ĐỊA CHẤT, CÁC TAI BIẾN ĐỊA CHẤTLƯU VỰC SÔNG CẦU DỰ BÁO VÀ CÁC GIẢI PHÁP KỸ THUẬT Tóm tắt: Bờ sông Cầu ở khoảng tỉnh Bắc Cạn bị sạt lở rất mạnh, nhất là vào mùa mưa.. Vùng nghiên cứu có 1
Trang 1MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 1
II ĐẶC ĐIỂM HIỆN TƯỢNG SẠT LỞ BỜ SÔNG CẦU 2
1 Đặc điểm đất đá cấu tạo bờ 2
2 Đặc điểm sạt lở các đoạn sông cong 4
III DỰ BÁO SẠT LỞ BỜ SÔNG CẦU Ở TỈNH BẮC CẠN 6
1 Phương pháp dự báo 6
2 Kết quả dự báo sạt lở 7
IV CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG SẠT LỞ 8
1 Các giải pháp phi công trình 8
2 Các giải pháp công trình 8
KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 2ĐỊA CHẤT, CÁC TAI BIẾN ĐỊA CHẤT
LƯU VỰC SÔNG CẦU
DỰ BÁO VÀ CÁC GIẢI PHÁP KỸ THUẬT
Tóm tắt: Bờ sông Cầu ở khoảng tỉnh Bắc Cạn bị sạt lở rất mạnh, nhất là vào mùa
mưa Các đoạn sạt lở thường là các đoạn sông cong Vùng nghiên cứu có 170 đoạn sông cong, trong đó 59 đoạn bờ cấu tạo bởi trầm tích sông và sườn-tàn tích có mức
độ sạt lở mạnh Mô hình ước tính mức độ sạt lở của Hickins và Nanson [1] cho phép xác định tốc độ sạt lở bờ sông từ 1 đến hơn 16 m/năm Sạt lở mạnh mẽ nhất xảy ra ở Khau Chủ, Sáu Hai và Khuổi Hoa Để hạn chế tác hại của sạt lở, cần nâng cao hiệu quả công tác dự báo lũ, cảnh báo các vùng có mức độ sạt lở nghiêm trọng, sử dụng kè áp mái, gia cố bờ sông
I MỞ ĐẦU
Bắc Cạn là một tỉnh miền núi thuộc Đông Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên 4.795,54 km2, chủ yếu thuộc rìa phía đông đới cấu trúc Lô-Gâm, có ranh giới với đới Sông Hiến ở đứt gẫy phân đới Quốc lộ 3 Khí hậu vùng Bắc Cạn có mùa mưa
từ tháng 5 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Tháng 4 và tháng 10 là các tháng chuyển tiếp giữa các mùa Nhiệt độ trung bình 220C Lượng mưa trung bình khoảng 1.500 mm, tập trung chủ yếu vào khoảng từ tháng 5 đến tháng 8 [3] Sông Cầu ở tỉnh Bắc Cạn (Hình 1) dài 103 km, diện tích lưu vực khoảng 510 km2, chảy qua nhiều dạng địa hình tương phản về độ cao, có độ dốc lớn Dọc hai bên bờ sông Cầu nói riêng, và lưu vực sông nói chung, hiện tượng sạt lở xảy ra rất mạnh mẽ Sạt lở tại đây tác động rõ rệt đến quỹ đất nông nghiệp, các khu kinh tế trọng điểm, đe doạ trực tiếp sự ổn định các công trình giao thông và thuỷ lợi, tác động tiêu cực tới sinh hoạt của đồng bào các dân tộc trong vùng Sạt lở còn gây bồi lắng cục bộ ở một số đoạn sông, gây nên ách tắc dòng chảy, làm cho nước lũ dâng cao nhanh hơn, sức tàn phá mạnh hơn
Từ thực tế trên, việc nghiên cứu sạt lở bờ sông Cầu ở tỉnh Bắc Cạn sẽ cho phép làm sáng tỏ các đặc điểm sạt lở và mức độ ảnh hưởng của chúng đến các hoạt động kinh tế - xã hội, từ đó đề xuất các giải pháp phòng chống giảm thiểu các thiệt hại
Trang 3II ĐẶC ĐIỂM HIỆN TƯỢNG SẠT LỞ BỜ SÔNG CẦU
1 Đặc điểm đất đá cấu tạo bờ
