1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Chương 8 Tổ chức và quản lý kiểm toán

41 631 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 739,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung trung tâm của báo cáo kiểm toán là ý kiến nhận xét của KTV về mức độ tin cậy của BCTC KTV phải soát xét , đánh giá các kết luận rút ra từ các bằng chứng đã thu thập được để hình

Trang 1

Chương 8:

Trang 2

* Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Giang Thị Xuyến

Trang 3

Tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán

8.2.2

Tổ chức hoàn tất kết quả kiểm toán

8.2.3

Trang 4

8.2.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán

Trang 5

1 Tổ chức thực hiện các khảo sát kiểm soát

Khi lập KHKT, KTV mới chỉ tìm hiểu và đánh giá sơ bộ về hệ thống KSNB của đơn vị => Làm cơ

sở dự kiến trọng tâm KT và dự kiến có thể dựa vào những khâu KSNB có hiệu lực mạnh.

Khi lập KHKT, KTV mới chỉ tìm hiểu và đánh giá sơ bộ về hệ thống KSNB của đơn vị => Làm cơ

sở dự kiến trọng tâm KT và dự kiến có thể dựa vào những khâu KSNB có hiệu lực mạnh.

Mặt khác, trong kỳ kế toán, tại đơn vị được kiểm toán cũng có thể có những thay đổi, biến động về kế

toán và quy chế KSNB => biến động hiệu lực kiểm soát.

Mặt khác, trong kỳ kế toán, tại đơn vị được kiểm toán cũng có thể có những thay đổi, biến động về kế

toán và quy chế KSNB => biến động hiệu lực kiểm soát.

Vì vậy, khi triển khai thực hiện kế hoạch kiểm toán, KTV phải tiến hành nghiên cứu, đánh giá laị trên thực tế đối với HTKT và các quy chế KSNB – hai mắt xích cơ bản ngăn chặn, phát hiện và sửa chữa các gian lận, sai sót – chủ yếu là đối với những khâu KSNB mà kiểm toán viên có ý định

dựa vào (= Kiểm tra lại độ tin cậy của KSNB)

Vì vậy, khi triển khai thực hiện kế hoạch kiểm toán, KTV phải tiến hành nghiên cứu, đánh giá laị trên thực tế đối với HTKT và các quy chế KSNB – hai mắt xích cơ bản ngăn chặn, phát hiện và sửa chữa các gian lận, sai sót – chủ yếu là đối với những khâu KSNB mà kiểm toán viên có ý định

dựa vào (= Kiểm tra lại độ tin cậy của KSNB)

Lý do

Lý do

Trang 6

1 Tổ chức thực hiện các khảo sát kiểm soát

Trên cơ sở kết quả đánh giá lại về mức độ tin cậy đối với KSNB trên thực tế => xác định và triển khai các thử nghiệm cơ bản cho phù hợp (kể cả việc điều chỉnh – nếu

Trang 7

- Đối với HTKT: Tổ chức BMKT và công tác kế

và khả năng kiểm soát đối với thông tin TC.

- Đối với HTKT: Tổ chức BMKT và công tác kế

và khả năng kiểm soát đối với thông tin TC.

- Đối với quy chế KSNB: Nghiên cứu văn bản về KSNB; Phỏng vấn nhân viên; Thu thập thông tin liên quan đến quy chế KS; Thu thập các dấu hiệu hay bằng chứng về sự vận hành của các quy

chế KSNB.

- Đối với quy chế KSNB: Nghiên cứu văn bản về KSNB; Phỏng vấn nhân viên; Thu thập thông tin liên quan đến quy chế KS; Thu thập các dấu hiệu hay bằng chứng về sự vận hành của các quy

chế KSNB.

1 Tổ chức thực hiện các khảo sát kiểm soát

Nội dung khảo sát

Trang 8

Thủ tục khảo sát về kiểm soát

+Kỹ thuật điều tra

theo hệ thống

+Khảo sát chi tiết đối với kiểm soát

Trang 9

Nếu các bằng chứng kiểm toán thu thập được chứng tỏ sự đầy đủ và hợp lý của các bước kiểm

soát; sự hoạt động thường xuyên liên tục và có hiệu quả của các quy chế kiểm soát nội bộ sẽ cho

phép KTV quyết định thu hẹp phạm vi các thử nghiệm cơ bản và ngược lại.

