Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu về thực trạng xuấtkhẩu hiện nay của Việt Nam sang các nước Châu Âu từ khi Việt Nam gia nhập WTOtớ
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 3
1.1 Khái niệm về xuất khẩu hàng hóa 3
1.2 Các loại hình xuất khẩu 3
1.2.1.Xuất khẩu trực tiếp 3
1.2.2 Xuất khẩu gián tiếp 4
1.2.3.Buôn bán đối lưu 5
1.2.4.Tái xuất và chuyển khẩu 6
1.2.5 Xuất khẩu tại chỗ 7
1.2.6 Gia công quốc tế 8
1.3 Một số khái niệm liên quan tới hoạt động xuất khẩu sang thị trường nước ngoài 8
1.3.1 Lợi thế so sánh 8
1.3.2 Thuế quan và phi thuế quan 10
1.3.3 Trợ cấp xuất khẩu: 12
1.3.4 Điều kiện mua bán quốc tế 15
1.4 Vai trò và lợi ích của xuất khẩu trong sự phát triển của nền kinh tế 15
1.4.1 Tạo nguồn vốn cho Nhập khẩu: 15
1.4.2 Góp phần tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 16
1.4.3 Nâng cao trình độ lao động, quản lý 17
1.4.4 Xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân 17
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU RAU QUẢ VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO SANG MỘT SỐ NƯỚC CHÂU ÂU 18
2.1 Lợi thế của Việt Nam về sản xuất và xuất khẩu rau quả 18
2.1.1 Lợi thế về điều kiện tự nhiên 18
2.1.2 Lợi thế sau khi gia nhập WTO 18
2.1.3 Lợi thế so sánh của rau quả Việt Nam 18
2.2 Tổng quan về thị trường các nước Châu Âu ( EU) 20
Trang 22.2.1 Thị trường rau quả Châu Âu 20
2.2.2 Xu hướng tiêu dùng 23
2.2.3 Chính sách và quy định nhập khẩu tại thị trường Châu Âu 25
2.2.4 Tổng quan về một số nước trong thị trường Châu Âu 28
2.3 Tình hình xuất khẩu rau quả Việt Nam sang một số nước Châu Âu 49
2.3.1 Cơ cấu mặt hàng 49
2.3.2 Kim ngạch xuất khẩu sang một số nước trong EU 51
2.4 Đánh giá tình hình xuất khẩu rau quả sang Thị trường Châu Âu sau khi gia nhập WTO tới nay: 53
2.4.1 Thành tựu 53
2.3.2 Hạn chế 55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU RAU QUẢ SANG THỊ TRƯỜNG CHÂU ÂU 58
3.1 Định hướng xuất khẩu rau quả sang thị trường Châu Âu từ nay tới năm 2015: 58
3.1.1 Định hướng xuất khẩu rau quả Việt Nam tới năm 2015 58
3.2 Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả sang thị trường Châu Âu 63
3.2.1 Về phía Nhà Nước 63
3.2.1 Về phía doanh nghiệp 68
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 3DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Danh mục bảng
Bảng 1: Lợi thế so sánh giữa hai quốc gia Việt Nam và Mỹ 10
Bảng 2: So sánh nhu cầu, sản xuất và nhập khẩu theo quốc gia 24
Bảng 3: Thị phần nhập khẩu rau quả của các nước nước vào Châu Âu năm 2008 25
Bảng 4: Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước trong thời gian qua 32
Bảng 5: Tổng hợp các mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang Hà Lan năm 2009 và T10/2010 32
Bảng 6: Tổng hợp các mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang CHLB Đức năm 2009 và 1-10/2010 37
Bảng 7: Tổng hợp các mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang Pháp năm 2009 và 2010 43
Bảng 8: Tổng hợp những mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang Italia năm 2009 và năm 2010 46
Bảng 9: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Anh năm 2009 và 10 tháng năm 2010 50
Danh mục biểu đồ Biểu đồ 1: Kim ngạch nhập khẩu rau quả của thị trường EU từ năm 2004-2009 25
Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam sang thị trường EU từ năm 2007-T2/2012 53
Biểu đồ 3: Kim ngạch xuất khẩu rau quả sang một số nước EU 54
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong công cuộc Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa, Việt Nam đang thực hiện chiếnlược xuất khẩu kết hợp song song với chiến lược thay thế nhập khẩu Đối với ViệtNam cũng như tất cả các nước trên thế giới, hoạt động xuất khẩu đóng vai trò quantrọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế và xây dựng đất nước
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là một nước nông nghiệpvới trên 70% lực lượng lao động hoạt động trong ngành nông nghiệp, vì thế Đảng vàNhà Nước ta đã xác định nông sản là mặt hàng xuất khẩu chiến lược Trong các mặthàng nông sản thì sản phẩm rau quả với diện tích chiếm khoảng 1,5 triệu ha diện tíchđất nông nghiệp và sản lượng hiện nay đứng thứ 5 ở Châu Á được xác định là mộttrong những mặt hàng xuất khẩu tiềm năng Việt Nam hiện đang sản xuất và xuất khẩucác loại rau quả mà thị trường thế giới có nhu cầu như thanh long, chuối, vải, dứa,xoài, nhãn, chôm chôm… và một số loại rau vụ Đông có giá trị kinh tế cao như dưachuột, khoai tây, cà chua, ngô rau…
Trong các thị trường xuất khẩu rau quả của Việt Nam thì thị trường Châu Âu( EU) là lớn nhất và tiềm năng nhất Đặc biệt sau khi gia nhập WTO thì cánh cửa hợptác kinh tế, thương mại quốc tế của Việt Nam đối với các đối tác lớn trên thế giới như
EU ngày càng được mở rộng Tuy nhiên hiện nay, lượng rau quả xuất khẩu sang thịtrường này còn rất khiêm tốn, thị phần của rau quả Việt Nam xuất sang thị trườngChâu Âu năm 2009 chỉ chiếm 0,3% trên tổng kim ngạch nhập khẩu rau quả từ bênngoài của khu vực này Vì thế người viết đã lựa chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là
“Tình hình xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang một số nước Châu Âu sau khi gia nhập WTO, thực trạng và giải pháp” Qua đó có những cái nhìn chi tiết hơn về
tình hình xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang thi trường này để tìm ra các giải phápnhằm thúc đẩy xuất khẩu rau quả sang thị trường Châu Âu hơn nữa.Từ đó tăng sảnlượng xuất khẩu sang thị trường tiềm năng này và mang lại nhiều lợi nhuận từ xuấtkhẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam cũng như đóng góp vào nền kinh tế quốc dân
2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua tình hình xuất khẩu rau quả sang thị trường Châu Âu để có nhữngđánh giá đúng hơn về thành tựu và hạn chế còn tồn tại hiện nay của hoạt động xuất
Trang 5khẩu rau quả Việt Nam, cũng như đưa ra định hướng và một số giải pháp vĩ mô và vi
mô để phát triển và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu rau quả hơn nữa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu về thực trạng xuấtkhẩu hiện nay của Việt Nam sang các nước Châu Âu từ khi Việt Nam gia nhập WTOtới nay, trong đó tập trung nghiên cứu năm thị trường có lượng nhập khẩu rau quả ViệtNam lớn nhất trong cộng đồng Châu Âu ( Hà Lan, Đức, Pháp, Italia và Anh) và một sốđịnh hướng, giải pháp để góp phần thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm rau quả Việt Namsang thị trường các nước đó và cộng đồng Châu Âu
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi Thị trườngChâu Âu (đặc biệt là năm nước Châu Âu) và trong khoảng thời gian sau khi Việt Namgia nhập WTO tới nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài khóa luận gồm có:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh
5 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục Khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động xuất khẩu
