao động tham gia đóng BHXH trong một thời gian dài liên tục đến khi đủ về số lượng thời gian tham gia đóng BHXH theo quy định thì mới đủ một trong những điều kiện để được hưởng bảo hiểm hưu trí
- Người được hưởng bảo hiểm hưu trí phải đạt đến một độ tuổi nhất định nào
đó hoặc được giảm tuổi trong một số trường hợp do nghề nghiệp hoặc môi trường lao động tuỳ theo quy định của mỗi nước và mỗi giai đoạn của lịch sử gắn với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội
- Khi đã đủ các điều kiện thì người lao động được hưởng trợ cấp hưu trí trong khoảng thời gian tính từ lúc về hưu cho đến khi người lao động chết Quá trình hưởng dài hay ngắn tuỳ thuộc vào tuổi thọ của từng người
- Tỷ lệ hưởng và mức hưởng được xác định trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng BHXH trong quá trình lao động
- Chế độ BHXH hưu trí có sự tách biệt giữa đóng và hưởng, đồng thời là chế
độ nằm ngoài quá trình lao động Vì vậy, để được hưởng chế độ hưu trí thì người lao động phải tham gia đóng BHXH ngay trong quá trình lao động, số tiền đóng góp vào quỹ bảo hiểm hưu trí trong quá trình lao động được tích luỹ và được dùng để chi trả lương hưu sau khi nghỉ việc, đồng thời quỹ BHXH cũng dùng để chi trả cho những người thuộc thế hệ trước đang hưởng lương hưu Như vậy có sự kế thừa giữa các thế hệ lao động trong việc hình thành quỹ bảo hiểm hưu trí Đây là đặc trưng thể hiện nguyên tắc số đông bù số ít, đoàn kết, tương trợ của bảo hiểm hưu trí
- Thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa người lao động và người sử dụng lao động Người sử dụng lao động muốn có sự phát triển sản xuất kinh doanh thì người việc tập trung thiết bị máy móc, họ cũng phải quan tâm đến cuộc sống người lao động Phải tạo cho người lao động việc làm và cũng phải đảm bảo cuộc sống cho họ khi họ hết tuổi lao động
c Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động của chế độ hưu trí
Trong chế độ hưu trí, mục tiêu cao nhất và đạt được là bảo đảm đời sống người về hưu trên cơ sở của tiền lương hưu mà người lao động nhận được từ quỹ BHXH; hiệu quả trong việc góp phần bảo đảm an sinh và ổn định xã hội Ta có thể chia thành 3 nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động BHXH là:
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
* Nhóm các chỉ tiêu hiệu quả của hoạt động bảo hiểm hưu trí, bao gồm:
- Công tác quản lý thu BHXH,
- Quản lý quỹ BHXH,
- Quản lý công tác chi trả BHXH
* Nhóm các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của bảo hiểm hưu trí:
- Mở rộng đối tượng tham gia,
- Hình thức tham gia BHXH hưu trí
* Nhóm các chỉ tiêu đảm bảo lợi ích về kinh tế xã hội của người nghỉ hưu gồm:
- Mức đảm bảo các tiêu chuẩn sống của người về hưu; đảm bảo sự công bằng giữa những người nghỉ hưu;
- Sự tác động tích cực của chế độ hưu trí đến phát triển kinh tế và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động xã hội
1.2.2.2 Nội dung cơ bản của chế độ trợ cấp hưu trí
a Đối tượng tham gia chế độ trợ cấp hưu trí
Những đối tượng tham gia các chế độ BHXH hầu hết là những đối tượng tham gia chế độ trợ cấp hưu trí Họ là những các nhân hoặc tổ chức có trách nhiệm đóng góp để tạo lập quỹ BHXH Có thể chia các đối tượng tham gia thành 2 nhóm chính: đối tượng tham gia bắt buộc và đối tượng tham gia tự nguyện Chế độ hưu trí bắt buộc hầu hết triển khai ở đa số các quốc gia, còn chế độ hưu trí tự nguyện chỉ thực hiện ở một số quốc gia mà còn có những điều kiện phù hợp để thực hiện chế độ này
* Đối tượng tham gia bắt buộc
Gồm những người lao động và những người chủ sử dụng lao động phải tham gia đóng góp BHXH theo quy định của pháp luật