Để xác định mức độ ổn định của bờ sông, các mẫu đất đã được lấy trong quá trình khảo sát thực địa và sau đó xác định tính chất cơ lý trong phòng thí nghiệm Công tác lấy mẫu và xác định các tính chất cơ lý của đất đá thực hiện theo
TCVN-1995 Tại các đoạn bị sạt lở mạnh, bờ sông chủ yếu được cấu tạo bởi các trầm tích sông gồm cát, cát pha và sét pha Đây là các loại đất có kết cấu rất bở rời, độ bền nhỏ, sức chịu tải quy ước (Ro) trung bình = 1,0 kg/cm2, rất dễ bị sạt lở Trong một
số ít trường hợp, bờ sạt lở được cấu thành từ đất sườn-tàn tích là sét pha lẫn nhiều dăm sạn trạng thái cứng Đây là loại đất ít ẩm, có độ rỗng trung bình đến tương đối cao (0,654 - 1,024, trung bình 0,860) Độ bền từ trung bình đến rất cao: Ro = 1,5-3,1 kg/cm2, Đất có tính nén lún trung bình Hệ số nén lún biến đổi trong khoảng hẹp, từ 0,015 đến 0,031 cm2/kg
Hình 1 Sơ đồ vị trí sông Cầu ở tỉnh Bắc Cạn
Bảng 1 Chỉ tiêu cơ lý của đất ở lưu vực sông Cầu tỉnh Bắc Cạn
Loại đất Sét pha sườn-tàn tích Cát pha, sét pha
Trang 4Chỉ tiêu aluvi
Độ ẩm (%) 24,2 (14,1-30,9) 28,2 (18,3-41,2) Khối lượng thể tích (g/cm3) 1,81 (1,698-1,89) 1,75 (1,66-1,87) Khối lượng thể tích khô
(g/cm3)
1,46 (1,34-1,64) 1,38 (1,18-1,49)
Khối lượng riêng (g/cm3) 2,71 (2,66-2,74) 2,68 (2,65-2,70)
Hệ số rỗng 0,860 (0,654-1,024) 0,967 (0,811-1,254)
Độ lỗ rỗng (%) 46,1 (39,5-50,6) 49,0 (44,8-55,6)
Độ bão hoà 76,0 (56,4-91,5) 77,8 (55,9-88,1) Giới hạn chảy (%) 42,9 (33,0-52,6) 36,5 (26,8-44,3) Giới hạn dẻo (%) 29,2 (22,3-35,1) 25,5 (20,6-28,1) Chỉ số dẻo 13,7 (9,5-17,5) 11,0 (5,8-16,2)
Độ sệt -0,35 (-1,01-0,17) 0,20 (-0,38-1,24)
Hệ số nén lún (cm2/kg) 0,024 (0,015-0,031) 0,043 (0,021-0,075) Góc ma sát trong 18012’ (8012’-23012’) 10030’ (60
36’-20000’) Lực dính kết (kg/cm2) 0,296 (0,150-0,505) 0,151 (0,080-0,295) Sức chịu tải quy ước (kg/cm2) 2,2 (1,5-3,1) 1,0 (0,7-1,8)
Rất nhiều đoạn sông cong uốn khúc bờ sông được cấu tạo bởi các đá gốc của hệ tầng Phú Ngữ (O3-S1 pn) Hệ tầng này phân bố chủ yếu ở bên trái đứt gãy phân đới
dọc Quốc lộ 3 kéo dài từ Chợ Mới qua thị xã Bắc Cạn đến Chợ Đồn [2] Phân hệ tầng dưới (O3-S1 pn 1) gồm có: cát kết đa khoáng, đá phiến sericit, cát kết thạch anh dạng quarzit xen những lớp mỏng đá phiến sericit, đá phiến sét, đá phiến sét lẫn bột, đá phiến sét, bột kết, đá phiến sét giàu vảy sericit, xen các lớp đá phiến sét chứa vật chất hữu cơ màu đen Phân hệ tầng trên (O3-S1 pn 2) gồm: cát kết dạng quarzit xen các lớp mỏng đá phiến sericit, cát kết thạch anh, đá phiến sericit-chlorit, đá phiến silic, cát kết thạch anh - felspat hạt vừa và phân lớp không đều Ngoài ra, một số đoạn sông ngắn chảy qua các đá gốc của phức hệ Phia Bioc (gaT3n pb) và hệ tầng Mia Lé (D1 ml) Đây đều là các đá gốc cứng chắc nên bờ
sông ổn định, không bị sạt lở