Chương 2: Tình hình xuất khẩu rau quả Việt Nam sau khi gia nhập WTO sang một số nước Châu Âu
Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả sang thị trường Châu Âu
Người viết xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo hướng dẫnThạc sĩ Phạm Thu Hà, Giảng viên Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế đã tận tìnhgiúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do thời gian có hạn và sự hiểu biết cũng nhưkiến thức của người viết về lĩnh vực xuất nhập khẩu còn hạn chế nên khóa luận tốtnghiệp không tránh khỏi một số sai sót Người viết rất mong được sự góp ý của thầy
cô và các bạn
Trang 6CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU 1.1 Khái niệm về xuất khẩu hàng hóa
Xuất khẩu hàng hóa việc bán hàng hóa và dịch vụ vượt qua biên giới quốc giatrên cơ sở dùng tiền tệ làm đơn vị thanh toán Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối vớimột quốc gia hoặc với cả hai quốc gia Xuất khẩu là hoạt động cơ bản trong thươngmại quốc tế, đã xuất hiện từ lâu và ngày càng phát triển
Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác lợi thế của các quốc gia trongphân công lao động quốc tế, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước Hoạt động xuấtkhẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện với nhiều loại hàng hóa khácnhau Phạm vi hoạt động của xuất khẩu rất rộng về không gian lẫn thời gian
1.2 Các loại hình xuất khẩu
1.2.1.Xuất khẩu trực tiếp
Giống như các hoạt động mua bán thông thường trực tiếp ở trong nước, phươngthức xuất khẩu trực tiếp trong kinh doanh Thương Mại Quốc Tế có thể được thực hiện
ở mọi lúc, mọi nơi trong đó người mua và người bán trực tiếp gặp mặt ( hoặc thôngqua thư từ, điện tín ) để bàn bạc và thoả thuận với nhau về hàng hoá, giá cả, điều kiệngiao dịch, phương thức thanh toán mà không qua người trung gian Những nội dungnày được thoả thuận một cách tự nguyện, việc mua không nhất thiết gắn liền với việcbán
Tuy nhiên, hoạt động mua bán theo phương thức này khác với hoạt động nội thương
ở chỗ: bên mua và bên bán là những người có trụ sở ở các quốc gia khác nhau, đồng tiềnthanh toán có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên, hàng hoá là đối tượng của giaodịch được di chuyển qua khỏi biên giới của một nước
Hoạt động xuất khẩu trực tiếp thường có những ưu điểm [II.5] sau:
Thông qua thảo luận trực tiếp dễ dàng dẫn đến thống nhất, ít xảy ra nhữnghiểu lầm đáng tiếc
Giảm được chi phí trung gian
Có điều kiện xâm nhập thị trường, kịp thời tiếp thu ý kiến của khách hàng,khắc phục thiếu sót
Trang 7 Chủ động trong việc sản xuất tiêu thụ hàng hoá
Tuy nhiên hoạt động này cũng gặp phải một số hạn chế đó là:
Đối với thị trường mới còn nhiều bỡ ngỡ, dễ bị ép giá trong mua bán
Khối lượng mặt hàng cần giao dịch phải lớn để bù đắp được chi phí: giấy tờ,
đi lại, điều tra tìm hiểu thị trường
1.2.2 Xuất khẩu gián tiếp
Nếu trong xuất khẩu trực tiếp người bán tìm đến người mua, người mua tìm đếnngười bán và họ trực tiếp thoả thuận quy định những điều kiện mua bán, thì trong xuấtkhẩu gián tiếp, một hình thức giao dịch qua trung gian, mọi việc kiến lập quan hệ giữangười bán và người mua và việc quy định các điều kiện mua bán đều phải thông quangười thứ ba Người thứ ba này gọi là người trung gian buôn bán Người trung gianbuôn bán phổ biến trên thị trường thế giới là đại lý và môi giới
Đại lý: là tự nhiên nhân hoặc pháp nhân tiến hành một hay nhiều hành vi theo sự
uỷ thác của người uỷ thác (principal) Quan hệ giữa người uỷ thác với đại lý là quan hệhợp đồng đại lý
Môi giới: là loại thương nhân trung gian giữa người mua và người bán, đượcngười bán hoặc người mua uỷ thác tiến hành bán hoặc mua hàng hoá hay dịch vụ Khitiến hành nghiệp vụ, người môi giới không được đứng tên của chính mình mà đứng têncủa người uỷ thác, không chiếm hữu hàng hoá và không chịu trách nhiệm cá nhântrước người uỷ thác về việc khách hàng không thực hiện hợp đồng Người môi giớikhông tham gia vào việc thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp được uỷ quyền Quan hệgiữa người uỷ thác với người môi giới dựa trên sự uỷ thác từng lần, chứ không dựavào hợp đồng dài hạn
Việc sử dụng những người trung gian thương mại (đại lý và môi giới) có nhữnglợi ích như:
Những người trung gian thường có hiểu biết rõ tình hình thị trường, pháp luật
và tập quán địa phương, do đó, họ có khả năng đẩy mạnh việc buôn bán và tránh bớtrủi ro cho người uỷ thác
Những người trung gian, nhất là các đại lý thường có cơ sở vật chất nhất định,
do đó, khi sử dụng họ, người uỷ thác đỡ phải đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Trang 8 Nhờ dịch vụ của trung gian trong việc lựa chọn, phân loại, đóng gói, người uỷthác có thể giảm bớt chi phí vận tải.
Tuy nhiên việc sử dụng trung gian có khuyết điểm như:
Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu mất sự liên hệ trực tiếp với thị trường Công
ty cũng thường phải đáp ứng những yêu sách của đại lý hoặc môi giới
Lợi nhuận bị chia sẻ
Trước sự phân tích lợi hại như vậy, người ta chỉ thường sử dụng trung giantrong những trường hợp cần thiết như: khi thâm nhập vào một thị trường mới, khi mớiđưa vào thị trường mới một mặt hàng mới, khi tập quán đòi hỏi phải bán hàng quatrung gian
1.2.3.Buôn bán đối lưu
Buôn bán đối lưu là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hóa [I.1 tr 15-20,Giáo trình kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương], trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ vớinhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tươngxứng với lượng hàng nhận về Ở đây mục đích của xuất khẩu không phải nhằm thu vềmột khoản ngoại tệ, mà nhằm thu về một hàng hóa khác có giá trị tương đương
Buôn bán đối lưu ra đời từ lâu trong lịch sử quan hệ hàng hóa- tiền tệ, trong đósớm nhất là “ hàng đổi hàng”, rồi đến trao đổi bù trừ Ngày nay, ngoài hai hình thứctruyền thống đó, đã có nhiều loại hình mới ra đời từ sau chiến tranh thế giới thứ hai.Các loại hình buôn bán đối lưu phổ biến như:
- Nghiệp vụ hàng đổi hàng ( Barter): trong đó hai bên trao đổi trực tiếp với nhaunhững hoàng hóa có giá trị tương đương, việc giao hàng diễn ra hầu như đồng thời
- Nghiệp vụ bù trừ ( Compensation) : trong đó hai bên trao đổi hàng hóa vớinhau trên cơ sở ghi trị hàng giá hàng giao và hàng nhận đến cuối kỳ hạn, hai bên mớiđối chiếu sổ sách, so sánh giữa trị giá hàng giao với trị giá hàng nhận Nếu sau khi bùtrừ tiền hàng như thế mà còn số dư thì số tiền được giữ lại để chi trả theo yêu cầu củabên chủ nợ về những khoản chỉ tiêu của bên chủ nợ tại nước bị nợ
- Nghiệp vụ buôn bán có thanh toán bình hành ( Clearing): trong đó hai chủ thểcủa quan hệ mua bán thỏa thuận chỉ định ngân hàng thanh tóan Ngân hàng này mở tàikhoản clearing, để ghi chép tổng trị giá hàng giao nhận của mỗi bê Sau một thời hạn
Trang 9quy định, ngân hàng mới quyết toán tài khoản clearing và bên bị nợ( nhận nhiều màgiao ít) sẽ phải trả khoản nợ bội chi mà mình gây ra.