Đối với những người lao động tham gia BHXH ở các nước đều có đặc điểm chung thuận lợi cho việc thực hiện các chế độ BHXH:
- Những người này thường thuộc khu vực kinh tế có tổ chức tốt và ổn định như: khu vực kinh tế Nhà nước, khu vực kinh tế chính thức…
- Các yếu tố liên quan đến người lao động tham gia bắt buộc như: việc làm, thu nhập, điều kiện làm việc,… được ổn định, rõ ràng, tương đối chính xác, cho phép cơ quan BHXH có thể xác định mức đóng góp và mức hưởng
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Các thông tin về người lao động tham gia BHXH bắt buộc thường sẵn có,
dễ thu nhập và có hệ thống
Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị , tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động
* Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
Họ là những người lao động và người sử dụng lao động không thuộc quy định tham gia BHXH bắt buộc nhưng tự nguyện tham gia BHXH tự nguyện cho chính họ và người lao động của họ Những lao động tham gia BHXH tự nguyện thường có một số đặc điểm sau:
- Thường là những lao động thuộc khu vực phi chính thức như lao động tự tạo việc làm, lao động tại các gia đình, những người lao động hoạt động độc lập hoặc những người lao động thuộc các đơn vị kinh tế có số lao động ít hơn quy định
- Thu nhập nhìn chung thấp, không ổn định, tính chất công việc lưu động, thất thường
- Phần lớn những lao động tham gia BHXH tự nguyện là lao động không có chủ sử dụng lao động
Vì các đặc điểm bất lợi của người lao động tham gia BHXH tự nguyện nên phần lớn các nước chỉ mới tập trung thực hiện chương trình BHXH bắt buộc
Ở Việt Nam hiện nay, người lao động và người sử dụng lao động tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc quy định tham gia BHXH bắt buộc
b Đối tượng và điều kiện hưởng chế độ trợ cấp hưu trí
* Đối tượng hưởng trợ cấp hưu trí
Việc xác định đối tượng hưởng trợ cấp hưu trí đúng và đầy đủ sẽ đảm bảo được quyền lợi của người lao động và gia đình họ, đồng thời giúp quản lý BHXH chặt chẽ hơn, đảm bảo chi trả đúng đối tượng, từ đó đảm bảo công bằng giữa những người tham gia BHXH
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Đối tượng được hưởng trợ cấp hưu trí là những người lao động đã tham gia BHXH có quyền nhận trợ cấp hưu trí (tích đủ điều kiện về thời gian và mức đóng góp để được hưởng mức trợ cấp phù hợp và theo quy định riêng của từng quốc gia )
* Điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí
Người lao động khi tham gia BHXH khi về hưu sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí Để có thể xác định một cách công bằng cho các lao động tham gia BHXH người
ta sẽ xét điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí người lao động khi về hưu phải có đầy đủ các điều kiện phù hợp với điều kiện hưởng thì mới được hưởng trợ cấp Điều kiện hưởng này là căn cứ rõ ràng để cơ quan quản lý BHXH có thể thực hiện việc chi trả của mình và cũng là căn để người lao dộng có thể xem xét, hiểu rõ được quá trình tham gia BHXH của mình
Khi xây dựng các chế độ BHXH đều phải dựa trên cơ sở điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của quốc gia như: cơ cấu ngành kinh tế quốc dân, tiền lương và thu nhập của các đối tượng trong xã hội, … ngoài ra khi xây dựng chế độ còn phải tính toán đến như yếu tố sinh học hay các xác suất xảy ra rủi ro …
Điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí phải dựa vào các cơ sở sinh học là tuổi thọ