2 Đặc điểm sạt lở các đoạn sông cong
Sông Cầu có rất nhiều đoạn bờ bị sạt lở mạnh mẽ như bờ phải đoạn cầu Khuổi Cườm (Hình 2), cầu Sáu Hai, xã Cao Kỳ, bờ trái ở Khau Chủ, Cảm Lẹng, cuối xã
Trang 5Cao Kỳ, thôn Nà Bén, Bờ ở các đoạn này cấu tạo từ aluvi, thường bị sạt lở cực mạnh (Hình 2) Do dòng chảy rất mạnh, nhiều đoạn bờ cấu tạo bởi đất phong hóa bền vững hơn, nhưng vẫn bị sạt lở nghiêm trọng, phá hủy vách âm của đường giao thông (Hình 3) Quan sát thực tế cho thấy, mực nước sông Cầu trong lũ có thể dâng cao hơn 6-8 m; dòng chảy đạt tốc độ lớn, có khả năng cuốn trôi cả những tảng đá góc cạnh kích thước 20-30 cm làm kè bờ Bờ sạt lở mạnh thường được cấu tạo bởi các aluvi của sông Cầu, như cát mịn, cát pha, sét pha bở rời, rất dễ bị sạt
lở Bờ sạt lở có dạng vách gần như dốc đứng, phần lớn cao 2-3 m, cá biệt có nơi cao tới 5-6 m, như ở Chợ Mới, Cao Kỳ Sạt lở bờ sông chủ yếu do sự đổi dòng của sông, tạo ra các khúc cong uốn khúc Trong tổng số 170 đoạn bờ cong đã tiến hành nghiên cứu, sông Cầu có 102 đoạn lộ đá gốc, mức độ sạt lở không đáng kể, chỉ còn lại 59 đoạn có mức độ sạt lở mạnh thuộc sông Cầu, 9 đoạn còn lại thuộc sông Chu - một nhánh sông đổ vào sông Cầu Các đoạn bờ sạt lở mạnh chủ yếu cấu tạo bởi các trầm tích sông, chỉ có 2 đoạn sông cấu tạo bởi đất tàn tích Rất nhiều đoạn sạt lở làm mất quỹ đất nông nghiệp, như ở Chợ Mới, Cao Kỳ, Sáu Hai, Khau Chủ, Sạt lở cũng đe dọa ổn định của cầu qua sông Cầu, đặc biệt là các cầu Sáu Hai và Khau Chủ
Hình 2 Sạt lở bờ sông Cầu tại Khuổi
Cườm Hình 3 Sạt lở bờ sông nhánh tại Bạch Thông
Bảng 2 Các đoạn sông cong bờ cấu tạo bởi đất aluvi và eluvi bị sạt lở
Số
hiệu
mặt cắt
Toạ độ điểm đầu Toạ độ điểm cuối Địa điểm
đoạn bờ sạt lở
Đất cấu tạo bờ
Trang 6Kinh độ
Đ Vĩ độ B Kinh độĐ Vĩ độ B
1 21052'17" 105047'28'' 21052'07'' 105047'33'' Nà Him Aluvi
2 21052'37" 105047'13'' 21052'06'' 105047'14'' Nà Him Aluvi
3 21052'53'' 105047'05'' 21052'48'' 105047'14'' Pác San Aluvi
4 21052'53" 105049'50'' 21052'51'' 105069'50'' Chợ Mới 1 Aluvi
5 21052'59" 105049'57'' 21053'54'' 105069'51'' Chợ Mới 2 Aluvi
6 21053'19" 105047'10'' 21053'13'' 105047'03'' Nậm Bó 1 Aluvi
7 21053'28" 105047'10'' 21053'19'' 105047'10'' Nậm Bó 2 Aluvi
8 21053'36'' 105047'03'' 21053'27'' 105047'03'' Nà Khon 1 Aluvi
9 21053'33" 105047'26'' 21053'33'' 105047'17'' Nà Khon 2 Aluvi
10 21053'48" 105047'41'' 21053'38'' 105047'41'' Nà Noọc Aluvi
11 21054'03" 105047'24'' 21053'58'' 105047'22'' Nà Khon 3 Aluvi
12 21054'48" 105047'42'' 21054'38'' 105047'37'' Nà Bia 1 Aluvi
13 21054'58" 105047'43'' 21054'48'' 105047'42'' Nà Bia 2 Aluvi
Trang 714 21055'43" 105047'34'' 21055'37'' 105047'28'' Khuổi Lót Aluvi
15 21055'49" 105047'41'' 21055'43'' 105047'34'' Cốc Po Aluvi
16 21056'10" 105047'42'' 21055'58'' 105047'43'' Nà Nậm Aluvi
