Muốn được UNESCO công nhận là DSVHPVT của thế giới bên cạnh việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa, Việt Nam cần phải truyền thông các di sản văn hóa này như một quá trình để UNE
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
(Khảo sát báo: Phú Thọ, Văn hóa, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật từ 2010 đến 2013)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái
Hà Nội – 2014
Trang 2XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
CHẤM LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Báo chí và Truyền thông trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã dày công đào tạo em trong suốt thời gian theo học tại trường
Đặc biệt, em xin gửi lời biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới người hướng dẫn khoa học PGS – TS Nguyễn Thị Minh Thái đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp, người thân, bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý, động viên em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
NGUYỄN THỊ HỒNG NGA
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và do chính tác giả nghiên cứu, phân tích chưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ học vị nào
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2014
NGUYỄN THỊ HỒNG NGA
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 6
7 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1: QUAN HỆ TRUYỀN THÔNG GIỮA DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN VÀ BÁO CHÍ VIỆT NAM 7 1.1 Khái niệm 7
1.1.1 Khái niệm truyền thông 7
1.1.2 Quá trình truyền thông 8
1.1.3 Khái niệm văn hóa 10
1.1.4 Khái niệm Di sản 11
1.1.5 Khái niệm Di sản văn hóa vật thể 11
1.1.6 Khái niệm Di sản văn hóa phi vật thể 12
1.2 Tổ chức UNESCO và Công ước của UNESCO về bảo vệ Di sản văn hóa 15
1.2.1 Tổ chức UNESCO 15
1.2.2 Công ước của UNESCO về Di sản văn hóa phi vật thể 16
1.2.3 Các di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận 18
1.3 Luật di sản văn hóa Việt Nam và mối tương quan với Công ước UNESCO 19
1.3.1 Luật di sản văn hóa Việt Nam 19
1.3.2 Mối tương quan với công ước UNESCO 21
Trang 61.4 Mối quan hệ giữa báo chí với di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận tại Việt Nam 23
1.4.1 Vai trò của báo chí trong quan hệ truyền thông di sản văn hóa phi vật thể 23 1.4.2 Vai trò của báo in trong quan hệ truyền thông Di sản văn hóa phi vật thể 25
Tiểu kết chương 1 27 CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH TRUYỀN THÔNG HAI DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN: HÁT XOAN VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG 29 2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình truyền thông hai di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận: Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 29
2.1.1 Về vị trí địa lý và điều kiện kinh tế xã hội 29 2.1.2 Về nhận thức của các cấp chính quyền Trung ương và tỉnh Phú Thọ với công tác truyền thông di sản văn hóa phi vật thể 30
2.2 Cơ sở phân kỳ quá trình truyền thông Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 34
2.2.1 Di sản văn hóa phi vật thể Hát Xoan 36 2.2.2 Di sản văn hóa phi vật thể Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 41
2.3 Tiêu chí lựa chọn và thống kê tin bài viết về hai Di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận 44 2.4 Phân tích quá trình truyền thông hai Di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận: Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương 49
2.4.1 Giai đoạn 1: Trước khi Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO công nhận (Hát Xoan từ 1/1/2010 đến 25/11/2011
và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương từ 1/1/ 2010 đến 6/12 /2012) 49
Trang 72.4.2 Giai đoạn 2: Sau khi Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO công nhận (Hát Xoan từ 26/11/2011 đến 31/12/2013 và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương từ 7/12/ 2012 đến
31/12/2013) 65
Tiểu kết chương 2 78
CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM, GIẢI PHÁP TRUYỀN THÔNG HAI DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN: HÁT XOAN VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG TRÊN BÁO CHÍ 79
3.1 Bài học kinh nghiệm truyền thông về Di sản văn hóa phi vật thể trên báo chí 80
3.1.1 Bài học thành công về quá trình truyền thông 80
3.1.2 Hạn chế của quá trình truyền thông 81
3.2 Những giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả của việc truyền thông hai di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận: Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trên báo chí 83
3.2.1 Giải pháp xã hội hoá công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá 85
3.2.2 Nâng cao trình độ cán bộ quản lí, cán bộ chuyên môn làm công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hoá 86
3.3 Giải pháp truyền thông về di sản văn hóa phi vật thể trên báo in 86 3.3.1 Đối với báo địa phương 86
3.3.2 Đối với báo trung ương 87
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 8VH,TT & DL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một dải đất hình chữ S, nằm ở khu vực Đông Nam Á, ở phía Đông bán đảo Đông Dương, Phía Bắc giáp Trung Quốc; phía Tây giáp Lào, Campuchia; phía Đông Nam trông ra Biển Đông và Thái Bình Dương Trải qua hàng nghìn năm, nền nông nghiệp lúa nước, lối sống quần cư và công cuộc dựng nước và giữ nước đầy gian khổ đã tạo nên nền văn hóa Việt Nam giàu bản sắc và tính cách đặc trưng của con người Việt Nam là cần cù, chịu khó, giàu lòng yêu nước, đoàn kết, bao dung và dễ hòa nhập
Việt Nam có hai hệ thống di sản văn hóa được UNESCO công nhận là
di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Năm 1993 là năm đầu tiên Việt Nam có di sản được UNESCO công nhận, đến nay Việt Nam đã có
18 di sản đã được UNESCO công nhận gồm:
* Bảy Di sản văn hóa vật thể:
- Năm 1993, Quần thể di tích Cố đô Huế được công nhận;
- Năm 1994, Vịnh Hạ Long được công nhận;
- Năm 1999, Phố Cổ Hội An được công nhận;
- Năm 1999, Thánh địa Mỹ Sơn được công nhận;
- Năm 2003, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận;
- Năm 2010, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long được công nhận;
- Năm 2011, Thành nhà Hồ được công nhận
* Tám Di sản văn hóa phi vật thể:
- Năm 2003, Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận
là Kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hoá phi vật thể đại diện cho nhân loại;
- Năm 2005, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại
Trang 10- Năm 2009, UNESCO chính thức công nhận Dân ca quan họ là di sản văn hoá phi vật thể đại diện cho nhân loại;
- Năm 2009, Ca trù của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại;
- Năm 2010, Hội Gióng được công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện cho nhân loại;
- Năm 2011, Hát Xoan của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại;
- Năm 2012, UNESCO đã chính thức công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại
- Năm 2014 UNESCO đã công nhận Đờn ca tài tử là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại
* Ba Di sản tư liệu thế giới
- Năm 2009, Mộc bản triều Nguyễn được công nhận;
- Năm 2010, Bia tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám được công nhận;
- Năm 2012, Mộc bản Kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm được công nhận Năm 2011, Hát Xoan được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới Năm 2012, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương tiếp tục được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được công nhân muộn hơn Hát Xoan, nhưng trong lịch sử 2 DSVHPVT này vốn gắn chặt với nhau như một thể thống nhất
Trên thế giới, quốc gia nào cũng có vị vua Tổ nhưng tính cho đến thời điểm này, chỉ duy nhất Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại Hát Xoan là loại hình nghệ thuật gắn với thời đại Hùng Vương Đây được coi một trong những loại hình nghệ thuật cổ xưa nhất của Việt Nam Hát Xoan hội đủ các yêu cầu cần thiết của UNESCO, đó là: tính giá trị, tính cộng