Nếu các bằng chứng kiểm toán thu thập được chứng tỏ sự đầy đủ và hợp lý của các bước kiểm soát; sự hoạt động thường xuyên liên tục và có hiệu quả của các quy chế kiểm soát nội bộ sẽ cho

phép KTV quyết định thu hẹp phạm vi các thử nghiệm cơ bản và ngược lại.

Trang 10

2 Tổ chức thực hiện các khảo sát cơ bản

BCTC của đơn vị bao gồm một hệ thống các thông tin (chỉ tiêu) tài chính được sắp xếp, trình bày theo từng loại, từng mục, từng khoản, hình thành nên các bộ phận hợp thành của BCTC Các số liệu trình bày trên BCTC của các thông tin tài chính này chính là kết quả của một quá trình kế toán (ghi nhận, phân loại, tính toán, ghi sổ, tổng hợp, ) từ các loại nghiệp vụ kinh tế có liên quan

Để thu thập bằng chứng làm cơ sở xác nhận cho các số liệu này, cần phải thực hiện các khảo sát (thử nghiệm) cơ bản – khảo sát đối với quá trình kế toán.

BCTC của đơn vị bao gồm một hệ thống các thông tin (chỉ tiêu) tài chính được sắp xếp, trình bày theo từng loại, từng mục, từng khoản, hình thành nên các bộ phận hợp thành của BCTC Các số liệu trình bày trên BCTC của các thông tin tài chính này chính là kết quả của một quá trình kế toán (ghi nhận, phân loại, tính toán, ghi sổ, tổng hợp, ) từ các loại nghiệp vụ kinh tế có liên quan

Để thu thập bằng chứng làm cơ sở xác nhận cho các số liệu này, cần phải thực hiện các khảo sát (thử nghiệm) cơ bản – khảo sát đối với quá trình kế toán.

Lý do và mục đích

Trang 11

Nội dung khảo sát

Trang 12

Phương pháp kỹ thuật phân tích

+Phân tích đánh giá tổng quát

+Kiểm tra chi tiết về nghiệp vụ và số dư tài khoản

+Phân tích đánh giá tổng quát

+Kiểm tra chi tiết về nghiệp vụ và số dư tài khoản

Sử dụng kết quả khảo sát

Trên cơ sở các bằng chứng đã thu thập được đối với từng CSDL của thông tin TC hay bộ phận

đã kiểm toán => phân tích để đưa ra YKNX cho thông tin hay bộ phận đó.

Trên cơ sở các bằng chứng đã thu thập được đối với từng CSDL của thông tin TC hay bộ phận

đã kiểm toán => phân tích để đưa ra YKNX cho thông tin hay bộ phận đó.

Các YKNX cho từng thông tin hay bộ phận đã kiểm toán cùng các bằng chứng kèm theo sẽ được sử dụng phục vụ cho tổng hợp lập báo cáo kiểm toán ở khâu tiếp theo (Hoàn tất kết quả cuộc kiểm toán) Các YKNX cho từng thông tin hay bộ phận đã kiểm toán cùng các bằng chứng kèm theo sẽ được sử dụng phục vụ cho tổng hợp lập báo cáo kiểm toán ở khâu tiếp theo (Hoàn tất kết quả cuộc kiểm toán)

Trang 13

8.2.3 Tổ chức hoàn tất kết quả kiểm toán

Lập báo cáo kiểm toán

Báo cáo kiểm toán là báo cáo về kết quả của cuộc kiểm toán ( về BCTC) Hình thức của báo cáo kiểm toán được thể hiện bằng văn bản

Nội dung trung tâm của báo cáo kiểm toán là ý kiến nhận xét của KTV về mức độ tin cậy của BCTC

KTV phải soát xét , đánh giá các kết luận rút ra từ các bằng chứng đã thu thập được để hình thành các kết luận toàn diện

về các khía cạnh sau đây:

+Mức độ phù hợp với các thông lệ, chuẩn mực và chế độ kế toán

+Mức độ phù hợp với các quy định hiện hành và với các yêu cầu của pháp luật.