- Nghiệp vụ mua đối lưu ( Counter- purchase): một bên giao thiết bị cho kháchhàng của mình để đổi lại mua sản phẩm của công nghiệp chế biến, bán thành phẩm,nguyên vật liệu…
- Nghiệp vụ chuyển nợ ( Switch): bên nhận hàng chuyển khoản nợ về tiền hàngcho một bên thứ ba để bên thứ ba này trả tiền
- Giao dịch bồi hoàn ( Offset) : người ta đổi hàng hóa hoặc dịch vụ lấy dịch vụ
và ưu huệ
- Nghiệp vụ mua lại sản phẩm ( Buy-backs) : một bên cung cấp thiết bị toàn bộhoặc sáng chế hoặc bí quyết kỹ thuật cho bên khác đồng thời cam kết mua lại sảnphẩm do thiết bị hoặc sang chế đó tạo ra
Trong buôn bán đối lưu, người ta luôn chú trọng đến yêu cầu cân bằng, vì đó
là sự cân đối giữa nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên, được thể hiện ở cân bằng vềmặt hàng, cân bằng về giá cả, cân bằng về tổng giá trị hàng giao cho nhau và cânbằng về điều kiện giao hàng
1.2.4.Tái xuất và chuyển khẩu
Mỗi nước có một định nghĩa riêng về tái xuất [I.1] Nhiều nước Tây Âu và Mỹ
La Tinh quan niệm tái xuất là xuất khẩu những hàng ngoại quốc từ kho hải quan, chưaqua chế biến ở nước mình Anh, Mỹ và một số nước khác lại coi đó là việc xuất khẩunhững mặt hàng ngoại quốc chưa qua chế biến ở trong nước dù hàng đó đã qua lưuthông nội địa Như vậy, các nước đều có thống nhất quan niệm tái xuất là lại xuất khẩutrở ra nước ngoài những hàng trước đây đã nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước táixuất
Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về một sốngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu Giao dịch này luôn thu hút ba nước tham gia: nướcxuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu Trong đó, hàng hóa đi từ nước xuất khẩuđến nước tái xuất, rồi lại được xuất khẩu từ nước tái xuất sang nước nhập khẩu Ngượcchiều với sự vận động của đồng tiền: nước tái xuất trả tiền nước xuất khẩu và thu tiềnnước nhập khẩu
Trang 10Chuyển khẩu là một loại hình tái xuất, trong đó hàng hóa từ nước xuất khẩu trựctiếp sang nước nhập khẩu Nước tái xuất trả tiền cho nước xuất khẩu và thu tiền củanước nhập khẩu Có ba hình thức chuyển khẩu chính:
- Hàng từ nước xuất khẩu được chở thẳng sang nước nhập khẩu
- Hàng từ nước xuất khẩu chở đến nước tái xuất nhưng không làm thủ tục vàonước tái xuất mà được chở sang nước nhập khẩu
- Hàng từ nước xuất khẩu được chở đến nước tái xuất, làm thủ tục nhập vào khongoại quan ở nước tái xuất, sau đó được xuất khẩu sang nước nhập khẩu
Kinh doanh tái xuất, chuyển khẩu đòi hỏi sự nhạy bén đối với tình hình thịtrường và giá cả, sự chính xác trong các hợp đồng mua bán
1.2.5 Xuất khẩu tại chỗ
Đây là hình thức kinh doanh mới nhưng đang phát triển và có xu hướng pháttriển rộng rãi do nó có những ưu điểm [II.5] sau:
- Đặc điểm của loại hình xuất khẩu này là hàng hoá không vượt qua biên giớiquốc gia mà khách hàng vẫn có thể mua được hàng hoá Do vậy, nhà xuất khẩu khôngcần đích thân ra nước ngoài để đàm phán trực tiếp với người mua mà chính người mualại đến trực tiếp đàm phán với người xuất khẩu
- Mặt khác, doanh nghiệp cũng không cần phải tiến hành các thủ tục như: thủ tụctục hải quan, mua bảo hiểm hàng hóa, thuê phương tiện vận tải vận chuyển Do đógiảm được một số chi phí khá lớn
Trong thời kỳ nền kinh tế ta mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới, đầu tư nướcngoài và kinh tế du lịch ngày càng phát triển, khách du lịch và dân di cư tạm thời ngàycàng tăng nhanh Các doanh nghiệp xuất khẩu rau quả có thể liên hệ trực tiếp với cáchoạt động cung cấp dịch vụ hoặc bán hàng để thu ngoại tệ Ngoài ra doanh nghiệp cóthể sử dụng chính số khách du lịch này làm nhân tố quảng cáo và khuyến trương sảnphẩm của doanh nghiệp
- Sản xuất trong nước phát triển và mở rộng các hình thức đầu tư, xuất hiện mộtloạt khu chế xuất ra đời, cần sử dụng rau quả, việc đáp ứng được nhu cầu cho tổ chứcnày cũng chính là hình thức xuất khẩu có hiệu quả và đang được nhiều doanh nghiệpchú ý sử dụng Việc thanh toán tiền theo phương thức này cũng rất nhanh chóng, cóthế là đồng nội tệ, hoặc ngoại tệ do hai bên tự thoả thuận trong hợp đồng thương mại
Trang 11Theo điều 41, Thông tư 194/2010/TT-BTC, Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu tạichỗ là hàng hoá do thương nhân Việt Nam (bao gồm cả thương nhân có vốn đầu tư nướcngoài; doanh nghiệp chế xuất) xuất khẩu cho thương nhân nước ngoài nhưng thươngnhân nước ngoài chỉ định giao, nhận hàng hoá đó tại Việt Nam cho thương nhân ViệtNam khác Người xuất khẩu tại chỗ (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp xuất khẩu: là ngườiđược thương nhân nước ngoài chỉ định giao hàng tại Việt Nam Người nhập khẩu tạichỗ (sau đây gọi tắt là “doanh nghiệp nhập khẩu”): là người mua hàng của thương nhânnước ngoài nhưng được thương nhân nước ngoài chỉ định nhận hàng tại Việt Nam từngười xuất khẩu tại chỗ.
1.2.6 Gia công quốc tế
Gia công quốc tế [I.1]là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên( gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bênkhác ( gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phẩm, giao lại cho bên đặtgia công và nhận thù lao ( gọi là phí gia công) Như vậy, trong gia công quốc tế hoạtđộng xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất
Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của nhiềunước Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp họ lợi dụng được giá rẻ vềnguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công Đối với bên nhận gia công, tuythu nhập do gia công quốc tế mang lại thương nhỏ, không đáng kể nhưng phương thứcnày giúp học giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân lao động trong nước hoặc nhậnđược thiết bị hay công nghệ mới về nước mình, nhằm xây dựng một nền công nghiệpdân tộc
1.3 Một số khái niệm liên quan tới hoạt động xuất khẩu sang thị trường nước ngoài
1.3.1 Lợi thế so sánh
Hoạt động xuất khẩu là một tất yếu của mỗi quốc gia trong quá trình phát triểnkinh tế Do những điều kiện khác nhau, mỗi quốc gia có thế mạnh về lĩnh vực nàynhưng lại yếu về lĩnh vực khác Để có thể dung hòa được nguy cơ và lợi thế, tạo rađược sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, các quốc gia phải tiến hànhtrao đổi với nhau, bán những gì mình thừa và mua những gì mình thiếu Tuy nhiên,hoạt động xuất khẩu không nhất thiết chỉ diễn ra giữa những quốc gia có lợi thế về lĩnh
Trang 12vực này hay lĩnh vực khác mà các quốc gia thua thiệt hơn về tất cả các điều kiện như:nhân lực, tài chính, tài nguyên thiên nhiên, công nghệ…thông qua hoạt động trao đổithương mại quốc tế cũng sẽ thu được những lợi ích, tạo điều kiện phát triển nền kinh tếnội địa.