và giới tính của người lao động; ngoài ra nó còn phụ thuộc vào tính chất của ngành nghề công tác, thời gian đóng BHXH, độ tuổi …Ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào điều kiện riêng của mình mà các nước quy định điều kiện hưởng cũng khác nhau bởi vì tuổi già để hưởng trợ cấp hưu trí ở mỗi giới, mỗi vùng, mỗi quốc gia đều có những khác biệt nhất định Có những nước quy định độ tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ giống nhau, như ở một số nước lại quy định khác nhau Ở một số nước quy định tuổi về hưu của người lao động muộn, nhưng ở một số nước lại quy định tuổi về hưu sớm Hay một số nước quy định người lao động phải tham gia BHXH một số năm cụ thể thì mới nhận được trợ cấp hưu trí, và những yếu tố được xem xét để xét hưởng trợ cấp giữa các ngành nghề cũng là khác nhau Do đó người lao động khi tham gia BHXH đến một khoảng thời gian nhất định, đến một độ tuổi quy định sẽ được nhận trợ cấp hưu trí và mức trợ cấp của từng người là khác nhau
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Bảng 1.1: Điều kiện độ tuổi và thời gian đóng BHXH quy định tại một số nước
để được hưởng trợ cấp hưu trí áp dụng với các ngành nghề thông thường Nước
đóng BHXH
- Nam đủ 60 tuổi, Nữ đủ 20 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên
- Nam từ đủ 55 tuổi đến 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến 55 tuổi và có đủ 20
năm đóng BHXH trở lên mà trong đó có đủ 15 năm lành nghề hoặc công việc nặng nhọc, đọc hại, nguy hiểm hoặc đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0.7 trở lên
- Người lao động có đủ 50 tuổi đến 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở
lên mà trong đó có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò
- Người bị nhiễm HIV, AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp và có đủ 20 năm
đóng BHXH trở lên
Quy định của nhà nước về đủ tuổi người tham gia lao động được về hưu vì:
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
Người lao động phải cống hiến đến một mức tuổi trung bình nào đó, ở tuổi này người lao động đã phần nào suy yếu về sức khỏe, có nhu cầu nghỉ ngơi và tĩnh dưỡng tuổi già Bên cạnh đó, việc quy định số năm đóng BHXH nhất định của người lao động để được quyền hưởng trợ cấp hưu trí là cơ sở cho khoản trợ cấp của người lao động nhận được khi về hưu, đảm bảo nguồn tài chính của quỹ, tránh thâm hụt quỹ và đảm bảo khả năng chi trả của quỹ
Bên cạnh đó còn có những quy định đặc biệt cho người lao động làm việc ở những loại hình công việc khác nhau, đảm bảo công bằng giữa các lao động và đáp ứng được yêu cầu đặt ra của thực tiễn
c Phương pháp tính mức hưởng trợ cấp hưu trí
Mức hưởng trợ cấp hưu trí nói chung phụ thuộc vào từng trườn hợp cụ thể và thời gian đóng phí bảo hiểm của người lao động trên cơ sở tương ứng giữa đóng và thưởng Đồng thời mức hưởng trợ cấp còn phụ thuộc và khả năng thanh toán của từng quỹ BHXH và mức sống chung của từng tầng lớp dân cư và người lao động Theo nguyên tắc mức tiền lương hưu này không được cao hơn mức tiền lương mà người lao động nhận được trong quá trình làm việc, nó chiếm bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số tiền lương mà người lao động nhận được Ở các nước phát triển, thu nhập của người lao động cao nên tỷ lệ này thường thấp, còn ở các nước đang phát triển mức lương của người lao động nhận được thấp nên tỷ lệ này cao, đảm bảo đủ cho cuộc sống của người lao động
Ở Việt Nam theo quy định về mức trợ cấp của người lao động như sau: Mức lương hưu
hàng tháng đóng BHXH =
Tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng ×
Bình quân tiền lương, tiền công tháng
d Phương thức chi trả chế độ trợ cấp hưu trí