+Toàn cảnh các thông tin tài chính của đơn vị có nhất quán với các hiểu biết của KTV về hoạt động kinh doanh của đơn vị

hay không?

+Các thông tin tài chính có thể hiện thỏa đáng mọi vấn đề trọng yếu và có đảm bảo trung thực và hợp lý hay không ?

Báo cáo kiểm toán là báo cáo về kết quả của cuộc kiểm toán ( về BCTC) Hình thức của báo cáo kiểm toán được thể hiện bằng văn bản

Nội dung trung tâm của báo cáo kiểm toán là ý kiến nhận xét của KTV về mức độ tin cậy của BCTC

KTV phải soát xét , đánh giá các kết luận rút ra từ các bằng chứng đã thu thập được để hình thành các kết luận toàn diện

về các khía cạnh sau đây:

+Mức độ phù hợp với các thông lệ, chuẩn mực và chế độ kế toán

+Mức độ phù hợp với các quy định hiện hành và với các yêu cầu của pháp luật.

+Toàn cảnh các thông tin tài chính của đơn vị có nhất quán với các hiểu biết của KTV về hoạt động kinh doanh của đơn vị

hay không?

+Các thông tin tài chính có thể hiện thỏa đáng mọi vấn đề trọng yếu và có đảm bảo trung thực và hợp lý hay không ?

Trang 14

Giả định về hoạt động liên tục

Khái niệm về hoạt động liên tục được hiểu như sau : “Một doanh nghiệp được coi là hoạt động liên tục khi mà nó tiếp tục hoạt động cho một tương lai định trước Người ta quan niệm rằng doanh nghiệp không có ý định và cũng không cần phải giải tán hoặc quá thu

hẹp quy mô hoạt động của mình”.

Với giả định về sự hoạt động liên tục, tài sản của doanh nghiệp được trình bày trên BCTC

theo nguyên tắc giá phí Ngược lại nếu gỉa định hoạt động không được thực hiện, tài sản

của doanh nghiệp được trình bày trên BCTC sẽ phải theo nguyên tắc khác.

Khái niệm về hoạt động liên tục được hiểu như sau : “Một doanh nghiệp được coi là hoạt động liên tục khi mà nó tiếp tục hoạt động cho một tương lai định trước Người ta quan niệm rằng doanh nghiệp không có ý định và cũng không cần phải giải tán hoặc quá thu

hẹp quy mô hoạt động của mình”.

Với giả định về sự hoạt động liên tục, tài sản của doanh nghiệp được trình bày trên BCTC theo nguyên tắc giá phí Ngược lại nếu gỉa định hoạt động không được thực hiện, tài sản

của doanh nghiệp được trình bày trên BCTC sẽ phải theo nguyên tắc khác.

Trang 15

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 570 (VSA570) : ”Khi lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán cũng như khi

đánh giá và trình bày nhận xét trong báo cáo kiểm toán, KTV và công ty kiểm toán phải luôn xem xét sự phù hợp

của giả định ‘hoạt động liên tục’ mà doanh nghiệp đã sử dụng để lập và trình bày BCTC”

Cũng theo VAS 570, người đứng đầu đơn vị được kiểm toán, khi lập và trình bày BCTC cần phải đánh giá về khả

năng hoạt động của đơn vị Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục kinh doanh bình thường trong tương lai gần, trừ khi doanh nghiệp có ý định giải thể hoặc bị

buộc phải ngừng hoạt động, hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình.

Kiểm toán viên và công ty kiểm toán có trách nhiệm xem xét tính hợp lý của giả định hoạt động liên tục mà đơn vị

được kiểm toán đã sử dụng khi lập và trình bày BCTC, đồng thời xem xét các yếu tố không trọng yếu nào có liên

quan tới khả năng hoạt động liên tục của đơn vị cần phải được trình bày đầy đủ trên BCTC.