Tính tất yếu của hoạt động xuất khẩu đã được chứng minh rất rõ qua lý thuyết
về lợi thế so sánh của nhà kinh tế học David Ricardo [II.6]
Theo quy luật lợi thế so sánh, nếu một nước có hiệu quả thấp hơn so với cácnước khác trong việc sản xuất hầu hết các loại sản phẩm vẫn cần phải tham gia hoạtđộng thương mại quốc tế vì có thể tạo ra lợi ích không nhỏ mà nếu bỏ qua quốc gia đó
sẽ mất cơ hội phát triển Nói cách khác, trong những điểm bất lợi nhất vẫn có thể tìm
ra điểm có lợi để khai thác Khi tiến hành xuất khẩu, một quốc gia có hiệu quả thấptrong việc sản xuất ra tất cả các loại hàng hóa sẽ có thể chuyên môn hóa vào sản xuấtloại hàng hóa ít bất lợi nhất để trao đổi với các quốc gia khác và nhập về những loạihàng hóa mà việc sản xuất nó là bất lợi nhất để tiết kiệm được các nguồn lực của mình
và thúc đẩy sự phát triển của sản xuất trong nước…
Mô hình của nhà kinh tế David Ricardo với các giả thiết được đơn giản hóa nhưsau:
+ Thế giới chỉ có hai nước chẳng hạn là Việt Nam và Mỹ Hai quốc gia này chỉsản xuất hai chủng loại hàng hóa là vải và máy vi tính Mỗi quốc gia chỉ có lợi thế vềsản xuất một mặt hàng Mỹ có lợi thế về sản xuất máy vi tính và Việt Nam có lợi thế
về sản xuất vải
+ Yếu tố sản xuất duy nhất là lao động có thể tự do di chuyển trong một nước.+ Công nghệ sản xuất của Việt Nam và Mỹ là cố định
+ Chỉ tính chi phí sản xuất, không phát sinh chi phí khác
Bảng 1: Lợi thế so sánh giữa hai quốc gia Việt Nam và Mỹ
Quốc gia
Trang 13Số liệu bảng 1 cho thấy: Mỹ có lợi thế tuyệt đối so với Việt Nam trong sản xuất
cả hai mặt hàng là vải và máy tính Tuy nhiên nếu phân tích cụ thể thì khi năng suấtlao động ở ngành chế tạo máy tính của Mỹ gấp 6 lần Việt Nam, năng suất của ngànhsản xuất vải chỉ gấp có hai lần Như vậy, giữa chế tạo máy tính và sản xuất vải thì Việtnam thế tương đối trong sản xuất vải Theo quy luật so sánh thì hai quốc gia sẽ cùng
có lợi nếu đi sâu vào chuyên môn hóa sản xuất một loại sản phẩm ( Mỹ chế tạo máytính, Việt nam sản xuất vải) và sau đó hai quốc gia tiến hành trao đổi ngoại thương, đổimột phần vải lấy một phần máy tính Nếu tiến hành trao đổi 6 chiếc máy tính lấy 4 métvải thì Mỹ sẽ chẳng có lợi ích gì vì ngay trong thị trường nội địa của Mỹ cũng trao đổitheo tỷ lệ này Tương tự như vậy, nếu trao đổi theo tỷ lệ 2 mét vải lấy một chiếc máytính thì Việt Nam cũng sẽ từ chối vì lợi ích ngoại thương không hơn gì trao đổi trongnước Do đó, tỷ lệ trao đổi quốc tế phải nằm trong khoảng mà có thể đem lại lợi íchcho cả hai nước, tức là:
4/6 < Tỷ lệ trao đổi quốc tế Vải/Máy tính < 2/1
Giả sử tỷ lệ trao đổi quốc tế là 1/1 tức là 6 máy tính đổi lấy 6 mét vải Qua traođổi này ta thấy Mỹ có lợi 2 mét vải, tức tiến kiệm được ½ giờ làm việc Còn Việt Namnhận được 6 chiếc máy tính từ Mỹ mà bình thường Việt nam phải bỏ ra 6 giờ làm việc
để sản xuất Nếu dùng 6 giờ công này để sản xuất vải thì có thể tạo ra 12 mét vải nhưvậy Việt Nam có lợi 6 mét vải hay có thể nói là tiết kiệm được 3 giờ làm việc
Qua phân tích ví dụ trên cho thấy hoạt động trao đổi thương mại quốc tế đã manglại lợi ích cho cả hai quốc gia, thông qua việc xuất khẩu những hàng hóa có lợi thếtương đối Sự chuyên môn hóa trong sản xuất và trao đổi những hàng hóa sẽ sử dụng tốtnhất những lợi thế của quốc gia mình, giúp tiết kiệm được những nguồn lực vốn, laođộng, tài nguyên thiên nhiên…trong quá trình sản xuất hàng hóa phục vụ cho xuất khẩu.Bên cạnh đó cũng làm tăng số lượng và chất lượng sản phẩm của thế giới tạo điều kiệncho khả năng tiêu dùng của con người
1.3.2 Thuế quan và phi thuế quan
1.3.2.1 Thuế quan
Thuế quan là thuế chính phủ đánh vào hàng hóa được chuyên chở qua biên giớiquốc gia hoặc lãnh thổ hải quan Thuế quan gồm thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu vàxuất khẩu ( hay còn gọi là thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu) Thuế xuất khẩu là một
Trang 14công cụ mà các nước đang phát triển thường sử dụng để đánh vào một số mặt hàngnhằm tăng lợi ích quốc gia Trái lại, ở nhiều nước phát triển người ta không sử dụngthuế xuất khẩu do họ không đặt mục tiêu tăng nguồn thu ngân sách từ thuế xuất khẩu.