Trang 11đồng trong việc sáng tạo và lưu truyền từ đời này qua đời khác; sức sống mạnh mẽ của Hát Xoan cũng như các cam kết nhằm bảo vệ loại hình nghệ thuật này không bị biến mất trong đời sống hiện đại Đây là một trong số ít những hồ sơ nhận được toàn bộ sự ủng hộ của hội đồng tư vấn khoa học xét duyệt sơ khảo trước đó
Muốn được UNESCO công nhận là DSVHPVT của thế giới bên cạnh việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa, Việt Nam cần phải truyền thông các di sản văn hóa này như một quá trình để UNESCO biết đến, chú ý đến Đồng thời, thông qua quá trình truyền thông trên báo chí, các di sản văn hóa được nhiều người dân biết đến và gìn giữ cho thế hệ mai sau
Trước ý nghĩa sâu sắc của vấn đề này, tôi đã lựa chọn đề tài: “Quá trình truyền thông hai di sản văn hóa phi vật thể của thế giới được UNESCO công nhận: Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trên báo in” để làm luận văn tốt nghiệp (Khảo sát các báo Phú Thọ, báo Văn hóa, tạp chí Văn hóa nghệ thuật từ năm 2010 đến năm 2013)
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về báo chí và các di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam Tính tới nay, có nhiều luận văn, khóa luận tốt nghiệp tiêu biểu Di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận làm đối tượng nghiên cứu như:
- “Báo chí với việc bảo tồn và phát huy dân ca Xoan- Ghẹo” - Luận văn tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thu Hà - Khoa Báo chí và truyền thông- Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn”;
- “Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trên báo chí” – Luận văn tốt nghiệp của Lê Vũ Điệp - Khoa Báo chí và truyền thông- Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn”;
Trang 12- “Báo chí với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Hà Nội” - Luận văn tốt nghiệp của Hoàng Hương Trà - Khoa Báo chí và truyền thông- Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn”;
- “Quá trình truyền thông về dân ca Quan họ Bắc Ninh - Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới (UNESSCO phong tặng năm 2009 trên báo in)” - Luận văn tốt nghiệp của Võ Biên Thùy - Khoa Báo chí và truyền thông- Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn”;
- “Vấn đề truyền thông bốn di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESSCO công nhận: Nhã nhạc cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên, Quan họ, Ca trù trên báo in và báo điện tử” - Luận văn tốt nghiệp của Lương Thị Quỳnh Chi - Khoa Báo chí và truyền thông - Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn”;…
Và nhiều luận văn khác liên quan đến lịch sử, văn hóa, di sản của Việt Nam Tuy nhiên, tính cho đến thời điểm hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu về quá trình truyền thông Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trên báo chí Chưa có đề tài nào nghiên cứu về hai di sản văn hóa phi vật thể vốn gắn liền với nhau là Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu quá trình truyền thông hai Di sản văn hóa phi vật thể Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương Làm rõ những lý thuyết truyền thông và lý thuyết văn hóa để hiểu được hai di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được UNESCO công nhận là: Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích đó, luận văn triển khai những nhiệm vụ sau:
Trang 13- Ứng dụng các lý thuyết về truyền thông, báo chí; lý thuyết về văn hóa
để hiểu được quá trình truyền thông các di sản văn hóa này
- Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình truyền thông hai di sản văn hóa phi vật thể, từ đó rút ra bài học kinh nghiệp và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của truyền thông trong việc các di sản văn hóa của Việt Nam được UNESCO công nhận
- Thu thập tư liệu từ văn bản báo in, nghiên cứu những tài liệu ở trong
và ngoài có liên quan đến đề tài (sách, công trình nghiên cứu, bài báo…)
- Thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu đối với một số nhà báo, người nghiên cứu giảng dạy trong lĩnh vực báo chí, các nhà văn hóa, các nhà quản lý văn hóa…
- Tổng hợp dữ kiện và rút ra kết luận
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả những tác phẩm báo chí viết về di sản văn hóa phi vật thể: Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trong toàn bộ quá trình truyền thông trên báo in
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tiến hành khảo sát các bài viết về Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trên 3 tờ báo là báo Phú Thọ, báo Văn hóa, tạp chí Văn hóa nghệ thuật từ năm 2010 đến năm 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 146 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn ứng dụng lý thuyết truyền thông và lý thuyết về Di sản văn hóa vào thực tế nghiên cứu Đồng thời, luận văn tiến hành khảo sát có hệ thống về vấn đề di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận Luận văn đưa ra những bài học kinh nghiệm về quá trình truyền thông cho di sản văn hóa trên báo chí tại Việt Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa thực tiễn lớn nhất của luận văn là mong muốn tìm ra phương pháp truyền thông hữu hiệu để Di sản văn hóa của Việt Nam được UNESCO công nhận nhiều hơn Khi các di sản văn hóa của Việt Nam được công nhận chúng sẽ có điều kiện bảo tồn và phát huy hơn nữa những giá trị văn hóa Di sản cho muôn đời sau
Những phân tích đánh giá, kinh nghiệm và tổng kết mà luận văn đưa ra
hi vọng sẽ có ích với những sinh viên theo học ngành báo chí truyền thông, có giá trị thực tiễn với những người làm công tác quản lý hoạt động truyền thông, các cơ quan quản lý văn hóa có nhu cầu truyền thông cho di sản văn hóa
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương cơ bản sau:
CHƯƠNG 1: QUAN HỆ TRUYỀN THÔNG GIỮA DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN VÀ BÁO CHÍ VIỆT NAM CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH TRUYỀN THÔNG HAI DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN: HÁT XOAN
VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG VUA HÙNG (Khảo sát trên báo Phú Thọ, báo Văn hóa, tạp chí Văn hóa Nghệ thuật từ năm 2010 đến năm 2013)
CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM, GIẢI PHÁP TRUYỀN THÔNG HAI DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN: HÁT
Trang 15CHƯƠNG 1: QUAN HỆ TRUYỀN THÔNG GIỮA DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN VÀ BÁO CHÍ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm
1.1.1 Khái niệm truyền thông
Truyền thông là một hoạt động gắn liền với lịch sử phát triển của loài người Đó là điều kiện để tạo nên những mối quan hệ giữa người với người, thiếu truyền thông - giao tiếp, con người và xã hội loài người khó hình thành
và phát triển Nhờ có hoạt động truyền thông mà con người liên kết thành xã hội, tổ chức được các hoạt động mang tính tập thể, truyền đạt được những tri thức và kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm ứng xử cho các thể hệ sau Từ những hình thức truyền thông đơn giản, con người đi đến những hình thức hiện đại và phức tạp của truyền thông như: phát thanh, truyền hình, mạng điện
tử, vệ tinh, thông tấn xã… Các phương tiện truyền thông hiện đại trở thành không thể thiếu được trong đời sống kinh tế, xã hội, chính trị… của mỗi quốc gia Mặt khác, truyền thông còn nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người Mỗi cá nhân trong xã hội đều cần có sự bộc lộ những khía cạnh khác của đời sống tinh thần, cần hiểu biết tâm tư tình cảm, thái độ của mọi người trước những sự kiện để điều chỉnh sao cho hợp lý Chính truyền thông đã giúp con người hiểu nhau hơn, nắm bắt được những gì liên quan giữa mình và cuộc sống xung quanh, đánh giá được khả năng, xác định đúng cách thức, phương hướng cho những hành vi và hoạt động tiếp theo
Khái niệm truyền thông bao hàm ý nghĩa rất rộng Truyền thông là sự
cố gắng tạo lập ra sự hiểu biết chung của con người với mục đích làm thay đổi nhận thức và hành vi Hiện nay trên thế giới, người ta đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông tùy theo góc độ tìm hiểu và nghiên cứu Khái niệm
chung về truyền thông được hiểu là “Truyền thông là một quá trình liên tục
Trang 16trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” [1, t17].