Việc chi trả chế độ BHXH nói chung và cả chế độ hưu trí nói riêng thông thường qua 2 phương thức: gián tiếp và trực tiếp
* Phương thức chi trả gián tiếp
Đây là phương thức chi trả cho đối tượng hưởng trợ cấp hưu trí thông qua
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
ban chi trả Mỗi xã/phường có ban chi trả riêng do Chủ tịch UBND xã/phường là trưởng ban chi trả, phối hợp với công an huyện, công an các xã/phường đảm bảo an toàn tiền mặt trong ngày chi trả Hàng tháng BHXH tỉnh in bản danh sách các đối tượng được hưởng các chế độ hưu trí; sau đó đưa xuống các huyện rồi lại đưa cho xã/phường giải quyết
Bởi vậy nó có ưu điểm là:
- Trong cùng một thời gian việc chi trả được tiến hành ở tất cả các phường
trong phạm vi toàn huyện
- Cán bộ chi trả là người của các địa phương nên thường xuyên nắm được
tình hình biến động của các đối tượng hưởng hưu trí do địa phương đó phụ trách để phản ánh kịp thời cho BHXH huyện và tỉnh
Và nhược điểm:
- BHXH huyện không nắm được tâm tư nguyện vọng của đối tựơng hưởng
trợ cấp hưu trí để giải quyết kịp thời những thắc mắc cho đối tượng
- Mặc dù thời gian chi trả có thể tiến hành đồng thời ở các xã/phường trong
huyện nhưng việc chi trả trong phạm vi 1 xã/phường lại có thể kéo dài Vì vậy, việc quyết toán với BHXH huyện sau mỗi kì chi trả thường bị chậm
* Phương thức chi trả trực tiếp
Theo phương thức này, việc chi trả trợ cấp cho đối tượng hưởng trợ cấp hưu trí không qua các ban chi trả mà trả trực tiếp cho đối tượng hưởng do các cán bộ của ngành thực hiện Thông thường mỗi cán bộ làm công tác chi trả chịu trách nhiệm chi trả cho đối tượng hưởng trợ cấp hưu trí ở 1 số địa bàn hoặc một số đơn vị sử dụng lao động Cán bộ làm công tác này có trách nhiệm chuẩn bị mọi công việc có liên quan đến việc chi trả từ khâu nhận danh sách đối tượng hưởng, lên kế hoạch và thông báo thời gian chi trả đến từng địa bàn, đơn vị được phân công phụ trách, chuẩn bị tiền chi trả đến khâu thanh, quyết toán sau khi chi trả
Phương thức này có những ưu điểm là:
- Xác lập được mối quan hệ trực tiếp giữa cơ quan BHXH với đối tượng hưởng BHXH, từ đó nắm được tâm tư, nguyện vọng, hoàn cảnh, đời sống của đối tượng
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Cơ quan BHXH có thể thường xuyên kiểm tra và quản lý chặt chẽ đối
tượng, nắm được tình hình tăng giảm và điều chỉnh, phát hiện những trường hợp hưởng không đúng, hưởng không có đủ giấy tờ hợp lệ
- Việc chi trả được thực hiện nhanh gọn, đầy đủ và chính xác, vừa đảm bảo
quyền lợi đầy đủ cho nhân dân, vừa nâng cao uy tín của ngành
Và nhược điểm:
- Không thể tiến hành chi trả đồng thời ở tất cả các xã/phường trong phạm vi
toàn huyện
- Trong quá trình chi trả chỉ cần 1 xã/phường không thực hiện đúng kế hoạch
sẽ làm ảnh hưởng đến thời gian chi trả ở các xã/phường khác và toàn huyện
- Đối với các địa phương ở xa, điều kiện đi lại không thuận lợi thì thường
gặp khó khăn trong việc vận chuyển và đảm bảo an toàn tiền mặt
Phải tùy theo điều kiện ở mỗi nơi mà có thể vận dụng 1 trong 2 phương thức trên
1.2.3 Đặc điểm hoạt động triển khai và công tác chi trả chế độ trợ cấp hưu trí ở Việt Nam
Tại Việt Nam hiện nay người lao động và sử dụng lao động và sử dụng lao động tham gia đóng góp BHXH tạo thành quỹ BHXH và được chia thành 3 quỹ thành phần:
- Quỹ ốm đau và thai sản
- Quỹ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Quỹ hưu trí và tử tuất
Số tiền dùng để chi trả trợ cấp hưu trí cho người lao động về hưu được lấy ra
từ quỹ hưu trí và tử tuất và số tiền chi trả cho chế độ này chiếm phần lớn số tiền chi trả cho quỹ