Vì vậy, ở những nước đó, khi nhắc tới thuế quan người ta đồng nhất với thuế nhậpkhẩu Năm 1993, 1998 Quốc hội ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của LuậtThuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu cho phù hợp với tình hình kinh tế chính trị của từnggiai đoạn lịch sử Sau 20 năm đổi mới, nước ta đã hội nhập sâu với nền kinh tế thếgiới, tham gia và ký kết nhiều cam kết, hiệp định quốc tế Do đó, chính sách pháp luậtcũng phải thay đổi để phù hợp với thông lệ quốc tế Ngày 14-6-2005, tại kỳ họp thứ 7Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Ngày 7-11-2006,Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, chúng ta phải thực hiện Cam kết
về thủ tục nhập khẩu
Mức cam kết [I.2]chung: Ta đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế(10.600 dòng) Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện hành 17,4%xuống còn 13,4% thực hiện dần trung bình trong vòng 5 - 7 năm Mức thuế bình quânđối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9% thực hiện trongvòng 5 - 7 năm Với hàng công nghiệp từ 16,8% xuống còn 12,6% thực hiện chủ yếutrong vòng 5-7 năm
Mức cam kết cụ thể: Có khoảng hơn 1/3 số dòng thuế sẽ phải cắt giảm, chủ yếu
là các dòng có thuế suất trên 20% Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nền kinh
tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ô-tô, xe máy vẫn duy trì đượcmức bảo hộ nhất định Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may,
cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện - điện tử
Ta đạt được mức thuế trần cao hơn mức đang áp dụng đối với nhóm hàng xăng dầu,kim loại, hóa chất là phương tiện vận tải Ta cũng cam kết cắt giảm thuế theo một sốhiệp định tự do theo ngành của WTO giảm thuế xuống 0% hoặc mức thấp Đây là hiệpđịnh tự nguyện của WTO, nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một sốngành Ngành mà ta cam kết tham gia là sản phẩm công nghệ thông tin, dệt may vàthiết bị y tế Ta cũng tham gia một phần với thời gian thực hiện từ 3 - 5 năm đối vớingành thiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng
Trang 15Xét trên góc độ quốc gia đánh thuế thì thuế quan sẽ mang lại thu nhập thuế chonước đánh thuế Nhưng đứng trên giác độ toàn bộ nền kinh tế, thuế quan lại làm giảmphúc lợi chung do nó làm giảm hiệu quả khai thác nguồn lực của nền kinh tế thế giới.
Nó làm thay đổi cán cân thương mại, điều tiết hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu củamột quốc gia Thuế quan có thể có những ảnh hưởng tiêu cực Thuế quan cao sẽ ảnhhưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa và do đó làm giảm lượng hàng hóa đượctiêu thụ Thuế quan cao cũng sẽ kích thích tệ nạn buôn lậu Thuế quan càng cao, buônlậu càng phát triển Thuế xuất khẩu làm tăng giá hàng hóa trên thị trường quốc tế vàgiữ giá thấp hơn ở thị trường nội địa Điều đó có thể làm giảm lượng khách hàng ởnước ngoài do họ sẽ cố gắng tìm kiếm các sản phẩm thay thế Đồng thời nó cũngkhông khích lệ các nhà sản xuất trong nước áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và côngnghệ để tăng năng xuất, chất lượng và giảm giá thành Tuy nhiên, nếu khả năng thaythế thấp, thuế quan xuất khẩu sẽ không làm giảm nhiều khối lượng hàng hóa xuất khẩu
và vẫn mang lại lợi ích đáng kể cho nước xuất khẩu Thuế nhập khẩu có vai trò quantrọng trong việc bảo hộ thị trường nội địa, đặc biệt là bảo hộ các ngành công nghiệpnon trẻ Thuế quan nhập khẩu sẽ làm tăng giá hàng hóa, do vậy sẽ khuyến khích cácnhà sản xuất trong nước Tuy nhiên, điều đó cũng sẽ làm giảm khả năng cạnh tranhcủa hàng hóa sản xuất trong nước Thuế nhập khẩu có thể giúp cải thiện thương mạicủa nước đánh thuế Có thể có nhiều sản phẩm mà giá của chúng không tăng đáng kểkhi bị đánh thuế Đối với loại hàng hóa này thuế quan có thể khuyến khích nhà sảnxuất ở nước ngoài giảm giá Khi đó lợi nhuận sẽ được chuyển dịch một phần cho nướcnhập khẩu Tuy nhiên, để đạt được hiệu ứng đó, nước nhập khẩu phải là nước có khảnăng chi phối đáng kể đối với cầu thế giới của hàng hóa nhập khẩu
1.3.2.2 Biện pháp phi thuế quan
Biện pháp phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan, có liên quan hoặcảnh hưởng trực tiếp đến sự luân chuyển hàng hoá giữa các nước Đó là những biệnpháp mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lí, khoa họchoặc bình đẳng Hàng rào phi thuế quan thường được áp dụng đối với hàng nhập khẩu.Hình thức của hàng rào phi thuế quan rất phong phú, gồm: các biện pháp hạn chế địnhlượng, các biện pháp tương đương thuế quan, các rào cản kỹ thuật, các biện pháp liên
Trang 16quan đến đầu tư nước ngoài, các biện pháp quản lý hành chính, các biện pháp bảo vệthương mại tạm thời
1.3.3 Trợ cấp xuất khẩu:
Trợ cấp xuất khẩu [II.7] hiểu theo nghĩa thông thường là trợ cấp chỉ dành riêngcho hoặc liên quan tới hoạt động xuất khẩu, hay mục đích của trợ cấp là đẩy mạnhxuất khẩu Do đó, căn cứ để trợ cấp thông thường là lượng hàng hóa xuất khẩu thực sựhoặc dự kiến xuất khẩu Ví dụ: chương trình thưởng xuất khẩu của Chính phủ theo đódoanh nghiệp được thưởng 100 đồng cho mỗi sản phẩm xuất khẩu được Tuy nhiên,việc chính phủ đơn thuần trợ cấp cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩukhông thể nghiễm nhiên dẫn đến kết luận là trợ cấp xuất khẩu mà còn cần xem xét đếnmột số yếu tố khác Trợ cấp xuất khẩu thường có hệ quả là hàng xuất khẩu được bántrên thị trường nước ngoài với giá thấp hơn trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu.Trợ cấp xuất khẩu là trợ cấp với đối tượng nhận trợ cấp là các doanh nghiệp sảnxuất hàng hóa trước tiên hoặc chủ yếu là để xuất khẩu, hay nói cách khác, hàng hoáđược trợ cấp phải là hàng hóa được tiêu thụ tại thị trường nước ngoài Doanh nghiệpđược trợ cấp phải là doanh nghiệp Việt nam, đặc biệt ưu tiên các đơn vị sản xuất hàngnông sản, thủ công mỹ nghệ và những hàng hoá Việt Nam có ưu thế về lợi thế sosánh Mục đích của trợ cấp xuất khẩu là nhằm đẩy mạnh xuất khẩu
Ở Việt Nam Chính phủ áp dụng trợ cấp với một số mặt hàng như rau quả ( hỗ trợxuất khẩu cho dưa chuột, dứa hộp, thưởng xuất khẩu), gạo, chè, cà phê, máy tính, tàubiển… đều là các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta Trợ cấp xuất khẩu có thểđược tiến hành dưới nhiều hình thức, từ thưởng kim ngạch xuất khẩu đến cho vay vớilãi suất ưu đãi với hàng xuất khẩu hay áp dụng thuế suất, thuế thu nhập doanh nghiệp
ưu đãi với ngành nghề xuất khẩu…
Chính phủ có thể trợ cấp trực tiếp cho nhà sản xuất hoặc trợ cấp gián tiếp thôngqua đầu vào cho nhà sản xuất Với mọi hình thức trợ cấp, lợi thế và khả năng cạnhtranh của sản phẩm trong những ngành được trợ cấp luôn được cải thiện và nâng cao
Có thể nói rằng trợ cấp xuất khẩu giữ vị trí trọng yếu trong việc thực hiện mụctiêu đẩy mạnh xuất khẩu của đất nước Chính phủ các nước thường chủ động tiến hànhtrợ cấp cho các doanh nghiệp và sản phẩm của nước mình nhằm đạt được một số mụctiêu kinh tế-xã hội nhất định như bảo hộ sản xuất trong nước, hỗ trợ phát triển ngành
Trang 17non trẻ hay ngành trọng điểm của nền kinh tế, khuyến khích đầu tư, cải thiện thu nhậpcủa nhà sản xuất, bù đắp chi phí đầu tư ban đầu quá lớn, v.v Quyết định trợ cấp củachính phủ thường được đưa ra nhằm phục vụ lợi ích của một đối tượng nhất định cóvai trò chi phối và ảnh hưởng chính trị lớn đối với chính phủ.
