+ Trên cơ sở đã nghiên cứu rút ra những nhận xét, thấy được những thành công cũng như thất bại trong việc ứng dụng khoa học-kỹ thuật ở Nhật Bản ở thời kỳ này và đưa ra một số bài học kin
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mã số :60 22 0311 NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS Đặng Xuân Kháng
Hà nội – 2014
Trang 3Với điều kiện hạn chế về kiến thức của bản thân, nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự chỉ bảo của thầy cô cũng như các bạn học viên trong khoa
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày 25 tháng 12 năm 2014
Học viên
Lương Thị Tú
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đặng Xuân Kháng, tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, Ngày 25 thán 12 năm 2014
Học viên
Lương Thị Tú
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu .5
6 Đóng góp của luận văn .5
7 Kết cấu của luận văn .5
CHƯƠNG 1: NƯỚC NHẬT SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI 7
1 1 Chính trị 8
1.2 Kinh tế 12
1 3 Xã hội 17
CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC - KỸ THUẬT Ở NHẬT BẢN TỪ NĂM 1945 ĐẾN 1973 20
2.1 Cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế 20
2.1.1 Một số khái niệm về cách mạng khoa học - kỹ thuật 20
2.1.2 Vai trò của Cách mạng khoa học - kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế 23
2.2 Chính sách phát triển khoa học- kỹ thuật của Nhật Bản từ năm 1945 đến 1973 29
2.2.1 Chính sách mua lại các phát minh sáng chế khoa học- kỹ thuật phương Tây 30
2.2.2 Chính sách đầu tư cho nghiên cứu khoa học- kỹ thuật 33
2.2.3 Chính sách đầu tư cho giáo dục đào tạo 34
2.2.4 Phát triển đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học 35
2.3 Những thành tựu về khoa học- kỹ thuật Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai 39
Trang 8CHƯƠNG 3TÁC ĐỘNG CỦA KHOA HỌC- KỸ THUẬT ĐẾN SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ NHẬT BẢN TỪ NĂM 1945 ĐẾN 1973 45
3.1 Việc ứng dụng khoa học- kỹ thuật vào phát triển kinh tế 45
3.1.1.Trong lĩnh vực công nghiệp 46
3.1.2.Trong lĩnh vực nông nghiệp 54
3.2 Tác động của khoa học- kỹ thuật đến sự phát triển kinh tế Nhật Bản 58
3.2.1 Tác động tích cực 58
3.2.2 Tác động tiêu cực 64
3.3 Những bài học kinh nghiệm cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 69
3.3.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là yêu cầu tất yếu trong sự nghiệp phát triển của đất nước 69
3.3.2 Những bài học kinh nghiệm cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 72
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 91
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ khoảng giữa thế kỷ XX nhân loại đang trải qua cuộc cách mạng
khoa học- kỹ thuật hiện đại (từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX gọi là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ) với quy mô to lớn, nội dung sâu
sắc và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Những thành tựu và ứng dụng của khoa học-công nghệ đã đưa tới những bước tiến nhảy vọt thật là vĩ đại, làm thay đổi cơ bản các nhân tố của sản xuất, đưa tới sự phát triển mạnh mẽ cho nhiều quốc gia trên thế giới Trong đó, tiêu biểu phải kể đến là Nhật Bản
Nhật Bản bước ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai với tư cách là một nước bại trận, bị quân đội Đồng minh chiếm đóng, đất nước rơi vào tình trạng tan hoang, đổ nát, người dân khủng hoảng niềm tin Nhưng, chỉ sau hơn
20 năm, một khoảng thời gian ngắn ngủi so với lịch sử, Nhật Bản đã vươn
mình kinh dị từ đống tro tàn sau chiến tranh thành một siêu cường kinh tế thế giới
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Nhật Bản trong các thập kỷ 50,
60 và đầu 70 của thế kỷ XX là một hiện tượng của thời đại, khiến cho cả thế giới phải ngạc nhiên, khâm phục và ngưỡng mộ Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Nhật Bản từ sau năm 1945 đến 1973 là đề tài hấp dẫn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Họ lý giải nguyên nhân nào dẫn
đến sự phát triển thần kỳ ở một đất nước nghèo tài nguyên và đầy thiên tai
như vậy
Đi tìm nguyên nhân cho sự phát triển đó, các nhà khoa học từ các chuyên ngành khác nhau đã đưa ra những lời giải đáp khác nhau Phần lớn các công trình nghiên cứu đều cho rằng nguyên nhân khiến Nhật Bản trở thành một siêu cường kinh tế có nhiều nguyên nhân, trong đó không thể không nhắc đến vai trò của nhân tố khoa học - kỹ thuật
Hơn nữa, tuy hiện nay nền kinh tế Nhật Bản không còn phát triển thần
kỳ như những năm 1960, 1970 nữa, nhưng nước Nhật vẫn là một cường quốc kinh tế thế giới và dẫn đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực công nghệ cao Ở
Trang 10châu Á, Nhật Bản từng bước khẳng định vai trò tiên phong của mình Nhật Bản trở thành một đối tác kinh tế lý tưởng và là tấm gương cho các quốc gia đang trên con đường tìm kiếm sự thành công như Việt Nam học tập Vì vậy,
mô hình phát triển kinh tế của Nhật Bản vẫn cần được nghiên cứu và khám phá Bài học từ những bước đi của nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai, những thành công cũng như thất bại của mô hình kinh tế và đặc biệt là những ứng dụng về khoa học- kỹ thuật của Nhật Bản vẫn là một điều cần phải tìm hiểu sâu kỹ để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta hiện nay
Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn trên, tác giả đã chọn vấn đề “Vai trò của khoa học kỹ thuật trong việc phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm
1945 đến 1973” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, đã có nhiều tài liệu của các học giả trong và ngoài nước
đề cập đến vai trò của khoa học-kỹ thuật trong việc phát triển nền kinh tế Nhật Bản ở những góc cạnh, mức độ khác nhau:
- Takafusa Nakamura, Phát triển kinh tế nước Nhật hiện đại, Bộ
ngoại giao Nhật Bản 1985 Cuốn sách giới thiệu về kinh tế Nhật Bản từ năm
1868 cho đến năm 1973, đặc biệt tác giả đi sâu vào tìm hiểu kỷ nguyên tăng trưởng nhanh trong giai đoạn 1951-1973 và lý giải những nguyên nhân đưa
tới sự phát triển thần kỳ giai đoạn này, trong đó có cả nhân tố khoa học-kỹ
thuật
- Lê Văn Sang, Kinh tế Nhật Bản giai đoạn “thần kỳ, Viện kinh tế thế
giới, Hà Nội 1988 Nội dung bài viết đánh giá sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản trong giai đoạn từ năm 1951 đến 1973 và nhân tố khoa học- kỹ thuật được tác giả lý giải là một nguyên nhân quan trọng đưa tới sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản
- Đào Huy Ngọc, Vài suy ngẫm về sự “thần kỳ” Nhật Bản, Nhà xuất
bản Sự thật, Hà Nội 1991 Cuốn sách đã giới thiệu một số nét về những chủ
Trang 11trương lớn trong phát triển kinh tế của thời Thiên hoàng Minh-Trị và khái quát những giai đoạn phát triển của nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay Phần lớn của cuốn sách được dành cho việc nghiên cứu một số nhân tố về xã hội, con người, về khoa học- kỹ thuật, dẫn tới sự phát triển kinh tế “thần kỳ” của Nhật Bản
-Yutaka Kosai, Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh , Viện kinh tế thế giới,
Hà Nội 1991 Cuốn sách này điểm lại lịch sử nền kinh tế Nhật Bản đương đại,
từ năm 1945 tới đầu những năm 1980 Khi phân tích sự phát triển kinh tế nước Nhật tác giả cũng đã đề cập đến cuộc cách mạng công nghệ và tác động của nó
- Shigeru Nakayama, Khoa học, kỹ thuật và xã hội nước Nhật thời hậu
chiến, Viện nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh
1993 Cuốn sách chủ yếu giới thiệu về những cơ chế mà Nhật Bản đã khuyến khích sự phát triển của khoa học- kỹ thuật và những tác động của nó đến xã hội Nhật từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay
- Juro Teranishi và Yutaka Kosai, Kinh nghiệm cải cách kinh tế của
Nhật Bản, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1995 Nội dung bài viết đã
đưa ra một cách nhìn mới về quá trình cải cách và ổn định kinh tế ở Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai Các tác giả cũng đã dành một phần cuốn sách
để mô tả quá trình nhập khẩu công nghệ và công nghệ được xem là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng kinh tế nhanh của Nhật Bản
- Kenichi Ohno, Phát triển kinh tế Nhật Bản, Diễn đàn phát triển Việt
Nam, Hà Nội 2007 Với cuốn sách này người đọc sẽ được đi một chuyến hành trình phân tích về những thay đổi của nền kinh tế Nhật Bản Nội dung cuốn sách giới thiệu cho độc giả những nghiên cứu mới nhất về lịch sử Nhật Bản trên con đường đi lên từ một nước đang phát triển thành một siêu cường kinh
tế có nhiều nhân tố, trong đó có cả nhân tố về sự phát triển của khoa học công nghệ
- Nguyễn Tiến Lực, Nhật Bản những bài học từ lịch sử, Nhà xuất bản
Thông tin và truyền thông, Hà Nội 2013 Toàn bộ cuốn sách đã cung cấp cho
Trang 12người đọc những kiến thức về lịch sử Nhật Bản, những việc người Nhật đã làm cho đất nước họ, một số bài học cho Việt Nam và đặc biệt tác giả đã đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu để đưa ra các kiến giải riêng của mình, góp phần
giải mã hiện tượng phát triển thần kỳ của nền kinh tế Nhật Bản sau chiến
tranh thế giới thứ hai Trong đó, yếu tố tiến bộ của khoa học-kỹ thuật trở thành một nhân tố quan trọng dẫn đến sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế Nhật Bản…
Nhìn chung, do yêu cầu, mục đích của mỗi cuốn sách khác nhau, đề cập đến các lĩnh vực khác nhau, nên vấn đề về vai trò của khoa học- kỹ thuật trong việc phát triển kinh tế Nhật Bản từ 1945 đến 1973 chỉ là một nội dung mang tính chất kết cấu của hệ thống cuốn sách Do vậy, tác giả luận văn muốn tổng hợp và cập nhật các tài liệu có liên quan để nghiên cứu đề tài đầy đủ hơn
là một điều rất cần thiết Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu sự phát triển của khoa học- kỹ thuật ở Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai và vai trò của nó trong sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm1945 đến 1973 Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài tập trung làm rõ những nội dung chủ yếu sau:
+ Trình bày một số nét khái quát về đất nước Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai
+ Phân tích và đánh giá sự phát triển của khoa học- kỹ thuật ở Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai
+ Góp phần làm rõ vai trò của khoa học- kỹ thuật trong sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ 1945 đến 1973
Trang 13+ Trên cơ sở đã nghiên cứu rút ra những nhận xét, thấy được những thành công cũng như thất bại trong việc ứng dụng khoa học-kỹ thuật ở Nhật Bản ở thời kỳ này và đưa ra một số bài học kinh nghiệm quý giá cho sự phát triển nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về vai trò của khoa
học kỹ thuật trong việc phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1945 đến 1973
- Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi luận văn thạc sĩ tác giả chỉ tập
trung nghiên cứu, tìm hiểu về vai trò của khoa học kỹ thuật đối với việc phát triển kinh tế Nhật Bản, trong khoảng thời gian từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 1973
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, trong
đó phương pháp lịch sử là chủ yếu
- Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, đối chiếu, so sánh… các số liệu, các sự kiện và nội dung lịch sử
6 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở kế thừa những thành quả của các nhà khoa học đi trước và khai thác thêm một số tư liệu, luận văn làm rõ hơn về vai trò của khoa học kỹ thuật trong việc phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1945 đến 1973 Từ đó, rút
ra những bài học kinh nghiệm cho sự phát triển nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ công tác giảng dạy, học tập bộ môn lịch sử thế giới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 3 chương:
Trang 14Chương 1: Nước Nhật sau chiến tranh thế giới thứ hai
Chương 2: Sự phát triển của khoa học- kỹ thuật ở Nhật Bản từ năm
1945 đến 1973
Chương 3: Tác động của khoa học- kỹ thuật đến sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1945 đến 1973
Trang 15CHƯƠNG 1 NƯỚC NHẬT SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
Nhật Bản nằm ở phía Đông của Châu Á, là một dãy đảo nằm giữa biển Bắc Thái Bình Dương và biển Nhật Bản Nhật Bản là một quốc gia hải đảo hình vòng cung, dài khoảng 3000 km Về phía bắc, quần đảo Nhật Bản tiếp giáp với nước Nga qua biển Nhật Bản và biển Okhotsk, phía nam cách Đông Nam Á và lục địa châu Đại Dương qua Thái Bình Dương, phía tây tiếp giáp với Đài Loan, Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên qua biển Nhật Bản và biển Đông Trung Hoa, phía đông đối diện với lục địa châu Mỹ qua Thái Bình Dương
Quần đảo Nhật Bản có “tổng diện tích gần 37,79 vạn km2 gồm 4 đảo lớn lần lượt là Honshu, Hockkaido, Kyushu, Shikoku và hơn 3000 đảo lớn nhỏ” [10, tr.11]
Nhật Bản là một bộ phận của vành đai núi Thái Bình Dương chạy theo hướng tây bắc - đông nam, từ miền tây châu Mỹ, qua Alaska, Nhật Bản xuống Đông Nam Á Nhật Bản có địa hình phức tạp: đường bờ biển dài, khúc khuỷu, nhiều vũng, vịnh nhỏ; hơn 70% diện tích là núi với hơn 500 đỉnh cao hơn
2000 mét; sông ngắn, chảy xiết; hồ nhỏ, sâu, nước trong; đồng bằng phù sa và đồng bằng ven biển đều hẹp, chiếm khoảng 15% diện tích đất nước
Phần lớn khí hậu Nhật Bản nằm trong vùng khí hậu ôn hòa và ở cực đông bắc của khu vực khí hậu gió mùa chạy từ Nhật Bản qua bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc, Đông Nam Á tới Ấn Độ Địa hình và khí hậu trên đã tạo cho nước Nhật một hệ sinh thái đa dạng với các loài động, thực vật á nhiệt đới, ôn đới và á hàn đới
Tuy nhiên, tài nguyên khoáng sản của nước Nhật lại nghèo nàn Các
mỏ than ở Hokkaido, Honshu và Kyushu chất lượng thấp và trữ lượng ít Dầu
Trang 16mỏ, sắt, đồng, vàng, bạc, lưu huỳnh, chì chữ lượng thấp và phần lớn đã cạn kiệt
Những điều kiện tự nhiên trên ảnh hưởng quan trọng đến lịch sử hình thành và phát triển của đất nước Nhật Bản Vị trí địa lý gần lục địa châu Á nhưng lại được cách bởi biển Nhật Bản và biển Đông Trung Hoa giúp Nhật Bản vừa tiếp thu được nhiều dòng văn hóa khác nhau, vừa tránh được nguy cơ xâm lược từ lục địa Quần đảo Iki và Tsushima là chiếc cầu nối giữa miền tây bắc Kyushu và bờ biển phía Nam bán đảo Triều Tiên Các dòng hải lưu nóng
từ phía nam lên và hải lưu lạnh từ phái bắc xuống cũng như khí hậu gió mùa
đã khiến Nhật Bản từ xa xưa thành nơi gặp gỡ các luồng di cư và các ảnh hưởng văn hoá từ Đông Bắc Á và Đông Nam Á tới
Dân số Nhật Bản theo thống kê “năm 2003 là 127,62 triệu dân (gồm khoảng 62,30 triệu nam giới và 65,31 triệu phụ nữ) Mật độ dân số trung bình
là khoảng 342,3 người/km2”[10, tr.11]
Trên cơ sở đó, cư dân trên quần đảo Nhật Bản đã hình thành và viết nên những trang sử phát triển rực rỡ tạo nên một nền văn hoá độc đáo, vừa đồng nhất vừa dung hòa
1 1 Chính trị
Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản đã chấp nhận tuyên bố Potsdam đầu hàng không điều kiện các nước Đồng minh 3 năm và 8 tháng đã trôi qua
kể từ cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng, 8 năm kể từ khi bùng nổ chiến tranh
Trung- Nhật và 14 năm kể từ “Sự kiện Mãn Châu” với sự đầu hàng của Nhật
Bản cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đã kết thúc
Tuyên bố Potsdam của Nhật Bản chấp thuận đã được coi là kết quả của hội nghị thượng đỉnh của các lực lượng liên quân tổ chức tại Potsdam vào tháng 7 năm 1945 Nó bao gồm những điều kiện sau:
- “Phải xóa bỏ vĩnh viễn quyền lực và ảnh hưởng của những người đã
lừa dối và đẩy nhân dân Nhật Bản vào cuộc chiếm đoạt thế giới, bởi vì chúng
Trang 17ta tin chắc rằng, không thể có một trận tự mới về hòa bình, an ninh và công bằng khi chủ nghĩa quân phiệt vô trách nhiệm còn ngự trị trên thế giới (Điều 6)
- Cho tới khi một trận tự mới như vậy được thiết lập và cho tới khi khẳng định chắc chắn rằng sức mạnh gây chiến của Nhật Bản đã bị phá bỏ, thì những điểm trên lãnh thổ Nhật Bản, theo sự xác nhận của quân Đồng minh,
sẽ bị chiếm đóng để bảo đảm cho việc giành được những mục tiêu cơ bản mà chúng ta đề ra cho tương lai (Điều 7)
- Chính phủ Nhật Bản sẽ gỡ bỏ mọi cản trở với việc phục hồi và củng cố các xu hướng dân chủ trong nhân dân Nhật Bản Tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, và tự do tư tưởng, cũng như việc tôn trọng những quyền cơ bản của con người sẽ được tạo dựng (Điều 10)”… [13, tr.34]
Sau khi đề ra những điều kiện trên, Tuyên bố còn bổ sung thêm điều sau:
“Nếu làm trái thì Nhật Bản sẽ bị phá hủy nhanh chóng và triệt để” [13, tr.34]
Vào lúc đó thì nền kinh tế Nhật Bản đã ở gần tình trạng sụp đổ hoàn toàn, và việc chấp nhận tuyên bố Potsdam là sự lựa chọn hợp lý duy nhất Điều này được thể hiện rõ kể từ khi những người đưa ra Tuyên bố đã dựa vào sự chênh lệch quá rõ giữa sức mạnh của chính họ và sức mạnh của người Nhật Bản, là cái dường như chỉ làm bộc lộ sự giả dối của lời tuyên bố rằng: “Người Nhật Bản, với tư cách là một chủng tộc, sẽ không bị nô dịch, hay với tư cách là một dân tộc sẽ không bị hủy hoại” [12, tr.35] Ở Nhật Bản vào thời đó sự bại trận
đã được gọi là “sự kết thúc của chiến tranh” và việc đất nước bị chiếm đóng bởi vũ lực đã được gọi là “sự đóng quân của các đội quân”
Trong điều kiện như vậy, lúc này nhiệm vụ chủ yếu mà nhà cầm quyền Nhật Bản phải làm là thực hiện nghiêm túc những sắc lệnh của Bộ chỉ huy các lực lượng chiếm đóng đưa ra Chính phủ Nhật chỉ giữ là vai trò chính quyền thứ hai, đứng sau Bộ chỉ huy quân Đồng minh Trong Bộ chỉ huy quân Đồng minh thì người Mĩ nắm vai trò chi phối nên thực chất Nhật Bản bị lệ thuộc chặt chẽ vào nước Mĩ sau chiến tranh thế giới thứ hai Tướng Mĩ Douglas MacArthur (Mác Áctơ) được giao cho giữ chức Tổng chỉ huy tối cao các lực
Trang 18lượng Đồng minh Mục tiêu chủ yếu của lực lượng chiếm đóng là thủ tiêu chủ nghĩa quân phiệt ở Nhật Bản và dân chủ hóa nước Nhật
Để kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện Tuyên cáo Potsdam ở Nhật Bản, lực lượng Đồng minh đã thành lập 2 cơ quan đặc biệt là Uỷ ban Viễn Đông ở Oasinhtơn và Hội đồng Đồng minh ở Tokyo Hai tổ chức này chỉ tồn tại về mặt hình thức còn quyền lực thực tế là do người Mĩ nắm giữ
Từ cuối 1947-1948 dưới tác động của cuộc Chiến tranh Lạnh, Nhật Bản lại nằm trong ý đồ chiến lược của Mỹ nên nhanh chóng được vực trở lại với một số chính sách ưu tiên đặc biệt của Mỹ Cùng với những tác động có hiệu quả của các cuộc cải cách trong các lĩnh vực khác nhau, ý đồ của Mỹ cùng với những bối cảnh quốc tế thuận lợi sau chiến tranh, mặc dù vẫn còn những hạn chế nhưng những cuộc cải cách này thực tế có ý nghĩa kinh tế, chính trị,
xã hội to lớn Nhờ các cuộc cải cách này mà nền chính trị dân chủ, hòa bình ở Nhật Bản được thiết lập, nền kinh tế thị trường đầy đủ được hình thành, dân chủ hóa kinh tế được đảm bảo, cạnh tranh thực sự trở thành động lực phát triển, chúng không chỉ góp phần khôi phục kinh tế mà còn tạo điều kiện quan trọng cho thời kỳ tăng trưởng tiếp theo, tạo nên sự thần kỳ lần thứ II của Nhật Bản
Trong lịch sử nước Nhật thì đây là lần đầu tiên Nhật Bản bị quân đội nước ngoài chiếm đóng và kiểm soát chính quyền Đây là một thời kỳ hết sức khó khăn đối với người dân và chính quyền Nhật Bản Các chính sách của nhà nước đều do Mĩ chi phối và kiểm soát Từ một nước tư bản lớn mạnh, một cường quốc kinh tế châu Á trong những năm trước chiến tranh, nhưng giờ đây Nhật Bản đã trở thành một nước chiến bại, bị quân Đồng minh chiếm đóng, bị thống trị, bị phụ thuộc Có thể nói, chưa khi nào đất nước Nhật Bản lại rơi vào tình trạng có muôn vàn khó khăn như lúc này Vấn đề đặt ra cho toàn thể nhân dân, chính quyền Nhật Bản là phải nhanh chóng thoát khỏi sự lệ thuộc, lấy lại
vị thế về kinh tế của quốc gia, dân tộc
Trang 19Đứng trước tình hình đó, từ năm 1945 - 1951, Nhật Bản đã tiến hành cải cách toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, là cơ sở cho sự cất cánh kỳ diệu trong thời kỳ từ năm 1952 đến 1973 của Nhật Bản Các cuộc cải cách chính trị: thanh trừng tội phạm phát xít, phong trào đòi tự do hoạt động của các đảng phái chính trị đã đi trước một bước tạo tiền đề cho cải cách, làm trong sạch bộ máy chính trị, chuyển toàn bộ bộ máy chính trị phục vụ chiến tranh sang phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế và đã thổi một làn gió tự do, dân chủ trong nền kinh tế, tạo điều kiện, cơ sở thuận lợi cho Nhật Bản bước vào kỷ nguyên tăng trưởng kinh tế
Cải cách chính trị Nhật Bản quan trọng nhất sau chiến tranh là cải cách Hiến pháp Hiến pháp mới đã được ban bố vào ngày 7/10/1946 dưới hình thức chế độ Thiên Hoàng là tượng trưng, chủ quyền thuộc về nhân dân, hòa bình
và tôn trọng quyền cơ bản của con người Hiến pháp trên thực tế đã tuyên bố xóa bỏ những hình thức phong kiến ràng buộc quyền cơ bản của con người Hiến pháp 1946 thực tế công khai xóa bỏ những ràng buộc phong kiến và là điểm khởi đầu cho những tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng của xã hội Nhật Bản ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đã tạo cơ sở xã hội mới cho mọi người dân trong cuộc sống và đóng góp xứng đáng vào sự phát triển đất nước Hiến pháp Nhật Bản 1946 được coi là Hiến pháp hòa bình đã thực sự có hiệu quả trong thực tế cùng với áp lực của sức mạnh Đồng minh, cùng nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau, môi trường hòa bình do Hiến pháp mang lại đã tạo điều kiện thuận lợi cho Nhật Bản ổn định, an tâm phát triển kinh tế Các cuộc cải cách chính trị như thanh trừng những người có tư tưởng quân phiệt, hiếu chiến ra khỏi các công ty, xí nghiệp hay trong các cơ quan chính phủ đã tạo điều kiện thổi vào đây những tư tưởng mới, hòa bình, dân chủ, tự
do Cùng với những biến đổi trong nền chính trị, xã hội Nhật Bản do cải cách chính trị tạo ra, những thành quả của nó đã tạo ra mối quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa chủ-thợ trong quá trình lao động
Trang 201.2 Kinh tế
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, là một nước bại trận, Nhật Bản bị tàn phá nặng nề về mọi mặt Theo điều tra của cơ quan ổn định kinh tế sau chiến tranh thì 80,3% tàu thuyền, 34,2% máy móc công nghiệp bị phá hủy, 20,6% nhà cửa và tài sản riêng của các gia đình bị thiệt hại Riêng tại hai thành phố là Tokyo và Osaka có tới 60% nhà cửa bị thiêu cháy Tài sản của nhà nước bị tổn thất 25,4% so với thời kỳ trước chiến tranh Tổng số thiệt hại