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 570 (VSA570) : ”Khi lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán cũng như khi

đánh giá và trình bày nhận xét trong báo cáo kiểm toán, KTV và công ty kiểm toán phải luôn xem xét sự phù hợp

của giả định ‘hoạt động liên tục’ mà doanh nghiệp đã sử dụng để lập và trình bày BCTC”

Cũng theo VAS 570, người đứng đầu đơn vị được kiểm toán, khi lập và trình bày BCTC cần phải đánh giá về khả

năng hoạt động của đơn vị Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục kinh doanh bình thường trong tương lai gần, trừ khi doanh nghiệp có ý định giải thể hoặc bị

buộc phải ngừng hoạt động, hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình.

Kiểm toán viên và công ty kiểm toán có trách nhiệm xem xét tính hợp lý của giả định hoạt động liên tục mà đơn vị

được kiểm toán đã sử dụng khi lập và trình bày BCTC, đồng thời xem xét các yếu tố không trọng yếu nào có liên

quan tới khả năng hoạt động liên tục của đơn vị cần phải được trình bày đầy đủ trên BCTC.

Trang 16

Trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán và kiểm toán KTV và công ty kiểm toán phải lưu ý đến các sự kiện hoặc điều kiện có thể gây ra sự nghi ngờ đáng kể đến khả năng hoath động liên tục của đơn vị Khi xác định được các căn cứ để nghi ngờ, KTV và công ty kiêm toán cần phải:

+ Soát xét các kế hoạch của Ban giám đốc đơn vị được liểm toán về hoạt động trong tương lai.

+ Thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp để xác nhận hay loại trừ các yếu tố không chắc chắn trọng yếu +Yêu cầu Ban giám đốc đơn vị được kiểm toán xác nhận bằng văn bản liên quan tới các kế hoạch hành động

trong tương lai của họ.

Kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn bộ nếu giải định hoạt động liên tục được thực hiện một cách phù hợp Trong trường hợp ngược lại, kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra loại ý kiến nhận xét khác với ý kiến chấp nhận toàn bộ.

Trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán và kiểm toán KTV và công ty kiểm toán phải lưu ý đến các sự kiện hoặc điều kiện có thể gây ra sự nghi ngờ đáng kể đến khả năng hoath động liên tục của đơn vị Khi xác định được các căn cứ để nghi ngờ, KTV và công ty kiêm toán cần phải:

+ Soát xét các kế hoạch của Ban giám đốc đơn vị được liểm toán về hoạt động trong tương lai.

+ Thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp để xác nhận hay loại trừ các yếu tố không chắc chắn trọng yếu +Yêu cầu Ban giám đốc đơn vị được kiểm toán xác nhận bằng văn bản liên quan tới các kế hoạch hành động

trong tương lai của họ.

Kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn bộ nếu giải định hoạt động liên tục được thực hiện một cách phù hợp Trong trường hợp ngược lại, kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra loại ý kiến nhận xét khác với ý kiến chấp nhận toàn bộ.

Trang 17

Ktv cân nhắc đến các biểu hiện có khả năng ảnh hưởng đến sự hoạt động bình thường của doanh nghiệp sau đây:

- Các biểu hiện về tài chính như:

+Lỗ kinh doanh thực tế

+Các khoản nợ đã đến hạn mà doanh nghiệp không có khả năng thanh toán, không có đủ tin cậy để vay ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn.

+Các tỷ lệ tài chính bị đảo ngược

+Sự khó khăn trong việc thực hiện các điều khoản của khế ước vay mượn.

+Không có khả năng tạo được nguồn tài chính để tài trợ cho các khoản đầu tư cần thiết.

-Các biểu hiện hoạt động như:

+Thiếu cán bộ chủ chốt mà không bổ sung được.

+Thiếu thị trường chính hoặc nguồn cung cấp vật tư.