Mức đóng góp cho các chế độ quy định tại điều 91, mục 1 chương VI của Luật bảo hiểm xã hội 71/2006/QH11 ngày 29/06/2006 và cụ thể như sau:
- Người lao động đóng 5% mức tiền lương hàng tháng vào quỹ hưu trí và tử
tuất và từ năm 2010 trở đi, cứ 2 năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH
của người lao động:
- 3% vào quỹ ốm đau, thai sản
- 1% vào quỹ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ 2 năm một lần đóng
thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%
Công tác chi trả chế độ hưu trí luôn được sự quan tâm của ngành BHXH cũng như các cơ quan quản lý Nhà nước để đảm bảo chi đúng, đảm bảo chi đủ cho người về hưu, để mang lại niềm tin cho người lao động, góp phần một cách tích cực nhất trong việc đảm bảo đời sống vật chất, chăm lo sức khỏe và đời sống tinh thần cho người cao tuổi Tuy đã đạt được nhiều kết quả khá tốt nhưng công tác chi trả ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế và còn gặp nhiều khó khăn
Khó khăn lớn nhất trong công tác chi trả của ngành trong những năm qua:
- Số người hưởng BHXH, BHYT ngày càng tăng, cư trú ở tất cả các phường
xã, các thôn, bản trên phạm vi toàn quốc Ở các tỉnh miền núi, nhiều thôn, bản chỉ
có 1 hoặc 2 người hưởng lương hưu hoặc trợ cấp BHXH
- Lượng tiền chi trả lớn và chủ yếu bằng tiền mặt do vậy việc đảm bảo kinh phí và an toàn tiền mặt luôn tạo áp lực đối với Ngành
Vượt qua mỗi khó khăn, những năm qua BHXH Việt Nam đã tập trung sử dụng nhiều biện pháp từ việc chủ động nguồn kinh phí chi trả , xây dựng quy trình và
tổ chức các đại lý chi trả ở xã, phường , thị trấn đến việc phối hợp với chính quyền cơ
sở đảm bảo chi trả được an toàn đến từng người nhận lương hưu và trợ cấp
Ngoài ra, BHXH Việt Nam đã phối hợp với các Ngân hàng thương mại thực hiện phương thức chi trả qua tài khoản thẻ ATM cho những người tự nguyện lựa chọn phương thức này
Từ 1995- 2009, BHXH Việt Nam đã thực hiện chi trả an toàn gần 300 nghìn
tỷ đồng, bình quân mỗi năm chi trả 20 nghìn tỷ đồng
Thực tiễn hoạt động chi trả lương hưu và các chế độ trợ cấp BHXH, BHYT của Ngành trong 15 năm qua luôn đảm bảo mục tiêu kịp thời, đúng chế độ, an toàn,
ổn định đời sống của người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH, BHYT, góp phần
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
đảm bảo an sinh xã hội
1.3.Thống kê về các chế độ trợ cấp hưu trí ở một số nước trên thế giới
Trên thế giới, đa số các nước khi quy định chế độ hưu trí đều đưa ra 2 điều kiện
cơ bản để hưởng lương hưu là tuổi đời và thời gian tham gia bảo hiểm xã hội, đồng thời quy định mức trợ cấp theo mức thu nhập đã có của người lao động trước khi nghỉ hưu Tuy nhiên cũng có một số nước quy định chế độ dưỡng cấp theo mức đồng đều mọi người như Thụy Điển, Úc Chế độ hưu trí ở một số nước được quy định như sau:
1.3.1 Về điều kiện tuổi đời
Ở các nước khác nhau, tùy theo các nhân tố dân số và kinh tế xã hội mà có
sự quy định tuổi nghỉ hưu khác nhau và có quy định khác nhau giữa tuổi nghỉ hưu của nam và nữ trong cùng một nước Có một số nước quy định độ tuổi nghỉ hưu của nam và nữ như nhau nhưng có một số nước khác lại quy định tuổi nghỉ hưu của nữ thấp hơn nam Việc xác định tuổi nghỉ hưu phụ thuộc rất nhiều yếu tố kể cả phụ thuộc vào nước có dân số già hay trẻ
Đối với nước có dân số già, số người nghỉ hưu lớn, họ phải nâng tuổi nghỉ hưu thường cao hơn các nước có dân số trẻ Ngoài ra các nước còn quy định hạ tuổi nghỉ hưu so với tuổi nghỉ hưu bình thường đối với những người làm những ngành nghề công việc trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