Theo Nguyễn Văn Hà – Đại học KHXH&NV Hồ Chí Minh cho rằng: Truyền thông được hiểu theo nhiều khía cạnh: Thứ nhất, truyền thông là một quá trình; Thứ hai truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau; Thứ ba là truyền thông phải dẫn đến sự thay đổi trong nhận thứ và hành vi, nếu không việc làm sẽ trở nên vô nghĩa [13, tr19]
Theo quan điểm của tác giả, hiểu một cách đơn giản truyền thông (communication) là quá trình truyền đạt, chia sẻ thông tin; là một kiểu tương tác xã hội với sự tham gia của ít nhất từ hai tác nhân trở lên
1.1.2 Quá trình truyền thông
Truyền thông là một quá trình - nghĩa là nó không phải là một việc làm tức thời hay xảy ra trong thời gian hẹp mà là một việc diễn ra trong khoảng thời gian dài Quá trình này diễn ra liên tục bởi nó không thể kết thúc ngay sau khi chuyển tải nội dung cần thiết mà còn tiếp diễn sau đó Đó là quá trình trao đổi hoặc chia sẻ, dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau.Yếu tố này đặc biệt quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông Bởi vậy, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi
Quá trình truyền thông được chia làm hai giai đoạn theo mô hình sau:
Trang 17Trong đó, quá trình A - Nguồn có thể là một người, một tổ chức, một
cơ quan chuyển một thông điệp cho đối tượng trong đó chứa đựng những thông tin mã hóa là tìm tòi một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ học nào đó diễn đạt nội dung thông điệp Thông điệp là những thông tin thực sự được chuyển theo một kênh này hay kênh khác đến đối tượng
Quá trình B: Giải mã là quá trình từng cá nhân bằng con đường riêng của mình làm rõ ràng, rành mạch thông điệp được chuyển đến Mỗi thông điệp chuyển đến có thể được chấp nhận và hiểu biết theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào thái độ, kiến thức của người tiếp nhận và vào người cung cấp và nội dung thông điệp
Nơi nhận, người nhận là điểm cuối cùng giải mã thông điệp, có quá trình và sự tích lũy của người nhận
Phản hồi là dòng chảy thông tin mà những bước đi từ thông tin gốc đến nơi tiếp nhận và ngược lại Nhưng nó chỉ được thực hiện với điều kiện người tiếp nhận giải mã được thông tin và người cung cấp thông tin phù hợp với hiện tại Phản hồi là khía cạnh quan trọng nhất của quá trình truyền thông [24, t11].Phản hồi là khía cạnh quan trọng nhất của quá trình truyền thông, là công cụ mạnh mẽ cho phép nối hai đường truyền thông lại với nhau Phản hồi
sẽ không còn tồn tại hoặc bị cản trở khi một trong hai bộ phận truyền thông bị
vô hiệu hóa hoặc có sự chống lại của bộ phận tiếp nhận Như vậy, một hạn chế của truyền thông là có thể xảy ra hiện tượng không phản hồi Sự phản hồi trong quá trình truyền thông được thể hiện qua mô hình sau: [25,tr21]
Phản hồi
Trang 18Đây là một chu trình khép kín của quá trình truyền thông Quá trình truyền thông giữa con người với nhau Mục đích của truyền thông là làm cho người tiếp nhận hiểu được thông điệp và thay đổi hành vi Quá trình truyền thông là quá trình hai chiều Người khởi xướng (nguồn) và người tiếp nhận (công chúng) phải kết hợp với nhau để tạo ra cái chung
1.1.3 Khái niệm văn hóa
Năm 1871, E.B Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”[3,tr7] Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người ví, định nghĩa này mang tính “bách khoa toàn thư”
vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người[4,tr17]
Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau Văn hóa chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người[5,tr11], Hồ Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn,
ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức
là văn hóa”[6, tr 20] Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả
ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa
do UNESCO đưa ra vào năm 1994 Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức
hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình
Trang 19cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương
mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”[7, tr21]; còn hiểu theo nghĩa hẹp thì
“Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng
xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”[8,tr21]
1.1.4 Khái niệm Di sản
Theo nghĩa Hán Việt: Di là để lại; sản là tài sản, vậy nên có thể hiểu di sản văn hóa là những công trình văn hóa những tài sản văn hóa nổi tiếng của người xưa để lại cho đời sau, biểu trưng cho nền văn minh lúc bấy giờ
Di sản văn hóa là toàn bộ sản phẩm sáng tạo của con người hàm chứa những giá trị về chân thiện mỹ, thể hiện dưới dạng biểu tượng và được truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác Di sản đi liền với văn hóa nên cũng mang những đặc trưng của văn hóa, nhưng nó còn chứa đựng cả vốn kinh nghiệm, tri thức của loài người Di sản văn hóa mang dấu ấn thời gian, là vật chứng cho mỗi sự kiện, một nhân vật hay thời kỳ lịch sử nhất định
“Di sản văn hóa là toàn bộ tạo phẩm, chứa đựng trong nó những giá trị mà con người đã tích lũy được trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, là thành tựu của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau”[9, tr23] Theo UNESCO, toàn bộ Di sản thế giới được UNESCO chia thành 3 nhóm: Di sản văn hóa (nhân tạo); Di sản thiên nhiên (thiên tạo) và Di sản hỗn hợp (kết hợp giữa thiên tạo và nhân tạo) Trong đó, DSVH được phân chia thành hai loại là
Di sản văn hóa vật thể và Di sản văn hóa phi vật thể
1.1.5 Khái niệm Di sản văn hóa vật thể
DSVHVT là những hiện vật mang ý nghĩa lịch sử của nhân loại trong quá khứ; mang tính cố định và không thay đổi Công ước bảo tồn DSVHVT luôn nhấn mạnh tính xác thực và giá trị của hiện vật lích sử, nói
Trang 20cách khác, tiêu chuẩn đánh giá dựa trên sự hiện diện của những cấu trúc lịch sử hoặc sự hiện diễn của những đặc điểm đặc trưng của kỷ nguyên trên di tích
Theo UNESCO “Di sản Văn hóa vật thể là văn hóa tồn tại một cách hữu thể, thường được nhận thức ở dạng hình khối, tác động trực tiếp vào thị giác con người Các di sản văn hóa vật thể là nghệ thuật của không gian”.[11, tr23]
Đặc trưng
Di sản văn hóa vật thể gồm những di sản mang nét đẹp và tài hoa của dân tộc thể hiện trên các công trình kiến trúc, điêu khắc, các làng nghề… Theo Công ước của UNESCO, đặc trưng của DSVHVT là:
Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá
và các công trình có sự liên kết giữa nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học;
Các quần thể các công trình xây dựng: Các quần thể các công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học;
Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học
1.1.6 Khái niệm Di sản văn hóa phi vật thể