17 21056'42" 105047'55'' 21056'36'' 105047'49'' Bản Áng Aluvi
18 21056'41" 105048'14'' 21056'40'' 105048'01'' Khuổi Tao Aluvi
19 21056'44'' 105048'23'' 21056'41'' 10504814'' Khuổi Tai Aluvi
20 21056'56" 105048'17'' 21056'44'' 105048'23'' Nà Giáo Aluvi
21 21057'44" 105048'10'' 21057'32'' 105048'19'' Nà O 1 Aluvi
22 21057'51" 105048'15'' 21057'44'' 105048'10'' Nà O 2 Aluvi
23 21058'02" 105048'32'' 21057'54'' 105048'23'' Nà Đeo Aluvi
24 21058'28" 105048'37'' 21058'19'' 105048'43'' Nà Ngai Aluvi
25 21059'04" 105048'57'' 21058'50'' 105048'58'' Sáu Hai 1 Aluvi
26 21059'07" 105049'03'' 21059'13'' 105048'57'' Sáu Hai 2 Aluvi
27 21059'27" 105049'11'' 21059'15'' 105049'10'' Sáu Hai 3 Aluvi
28 21059'33" 105049'07'' 21059'26'' 105049'10'' Leo Dài Aluvi
Trang 829 21059'54" 105049'28'' 21059'52'' 105049'23'' Nà Cù Aluvi
30 22000'00" 105049'40'' 21059'54'' 105049'28'' Nà Bén 1 Aluvi
31 22000'16" 105049'47'' 22000'18'' 105049'40'' Nà Bén 2 Eluvi
32 22000'18" 105049'50'' 22000'27 105049'48'' Nà Bén 3 Eluvi
33 22000'45" 105049'32'' 22000'42'' 105049'38''
Tổng Tàng
34 22000'52" 105049'29'' 22000'46'' 105049'31'' Tổng Tàng2 Aluvi
35 22001'04" 105049'37 22001'57'' 105049'36'' Tổng Tàng3 Aluvi
36 22001'47" 105049'39'' 22001'42'' 105049'32'' Na Ca 1 Aluvi
37 22002'08" 105049'50'' 22002'01'' 105049'42'' Na Ca 1 Aluvi
38 22002'09" 105050'10'' 22002'08'' 105050'01'' Hun Phai Aluvi
39 22002'08" 105050'23'' 22002'09'' 105050'10'' ChuộcToòng Aluvi
40 22002'10'' 105050'41'' 22002'09'' 105050'34''
Công Tum
Trang 941 22002'15'' 105050'50'' 22002'10'' 105050'41'' Công Tum2 Aluvi
42 22002'32" 105050'51'' 22002'23'' 105050'48''
Công Tum
43 22002'44" 105051'08'' 22002'42'' 105051'01'' Bản Giác Aluvi
44 22002'56" 105052'11'' 22002'54'' 105052'03'' Khuổi Giác Aluvi
45 22008'55" 105054'19'' 22008'34'' 105054'03'' Nà Mèng Aluvi
46 22009'12'' 105051'08'' 22009'18'' 105051'20'' Bản Ven Aluvi
47 22009'12'' 105050'56'' 22009'11'' 105051'09'' TX BắcCạn 1 Aluvi
48 22009'18'' 105050'35'' 22009'11'' 105050'55''
TX Bắc
49 22009'09'' 105050'22'' 22009'10'' 105050'30'' TX BắcCạn 3 Aluvi
50 22009'17'' 105050'06'' 22009'16'' 105050'17''
TX Bắc
51 22009'14'' 105049'58'' 22009'16'' 105050'05'' TX BắcCạn 5 Aluvi
52 22009'14'' 105049'47'' 22009'13'' 105049'57'' TX BắcCạn 6 Aluvi
Trang 1053 22009'11'' 105049'19'' 22009'10'' 105049'31'' TX BắcCạn 7 Aluvi
54 22009'25'' 105049'05'' 22009'16'' 105049'12''
TX Bắc
55 22007'38" 105046'20" 22007'38" 105046'23" Nà Leng Aluvi
56 22007'33" 105045'48" 22007'30" 105045'50" Nà Kha Aluvi
57 22008'35'' 105039'51'' 22008'35'' 105039'50'' Khau Chủ 1 Aluvi
58 22008'31'' 105039'47'' 22008'31'' 105039'53'' Khau Chủ 2 Aluvi
59 22008'28'' 105039'46'' 22008'28'' 105039'49'' Khau Chủ 3 Aluvi