Bảng 1.2: Tuổi nghỉ hưu của một số nước trên thế giới
Ấn Độ Hồng Công Philippin Indonesia Singapore
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
định hưởng trợ cấp hưu Ở nhiều nước có quy định phải có một số năm đóng tối thiểu, qua tài liệu thống kê cho thấy số năm đóng BHXH dao động từ 15 đến 45 năm Một nguyên tác đặt ra trong chế độ hưu trí là độ tuổi được hưởng chế độ hưu xác định cao thì đòi hỏi số năm bắt buộc phải đóng cũng cao, quy định số năm đóng thấp thì mức trợ cấp cũng phải thấp hơn
Quy định thời gian đóng bảo hiểm xã hội hưu trí (tối thiểu) của một số nước như sau:
- Anh: đóng 52 tuần liên tục cộng với 9/10 tổng số năm làm việc
- Pháp: đóng 150 tháng liên tục
- Đức: 15 đến 35 năm
- Ấn Độ: 15 năm (chung cho cả nam và nữ)
- Trung Quốc: 10 năm liên tục (chung cho cả nam và nữ)
- Nhật: 20 năm (chung cho cả nam và nữ)
- Philippin: 120 tháng liên tục (chung cho cả nam và nữ)
1.3.3 Về mức trợ cấp hưu trí
Có rất nhiều cách xác định mức trợ cấp hưu trí Một số nước xác định mức đồng đều, coi là mức tối thiểu thích hợp với mặt bằng chung của quốc gia Nhiều nước xác định mức trợ cấp theo thu nhập đã từng có của người lao động khi nghỉ hưu Một số nhóm nước khác kết hợp cả hai cách
Trong phần trợ cấp có phần nền là một mức đồng nhất cộng thêm phần tỷ lệ thu nhập Tuy nhiên, xu hướng chung là trợ cấp theo mức thu nhập đã từng có của người lao động trước khi nghỉ hưu, phù hợp với đa số trường hợp là đóng góp bảo hiểm xã hội hưu trí theo thu nhập để trả lương hưu vào hàng tháng Tuy nhiên cũng
có nước thực hiện trợ cấp hưu trí theo kiểu quỹ phòng xa (Malaysia, Ấn Độ), chi trả một lần hoặc kết hợp chi trả một lần và trả hàng tháng Cụ thể mức hưởng trợ cấp hưu trí của một số nước như sau:
- Anh: 32,85 bảng/tuần + 12% thu nhập được bảo hiểm trong nước
- Pháp: 50% thu nhập bình quân trong vòng 10 năm cao nhất Lương được tính theo các lần thay đổi lương
- Đức: 1,5% “lương ước tính” là tỷ lệ giữa thu nhập của người lao động so với mức lương trung bình của cả nước nhân với “cơ sở tính toán chung” hiện thời
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
- Ba Lan: 100% thu nhập bình quân của mức dưới 3000 ZLOTY một tháng của 12 tháng gần nhất cộng với 55% của phần còn lại và tăng 4% trợ cấp tính theo trợ cấp cơ bản cho mỗi năm công tác trên 20 năm
- Trung Quốc: 60 đến 90% thu nhập trong tháng cuối, phụ thuộc vào thời gian công tác
- Ấn Độ: Trả một lần tương ứng với số đóng góp của chủ và thợ đã trả cộng với 7,58% lãi
- Philipines: 1,5% lương bình quân của 120 tháng cuối cộng với từ 42 đến 102% của tiền lương bình quân của 10 tháng lương
1.3.4 Về mức đóng góp
Mức đóng góp cho chế độ hưu trí cũng có sự khác nhau giữa các nước Tuy nhiên, ở hầu hết các nước đều có sự phân chia đóng góp giữa giới chủ và giới thợ và đóng riêng cho chế độ hưu trí mà không gộp vào các chế độ khác chẳng hạn:
- Anh: Người lao động đóng 2% của 54 bảng/tuần đầu tiên cộng thêm 9% lương tuần của tiền lương từ 54 đến 405 bảng Người sử dụng lao động đóng từ 4,6% đến 10,4%
- Pháp: Người lao động đóng 6,54% trong thu nhập được tính BHXH của mình, người sử dụng lao động đóng 8,2% tiền lương tối đa để đóng BHXH là 12,360 Francs một tháng
- Đức: Người lao động đóng 8,75 % tiền lương, nếu người lao động có thu nhập dươi 610 DM/tháng thì không phải đóng BHXH Người lao động độc lập phải đóng 15,7% Người sử dụng lao động đóng 8,75% quỹ lương và đóng 7,5% nếu trong doanh nghiệp có người lao động có thu nhập thấp hơn 610 DM/tháng
1.4 Một số kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện chế độ hưu trí ở một số nước trên thế giới