Đầu tiên, đối với những ngành công nghiệp non trẻ, bước đầu còn nhỏ bé về quy
mô, yếu kém về năng lực cạnh tranh, thì trợ cấp từng bước nâng cao khả năng cạnhtranh, mở rộng quy mô,góp phần khởi động và đẩy nhanh sự phát triển của ngành Đốivới những công ty mới gia nhập thị trường, thiếu vốn để trang trải chi phí rất cao trongthời gian đầu, khó cạnh tranh nổi những công ty đàn anh đã trụ vững trên thị trường thìkhi nhận được khoản hỗ trợ từ Chính phủ có thể bù đắp cho những khoản thô lỗ phátsinh trong những năm đầu, từ đó đưa công ty vào quỹ đạo phát triển
Ngoài ra, trợ cấp góp phần duy trì ổn định công ăn việc làm, h ạ n c h ế t h ấ t
n g h i ệ p, bảo đảm trật tự và an ninh xã hội, đặc biệt là những khoản trợ cấp dành chocác doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, đứng trước nguy cơ bị đóng cửa, phá sản Sự hỗ trợcủa chính phủ có thể giúp các doanh nghiệp này khỏi bị sụp đổ nhanh chóng, thúc đẩycác doanh nghiệp cơ cấu lại sản xuất, tự điều chỉnh khả năng thích nghi và cạnh tranhtrong thời kỳ quá độ do những khó khăn mà môi trường kinh doanh quốc tế tạo ra.Trợ cấp cũng có thể được sử dụng nhằm khuyến khích những ngành sản xuấtkém sức cạnh tranh giảm công suất dư thừa hoặc rút khỏi lĩnh vực hoạt động khônghiệu quả hoặc không sinh lợi Nhờ đó, quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế và chuyểndịch cơ cấu lao động được diễn ra suôn sẻ hơn, góp phần thúc đẩy, phân bổ nguồn lựcthích hợp, hiệu quả và khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh vớinước ngoài
Thêm vào đó, trợ cấp xuất khẩu giúp nâng cao khả năng cạnh tranh xuất khẩu củadoanh nghiệp Hiện nay các nước áp dụng trợ cấp xuất khẩu vì nhiều lý do Có nướclập luận trợ cấp xuất khẩu để đảm bảo công ăn việc làm, hay để hỗ trợ vùng khókhăn…Tuy nhiên mọi lý do biện minh trợ cấp xuất khẩu xét cho cùng thì đều hướngtới mục tiêu thực sự là đẩy mạnh xuất khẩu
Trợ cấp xuất khẩu còn làm tăng lợi thế cạnh tranh của hàng xuất khẩu đượctrợ cấp so với hàng xuất khẩu không được trợ cấp của các nước khác vào thịtrường thứ ba Với lợi thế cạnh tranh nhờ trợ cấp hàng xuất khẩu của nước trợ cấp
Trang 18có thể đẩy lùi các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nước khác và chiếm được thị phầnvượt mức hợp lý trong thương mại quốc tế.
1.3.4 Điều kiện mua bán quốc tế
Trong hoạt động xuất nhập khẩu, doanh nghiệp không thể không quan tâm tớiđiều kiện mua bán quốc tế [I.1.Tr.74] khi lựa chọn bạn hàng cũng như ký kết hợpđồng Điều kiện mua bán gồm điều kiện về giao dịch trong buôn bán quốc tế như điềukiện về hàng hóa, phẩm chất, bao bì, giá cả, bồi thường, khiếu nại… và điều kiện cơ sởgiao hàng quy định những cơ sở có tính nguyên tắc của việc giao nhận hàng hóa giữabên bán và bên mua Những cơ sở đó có thể là sự phân chia giữa bên bán và bên mua
về các trách nhiệm tiến hành việc giao nhận hàng, phân chia về các chi phí bốc hàng,
sự chuyển từ người bán sang người mua những rủi ro và tổn thất về hàng hóa Donhững điều kiện cơ sở giao hàng khá rộng nên mỗi nước, mỗi khu vực có cách giảithích khác nhau về cùng một điều kiện buôn bán quốc tế Hiện nay, cách giải thíchđược áp dụng phổ biến nhất là “ Quy tắc quốc tế giải thích các điều kiện thương mạiđược nêu trong cuốn “ Điều kiện thương mại quốc tế” gọi là Incoterms Đây có lẽ là tàiliệu không thể thiếu đối với mỗi nhà xuất khẩu để có thể nắm rõ các điều kiện khibuôn bán quốc tế, từ đó chọn điều kiện để có lợi cho doanh nghiệp của mình nhất
1.4 Vai trò và lợi ích của xuất khẩu trong sự phát triển của nền kinh tế
Xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế củamỗi quốc gia [II.8] Vai trò và lợi ích của xuất khẩu thể hiện ở những điểm sau:
1.4.1 Tạo nguồn vốn cho Nhập khẩu:
Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì vấn đề công nghiệp hiện đại là vô cùng quan trọng để khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm pháttriển Đó được coi là nhiệm vụ trọng tâm cơ bản trong chiến lược phát triển kinh tế xãhội Việt Nam Tuy nhiên, để tiến hành Công nghiệp hóa- hiện đại hóa, phải đáp ứngcác điều kiện về nhân lực, vốn, kỹ thuật và tài nguyên, mà hiện nay không phải bất cứquốc gia đang phát triển nào cũng đáp ứng được cả bốn yếu tố đó
hóa-Thực tế cho thấy để Công nghiệp hóa- hiện đại hóa đòi hỏi phải có nguồn vốnlớn để nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị tiên tiến Thông thường để có nguồnvốn nhập khẩu một nước có thể sử dụng nguồn vốn huy động từ các nguồn như:
- Từ tích lũy trong nền kinh tế quốc dân
Trang 19- Đầu tư nước ngoài.
- Vay nợ, xin viện trợ
- Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ trong nước
- Thu từ hoạt động xuất khẩu
Như vậy, xuất khẩu là một trong những hoạt động tạo nguồn vốn rất quan trọng.Xuất khẩu tạo tiền đề cho nhập khẩu phát triển, nó quyết định qui mô và tốc độ tăngtrưởng của hoạt động nhập khẩu
1.4.2 Góp phần tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự chuyển dịch cơ cấu trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với xu hướngphát triển của kinh tế thế giới là điều tất yếu đối với các nước đang và kém phát triển
Có 2 cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu tới hoạt động sản xuất, chuyểndịch cơ cấu, thúc đẩy sản xuất, tăng trưởng:
- Xuất khẩu chỉ tiêu thụ những sản phẩm thừa so với nhu cầu của nội địa Trongtrường hợp nền kinh tế còn lạc hậu, chậm phát triển sản xuất về cơ bản là chưa đủ tiêudùng, nếu chỉ thụ động chờ sự “ thừa ra” của sản xuất để xuất khẩu thì hoạt động xuấtkhẩu chỉ phát triển ở qui mô nhỏ và tăng trưởng chậm
- Coi thị trường thị giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất Quan điểm nàycòn tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, thểhiện ở chỗ:
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành hàng cùng có cơ hội phát triển Ví dụ khiphát triển ngành dệt phục vụ xuất khẩu thì các ngành chế biến nguyên liệu bông, maymặc cũng có cơ hội phát triển
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, góp phần ổn địnhsản xuất
Xuất khẩu là phương tiện quan trọng để tạo ra vốn và thu hút khoa học, côngnghệ mới từ các nước phát triển nhằm hiện đại hóa kinh tế nội địa, tạo ra năng lực sảnxuất mới
Hoạt động xuất khẩu đóng vai trò thúc đẩy chuyên môn hóa, tăng cường hiệu quảsản xuất của từng quốc gia Khoa học ngày cáng phát triển thì phân công lao độngngày càng sâu sắc Ngày nay, với một loại hàng hóa, người ta có thể thiết kế ở nướcthứ nhất, chế tạo ở nước thứ hai, lắp đặt ở nước thứ ba, tiêu thụ ở nước thứ tư và thanh
Trang 20toán cũng có thể ở nước khác Như vậy, hàng hóa sản xuất ra ở một nước nhưng có thểtiêu thụ ở nhiều nước khác nhau cho thấy tác động ngược trở lại của hoạt động xuấtkhẩu đối với chuyên môn hóa sản xuất, tạo điều kiện cho các quốc gia tiến hànhchuyên môn hóa một cách sâu sắc.