về vất chất của Nhật Bản lên tới 64,3 tỉ yên tức là bằng hai lần tổng thu nhập quốc dân của Nhật Bản trong năm tài chính 1948-1949 Như vậy, là toàn bộ của cải tích lũy được trong 10 năm (1935-1945) đã bị tiêu hủy hoàn toàn
Bảng 1.2.2 Thiệt hại về tài sản quốc gia do cuộc chiến tại Thái Bình Dương
(Đơn vị: triệu yên theo giá tại thời điểm chiến tranh kết thúc)
Các loại tài sản Trước chiến
tranh
Sau chiến tranh
Tỷ lệ tàn phá
Đường sắt và các phương tiện
Nguồn: Uỷ ban ổn định kinh tế, Báo cáo tổng hợp về thiệt hại chiến tranh
tại Nhật Bản do cuộc chiến tại Thái Bình Dương,1949
Trang 21Đám mây nấm từ bom nguyên tử trên bầu trời Hiroshima (trái) và Nagasaki (phải)
Trang 22Hiroshima sau vụ đánh bom năm1945
(Nguồn: http://vi wikipedia.org/wiki/)
Thêm vào đó, sản lượng công nghiệp năm 1946 giảm đến mức chưa bằng 1/3 tổng sản lượng năm 1930 và chỉ bằng 1/7 mức sản lượng năm 1941
Nền kinh tế nông nghiệp của Nhật Bản cũng bị khủng hoảng nghiêm trọng
do thiếu lực lượng lao động, thiếu thiết bị sản xuất và phân bón Lương thực
bị thiếu hụt nghiêm trọng
Cùng với những thiệt hại về vật chất, tổn thất về tính mạng cũng vô cùng
to lớn Số người Nhật thiệt mạng trong thời kỳ chiến tranh, kể từ khi cuộc chiến tranh Trung-Nhật nổ ra (1937) lên đến hơn 3 triệu người Trong đó, số
tử trận hoặc do bệnh tật chết ở mặt trận trong lực lượng lục quân lên tới khoảng 1.140.000, còn đối với hải quân là 410.000 người Các cuộc oanh tạc của quân đội Đồng minh cũng đã làm cho hơn 300.000 người thiệt mạng
Trang 23Nền kinh tế khủng hoảng, nước Nhật bại trận phải đối mặt với nhiều thách thức lớn trong công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế Những vấn đề gay gắt nhất của xã hội Nhật Bản lúc đó là tình trạng thất nghiệp trầm trọng, thiếu nguyên liệu và lạm phát Khoảng 4 triệu người thất nghiệp do sự triệt thoái của các ngành sản xuất phục vụ mục tiêu quân sự Thêm vào đó, Nhật Bản còn có khoảng 7,6 triệu binh lính giải ngũ, không đâu tiếp nhận Chiến tranh kết thúc, từ nước ngoài có khoảng 1,5 triệu người hồi hương về nước Con số đó nâng số người ở Nhật Bản không có việc làm lên tới khoảng hơn 13,1 triệu sau chiến tranh thế giới thứ hai Một số trong đó có khả năng quay trở lại công việc trước kia đã làm hoặc trở về với công việc đồng ruộng làm nông nghiệp khoảng 3 triệu người thì làm thế nào để giải quyết công ăn việc làm cho hơn 10 triệu người luôn là vấn đề gây đau đầu của các quan chức Nhật Bản sau chiến tranh thế giới hai[10, tr.326] Trên thực tế, vì mưu sinh, mọi người dân đều tìm cho mình một kế sách gì đó để sinh nhai, như buôn bán chợ đen, “quầy hàng ngoài phố” hoặc mưu sinh nhờ vào số tiền tiết kiệm, dành dụm ít ỏi của họ Nhưng rõ ràng, việc làm không đầy đủ và thu nhập thấp, bấp bênh sẽ là những khó khăn, kìm hãm tăng trưởng của nền kinh tế cũng như nguyên nhân dẫn tới những tệ nạn xã hội trầm trọng Nếu không nhanh chóng tìm ra biện pháp hữu hiệu nhằm tạo ra việc làm thì số người thất nghiệp sẽ còn tăng lên nhanh chóng hơn nữa, với cấp số nhân
Về kinh tế, tình trạng thiếu năng lượng và lương thực trầm trọng Các nguồn năng lượng chính lúc bấy giờ là than và thủy điện bị giảm sút nghiêm trọng Mặc dù nhu cầu năng lượng đã giảm xuống rất nhiều do đình chỉ sản xuất quân sự nhưng sản lượng than lại bị tụt nhanh hơn so với yêu cầu Sản lượng than hàng tháng giảm xuống chỉ còn 1 triệu tấn vào mùa thu năm 1945 trong khi nhu cầu thực tế dù đã giảm vẫn cần 3 đến 4 triệu tấn Tình trạng này diễn ra là do những người Trung Hoa, Triều Tiên trước kia phải làm việc khổ sai trong các mỏ than của Nhật nay đã bỏ về nước hoặc không chịu làm việc như trước nữa Các mỏ than của Nhật lâm vào tình trạng hoàn toàn tê liệt Do
Trang 24thiếu than, ngành đường sắt bị khủng hoảng nghiêm trọng Cùng với việc thiếu năng lượng, vụ lúa năm 1945 giảm sút khá nhiều, chỉ bằng 2/3 sản lượng trung bình hàng năm Sự thiếu hụt năng lượng và lương thực là không phải hiếm trong lịch sử Nhật Bản, nhưng vấn đề là sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nước Nhật bại trận mất hết thuộc địa Triển vọng bù đắp thiếu hụt từ nguồn cung cấp lương thực và năng lượng từ bên ngoài như trước đó là không còn nữa Mối lo sợ nhiều người sẽ bị chết đói vì thiếu lương thực và nhiên liệu đã hiện hữu Chính phủ Nhật Bản nhiều lần đề nghị cho nhập lương thực nhưng lực lượng chiếm đóng không chấp nhận
Nạn lạm phát nghiêm trọng bùng nổ từ giữa năm 1945 kéo dài đến đầu năm 1949 đã khiến cho giá cả tăng vọt Thêm vào đó, khi Nhật Bản thua trận, một lượng lớn các quỹ dùng cho các khoản chi tiêu quân sự được đưa vào lưu thông: tiền lương của binh sỹ được trả, các đơn đặt hàng quân sự đã hoàn thành được thanh toán, tiền chi cho các khoản ứng trước, tiền đền bù thiệt hại chiến tranh Những lời đồn đại như về khả năng có đổi tiền, đánh thuế tài sản, không cho rút tiền ở ngân hàng đã khiến cho dân chúng đổ xô đi mua vét hàng hoá, rút tiền gửi ở các ngân hàng Nhịp độ tăng giá vài tháng trước khi Nhật đầu hàng quân Đồng minh đã xuất hiện nhưng tốc độ tăng giá quãng thời gian sau đó là không thể dự báo được
Để khắc phục tình trạng lạm phát phi mã này, Chính phủ Nhật Bản đã phải áp dụng những biện pháp tài chính khẩn cấp vào tháng 2 năm 1946 như kêu gọi ký gửi tiền mặt ở các cơ quan tài chính, ra lệnh phát hành tiền mới, thực hiện việc chuyển đổi đồng Yên mới và chỉ cho phép mỗi gia đình được rút 500 yên mỗi tháng để chi tiêu, thu thuế tài sản (dự tính ban đầu thu được
100 tỷ yên nhưng cuối cùng chỉ thu được 30 tỷ) Những biện pháp ngăn chặn này cũng không thể ngăn chặn đà lạm phát đã lên tới mức quá cao
Ngày 4 tháng 7 năm 1947, cuốn Sách trắng kinh tế đầu tiên của Nhật
Bản được công bố với nhan đề: “Báo cáo thực trạng nền kinh tế” Theo đó, do tình trạng kinh tế thấp kém, do sự cũ nát của các phương tiện giao thông nên
Trang 25tai nạn giao thông tăng gấp 3 lần so với thời kỳ trước chiến tranh Nguồn thực phẩm cung cấp cho cư dân 6 thành thị lớn của Nhật chỉ đạt khoảng 106 calo/ ngày, tức là chỉ đáp ứng 50% số năng lượng cần thiết Khoảng 30-40% nguồn cung cấp lương thực phải trông chờ vào thị trường tự do Tình trạng đó gây nên sự mất lòng tin vào chính phủ và những tư tưởng, hành động tiêu cực xã hội nẩy sinh
Những khó khăn trầm trọng đó của nền kinh tế buộc Nhật Bản phải có biện pháp giải quyết hữu hiệu, nhanh chóng vực dậy nền kinh tế đang trên đà sụp đổ Những cải tiến về khoa học - công nghệ, thay đổi bản chất của lực lượng sản xuất sẽ giúp Nhật Bản có thể khắc phục nhanh chóng những khó khăn và phát triển nhanh chóng trong thời gian kế tiếp
Tập trung vốn phát triển khu vực sản xuất lớn, hiện đại, phát triển những ngành công nghiệp mới, then chốt là điều kiện quan trọng để thực hiện cách mạng khoa học - kĩ thuật Chính cách mạng khoa học- kĩ thuật lại ảnh hưởng trực tiếp đến việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, đến việc phát triển các ngành công nghiệp mới có năng suất cao, trở thành nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy kinh tế phát triển
1 3 Xã hội