1.4.1 Chế độ hưu trí của Nhật Bản
Luật Hưu trí cho người lao động ra đời năm 1941, và được đổi tên là Luật Bảo hiểm hưu trí cho người lao động vào năm 1944, áp dụng đối với người lao
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
động làm công hưởng lương Năm 1959 Luật Bảo hiểm hưu trí quốc gia ra đời thực hiện bảo hiểm cho lao động cá thể, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp
và ngư nghiệp Do đó, đến năm 1961 về cơ bản một chế độ hưu trí toàn dân đã được hình thành ở Nhật Bản Năm 1985, Luật Hưu trí đã có sự thay đổi đáng kể bằng việc giới thiệu Chế độ lương hưu cơ bản Từ đó hình thành hệ thống lương hưu với cấu trúc 2 tầng, tầng 1 là lương hưu cơ bản, tầng 2 là lương hưu được tính căn cứ theo tiền lương đóng bảo hiểm của người tham gia
Chế độ hưu trí Nhà nước được chia ra làm hai loại hình chính là:
Chế độ bảo hiểm hưu trí quốc gia áp dụng đối với công dân Nhật Bản tuổi
từ 20 đến dưới 60 và thực hiện tự nguyện cho người dân Nhật Bản ở trong nước từ
60 đến dưới 65 tuổi, ở nước ngoài từ 20 đến dưới 65 tuổi
Chế độ hưu trí cho người lao động thực hiện cho người lao động dưới 65 tuổi làm việc tại các tổ chức, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương, tại các công ty, tập đoàn, trường học tư
Đối tượng: Dân số được chia làm 3 nhóm:
Nhóm 1: lao động cá thể, nông dân, người không có việc làm, sinh viên… tham gia chế độ hưu trí quốc gia
Nhóm II: lao động trong khu vực tư nhân và Nhà nước, tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí cho người lao động
Nhóm 3: người ăn theo là vợ/chồng sống dựa vào thu nhập của người lao động thuộc nhóm II, tham gia chế độ hưu trí quốc gia
Mức đóng và nguồn quỹ:
Mức đóng của nhóm I là 13.300 yên/tháng, từ 4/2005 tăng mỗi năm 280 yên để đạt mức 16.900 yên/tháng vào năm 2017
Mức đóng của nhóm II là 13,934%, từ 10/2004 tăng mỗi năm 0,354% và
sẽ đạt 18,30% vào năm 2017, số tiền đóng góp được chia đều, chủ sử dụng lao động đóng 50%, người lao động đóng 50%
Nhóm III không phải đóng phí, phí bảo hiểm của nhóm này sẽ được quỹ hưu trí cho người lao động chuyển sang quỹ hưu trí quốc gia Nguồn quỹ hưu trí
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn
được hình thành từ đóng góp của người tham gia, người lao động, chủ sử dụng lao động và ngân sách nhà nước
Phúc lợi:
Người tham gia theo quy định sẽ được nhận lương hưu cơ bản khi 65 tuổi với thời gian tham gia bảo hiểm từ 25 năm trở lên Người tham gia bảo hiểm có thể nhận lương hưu sớm từ 60 đến 64 tuổi, nhưng mức lương hưu sẽ bị giảm đi bằng 0,5% nhân với số tháng nhận lương hưu sớm, ngược lại nếu nhận lương hưu muộn từ 66 đến 70 tuổi mức lương hưu sẽ tăng lên là 0,7% nhân với số tháng nhận muộn Các chế độ trợ cấp khi tham gia bảo hiểm hưu trí gồm: lương hưu, trợ cấp thương tật và trợ cấp tuất Với các đối tượng thuộc nhóm I và III được nhận trợ cấp lương hưu cơ bản, trợ cấp thương tật cơ bản, trợ cấp tuất cơ bản Trợ cấp thương tật, trợ cấp tuất được tính trên cơ sở lương cơ bản và được chia làm nhiều mức Người lao động tham gia chế độ bảo hiểm cho người lao động, sẽ được nhận trợ cấp lương hưu cơ bản và lương hưu tính trên cơ sở tiền lương đóng bảo hiểm
Từ tháng 4/2010 lương hưu cơ bản cho người có thời gian tham gia bảo hiểm 40 năm là 66.208 yên/tháng
- Bảo hiểm hưu trí (trả lương hưu cho người lao động tham gia hệ thống khi được hưởng)
- Bảo hiểm cho thân nhân người tham gia hệ thống khi người tham gia bảo hiểm hưu trí từ trần
- Bảo hiểm tàn tật và thực hiện các biện pháp phục hồi sức khoẻ khi người tham gia bảo hiểm hưu trí bị tai nạn, bị tàn phế