Với đặc điểm đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên, xuấtkhẩu góp phần làm tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia Đặc biệt đối với những nước nghèo,đồng tiền nội tệ có giá trị thấp thì đó là nhân tố tác động rất tích cực vào cung cầungoại tệ, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển Thực tế đã chứng minh,những nước phát triển là những nước ngoại thương mạnh và năng động
1.4.3 Nâng cao trình độ lao động, quản lý
Khi tham gia vào kinh doanh quốc tế, tất yếu sẽ đặt các doanh nghiệp vào mộtmôi trường cạnh tranh khốc liệt mà ở đó nếu muốn tồn tại và phát triển được thì đòihỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, hạ giáthành sản phẩm Đây sẽ là một nhân tố thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
1.4.4 Xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân
Hơn 70% dân số sống ở nông thôn, dựa chủ yếu vào nguồn lợi tự nhiên Pháttriển xuất khẩu các mặt hàng nông sản, thủy sản trong thời gian qua đã làm thay đổi bộmặt nông thôn, nhất là những vùng trồng cà phê, cao su (Tây Nguyên), lúa gạo, thủysản (Đồng bằng sông Cửu Long) Xuất khẩu các mặt hàng sử dụng nhiều lao động nhưdệt may, da giày, thủy công mỹ nghệ, điện tử, đồ gỗ thu hút một lượng lao động lớn,cải thiện đời sống của người dân lao động Mặc dù, xuất khẩu của nước ta trong thờigian qua chưa thể hiện được xu hướng công nghiệp hóa, nhưng đóng góp về mặt xãhội là rất to lớn Vấn đề chênh lệch giàu nghèo ở nước ta hiện nay cũng có nguyênnhân từ việc chia sẻ chưa hợp lý lợi ích từ xuất khẩu Trong nền kinh tế thị trường,khác nhau về năng lực dẫn đến khác nhau về thu nhập là tất yếu khách quan Tuynhiên, một bộ phận dân cư giàu lên nhanh chóng bằng cách dựa vào khai thác nguồnlợi tự nhiên một cách phi pháp, trục lợi bằng những cách thức kinh doanh thiếu lànhmạnh Kinh doanh xuất khẩu mang lại lợi nhuận cao và cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơphân hóa sâu sắc giàu nghèo
Trang 21CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU RAU QUẢ VIỆT NAM SAU KHI GIA
NHẬP WTO SANG MỘT SỐ NƯỚC CHÂU ÂU 2.1 Lợi thế của Việt Nam về sản xuất và xuất khẩu rau quả
2.1.1 Lợi thế về điều kiện tự nhiên
Việt Nam là nước có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển các cây rau quả.Đặc biệt là các vùng phía Nam có điều kiện khí hậu rất thuận lợi, nhiệt độ trung bìnhvào khoảng 27,50C, thích hợp cho điều kiện sống của các loại rau và trái cây nhiệt đới.Cộng thêm điều kiện thổ nhưỡng thuận lợi và 75% dân số làm nghề nông, diện tíchcanh tác rau, quả vào khoảng 1,5 triệu ha, Việt Nam được đánh giá là nước có nhiềutiềm năng phát triển ổn định, lâu dài trong sản xuất và xuất khẩu rau, quả Với lợi thếđiều kiện tự nhiên trên, rau quả Việt đã trở nên phong phú, đa dạng và hiện đã hìnhthành các vùng sản xuất hàng hóa tương đối lớn như vải thiều Hải Dương, nhãn lồngHưng Yên, cam quýt Hà Giang, Tuyên Quang; dứa Ninh Bình, Tiền Giang, HậuGiang; thanh long Bình Thuận, Ninh Thuận; xoài Tiền Giang, Đồng Tháp; chôm chômĐồng Nai, bưởi Bến Tre…
2.1.2 Lợi thế sau khi gia nhập WTO
Một trong những lý do khiến Việt Nam muốn gia nhập WTO là tìm cách thúcđẩy xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như nông thủy sản, dệt may… Tác động tới xuấtkhẩu là tích cực bởi sau khi gia nhập WTO, hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ đượchưởng một môi trường ổn định và bình đẳng hơn ở thị trường nước ngoài Khi gianhập WTO, theo quy định, các doanh nghiệp Việt Nam được phép đấu thầu tại cácnước thành viên Trước đây, mặt hàng nông sản Việt Nam khó vào được các thị trường
Mỹ, EU, Nhật vì thuế cao và bị phân biệt đối xử; sau khi gia nhập chúng ta có cơ hộitiếp cận các thị trường một cách thuận lợi hơn, tìm kiếm được nhiều bạn hàng hơncũng như được các thị trường này áp dụng ưu đãi thuế quan.Và thực tế, sau khi gianhập WTO, riêng ngành rau quả cũng đã có những chuyển biến tích cực hơn, từ năm
2007 chỉ đạt 299 triệu tới năm 2011 đạt đạt 628 triệu USD Hiện nay, rau quả ViệtNam cũng đang từng bước thâm nhập vào các thị trường khó tính trên thế giới, nhưChâu Âu và Mỹ
2.1.3 Lợi thế so sánh của rau quả Việt Nam
Trang 22Như phần lý thuyết ở chương 1 đã nhắc tới lý thuyết lợi thế so sánh của DavidRicardo, chúng ta có thể dựa vào đó để tìm ra các lợi thế so sánh của rau quả Việt Nam
so với rau quả ở các nước khác Để từ đó, tăng cường phát triển những lợi thế nàynhằm nâng cao sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu Một số lợi thế so sánh củarau quả Việt Nam như:
Thứ nhất: So với các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu như hàng dệt may, giầy
da hay cơ khí, điện tử lắp ráp…thì trong cùng một lượng kim ngạch xuất khẩu thu vềnhư nhau, tỷ lệ chi phí sản xuất có nguồn gốc ngoại tệ của hàng nông sản rất thấp, do
đó thu nhập ngoại tệ ròng của hàng nông sản xuất khẩu sẽ cao hơn nhiều Ví dụ: Chiphí sản xuất gạo xuất khẩu có nguồn gốc ngoại tệ (phân bón, thuốc sâu bệnh và cácloại hóa chất, xăng dầu…) chỉ chiếm từ 15 đến 20% giá trị xuất khẩu kim ngạch gạo.Điều đó có nghĩa là xuất khẩu gạo đã tạo ra từ 80 đến 85% thu nhập ngoại tệ thuần chođất nước, chỉ số này đối với nhân hạt điều xuất khẩu là khoảng 27% và 73% Đây làlợi thế ban đầu của các nước nghèo, khi chưa có đủ nguồn ngoại tệ để đầu tư xây dựngcác nhà máy lớn, khu công nghiệp để sản xuất - kinh doanh những mặt hàng tiêu tốnnhiều ngoại tệ