Theo Công ước năm 2003 của UNESCO, DSVHPVT được hiểu như sau: “DSVHPVT được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và
Trang 21trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, DSVHPVTđược các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của
họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những DSVHPVT phù hợp với các văn kiện Quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người, cá nhân, và về phát triển bền vững”
Trong khái niệm này, UNSECO đã cố gắng cụ thể hóa tính “trừu tượng” của di sản văn hóa phi vật thể bằng việc định dạng một số biểu hiện của di sản văn hóa phi vật thể như tập quán, biểu đạt tri thức, kỹ năng, các công cụ đồ vật, đồ tạo tác, các không gian văn hóa có liên quan…
Quan điểm về di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được ghi nhận tại Điều 1 của Luật di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) theo đó di sản văn hóa phi vật thể là “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” Về cơ bản, cách xác định này tiếp thu quan điểm của UNESCO
Trang 22đây, có thể rút ra một số đặc điểm, tính chất của di sản văn hóa phi vật thể như sau:
Di sản văn hóa phi vật thể được chuyển giao qua nhiều thế hệ, được tái tạo để thích nghi với môi trường sống Nhiều nhà nghiên cứu còn gọi đây là
“di sản sống” Sự vận động, biến đổi là điều tất yếu, bởi di sản văn hóa phi vật thể có sự gắn bó chặt chẽ với đời sống con người Con người, cộng đồng là một phần của di sản Khi cộng đồng và đời sống cộng đồng thay đổi thì di sản văn hóa phi vật thể cũng sẽ biến đổi để thích hợp với cộng đồng Tính chất này làm nên sự khác biệt cơ bản giữa di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể Bản chất của di sản văn hóa phi vật thể là sự tiếp nối và biến đổi còn bản chất của di sản văn hóa vật thể là sự cố định và nguyên trạng Quá trình chuyển giao di sản văn hóa phi vật thể cần liên tục và bất kì sự tái tạo của cộng đồng cũng phải dựa trên cái “gốc” đã được chuyển giao
Di sản văn hóa phi vật thể đã từng hoặc đang được lưu truyền, sử dụng rộng rãi trong cộng đồng.Theo UNSECO ghi nhận đó là “tính bao hàm” của
di sản Di sản văn hóa phi vật thể gắn kết mỗi cá nhân, khiến cá nhân cảm thấy mình là một phần của xã hội Tính phổ biến, phổ cập, dễ hiểu thậm chí còn quan trọng hơn cả tính độc đáo, đặc biệt của di sản
Di sản văn hóa phi vật thể phải đại diện cho bản sắc của dân tộc và cần thể hiện được những nét đẹp về văn hóa, lối sống, cách sống của cộng đồng Đó là những nét đẹp nổi bật, riêng biệt mà khó có thể tìm thấy ở cộng đồng khác
Di sản văn hóa phi vật thể cần được công nhận bởi cộng đồng sáng tạo
sử dụng di sản Đúng như UNESCO nhận định “thiếu đi sự công nhận của cộng đồng thì không ai có thể quyết định cho họ rằng những sự biểu đạt hay tập quán đó là di sản của họ” [19, tr54] Cộng đồng là một phần của di sản và do
đó, họ là những người hiểu rõ nhất về nội dung cũng như giá trị của di sản
Trang 23Di sản văn hóa phi vật thể được tách thành hai phần gồm: văn hóa phi vật thể có giá trị đại diện cho nhân loại và một loại nữa là cần phải bảo vệ khẩn cấp Trong tám di sản văn hóa phi vật thể mà Việt Nam được UNESCO công nhận thì có hai di sản nằm trong diện cần bảo vệ khẩn cấp đó là Hát Xoan và Ca trù
1.2 Tổ chức UNESCO và Công ước của UNESCO về bảo vệ Di sản văn hóa
1.2.1 Tổ chức UNESCO
UNESCO (viết tắt của United Nations Educational Scientific and Cultural Organization) là tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc UNESCO được thành lập ngày 16/11/1945 tại Pháp với mục đích
“Góp phần duy trì hoà bình và an ninh quốc tế bằng cách thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hoá để đảm bảo sự tôn trọng của tất cả các nước về công lý, pháp luật, quyền con người và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo
mà Hiến chương Liên Hợp Quốc đã công nhận đối với tất cả các dân tộc” UNESCO có các chức năng sau:
- Là cơ sở thí nghiệm các ý tưởng mà nhiệm vụ trí tuệ là dự đoán và xác định những vấn đề quan trọng nhất đang phát sinh trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của mình, tiếp đó nhận dạng những chiến lược và chính sách thích hợp nhằm giải quyết chúng
- Là tổ chức soạn thảo quy chuẩn nơi xây dựng những hiệp định chung
về đạo đức, chuẩn mực và tri thức mang tính sống còn trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền Vấn đề này đã đưa UNESCO vào những tiến trình trao đổi tri thức liên ngành phức tạp và vào quá trình đàm phán với các chuyên gia và các quốc gia thành viên
Trang 24- Là trung tâm chỉ dẫn, giao dịch nơi đóng vai trò quan trọng trong việc tập hợp, chuyển giao, truyền bá và chia sẻ các thông tin, tri thức và những kinh nghiệm thực tiễn tốt nhất
- Là tổ chức tạo dựng năng lực cho các quốc gia thành viên, UNESCO giúp các nước thành viên xây dựng năng lực về thể chế và nhân lực trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học, văn hoá, truyền thông và thông tin
- Là nhân tố xúc tác cho hợp tác quốc tế Chức năng này được thực hiện thông qua tất cả bốn chức năng nêu trên
Năm chức năng cơ bản này là những phương cách chủ yếu để UNESCO thực hiện nhiệm vụ của mình
Tính đến năm 2009, UNESCO có 193 quốc gia thành viên, trụ sở chính đặt tại thủ đô Paris – Pháp với hơn 50 văn phòng đại diện trên khắp thế giới UNESCO cũng là một tổ chức chuyên môn duy nhất trong hệ thống Liên hợp quốc có mạng lưới quốc gia và quốc tế gồm các tổ chức của quần chúng hoạt động theo tiêu chí của UNESCO, các trung tâm UNESCO và các hội UNESCO, tập hợp thành Hiệp hội UNESCO thế giới Tuy có đại diện tại từng quốc gia nhưng phương châm hoạt động của UNESCO là không can thiệp vào vấn đề nội bộ của các quốc gia Một số các dự án nổi bật của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới, di sản tư liệu thế giới, công viên địa chất toàn cầu, DSVHPVT của nhân loại
1.2.2 Công ước của UNESCO về Di sản văn hóa phi vật thể
Công ước của UNESCO được thông qua vào ngày 17/10/2003 trong phiên họp thứ 32 của tổ chức này Công ước được xây dựng do tầm quan trọng của DSVHPVT như là động lực chính của đa dạng văn hóa là một đảm bảo cho sự phát triển bền vững Công ước năm 2003 của UNESCO được chia làm 9 chương, 40 điều với những quy định chặt chẽ về tất cả các vấn đề liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể Cụ thể là :
Trang 25Chương I : Các điều khoản chung, gồm 3 điều
Chương II : Các cơ quan của Công ước, gồm 7 điều
Chương III : Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ở cấp quốc gia, gồm 5 điều
Chương IV : Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ở cấp quốc tế, gồm 3 điều
Chương V : Hợp tác và hỗ trợ quốc tế, gồm 6 điều
Chương VI : Quỹ di sản văn hóa phi vật thể, gồm 6 điều
Chương VII : Báo cáo, gồm 2 điều