Những vấn đề gay gắt nhất của xã hội Nhật Bản sau chiến tranh là tình trạng thất nghiệp, đói khát, đời sống của nhân dân vô cùng tối tăm Nhật có khoảng 7,6 triệu binh lính được giải ngũ, khoảng 4 triệu công nhân trong các nhà máy quân sự bị mất việc làm và thêm 1,5 triệu người từ các thuộc địa của Nhật Bản hồi hương Con số đó, nâng số người không có việc làm lên đến 13,1 triệu Dù một số người có khả năng quay lại nghề cũ (chủ yếu về quê làm nông nghiệp khoảng 3 triệu người) hoặc tìm được việc làm mới thì vẫn có khoảng 10 triệu người đang trong tình trạng thất nghiệp Giải quyết việc làm cho hơn 10 triệu người, chừng 17% dân số, 37% lực lượng lao động không phải là một vấn đơn giản mà là một vấn đề kinh tế - xã hội vô cùng khó khăn, cấp thiết của Nhật Bản sau chiến tranh
Trang 26Khó khăn này chưa qua, khó khăn khác đã lại ập đến, vụ mùa năm
1945 được nhân dân trông đợi cuối cùng bị thất bại thảm hại Sản lượng gạo, loại cây lương thực chính của Nhật, chỉ đạt 6 triệu tấn, bằng khoảng hai phần
ba năm bình thường, nên tình trạng đói kém càng trở nên trầm trọng Một người lớn cần 2400 kilocalo một ngày nhưng khẩu phần cung cấp tại 6 thành phố lớn chỉ có khoảng 1000 kilocalo/một người/một ngày, bằng 1/2 mức bình thường Khoảng 30-40% lương thực phải trông chờ vào chợ đen Nhật Bản đã yêu cầu các lực lượng quân đội Mĩ cho phép nhập khẩu lương thực nhưng lúc
đó cũng xảy ra tình trạng thiếu lương thực trên toàn cầu nên lúc đầu các lực lượng chiếm đóng đã làm ngơ trước yêu cầu của kẻ thù cũ của mình Cuối cùng, một số bột mì đã được nhập khẩu và ở các thành phố lớn còn có thêm lượng lương thực thừa của quân đội Mĩ đem ra phân phối
Khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp tất yếu kéo theo là những vấn đề xã hội nghiêm trọng Tình trạng mất kiểm soát, mất lòng tin, vô chính phủ diễn
ra ngày một phổ biến Các tệ nạn xã hội như buôn bán chợ đen, cờ bạc, trộm cắp xuất hiện nhiều hơn bao giờ và ngày càng nhức nhối
Như vậy, về tinh thần người dân Nhật Bản bị lạc hướng, suốt một thời gian dài trong chiến tranh họ đã làm hết sức mình để phục vụ chiến tranh “Đại Đông Á”, sau khi chiến tranh kết thúc “Sứ mệnh quốc gia” đó đã bị tan vỡ, họ không biết ngày mai sẽ đi về đâu, tương lai sẽ như thế nào Lúc này dân chúng đã vô cùng mệt mỏi về thể xác cũng như tinh thần
Những khó khăn trong xã hội tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật của Nhật Bản Sự phát triển của khoa học kĩ thuật của Nhật Bản trong giai đoạn lịch sử này cũng chịu những tác động tai hại, gặp nhiều khó khăn
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, do đòi hỏi của các mục đích quân
sự, các trung tâm nghiên cứu khoa học kỹ thuật được đầu tư phát triển Nhật Bản đã có những tiến bộ nhanh chóng về kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật quân
sự Sự phát triển của kỹ thuật điện và năng lượng hạt nhân là những ví dụ điển
Trang 27hình Nhưng, cho đến khi chiến tranh kết thúc, Nhật Bản vẫn còn rất lạc hậu
so với các nước tư bản phát triển khác về trình độ khoa học và kỹ thuật, nhiều loại hình kỹ thuật đã được ứng dụng rộng rãi ở châu Âu và châu Mĩ vẫn chưa được sử dụng ở Nhật Bản
Với những điều kiện kinh tế, xã hội như vậy cộng với tình trạng mất hết thuộc địa, bị quân đội Mĩ đóng quân kiểm soát, lúc này, dù người lạc quan nhất cũng không dám nghĩ Nhật Bản sẽ trở thành cường quốc kinh tế và khoa học- kĩ thuật phát triển trong tương lai Tuy nhiên, một trong những nhân tố
quan trọng hàng đầu đưa đến sự phát triển kinh tế “thần kỳ” của Nhật Bản
chính là những tựu của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật hiện đại Nhật Bản
đã biết tận dụng thời cơ, nhạy bén với tình hình thế giới, biết vận dụng một cách sáng tạo những thành tựu của khoa học và kỹ thuật vào phát triển kinh tế đất nước
Trang 28CHƯƠNG 2
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC - KỸ THUẬT Ở NHẬT BẢN TỪ
NĂM 1945 ĐẾN 1973 2.1 Cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại và vai trò của nó đối với
sự phát triển kinh tế
2.1.1 Một số khái niệm về cách mạng khoa học - kỹ thuật
Khoa học là một khái niệm thể hiện ở nhiều nội dung khác nhau: khoa học là một hình thái ý thức xã hội, là một công cụ nhận thức; khoa học là một lĩnh vực hoạt động xã hội; khoa học là một hệ thống tri thức của nhân loại được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết…Tuy nhiên có định nghĩa cho rằng khoa học là một hệ thống chỉnh thể các tri thức của tiến trình lịch sử xã hội được coi là định nghĩa đầy đủ nhất dưới góc độ lịch sử phát triển của khoa học Ngoài ra, khoa học còn được hiểu là quá trình hoạt động của con người để có được hệ thống tri thức về thế giới với chức năng làm cho con người nắm được những quy luật của hiện thực khách quan, ngày càng làm chủ được những điều kiện sinh hoạt tự nhiên và xã hội
Kỹ thuật trước hết là tập hợp tri thức gắn liền và tương ứng với một tập hợp kỹ thuật (Như máy móc, thiết bị, phương tiện…) bao gồm các tri thức về phương pháp, kỹ năng, bí quyết, kinh nghiệm…được sử dụng theo một quy trình hợp lý để vận hành, tập hợp kỹ thuật đó, tác động vào đối tượng lao động tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người Kỹ thuật từ chỗ chỉ dùng trong các hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất theo sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu thì giờ đây khái niệm đó được sử dụng với nghĩa rộng hơn và trong nhiều lĩnh vực hoạt động của con người Cách mạng kỹ thuật là quá trình thay đổi có tính chất cách mạng trong lĩnh vực sản xuất vật chất nhằm biến lao động thủ công thành lao động dùng máy móc và được thực hiện chủ yếu bằng công nghiệp hoá
Trang 29Nếu như, trong nhiều thế kỷ trước đây khoa học chỉ phát triển một cách độc lập riêng rẽ thì tới đầu thế kỷ 20 mối quan hệ mật thiết giữa khoa học- kỹ thuật đã tạo nên cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại của xã hội loài
người, đánh dấu quá trình “khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Khoa học thâm nhập trực tiếp vào sản xuất hàng ngày, trở thành nguồn gốc chính của những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ hàng ngày”[46, tr.149]
Cho tới nay đã có nhiều định nghĩa về cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật hiện đại Có một số học giả định ngĩa: Cách mạng khoa học- kỹ thuật,
còn được gọi là Cách mạng khoa học- kỹ thuật hiện đại, Cách mạng khoa học- kỹ thuật thế kỷ XX là một khái niệm nói về những phát triển mang tính vượt bậc và bước ngoặt của khoa học và kỹ thuật diễn ra từ giữa thế kỷ 20, hoặc sau khi Thế chiến thứ hai (1939-1945) kết thúc Trên thực tế, "Cách
mạng khoa học- kỹ thuật" là một khái niệm mới ra đời trong thế kỷ 20 và nội dung của khái niệm này có nhiều điều chưa được thống nhất trong giới học giả nói chung Song, về đại thể ta có thể hiểu đó là sự thay đổi căn bản trong bản thân các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật cũng như mối quan hệ và chức năng xã hội của chúng, khiến cho cơ cấu và động thái phát triển của các lực lượng sản xuất cũng bị thay đổi hoàn toàn Ở nét khái quát nhất, có thể định nghĩa cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại là sự biến đổi tận gốc lực lượng sản xuất của xã hội hiện đại, được thực hiện với vai trò dẫn đường của khoa học kỹ thuật trong toàn bộ chu trình: "khoa học - kỹ thuật - sản xuất- con người - môi trường "