III DỰ BÁO SẠT LỞ BỜ SÔNG CẦU Ở TỈNH BẮC CẠN
1 Phương pháp dự báo
Việc dự báo diễn biến sạt lở bờ sông Cầu tỉnh Bắc Cạn được tiến hành theo phương pháp của Hickins và Nanson [1] Công thức được xây dựng trên cơ sở của phương trình cân bằng năng lượng Nội dung được thể hiện bằng các công thức:
trường hợp R/B < 1 hoặc R/B > 2,5
trường hợp 1 < R/B < 2,5, và trong đó: M(R/B) – tốc độ sạt lở bờ trong một năm, tính bằng m/năm; R – bán kính cong của đoạn sông bị sạt lở (m); B – chiều rộng trắc diện ngang của đoạn sông sạt lở ứng với lưu lượng tạo lòng (m); r – trọng lượng riêng của nước (kg/
m3); g – gia tốc trọng trường, bằng 9,82 m/s2; I – độ dốc mặt nước theo chiều dọc;
Trang 11Q – lưu lượng dòng chảy tương ứng với lưu lượng tạo lòng (m3/s); h – độ sâu trung bình tương ứng của mặt cắt (m); GB – thông số phản ánh mức độ kiên cố của bờ sông (phụ thuộc vào đường kính của hạt tạo bờ) Từ đường kính trung bình (d50) và các tính chất cơ lý của đất cấu tạo bờ xác định được giá trị của GB theo bảng đã lập sẵn của Hickins và Nanson [1], phục vụ việc tính toán dự báo sạt lở Các thông số đưa vào tính toán dự báo tốc độ sạt lở được xác định như sau: các thông số về đặc điểm thuỷ văn và địa hình của các đoạn sông cong được xác định
từ các mặt cắt ngang và mặt cắt dọc của công tác đo thuỷ văn sông Cầu Độ dốc mặt nước theo chiều dọc (I) được xác định từ các mặt cắt dọc Lưu lượng tạo lòng,
bề rộng sông và độ sâu tương ứng của sông được xác định từ các mặt cắt ngang ứng với mực nước trung bình năm của sông Cầu ở tỉnh Bắc Cạn Các thông số địa hình và thuỷ văn tại 21 mặt cắt ngang đã tiến hành đo thực tế tại các vùng trọng điểm Giá trị bán kính cong của đoạn sạt lở được xác định bằng cách đo trên bản
đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000, 1:10.000, 1:5.000 và 1:2.000 và kiểm chứng bằng đo trực tiếp ngoài thực địa
2 Kết quả dự báo sạt lở
Các kết quả tính toán (Bảng 3) cho thấy, vùng bị sạt lở mạnh nhất là đoạn dưới cầu Khau Chủ, xã Đông Viên Hai đoạn bờ xói ở đây tốc độ sạt lở ở đây đạt tới 13,1 và 16,2 m/năm Ở các vùng khác, tốc độ sạt lở nhỏ hơn, từ 1 đến khoảng hơn
10 m Các đoạn bờ cấu tạo bởi trầm tích sông vùng thị xã Bắc Cạn dễ bị sạt lở, với tốc độ sạt lở từ 2,6 đến 7,0 m/năm, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quỹ đất và các công trình ở ven sông Tuy nhiên, từ trước đó thị xã đã đưa ra các giải pháp công trình hợp lý là xây dựng hệ thống kè kiên cố ở những đoạn bờ này Các đoạn còn lại là bờ trái ở phường Minh Khai, thị xã Bắc Cạn, và đoạn bờ phải (đoạn đối diện với sân bay đang xây dựng) được cấu tạo bởi các sản phẩm phong hoá bền vững hơn, tốc độ sạt lở từ 1,1 đến 1,8 m/năm, gây phá huỷ đường và nhà dân ở bên sông, do vậy, các hộ dân tại đây đã phải di chuyển để đảm bảo