Chương VIII: Điều khoản chuyển tiếp, gồm 1 điều
Chương IX : Các điều khoản cuối cùng, gồm 9 điều
Trước công ước này chưa có một văn kiện ràng buộc đa phương nào cho công tác bảo vệ DSVHPVT Mục đích của Công ước này nhằm bảo vệ DSVHPVT; đảm bảo sự tôn trọng tuyệt đối với DSVHPVT của các cộng đồng, các nhóm người và các cá nhân có liên quan; nâng cao tầm nhận thức ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế về tầm quan trọng của DSVHPVT, để từ
đó đảm bảo sự tôn trọng lẫn nhau trong lĩnh vực này; tạo ra sự hợp tác và hỗ
trợ quốc tế
Mỗi DSVHPVT của mỗi quốc gia, mỗi địa phương đều thể hiện sự cùng tồn tại của nhân loại và mang những nét đặc trưng riêng của cộng đồng khu vực đó, nơi tạo ra và lưu truyền DSVH đó DSVHPVT có thể được cộng đồng dân cư địa phương lưu truyền từ hàng nghìn năm, có thể di chuyển từ địa phương này đến địa phương khác và mang tính hiện thực lịch sử Theo đó, DSVHPVT phải mang tính truyền thống, đang sống và phải được cộng đồng công nhận Điều này không gây ra sự đóng băng các DSVHPVT mà chúng cần phải mang ý nghĩa bảo vệ những điều kiện tạo thuận lợi cho các cộng đồng xã hội và các nhóm người tiếp tục diễn và thực hành
Sự khác nhau giữa DSVHPVT được Việt Nam công nhận và
DSVHPVT được UNESCO công nhận: Theo Nghị định hướng dẫn Luật di
Trang 26sản văn hóa và Luật di sản văn hóa sửa đổi (2009) của Việt Nam, tiêu chí lựa
chọn DSVHPVT để đưa vào danh mục DSVHPVT quốc gia như sau:
- Có tính đại diện, thể hiện bản sắc của cộng đồng, địa phương;
- Phản ánh sự đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của con người, được kế tục qua nhiều thế hệ;
- Có khả năng phục hồi và tồn tại lâu dài;
- Được cộng đồng đồng thuận, tự nguyện đề cử và cam kết bảo vệ Theo đó tiêu chí lựa chọn và trình tự, thủ tục lập hồ sơ DSVHPVT tiêu biểu đề nghị UNESCO đưa vào danh sách DSVHPVT đại diện của nhân loại
và danh sách DSVHPVT cần bảo vệ khẩn cấp như sau:
- Là DSVHPVT đã được đưa vào danh mục DSVHPVT quốc gia;
- Có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học;
- Thể hiện bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo và là cơ sở cho sự sáng tạo những giá trị văn hóa mới;
- Có phạm vi và mức độ ảnh hưởng mang tính quốc gia và quốc tế về lịch sử, văn hóa, khoa học;
- Đáp ứng tiêu chí lựa chọn của UNESCO;
Như vậy, việc đánh giá giá trị của di sản văn hóa phi vật thể là điều cần thiết để thấy được tầm quan trọng của di sản đối với đời sống của con người UNESCO và các quốc gia đều công nhận di sản văn hóa phi vật thể tuy có những điểm khác nhau nhưng đều có những giá trị cơ bản sau: giá trị lịch sử, giá trị nghệ thuật, giá trị khoa học, giá trị gắn kết các dân tộc
1.2.3 Các di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận
Tính cho đến tháng 4 năm 2014, UNESCO đã công nhận 18 di sản văn hóa của Việt Nam, trong đó có 7 di sản văn hóa vật thể và 8 di sản văn hóa phi vật thể Những DSVHPVT được UNESCO công nhận đó là:
Trang 27- Nhã nhạc cung đình Huế (năm 2003)
- Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (năm 2005)
- Dân ca quan họ (năm 2009)
1.3.1 Luật di sản văn hóa Việt Nam
Việt Nam đã xây dựng một hành lang pháp lý thống nhất để bảo tồn và
phát triển hệ thống di sản văn hóa thông qua các văn bản: Luật di sản văn hóa
ban hành năm 2001 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Nghị định số 98/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều luật sửa đổi, bổ sung
năm 2009 Luật Di sản văn hoá gồm 7 chương, 79 điều được thông qua ngày
14/6/2001 tại kỳ họp thứ 9, Quốc Hội khoá X căn cứ vào Hiến pháp năm
1992 Về cơ bản, Luật Di sản văn hóa phù hợp với các điều ước quốc tế về di sản văn hóa mà Việt Nam đã tham gia.Trong Luật Di sản văn hóa có những
quy định riêng đối với di sản văn hóa phi vật thể Trong đó, Luật này đề cập
cụ thể đến mục đích của luật, khái niệm về di sản văn hóa, Di sản văn hóa vật thể và Di sản văn hóa phi vật thể; quyền và nghĩa vụ của các cá nhân đối với
di sản văn hóa Đặc biệt còn có quy định cụ thể đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể
Luật di sản văn hóa cơ bản đã đạt được các mục tiêu, yêu cầu đề ra khi
ban hành Luật, cụ thể là:
Trang 28- Nhận thức của cán bộ và các tầng lớp nhân dân về quyền lợi, trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa đã được nâng lên
rõ rệt;
- Luật di sản văn hóa cùng hệ thống pháp luật hiện hành về di sản văn
hóa đã bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể sáng tạo, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, tương thích với pháp luật quốc tế Vì vậy, Luật đã tạo điều kiện và cơ hội cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở nước ta ngày càng thu hút được sự tham gia tích cực của toàn xã hội, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ có hiệu quả của cộng đồng quốc tế
Đến nay, tổ chức UNESCO đã công nhận 07 di sản văn hóa vật thể và
08 di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; tính đến tháng 02 năm 2009 trong số 4 vạn di tích trên toàn quốc đã kiểm kê, có 3.018 di tích đã được xếp hạng di tích quốc gia và 5.347 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh
Bên cạnh những thành tích đạt được, thì Luật Di sản văn hóa còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, như các quy định về việc lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể tại Điều 18; quy định về việc cấp giấy phép khai quật khẩn cấp tại Điều 38; quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các bảo tàng tại Điều 48 và quy định về thủ tục và thẩm quyền quyết định thành lập bảo tàng tại Điều 50
- Một số quy định còn chưa rõ, nên việc thực thi kém hiệu quả, như quy định về việc tôn vinh và chính sách đãi ngộ đối với các nghệ nhân tại Điều 26; quy định về bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích tại Điều 34
- Luật còn thiếu quy định để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa có dấu hiệu là di tích và danh thắng đã kiểm kê nhưng chưa được xếp hạng
- Một số quy định chưa tương thích với các văn bản pháp luật khác như: Quy định về việc Nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với
Trang 29các "nghệ nhân, nghệ sĩ" (Điều 26) nhưng ở Luật thi đua, khen thưởng (Điều 65) quy định danh hiệu "Nghệ nhân nhân dân" và "Nghệ nhân ưu tú" chỉ phong tặng cho các "cá nhân có nhiều năm trong nghề, kế tục, giữ gìn, sáng tạo và phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống", không điều chỉnh tới các cá nhân có công đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở các lĩnh vực khác
Theo Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009, vấn đề bảo tồn phát huy giá trị
các di sản văn hóa phi vật thể thuộc chương III Chương III gồm 10 điều (từ điều 17 đến điều 27)