+Thiếu giấy phép, đặc quyền

-Các biểu hiện khác như:

+Không đủ vốn pháp định hoặc không thực hiện được các yêu cầu có liên quan theo pháp luật.

+Doanh nghiệp đang bị kiện, tuy chưa có phán quyết song khả năng doanh nghiệp bị rơi vào thế bát lợi.

+Sự thay đổi trong chính sách Nhà nước và luật pháp

Ktv cân nhắc đến các biểu hiện có khả năng ảnh hưởng đến sự hoạt động bình thường của doanh nghiệp sau đây:

- Các biểu hiện về tài chính như:

+Lỗ kinh doanh thực tế

+Các khoản nợ đã đến hạn mà doanh nghiệp không có khả năng thanh toán, không có đủ tin cậy để vay ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn.

+Các tỷ lệ tài chính bị đảo ngược

+Sự khó khăn trong việc thực hiện các điều khoản của khế ước vay mượn.

+Không có khả năng tạo được nguồn tài chính để tài trợ cho các khoản đầu tư cần thiết.

-Các biểu hiện hoạt động như:

+Thiếu cán bộ chủ chốt mà không bổ sung được.

+Thiếu thị trường chính hoặc nguồn cung cấp vật tư.

+Thiếu giấy phép, đặc quyền

-Các biểu hiện khác như:

+Không đủ vốn pháp định hoặc không thực hiện được các yêu cầu có liên quan theo pháp luật.

+Doanh nghiệp đang bị kiện, tuy chưa có phán quyết song khả năng doanh nghiệp bị rơi vào thế bát lợi.

+Sự thay đổi trong chính sách Nhà nước và luật pháp

Trang 18

Nếu có nghi ngờ về khả năng ảnh hưởng đến sự hoạt động liên tục, KTV cần thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp để chứng minh hoặc xóa tan nghi ngờ trước khi đưa ra ý kiến nhận xét cho BCTC đã được kiểm toán

Kết luận của kiểm toán viên về BCTC đã kiểm toán chính là ý kiến nhận xét tổng quát và sẽ được ghi vào báo cáo kiểm toán

(Nội dung của báo cáo kiểm toán đã được trình bày ở chương 3)

Trong một số trường hợp thấy cần thiết phải bổ sung thêm những thông tin về kết quả của cuộc kiểm toán đã được trình bày trên báo cáo kiểm toán, KTV được phép lập thêm phần phụ lục đính kèm bản báo cáo kiểm toán như: Phần trình bày rõ thêm các thông tin về yếu tố ngoại trừ; Bảng tính số liệu chi tiết ; Các kiến nghị của KTV

Nếu có nghi ngờ về khả năng ảnh hưởng đến sự hoạt động liên tục, KTV cần thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp để chứng minh hoặc xóa tan nghi ngờ trước khi đưa ra ý kiến nhận xét cho BCTC đã được kiểm toán

Kết luận của kiểm toán viên về BCTC đã kiểm toán chính là ý kiến nhận xét tổng quát và sẽ được ghi vào báo cáo kiểm toán

(Nội dung của báo cáo kiểm toán đã được trình bày ở chương 3)

Trong một số trường hợp thấy cần thiết phải bổ sung thêm những thông tin về kết quả của cuộc kiểm toán đã được trình bày trên báo cáo kiểm toán, KTV được phép lập thêm phần phụ lục đính kèm bản báo cáo kiểm toán như: Phần trình bày rõ thêm các thông tin về yếu tố ngoại trừ; Bảng tính số liệu chi tiết ; Các kiến nghị của KTV

Trang 19

Soạn thảo “Thư quản lý”

Thư quản lý là

Thư của KTV gửi cho các nhà quản lý của đơn vị được kiểm toán

để cung cấp những thông tin và những khuyến cáo mà KTV cho là

cần thiết

Thư của KTV gửi cho các nhà quản lý của đơn vị được kiểm toán

để cung cấp những thông tin và những khuyến cáo mà KTV cho là

cần thiết

Trang 20

Mục đích của thư quản lý là gì ?

Ngày đăng: 28/10/2016, 11:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w