Khoa học- kỹ thuật là sản phẩm của hoạt động nhận thức và phát triển trí tuệ của con người Con người sử dụng khoa học- kỹ thuật để cải tạo đối tượng lao động, bảo vệ thiên nhiên làm ra của cải vật chất, tinh thần phục vụ nhu cầu cuộc sống Khoa học- kỹ thuật đồng thời cũng là phương tiện để con người hoàn thiện bản thân mình với tư cách là một lực lượng sản xuất đặc biệt Để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, ngay từ khi xuất hiện, con người đã phải lao động, phải sản xuất ra của cải vật chất
Trang 30Theo quan điểm của những nhà tư tưởng theo chủ nghĩa thực chứng nhận định thì khoa học chỉ bó hẹp vào những ngành khoa học tự nhiên hay nói cách khác khoa học chỉ có ở những ngành “khoa học chính xác” Thực tế, trên quan điểm duy vật biện chứng, khoa học được coi là một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm một tương quan cơ động trong lịch sử giữa các bộ môn khác nhau: tự nhiên học và khoa học nghiên cứu xã hội, giữa phương pháp, lý luận
và nghiên cứu ứng dụng Khoa học là kết quả tất yếu của phân công lao động
xã hội; nó xuất hiện tiếp theo việc tách lao động trí óc khỏi lao động chân tay, cùng với việc biến hoạt động nhận thức thành một loại công việc đặc thù của một nhóm người đặc biệt, số người này ban đầu có số lượng rất ít
Cách mạng khoa học- kỹ thuật là sự biến đổi căn bản về chất của lực lượng sản xuất trên cơ sở biến khoa học thành yếu tố hàng đầu của sự phát triển sản xuất xã hội và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật hiện đại, khoa học với tư cách là một
hệ thống đang được xây dựng lại một cách mới về cơ bản Muốn khoa học có thể đáp ứng được nhu cầu của sản xuất hiện đại, các tri thức khoa học phải trở thành tài sản của một đội ngũ đông đảo những chuyên gia, kỹ sư, những người tổ chức sản xuất và công nhân Khoa học thời hiện đại mang những nét đặc trưng mới Nó không chỉ đơn thuần đi theo sự phát triển của kỹ thuật mà còn vượt qua kỹ thuật, trở thành lực lượng chủ chốt của tiến bộ sản xuất Toàn
bộ các lĩnh vực nghiên cứu khoa học (trong khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội) đã có tác dụng thúc đẩy sản xuất xã hội
Khoa học là tinh hoa của tiến trình phát triển chung của lịch sử loài người Hơn thế nữa, đó là đòn bẩy mạnh mẽ của lịch sử, là một lực lượng cách mạng, theo ý nghĩa chính xác nhất của từ đó Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh điều đó là đúng Ngay từ thế kỉ XVII, khoa học
đã từng bước đưa ngành trồng trọt chăn nuôi trở thành cốt lõi của nền kinh tế nông nghiệp, phát triển chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên Đến giữa thế
Trang 31kỉ XVII, nền kinh tế công nghiệp bắt đầu được hình thành Từ đó đã có hai cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra nhờ sự phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật, được đánh dấu bằng sự ra đời của máy hơi nước và máy phát điện Và đặc biệt, với cuộc cách mạng khoa học- kĩ thuật đầu thế kỉ XX, loài người đã
đi sâu nghiên cứu thế giới từ vi mô đến vĩ mô, tất cả những sự vật nằm ngoài khả năng quan sát của giác quan con người Hàng loạt những phát kiến vĩ đại
về phân tử, nguyên tử, hạt nhân, các hạt cơ bản đến những hiểu biết về vũ trụ: các vì sao, thiên hà, đại thiên hà, sự giãn nở của vũ trụ Người ta ước tính rằng trong thế kỉ XX toàn bộ lượng thông tin, tri thức tăng thêm khoảng 1000 lần so với đầu thế kỉ và vượt trội tất cả các tri thức mà loài người tích lũy được trong suốt lịch sử phát triển từ thế kỉ XIX trở về trước Cuộc cách mạng khoa học- kĩ thuật đó tất yếu sẽ dẫn đến cuộc cách mạng về lực lượng sản xuất mà ngày nay chúng ta gọi là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, bắt đầu vào khoảng từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai
Với những tiến bộ vượt bậc và sức mạnh to lớn của mình, khoa học- kỹ thuật giúp con người có điều kiện tốt hơn để học tập, nghiên cứu phát triển trí tuệ và con người, với những hoạt động của mình tác động ngược lại sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, thúc đẩy những tiến bộ xã hội
2.1.2 Vai trò của Cách mạng khoa học - kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế
Xã hội càng phát triển càng chứng minh một điều rằng: Khoa học - kỹ thuật có vai trò ngày càng sâu sắc, tác động lớn đến nhịp độ tăng trưởng kinh
tế ở nhiều quốc gia
Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay không chỉ là một hiện tượng thuần tuý về khoa học - kỹ thuật mà còn
là một hiện tượng lịch sử, một bộ phận quan trọng của sự phát triển của xã hội, gây nên những tác động to lớn, làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loài người
Có thể nói rằng sự phát triển của khoa học- kỹ thuật đã đưa văn minh nhân loại quá độ sang một giai đoạn phát triển mới về chất Đó là kết quả của
Trang 32quá trình tích luỹ lâu dài các kiến thức khoa học của việc đổi mới kỹ thuật sản xuất, và việc tăng quy mô sử dụng kỹ thuật mới Trong đó sự phát triển có tính tiến hoá và các dịch chuyển có tính chất cách mạng đã cùng tạo điều kiện cho nhau phát triển Trong lĩnh vực sản xuất cũng như trong các ngành tri thức khoa học đều có thể quan sát thấy những sự luân phiên đặc sắc của cuộc nhảy vọt và sự phát triển tuần tự trong nhiều lĩnh vực như: Trong ngành năng lượng, sử dụng năng lượng nước, cơ bắp, gió, than, điện, dầu lửa rồi năng lượng nguyên tử và hiện nay chính là năng lượng nhiệt hạch Trong lĩnh vực sản xuất, từ hợp tác lao động giản đơn qua giai đoạn công trường thủ công rồi tiến lên phương thức sản xuất đại cơ khí với các quy trình sản xuất và kỹ thuật được cơ giới hoá tổng hợp, xuất hiện các hệ thống máy móc, tạo ra các máy tự động, tự động hoá đồng bộ, hệ thống sản xuất linh hoạt Trong sản xuất vật liệu, chuyển từ nguyên liệu nông nghiệp, các loại vật liệu xây dựng truyền thống ( như gỗ, gạch, đá…), sử dụng kim loại đen ( như sắt gang…) là chủ yếu sang sử dụng kim loại màu, chất dẻo, bê tông, các vật liệu kết cấu (omposite), vật liệu thông minh, vật liệu siêu dẫn… Trong kỹ thuật sản xuất, chế tạo từ sản xuất thủ công, tiến lên bán tự động rồi tới kỹ thuật tự động hoá(
tự động hoá thiết kế - chế tạo…), kỹ thuật thông tin (tin học, viễn thông vũ trụ…) kỹ thuật nano, kỹ thuật sinh học, kỹ thuật hạt nhân, kỹ thuật không gian, kỹ thuật vật liệu mới… Sự khởi đầu của cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã đưa con người tiến vào một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của tri thức Đây là bước quá độ trong sự phát triển khoa học và kỹ thuật hoàn toàn chỉ dựa trên cơ sở khoa học trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và các ngành sản xuất vật chất, biến bản thân khoa học thành nền công nghiệp tri thức trong thời đại tri thức, nền kinh tế công nghiệp sẽ trở thành nền kinh tế thông tin (hay còn gọi là nền kinh tế tri thức, nền kinh tế tin học, nền kinh tế mạng…)
Trang 33Khoa học - kỹ thuật trong giai đoạn lịch sử hiện nay không những đã kéo dài cánh tay con người bằng việc thay đổi các hệ thống kỹ thuật trước đây, tạo ra các công cụ sản xuất mới với hiệu quả rất cao, mà khoa học kỹ thuật còn mở rộng bộ óc và khả năng tư duy, làm tăng lên vượt bậc năng lực nhận thức và cải tạo thế giới của con người Nó cho phép thực hiện những bước nhảy vọt chưa từng có của lực lượng sản xuất và năng xuất lao động; làm thay đổi vị trí, cơ cấu, các ngành sản xuất và các vùng kinh tế Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật này cũng đã đưa tới sự xuất hiện nhiều ngành công nghiệp mới, nhất là những ngành có liên quan đến những tiến bộ của khoa học