DSVH nói chung, DSVHPVT nói riêng là một trong những linh hồn văn hóa của mỗi cộng đồng Qua những di sản đó thế hệ ngày nay có thêm sự hiểu biết và sự trân trọng lối sống tốt đẹp của ông cha Dù nhận được sự quan tâm còn khá muộn màng, nhưng nếu có sự tiếp cận đúng đắn và các biện pháp hành động kịp thời, di sản này sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển Sự thay đổi trước tiên cần đến từ chính pháp luật Hoàn thiện pháp luật về nhận diện di sản văn hóa phi vật thể, các quy định về biện pháp bảo vệ, sự đồng bộ trong
hệ thống pháp luật và tương thích với điều ước quốc tế theo hướng phù hợp với lý luận và thực tiễn Đây là một trong những cách thức hiệu quả tác động đến quá trình bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam hiện nay
1.3.2 Mối tương quan với công ước UNESCO
Công ước UNESCO và Luật di sản Việt Nam có điểm chung là đề cập đến các vấn đề di sản văn hóa, trong đó có các khái niệm, phân loại… cũng như việc đề ra những quy định nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các Di sản văn hóa Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa hai văn bản này ở sự rõ ràng, cụ
thể và tính khoa học Luật Di sản văn hóa sửa đổi năm 2009 của Việt Nam
khá chung chung với những điều khoản quy định, thậm chí còn gây khó khăn trong quá trình bảo vệ giá trị của di sản Có thể thấy rõ Luật không đề cập đến
Trang 30những trách nhiệm cũng như nghĩa vụ của công dân trong việc bảo vệ di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa phi vật thể nói riêng
Trong khi đó, các chính sách của UNESCO về DSVHPVT của thế giới mang nhiều hàm ý sâu sắc, dựa trên tinh thần tôn trọng và bảo vệ những giá trị văn hóa tốt đẹp Các chính sách ấy bao gồm những hàm ý:
- Thay vì quan niệm DSVHVT là loại hình văn hóa chính, cần phải nhận thức được rằng DSVHPVT cũng có giá trị và tầm quan trọng đối với nhân loại như DSVHVT
- Do các nước phương Tây sở hữu phần lớn các DSVHVT, nên việc công nhận DSVHPVT ở các nước khác hiện tại lại được quan tâm nhiều hơn
Các chính sách về DSVHPVT mới được ban hành đã đưa ra những nhìn nhận và đánh giá mới mẻ về DSVH Thay vì nhìn nhận văn hóa theo quan điểm thứ bậc của giá trị và tính cạnh tranh, tất cả các DSVHPVT đều có giá trị riêng và cần phải được đánh giá dưới góc độ tương đối về văn hóa Mục đích Công ước của UNESCO về bảo vệ DSVHPVT là: bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể; đảm bảo sự tôn trọng đối với di sản văn hóa phi vật thể của các cộng đồng, các nhóm người và các cá nhân có liên quan; nâng cao nhận thức ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế về tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể, để từ đó đảm bảo sự tôn trọng lẫn nhau trong lĩnh vực này; tạo ra sự hợp tác và hỗ trợ quốc tế
Theo PGS.TS Trương Quốc Bình (Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia Việt Nam), Công ước của UNESCO năm 2003 đã đưa ra những quan điểm và nhận thức mới về bảo vệ di sản văn hóa trước những tác động và nguy cơ có tính toàn cầu Công ước này đã tác động trực tiếp vào Việt Nam, góp phần làm cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị các di sản Việt Nam đã và đang
có những đổi mới cơ bản về cả nhận thức lẫn hành động Những quan điểm, nhận thức mới của Công ước UNESCO đã có tác động rất lớn trong việc
Trang 31hoạch định chính sách và xây dựng hệ thống pháp lý về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam
1.4 Mối quan hệ giữa báo chí với di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận tại Việt Nam
1.4.1 Vai trò của báo chí trong quan hệ truyền thông di sản văn hóa phi vật thể
Báo chí bao gồm những loại hình khác nhau như: Báo giấy, Báo phát thanh, Báo hình, Báo ảnh và Báo điện tử Hiện nay, báo chí vẫn là phương tiện thông tin đại chúng nhanh nhất , hiệu quả nhất và có nhiều công chúng nhất Báo chí đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống, trở thành một trong những động lực quan trọng cho sự phát triển của xã hội Báo chí có những cách thức riêng với mục đích nhằm tới nhiều tầng lớp xã hội với những mối quan tâm, sở thích và nhu cầu không giống nhau
“Báo in là một loại hình báo chí, chuyển tải nội dung các vấn đề, sự kiện bằng văn bản, chữ viết, ký tự, hình ảnh thông qua trang giấy cung cấp thông tin cho độc giả”[26,tr22] Báo in bao gồm: báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn Báo in có khả năng lưu trữ thông tin cao và có khả năng phân tích, bình luận, ký giải sâu rộng đầy đủ các vấn đề, sự kiện
Báo phát thanh: Thông tin bằng lời nói (cùng với tiếng động, âm nhạc) Báo hình: Thông tin về hiện thực thông qua hình ảnh sống động, xác thực Sau hình ảnh là vai trò của lời nói cùng với tiếng động, âm nhạc
Báo mạng điện tử là loại hình báo chí mới xuất hiện, sử dụng mạng thông tin toàn cầu (Internet) là phương tiện chuyển tải thông tin Một tờ báo mạng điện tử phải có khả năng kết hợp được những ưu thế của cả chữ viết và hình ảnh (của báo in), âm thanh (của phát thanh) và hình ảnh sống động (của truyền hình)
Trang 32Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, báo in đang phát huy những điểm mạnh của mình và cố gắng khắc phục những hạn chế để tương lai xa hơn, báo in theo kịp thông tin của thời đại, đáp ứng sự nhanh nhạy về thông tin và đứng vững được trên nền thị trường báo chí Báo in đang ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong lòng độc giả Hiện nay báo in đang cạnh tranh quyết liệt với các loại hình báo chí khác như phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử Báo in vẫn tồn tại song song với các loại hình báo chí, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền báo chí Việt Nam nói riêng, báo chí thế giới nói chung
Báo in chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn bản bao gồm chữ
in, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ… Toàn bộ nội dung thông tin của báo in xuất hiện đồng thời ngay trước mắt độc giả Việc tiếp nhận thông tin của công chúng đối với báo in chỉ qua thị giác - giác quan quan trọng nhất của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh Bởi vậy, người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin từ báo in Việc tiếp nhận thông tin thông qua việc bố trí thời điểm đọc, cách đọc, tốc độ đọc,…Tùy vào thời gian rảnh rỗi của mỗi người mà có thể đọc báo bất cứ lúc nào, khác với phát thanh và truyền hình, người nghe có thể nghe bất cứ lúc nào nhưng thông tin không được rõ vì có thể nghe đoạn cuối nói nhưng không nghe đoạn đầu nên rất dễ gây hiểu lầm cho người nghe Mặt khác, người đọc có thể đọc tùy hứng, đọc chậm rãi hay lướt qua, hoặc chú tâm vào các chi tiết, còn với phát thanh, truyền hình tùy vào việc đưa thông tin và cách đọc của biên tập viên