an toàn Vùng cầu Sáu Hai do bờ hoàn toàn cấu tạo bởi các trầm tích sông dễ bị sạt lở, nên tốc độ sạt lở hàng năm cũng rất cao, từ 2,9 đến 6,6 m Ở vùng cầu Khuổi Lót và Khuổi Cườm, do sông uốn cong mạnh, lưu lượng dòng chảy lớn, tốc độ sạt lở đạt 6,4 m/năm Tại đây một đoạn kè bờ kiên cố đã được xây dựng dẫn đến sạt lở ngang chuyển sang xói mòn theo phương thẳng đứng, phá huỷ chân kè Vùng vực cầu Khuổi Hoa bờ phải sông Cầu bị sạt lở với tốc độ rất lớn, khoảng 9,0 m/năm, phá huỷ nghiêm trọng đường giao thông Vùng này hiện đang được san lấp làm khu dân cư mới, và nếu dòng sông được đào cho chảy thẳng, khúc sông cong sẽ không còn và hiện tượng sạt lở bờ sẽ cơ bản được giải quyết Vùng đền Bà Thắm, theo tính toán, tốc độ sạt lở đạt 10,2 m/năm Tuy nhiên, với tốc độ sạt lở mạnh như vậy, toàn bộ vùng phân bố trầm tích sông và cả lớp đất phong hoá đã bị sạt lở, rửa trôi
đi hoàn toàn, lộ ra đá gốc, nên hiện nay tại đây tốc độ sạt lở không còn đáng kể nữa
Trang 12IV CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG SẠT LỞ
1 Các giải pháp phi công trình
1 Bảo vệ và tăng cường hơn nữa độ che phủ của rừng đầu nguồn, góp phần giảm bớt lượng nước dồn về hạ lưu, giảm lũ quét, lũ ống;
2 Nâng cao hiệu quả của công tác dự báo lũ, cảnh báo các vùng có khả năng sạt
lở nghiêm trọng, để di rời nhà dân, các hệ thống điện trung, hạ thế ra khỏi vùng nguy hiểm trước mùa mưa lũ;
3 Quy hoạch hợp lý việc khai thác cát xây dựng trên sông Cầu, nghiêm cấm việc khai thác ở bờ sông đang bị sạt lở;
4 Không khai thác, chặt phá các hàng cây, bụi tre, nứa ở ven sông Cầu, tăng cường trồng thêm các khóm tre, nứa ở ven sông để giảm tốc độ sạt lở bờ sông Quá trình trồng cây phải có quy hoạch, chỉ trồng ở các vùng đang có nguy cơ sạt
lở, tránh trường hợp cây được trồng nhiều ở phần bờ không sạt lở sẽ cản trở dòng chảy, gây tác dụng ngược lại, làm sạt lở mạnh hơn ở các đoạn bờ khác
2 Các giải pháp công trình
Công tác khảo sát thực tế cho thấy từ nhiều năm qua rất nhiều đoạn bờ sông Cầu bị sạt lở mạnh phá huỷ vách âm của đường và buộc phải áp dụng các biện pháp công trình để hạn chế tác hại của sạt lở Các vùng điển hình là tuyến đường
từ thị xã Bắc Cạn đi Chợ Đồn, đoạn sông Cầu đi qua thị xã Bắc Cạn, vùng cầu Khuổi Cườm, vùng đền Bà Thắm Các giải pháp công trình nên áp dụng là:
1 Giải pháp công trình thích hợp nhất là kè áp mái Khi xây dựng kè áp mái hộ
bờ đặc biệt cần lưu ý bảo vệ chân kè Đối với những đoạn sạt lở có tốc độ dòng chảy cao, phần mái kè xây bằng đá xây, đá chít mạch hoặc bằng rọ đá thay cho đá xây khan để tăng cường khả năng chống sạt lở Để tránh sạt lở kè nên sử dụng các hàng ống bi hay các tảng đá kích thước lớn có thể tới hàng mét để gia cố, đảm bảo
ổn định lâu dài chân kè và giảm chi phí tu sửa thường xuyên;