- kỹ thuật đương đại như: công nghiệp vũ trụ, tên lửa, công nghiệp điện tử, vật liệu tổng hợp, công nghệ vi sinh Những sản phẩm khoa học - kỹ thuật đã làm thay đổi phương thức sinh hoạt và tiêu dùng trong đời sống xã hội Đời sống thay đổi và mức sống con người ngày càng được nâng cao
Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại (từ cuối những năm 70 của
thế kỷ XX gọi là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ) có nội
dung phong phú và phạm vi rộng lớn hơn rất nhiều so với những đổi thay về khoa học- kỹ thuật của những giai đoạn lịch sử trước đó Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ ngày nay đang phát triển sâu rộng và diễn ra hết sức sôi động, bao quát toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của con người với những thành tựu to lớn và kỳ diệu, vượt xa những trông đợi và dự đoán của con người
Khoa học và kỹ thuật giai đoạn mới hiện nay bắt đầu phát triển mạnh
từ khoảng những năm 50 của thế kỷ trước và đặc trưng rõ nét nhất từ khi vệ tinh nhân tạo đầu tiên chinh phục không gian vũ trụ (1957), tiếp đó là con người bay vào vũ trụ, đặt chân lên mặt trăng, cũng như các công trình nghiên cứu vũ trụ khác đến nay hầu như là chuyện “hàng ngày” Được sự kích thích
và sự hỗ trợ của công nghệ vũ trụ, các ngành công nghệ mới, có tầm cao mới liên tiếp ra đời, đặc biệt là công nghệ thông tin, viễn thông, công nghệ năng lượng tái tạo,… với những phát minh kỳ diệu như lade (1967), truyền hình qua vệ tinh nhân tạo (1964), tổng hợp gien (1973), mạch tổ hợp cho (1965),
Trang 34máy tính điện tử, máy tính điện tử sinh học dựa trên cấu tạo bộ óc con người (1994), bộ vi xử lý (1971), rệp điện tử, máy gia tốc, …
Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người đã được Nga phóng lên quỹ
đạo trái đất vào ngày 4/10/1957
(Ảnh: Celestiamotherlode.net) (Nguồn: www.khoahoc.com.vn)
Có thể nói từ nửa cuổi thế kỷ XX, con người đã mở rộng thêm tầm nhìn, thực sự nối thêm cánh để bay và làm việc trong không gian bao la, đã làm cho không gian thu hẹp khoảng cách, con người xích lại gần gũi nhau hơn, cuộc sống tốt đẹp, sôi nổi hơn, khối óc sâu rộng hơn, hiểu biết thế giới khách quan, khám phá quá khứ lịch sử cũng như dự đoán tương lai xác thực hơn…
Trang 35Đến cuối thế kỷ XX, có thể khẳng định rằng nền sản xuất xã hội đang biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ cả về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động tạo nên một sự phát triển nhảy vọt, một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại sang một thời đại kinh tế mới (thường gọi là thời đại kinh tế tri thức) quá
độ sang một nền văn minh mới (thường gọi là nền văn minh trí tuệ) mà nguyên nhân và động lực chính là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới hình thành từ mấy chục năm qua
Với những tác động mà cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đem lại cho cuộc sống con người, các tiêu chí của sự phát triển cũng đã thay đổi cơ bản Thang giá trị phát triển của xã hội không được đánh giá bằng những giá trị vật chất đơn thuần như trước kia mà được đánh giá bằng trí tuệ Trí tuệ như một yếu tố khởi động cho guồng máy sản xuất hoạt động theo dạng thức mới: gia tăng các ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao; là các thiết bị máy móc tự động hóa, hiệu suất cao; là công nghệ sản xuất hiệu quả, chất lượng cao nhưng lại giảm chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng ít và thân thiện với môi trường Trí tuệ trở thành vật phẩm cao cấp, có giá trị sử dụng vô giá, có mối giao lưu đặc biệt trong thị trường hiện đại và bản thân nó cũng tạo ra những thị trường riêng biệt có sức hút và cạnh tranh quyết liệt
Với những thành tựu của mình, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện nay đã làm đảo lộn nhiều giá trị, quan niệm truyền thống
Cơ cấu kinh tế xã hội loài người có sự thay đổi mạnh mẽ, từ chiều rộng sang chiều sâu, từ nền sản xuất vật chất sang nền sản xuất phi vật chất Lực lượng sản xuất vì thế được xác lập một cơ cấu và loại hình phát triển mới Sản xuất bằng máy móc, trong đó con người bắt buộc phải trực tiếp tham dự vào quy trình công nghệ, phải thực hiện những chức năng cơ giới, kỹ thuật được thay thế cho sản xuất tự động hoá, điều khiển hoá Các yếu tố của công cụ, công nghệ và tư liệu sản xuất cũng từ đó có sự đổi khác Tiến bộ khoa học- kỹ thuật đã tạo ra những vật liệu, nguyên, nhiên liệu mới, hạn chế tối đa sự lệ thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản truyền thống Các
Trang 36nguyên liệu tự nhiên được thay thế bằng các chế phẩm nhân tạo, tái chế Điều này góp phần vào việc đảm bảo sự cân bằng sinh thái Vị trí và vai trò của con người - yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất có những thay đổi nhất định, khả năng tự sáng tạo với tài năng và trí tuệ được khuyến khích đề cao Công cụ, công nghệ sản xuất với hàm lượng chất xám cao trở thành những mặt hàng, sản phẩm hàng hóa được trông đợi và có khả năng thu lợi nhuận cao nhất cho các nhà đầu tư
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật dẫn tới những biến động
về tương quan lực lượng giữa các nước Những nước đi đầu về khoa học - kỹ thuật có nhiều cơ hội thuận lợi để khắc phục các cuộc khủng hoảng, đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội, giành được nhiều lợi thế về kinh tế và quân
sự, tăng cường nhanh chóng sức mạnh tổng hợp quốc gia, củng cố và phát huy vai trò của mình trong nền chính trị thế giới Những quốc gia không tận dụng được cơ hội này sẽ bị tụt hậu, thua kém ngày càng nhiều, mất vị trí và vai trò kinh tế - chính trị trước đây của mình và bị phụ thuộc vào các cường quốc mới
Với những thành tựu to lớn của mình, khoa học - kỹ thuật ngày nay đã tạo ra một nền kinh tế thế giới năng động, quốc tế hóa cao, bao gồm tất cả các nước, cùng hợp tác, cùng đấu tranh để phát triển Nền kinh tế thế giới đang vận động trong mối quan hệ đan chéo, phụ thuộc và tác động lẫn nhau Nhiều quốc gia buộc phải điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế để phù hợp với xu thế mới, đẩy mạnh xu thế chuyển giao công nghệ hiện đại, đầu tư vào các ngành kỹ thuật cao
Với những thành tựu kỳ diệu mà khoa học - kỹ thuật đem lại, con người
bước vào một kỷ nguyên mới của sự phát triển, một nền văn minh mới: “Văn
minh trí tuệ” hay còn gọi “văn minh hậu công nghiệp”
Có thể nói, khoa học - kỹ thuật là yếu tố tiên quyết, quan trọng, thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia Trong thời hiện đại ngày nay, với sức mạnh vượt trội của mình, khoa học kỹ thuật còn mang ý nghĩa sống còn, vai
Trang 37trò quyết định không những đối với sự phát triển mà còn là sự tồn vong của mỗi quốc gia và dân tộc
Như vậy, cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật hiện đại dựa trên cơ sở cốt lõi là cuộc cách mạng vi điện tử diễn ra từ đầu thập niên 60 và các thành tựu khoa học- kĩ thuật lớn nhất của thế kỉ XX thì đó là bước quá độ dưới sự chỉ đạo với vai trò dẫn đường của khoa học sang quá trình tổ chức lại về căn bản kỹ thuật sản xuất, điều tiết các quy trình kỹ thuật với quy mô ngày càng tăng, tổ chức lại tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội dựa trên cơ sở những ngành kỹ thuật cao mà các cuộc cách mạng trước đó chưa đủ điều kiện tạo ra một cách hoàn chỉnh như :Kỹ thuật thông tin, kỹ thuật sinh học, kỹ thuật vật liệu mới, kỹ thuật năng lượng mới, kỹ thuật tự động hoá trên cơ sở kỉ thuật vì điện tử Thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã tạo điều kiện tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực xã hội Cho phép chi phối tương đối các phương tiện sản xuất để cùng tạo ra cùng một khối lượng hàng hoá tiêu dùng Kết quả là kéo theo sự thay đổi cơ cấu của nền sản xuất xã hội, làm thay đổi tận gốc lực lượng sản xuất mà khoa học- kỹ thuật là yếu tố hàng đầu Cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật hiện đại đã tác động sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người, đưa con người tiến vào thời đại mới- thời đại của nền kinh tế tri thức