Bên cạnh đó, người đọc có thể lướt nhanh để nắm bắt thông tin và lựa chọn thông tin nào mình nên đọc trước và người đọc cũng có thể đọc theo sở thích của mình Đây là điều mà báo mạng điện tử đang cố gắng phát huy Điều này tạo cho báo in có khả năng thông tin những nội dung phức tạp và sâu sắc hơn
Trang 33Sự tiếp nhận thông tin từ báo in là hoàn toàn chủ động, vì vậy đòi hỏi người đọc phải tập trung cao độ, phải huy động sự làm việc tích cực của trí não nếu không sẽ không lưu lại được thông tin mình vừa đọc là gì và nó như thế nào Hơn nữa nguồn thông tin từ báo in đảm bảo sự chính xác và độ xác định cao Dù thông tin chậm hơn so với các loại hình báo chí khác nhưng đảm bảo sự chính xác về thông tin vì đã được kiểm định
Do vậy, báo in trở thành nguồn tài liệu quý giá đối với người đọc vì những thông tin mà người đọc lưu trữ trong trí não Báo in có thể làm tài liệu, minh chứng cho các công trình nghiên cứu khoa học Hơn nữa, để nghiên cứu được quá trình truyền thông hai di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận là Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương tác giả cần nguồn tư liệu rất lớn từ tài liệu báo in ở các giai đoạn: trước, trong và sau khi hai DSVHPVT này được công nhận Nhờ báo in có khả năng phân tích, bình luận, lý giải sâu rộng đầy đủ các vấn đề, sự kiện nên tác giả đã sử dụng báo in làm đối tượng khảo sát cho đề tài luận văn này
1.4.2 Vai trò của báo in trong quan hệ truyền thông Di sản văn hóa phi vật thể
Báo chí là một trong những công cụ truyền bá văn hoá Một trong những chức năng cơ bản của báo chí chính là chức năng cổ động, tuyên truyền
và phát huy, gìn giữ những giá trị văn hoá của nhân loại Tính xã hội của báo chí đặt nó vào vị trí hàng đầu trong việc nâng cao dân trí, giáo dục thẩm mỹ, hình thành văn hoá cá nhân cũng như định hướng chuẩn mực văn hoá cộng đồng Trong xu thế hội nhập toàn cầu về văn hoá, sự duy trì văn hoá bản sắc như một nhu cầu sống còn của mỗi quốc gia trong sự phát triển của nhân loại Vì thế, bất cứ giải pháp nào đặt ra nhằm duy trì và phát huy văn hoá bản sắc đều liên quan chặt chẽ với những giải pháp nhằm khắc phục những tác động tiêu cực khác của quá trình toàn cầu hoá truyền thông đại chúng
Trang 34UNESCO công nhận các di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam cũng chính là sự ghi nhận những nỗ lực của chính phủ, người dân Việt Nam đặc biệt đối với báo chí của Việt Nam trong việc bảo tồn các di sản này, cam kết chia sẻ bảo tồn các di sản với quốc tế Việc tạo cho công chúng lòng tự hào và
có trách nhiệm với các di sản có sự đóng góp rất lớn của các nhà báo trong việc chuyển tải thông tin đầy đủ về các di sản tới người dân thông qua báo chí Cục trưởng Cục báo chí Hoàng Hữu Lượng từng nói trong cuộc phỏng
vấn trên báo Di sản Việt Nam: “Những người tuyên truyền về di sản phải nắm vững được các vấn đề pháp lý về di sản, khi đó mới có tác động hiệu quả trong việc giáo dục ý thức của người dân cũng như tới các vấn đề chính sách
về di sản”
“Gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc, kết hợp với tinh hoa nhân loại” là nội dung cơ bản nhất trong đường lối bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc được Đảng và Nhà nước Việt Nam quán triệt” Khi DSVHPVT được UNESCO vinh danh, một trong những yếu tố quan trọng là “Di sản phải được người dân bảo tồn, lưu giữ theo truyền thống từ ngàn xưa để lại với những quy định chặt chẽ” (Theo luật Di sản)
Trong hội thảo giới thiệu các Công ước quốc tế UNESCO do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của LHQ (UNESCO) và Bộ Thông tin Truyền thông tổ chức, Bà Katherine Muller - Marin, Trưởng đại diện văn phòng UNESCO tại Việt Nam cho rằng: “người Việt Nam có nhiều lý do để
tự hào về các di sản của mình, từ các di sản văn hóa, di sản thiên nhiên, di sản vật thể, tinh thần của các thế hệ qua nhiều năm đã tạo nên bản sắc dân tộc của người Việt Nam UNESCO công nhận các di sản của Việt Nam cũng chính là
sự ghi nhận những nỗ lực của chính phủ, người dân Việt Nam trong việc bảo tồn các di sản này, cam kết chia sẻ bảo tồn các di sản với quốc tế… Việc tạo cho công chúng lòng tự hào và có trách nhiệm với các di sản có sự đóng góp
Trang 35rất lớn của các nhà báo trong việc chuyển tải thông tin đầy đủ về các di sản tới người dân”
Để được UNESCO công nhận là DSVHPVT, báo chí Việt Nam cần truyền thông một cách mạnh mẽ ngay từ khi manh nha việc lập hồ sơ, đệ trình UNESCO về các DSVHPVT của Việt Nam Quá trình này phải được tiến hành liên lục, thường xuyên để đảm bảo tính phát triển bền vững và đáp ứng đầy đủ các quy định công ước của UNESCO về DSVHPVT Qua đó, cung cấp thêm thông tin và tăng cường sự hiểu biết về các vấn đề liên quan đến DSVHPVT và các công ước quốc tế của UNESCO, giúp nâng cao chất lượng thông tin và tăng cường tính lan tỏa thông tin trong cộng đồng xã hội
Tiểu kết chương 1
Chương 1 nhằm đưa ra một số vấn đề lý thuyết về DSVH nói chung và DSVHPVT nói riêng Thông qua những vấn đề lý thuyết này, chương 1 đã cho thấy tầm quan trọng của DSVHPVT và vai trò của Công ước UNESCO đối với việc giữ gìn và phát huy những giá trị di sản quý báu của từng quốc gia thành viên Đồng thời, cũng cho thấy sự cần thiết phải bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của từng quốc gia, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay
Chương 1 cũng cho thấy những giá trị lịch sử, khoa học, văn hóa… đặc trưng của các DSVH được UNESCO công nhận Với vai trò là phương tiện thông tin nhanh nhạy, kịp thời và rộng khắp, công tác thông tin tuyên truyền về mảng đề tài này được đẩy mạnh ở tất cả các loại hình báo chí, từ báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử và các ấn phẩm như bản tin, đặc san, trang thông tin điện tử của các sở ngành, địa phương Cùng với việc thông tin nhanh các tin tức, sự kiện thời sự về lĩnh vực văn hóa dân tộc, báo chí còn có phản ánh chân thực, có chiều sâu nét đẹp; phong tục tập quán của các
Trang 36dân tộc, như các lễ hội truyền thống của dân tộc, các làn điệu dân ca, dòng
họ gắn liền với tâm linh, tín ngưỡng trong đời sống hằng ngày Qua đó, nhằm khơi dậy lòng tự hào dân tộc, phát huy vai trò của chủ thể văn hóa trong phát triển giá trị văn hóa dân tộc Công tác tuyên truyền không chỉ giúp mọi người hiểu được bản sắc lâu đời của dân tộc mà còn giúp nét văn hoá cổ truyền lan rộng, qua đó giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, lòng
tự hào dân tộc đặc biệt là đối với thế hệ trẻ Bởi vậy việc xem xét đánh giá
về vai trò của báo chí đối với sự tồn tại và phát triển của DSVH là đòi hỏi cấp thiết cần sớm được tiến hành