2.2 Chính sách phát triển khoa học- kỹ thuật của Nhật Bản từ năm 1945 đến 1973
Nhật Bản hiện nay là quốc gia dẫn đầu thế giới về khoa học và công nghệ Được đánh giá là một cường quốc kinh tế, là quốc gia có nền kinh tế lớn thứ ba toàn cầu tính theo tổng sản phẩm nội địa cũng như theo sức mua tương đương chỉ sau Mĩ và Trung Quốc Và Nhật còn là nước đứng thứ 5 thế giới trong lĩnh vực đầu tư cho quốc phòng, xếp thứ 4 thế giới về xuất khẩu và đứng thứ 6 thế giới về nhập khẩu
Trang 38Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản là một trong ba lò lửa chiến tranh gồm Đức, Nhật và Italia Khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản là một nước bại trận Nền kinh tế Nhật Bản bị tàn phá hoàn toàn Cả nước bị ném bom tàn phá nặng nề đã gây ra những thiệt hại vô cùng khủng khiếp cả về người và của đối với Nhật Bản
Sau chiến tranh, cuộc sống của đại đa số người Nhật không đủ ăn, không có nhà ở, máy móc thiết bị, nhà xưởng, xí nghiệp bị tàn phá, nguyên nhiên liệu phục vụ cho sản xuất cũng khan hiếm Hàng hóa thiếu thốn trầm trọng, lạm phát phi mã xảy ra Và yêu cầu cấp thiết lúc này là Nhật Bản phải tiến hành khôi phục nền kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh Nói tới Nhật Bản, không ít nhà nghiên cứu phương Tây cho rằng sự thành công trong phát triển kinh tế của Nhật Bản là kết quả của sự kết hợp khéo léo giữa “công nghệ Phương Tây” và “tính cách Nhật Bản” Trải qua những bước thăng trầm trong lịch sử, sự lớn mạnh của nền kinh tế đã làm cho kinh tế Nhật Bản trở thành một trong những trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất thế giới Nền kinh
tế Nhật Bản đã được phục hồi ngay sau chiến tranh, và từ nửa đầu thập kỉ 60 cho đến năm 1973 đã duy trì được tốc độ phát triển cao đáng kinh ngạc người
ta gọi đó là “sự phát triển thần kì” Tại sao Nhật Bản là một nước đi sau trên con đường tư bản chủ nghĩa trong khi nhiều quốc gia phương Tây đã bắt đầu tiến nhanh trên con đường tư bản chủ nghĩa, mà Nhật Bản lại có thể vươn lên
và phát triển mạnh mẽ đến vậy? Đó là do các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã nhận thức rõ, chỉ bằng phát triển khoa học- kỹ thuật, phát triển công nghệ cao, Nhật Bản mới có thể tạo ra sự phát triển có tính đột phá về kinh tế được
2.2.1 Chính sách mua lại các phát minh sáng chế khoa học- kỹ thuật phương Tây
Để khôi phục lại nền kinh tế sau chiến tranh và nhanh chóng xoá bỏ khoảng cách về khoa học và kỹ thuật với các nước tư bản phương Tây, đặc biệt là Mỹ Nhật Bản đã chú trọng vào nhập khẩu những phát minh khoa học công nghệ tiên tiến Nhật Bản nhập khẩu công nghệ qua nhiều kênh chuyển
Trang 39giao khác nhau Mời các kỹ sư, chuyên gia giỏi của nước ngoài mang công nghệ tiên tiến vào dạy cho người Nhật và cử người Nhật, học sinh, sinh viên
và các nhà khoa học ra nước ngoài để tiếp thu các công nghệ mới Thông qua việc sử dụng máy móc, thiết bị, hoặc tháo máy móc thiết bị mới, áp dụng “kỹ thuật đảo” để chế tạo máy Đầu tư nước ngoài trực tiếp, tham gia hội chợ, triển lãm cũng là những kênh chuyển giao công nghệ Nhật Bản áp dụng để nhập công nghệ mới Tuy nhiên, kênh chuyển giao công nghệ mà Nhật Bản
áp dụng chủ yếu thời kỳ này là mua công nghệ, các phát minh khoa học mới
và các dịch vụ công nghệ
Các kĩ thuật tiên tiến nhanh chóng được đưa vào Nhật Bản, những mặt hàng mới lần đầu tiên xuất hiện ở thị trường Nhật Bản như nilon, sợi polieste, nguyên tử năng, bán dẫn, vô tuyến truyền hình, máy tính Có những mặt hàng được sản xuất từ trước nhưng nay nhờ có kĩ thuật mới mà phương pháp, chất lượng thay đổi hẳn Nhật Bản đã du nhập phương thức sản xuất sắt thép liên hoàn, phương pháp phân giải dầu mỏ, phương thức đóng tàu theo khối lớn, phương thức sản xuất xe hơi hàng loạt Sau chiến tranh, nước Mĩ đã đạt được những tiến bộ khoa học kĩ thuật rất lớn Nhờ những kĩ thuật tiên tiến, những phát minh kì diệu ở nước Mĩ trước và sau chiến tranh được đưa vào Nhật Bản trong thập kỉ 50, mà tốc độ tiến bộ kĩ thuật ở Nhật Bản cũng nhanh đến mức chưa từng có
Bước vào thập niên 60 của thế kỉ XX, tiến bộ kĩ thuật diễn ra dưới hình thức kết hợp với những kĩ thuật đã có Có nhiều quan điểm về sự kết hợp này các nhà khoa học tự nhiên thì cho rằng sự kết hợp đó không hẳn là cách mạng
kĩ thuật, còn các nhà kinh tế học thì cho rằng chính sự kết hợp khoa học kĩ thuật mới với kĩ thuật sẵn có là cách mạng kĩ thuật có ý nghĩa về mặt kinh tế Những đổi mới về mặt kĩ thuật mang tính chất kết hợp này là phổ biến trong thập kỉ 60 và cũng chính trong thời gian này xuất hiện các liên hiệp hóa dầu, liên hiệp gang thép, phương thức bán hàng tự động tại các siêu thị Sự tiếp
Trang 40nhận các tri thức, thành tựu khoa học kĩ thuật phương Tây được phân tích kĩ lưỡng, thận trọng và có chọn lọc Các tri thức này đem lại kết quả thiết thực cho sự phát triển kinh tế, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước Sự phát triển của các ngành công nghiệp nặng và hóa chất nhờ tiến hành cách mạng kĩ thuật Đặc biệt, trong các lĩnh vực hóa dầu, công nghiệp điện tử, sắt thép… đã
du nhập được các kĩ thuật tiên tiến nhất từ các nước phương Tây, kết hợp với
sự cải tiến cho phù hợp với đặc điểm của Nhật Bản, đã trang bị cho các ngành công nghiệp những kĩ thuật tiên tiến
Kĩ thuật tiên tiến đã cùng với lực lượng lao động cần cù, có tay nghề cao, làm hạ giá thành của hàng hóa và trở thành sức mạnh cho hàng hóa Nhật Bản thâm nhập vào thị trường thế giới Một điều quan trọng nữa là Nhật Bản
đã xác lập quy trình kĩ thuật quản lí chất lượng sản phẩm, chính vì vậy hàng hóa Nhật Bản được đánh giá cao Nhật Bản biết lợi dụng sự đầu tư của Mĩ để tạo dựng cho Nhật Bản phục hồi Sau đó Nhật Bản đã tận dụng sự phát triển của khoa học vào sự phát triển kinh tế như mua bằng sáng chế của nước ngoài, sử dụng chất xám vào phát triển khoa học kĩ thuật Chuyển từ phát triển kinh tế chiều rộng sang phát triển kinh tế chiều sâu Mặt khác, sự ganh đua cũng là một kênh khác mà qua đó thương mại có thể thúc đẩy tăng năng suất trong cả ngành xuất khẩu lẫn thay thế nhập khẩu Cạnh tranh và sự cọ xát với các doanh nghiệp nước ngoài lớn cũng sẽ đẩy mạnh việc mua sắm công nghệ, và do đó dẫn đến những thay đổi công nghệ nhanh hơn Vì việc sao chép hay tiếp thu công nghệ dễ dàng hơn việc tự phát minh, nhất là với điều kiện của Nhật Bản lúc đó thì việc mua các phát minh là lựa chọn tối ưu nhất Nhật Bản có sức thu hút vốn từ bên ngoài và có khả năng cạnh tranh cao, khả năng len lách vào các thị trường quốc tế
Có thể thấy, Nhật Bản luôn tăng cường đầu tư cho nhập khẩu kỹ thuật thông qua các con số: “Từ năm 1950-1974 Nhật Bản đã tiến hành 15.289 hợp đồng nhập khẩu kỹ thuật, trong đó gần 70% là của Mỹ, hơn 10% của Tây Đức