Trang 37CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH TRUYỀN THÔNG HAI DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN: HÁT
XOAN VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG
(Khảo sát trên báo Phú Thọ, báo Văn hóa, tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
từ năm 2010 đến năm 2013)
2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình truyền thông hai di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận: Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
2.1.1 Về vị trí địa lý và điều kiện kinh tế xã hội
Tỉnh Phú Thọ nằm trong vùng văn hóa Bắc Bộ, là cửa ngõ Tây Bắc của thủ đô Hà Nội và cầu nối vùng Tây Bắc với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Với hai di sản văn hóa thế giới, 1.372 di tích lịch sử văn hóa, 260 lễ hội, hơn 13.000 hiện vật qua các thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, tỉnh Phú Thọ
có lợi thế nổi bật để phát triển du lịch cội nguồn (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, 2013)
Trong giai đoạn 2000-2012, tỉnh Phú Thọ đã thu hút được hàng triệu lượt du khách trong và ngoài nước về thăm, lượng khách lưu trú bình quân tăng 17,05%/năm (Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ, 2013) Tuy nhiên, sự phát triển du lịch cội nguồn ở tỉnh trong thời gian qua vẫn ở mức độ thấp, tồn tại nhiều bất cập, tỷ trọng GDP du lịch cội nguồn/GDP toàn tỉnh còn rất khiêm tốn Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, du lịch cội nguồn đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho người dân Tuy nhiên kết quả trên vẫn chưa tương xứng với lợi thế của tỉnh Làm thế nào để tăng cường phát triển du lịch cội nguồn, qua đó khai thác hợp lý và có hiệu quả hơn lợi thế của tỉnh Phú Thọ là câu hỏi đang được đặt ra đối với các cấp chính quyền và người dân trong tỉnh Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng và chỉ ra những vấn
Trang 38đề tồn tại trong phát triển du lịch cội nguồn thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường phát triển du lịch cội nguồn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
Tính đến năm 2012, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có 1.372 di tích lịch sử văn hóa, 260 lễ hội, 02 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận
và 02 bảo tàng Nguồn tài nguyên có giá trị lớn về mặt lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, văn hóa phật giáo phương đông này đã hướng người dân về gốc rễ cội nguồn Các di tích lịch sử văn hóa đã trở thành điểm du lịch cội nguồn hấp dẫn, đặc biệt có di tích nằm ngay trong các khu vực danh thắng hoặc bản thân
di tích cũng là một danh thắng nên càng hấp dẫn du khách hơn như khu di tích lịch sử Đền Hùng, Đền Mẫu Âu Cơ Đặc biệt, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ (di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại) có ý nghĩa đặc trưng, đó là ý thức nhớ về cội nguồn dân tộc “Uống nước nhớ nguồn”, sự kết nối cộng đồng hình thành nên tính đại diện cộng đồng sâu sắc
Có thể nói, tỉnh Phú Thọ là nơi có nguồn tài nguyên du lịch cội nguồn mang nét đặc trưng, độc đáo, là mảnh đất “vàng” để phát triển du lịch cội nguồn
2.1.2 Về nhận thức của các cấp chính quyền Trung ương và tỉnh Phú Thọ với công tác truyền thông di sản văn hóa phi vật thể
Trong nhiều năm gần đây, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với công tác giữ gìn phát huy DSVH Nhiều dự án đã được Chính phủ phê duyệt đã tạo một cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác giữ gìn và phát huy DSVH ở các địa phương trong cả nước Sự xuống cấp của các di tích lịch sử, di tích tín ngưỡng, tôn giáo dường như chưa có tác động mạnh mẽ vào nhận thức để nhận được sự quan tâm của toàn bộ người dân nên việc phản ánh, thông tin và đưa ra dư luận những vi phạm trong công tác quản lý, bảo tồn các di tích tín ngưỡng, tôn giáo vẫn còn nhiều hạn chế Đứng trước thực trạng đó, rất cần thiết có sự vào cuộc và thậm chí là sự vào
Trang 39cuộc quyết liệt của không chỉ các cấp chính quyền, các nhà nghiên cứu, nhà quản lý văn hóa mà còn của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó, đặc biệt là sự vào cuộc của đội ngũ báo chí làm công tác thông tin, truyền thông Thực tế
đã chứng minh, nhiều vụ việc chỉ đến được với người dân khi những người làm báo đưa thông tin ra trước công luận Cùng với sự bùng nổ của khoa học
kỹ thuật và công nghệ thông tin, thế giới đã gần nhau hơn rất nhiều, với sự hỗ trợ từ internet, thì gần như ngay lập tức, những thông tin được báo chí đăng tải sẽ đến với người đọc, người xem trên toàn thế giới cũng như sẽ nhận được
sự phản hồi và phản ứng của dư luận trong xã hội Điều đó cho thấy, báo chí đang và sẽ tạo nên một sức mạnh mềm rất lớn trong việc định hướng dư luận
Trang 40chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng tôn giáo Báo chí cũng góp phần đưa các chính sách ấy xuống tận cơ sở để người dân biết và thực hiện Báo chí vừa tuyên truyền, giải thích, vừa góp phần hướng dẫn, tổ chức việc thực hiện các phong trào văn hóa liên quan đến di tích tín ngưỡng, tôn giáo như việc tổ chức lễ hội, hạn chế việc đốt tiền, vàng mã tại các di tích Đây là vấn đề lớn không chỉ đối với các di tích tín ngưỡng, tôn giáo của Phú Thọ mà còn là của chung cả nước Về việc này, báo chí đã có nhiều sự phản ánh, tuyên truyền để mỗi người dân hiểu được và tham gia tích cực trong việc cùng tổ chức lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo văn minh, trang trọng, tiết kiệm, bài trừ các tệ nạn xã hội như cờ bạc trong các lễ hội, tránh các hiện tượng mê tín dị đoan, hạn chế tiến tới không đốt vàng mã để tránh lãng phí… Báo chí luôn có ý thức bảo toàn, gìn giữ những giá trị văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo tốt đẹp, góp phần đấu tranh để bài trừ, loại bỏ những tập tục hủ bại, lạc hậu, kìm hãm sự phát triển trong văn hóa, trong truyền thống dân tộc
Với chức năng của mình, báo chí là một trong những đội quân tiên phong trong việc cung cấp tới người đọc thông tin về văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam tới người dân cả nước và người dân trên thế giới Ở chiều ngược lại, báo chí cũng cho người dân Việt Nam biết được những cái hay, cái đẹp trong văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo của người dân trên khắp mọi miền đất nước
Báo chí cũng tập trung nêu lên những tấm gương điển hình trong các hoạt động văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo của người dân Những mô hình, những cách thức tổ chức hoạt động văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo sáng tạo, đổi mới nhưng vẫn duy trì được nét truyền thống thường xuyên được biểu dương,
từ đó tạo thành động lực, nhân điển hình để các cơ sở học tập, noi theo