Thứ hai: Ngành rau quả nói riêng và ngành nông sản nói chung sử dụngnhiều lao động vào quá trình sản xuất - kinh doanh Đây là một ưu thế quan trọng hiệnnay của ngành, vì hàng năm nước ta phải giải quyết thêm việc làm cho 1,4 triệu ngườibước vào tuổi lao động Ví dụ, để trồng và chăm sóc 1 ha dứa hay 1 ha dâu tằm mỗinăm cần sử dụng tới 20 lao động Trong khi đó, giá nhân công Việt Nam rẻ hơn cácnước khác trong khu vực, phổ biến với mức 1- 1,2 USD/ngày công lao động như trongsản xuất lúa, cà phê Hiện nay, một số công việc nặng nhọc như đánh bắt cá ngừ, thuhoạch mía hay thu hoạch lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với giá nhâncông cao cũng mới chỉ là 2-2,5 USD/ngày công lao động, nhưng vẫn còn rẻ hơn so vớiThái Lan từ 2-3lần Tất nhiên lợi thế này sẽ không tồn tại lâu do sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước và thế giới
Thứ ba: Điều kiện sinh thái tự nhiên của nhiều vùng nước ta rất thuận lợi choviệc phát triển sản xuất một số loại rau quả vụ đông có hiệu quả như cà chua, bắp cải,tỏi, khoai tây… Trong khi cũng vào thời gian này ở cả vùng Viễn Đông của Liên bangNga và thậm chí ở cả Trung Quốc đang bị tuyết dày bao phủ không thể trồng trọt được
Trang 23gì, nhưng những nơi này lại là thị trường tiêu thụ lớn và tương đối dễ tính Các đối thủcạnh tranh như Thái Lan, Philipin lại kém lợi thế hơn so với Việt Nam cả về điều kiện
tự nhiên sinh thái, cả về kỹ năng, kinh nghiệm sản xuất và tính cần cù lao động củangười nông dân trong việc trồng trọt các loại rau quả đó
Thứ tư: Một số ít nông sản được các nước phát triển ở châu âu; Bắc Mỹ ưachuộng như nhân dứa, lạc lại có thể trồng ở Việt Nam trên các đất bạc màu, đồi núitrọc (như điều) hay trên đất phèn, mặn (như dứa), lạc vụ 3 xen canh, nên không bị cáccây trồng khác cạnh tranh, mà trên thực tế vẫn còn có khả năng mở rộng sản xuất
Thứ năm: Các nước Đông âu, SNG và Trung Quốc vốn là thị trường truyềnthống với quy mô lớn và tương đối dễ tính đối với các mặt hàng nông sản của ViệtNam Mặt khác, trên các nước này hiện có một lượng doanh nhân và doanh nghiệpViệt Nam đang làm ăn phát đạt ở đó Đây là một lợi thế lớn để nối lại thị trường tiêuthụ mà bấy lâu nay nước ta đã bỏ qua chưa khai thác có hiệu quả
Thứ sáu: Thể chế chính trị ổn định, môi trường đầu tư và hệ thống pháp luậtcủa Việt Nam ngày càng được cải thiện và điều chỉnh thích ứng dần với tiến trình tự
do hóa thương mại trong khu vực và toàn cầu
2.2 Tổng quan về thị trường các nước Châu Âu ( EU)
Thị trường Châu âu ( EU)[II.9] là một thị trường chung lớn nhất thế giới Thịtrường EU phát triển vượt xa khỏi những hiệp định mậu dịch tự do giữa các thànhviên Đây là một liên hiệp về hải quan và tiền tệ mang tính hòa hợp chung với cácchính sách phù hợp nhất Tuy nhiên EU cũng là một thị trường bao gồm nhiều thịtrường khác nhau: 27 nước thành viên, 27 khối dân số, văn hóa kinh tế khác nhau EU
có một mạng lưới vận chuyển rộng lớn và phát triển với nhiều cảng biển, tạo điều kiệnthuận lợi cho thương mại
2.2.1 Thị trường rau quả Châu Âu
Năm 2008, EU là khu vực sản xuất nhiều các loại rau với sản lượng đạt gần 20triệu tấn[II.21] Các nước sản xuất lớn nhất trong khu vực Châu Âu là các nước ở miềnNam Châu Âu như Ý( 32%), Tây Ban Nha ( 23%), Pháp( 8,1%), Hy lạp( 7,5%) và BồĐào Nha( 6,0%) Các loại rau quả được sản xuất chủ yếu tập trung vào các loại rau quả
ôn đới như táo,chanh, và các loại rau xứ lạnh như bắp cải, xà lách, cà rốt…Sản lượngcủa các nước này chiếm 77% tổng sản lượng rau quả của EU Tuy nhiên, trong những
Trang 24năm gần đây sản lượng rau quả của EU có xu hướng giảm dần tại hầu hết các nước sảnxuất lớn Nguyên nhân một phần là do bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết xấu trongcác mùa vụ, cộng thêm điều kiện khí hậu ở các nước ở miền Bắc Châu Âu thì khôngthuận lợi cho việc trồng trọt một số loại rau quả nhiệt đới nên rõ ràng nhu cầu nhậpkhẩu rau quả ở khu vực là rất lớn.
Trong giai đoạn từ năm 2004-2009, nhập khẩu rau quả vào EU tăng trưởng ởmức 1,8%/năm Nhập khẩu từ các nước phát triển tăng nhanh hơn ( 3,8%/năm) Năm
2009, EU nhập khẩu từ các nước đang phát triển các loại rau quả gồm: cà chua ( 35%),đậu (26%), hành tây và hẹ tây (13%), măng tây (10%), đậu Hà Lan (6,2%), tỏi (6,2%)với tốc độ tăng 5,1% mỗi năm Với điều kiện kinh tế cải thiện, nhập khẩu từ các nướcđang phát triển dự kiến sẽ tiếp tục tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng chung trên thịtrường thế giới
Trang 25Bảng 2: So sánh nhu cầu, sản xuất và nhập khẩu theo quốc gia
(đơn vị 1.000 tấn)
Tổng nhu cầu Tổng sản lượng Tổng nhập
khẩu
Nhập khẩu từcác nước đangphát triển
Tỷ lệ %
NK từcác nướcđangpháttriểntrongtổng NK
Chỉsốhấpdẫn
Khốilượng2008
Tăngtrưởng'04-'08
Khốilượng2008
Tăngtrưởng'04-'08
Khốilượng2009
Tăngtrưởng'04-'09
Khốilượng2009
Tăngtrưởng'04-'09
Trang 2618.7
Nguồn: Theo Eurostat
Hàng năm, EU nhập khẩu rau quả nhiều nhất từ khu vực Nam Mỹ, chiếmkhoảng 28% tổng giá trị nhập khẩu rau quả nói chung [II.10] Với ưu thế thuận lợi vềđịa lý, Thổ Nhĩ Kỳ cũng là thị trường cung cấp rau quả thường xuyên cho các quốc gia
ở châu Âu Tiếp đến là hai nhà xuất khẩu lớn là Hoa Kỳ và Trung Quốc Việt Namcũng xuất khẩu nhiều loại trái cây và rau quả sang EU nhưng thị phần còn thấp, chỉchiếm khoảng 0,3%
Bảng 3: Thị phần nhập khẩu rau quả của các nước nước vào Châu Âu năm 2008
Trang 27Một vấn đề cần phải phân biệt trong xuất khẩu rau quả giữa hai khái niệm rauquả sạch hay rau quả hữu cơ Rau quả hữu cơ là rau quả hoàn toàn không sử dụng mộthóa chất nào ( sạch tuyệt đối), còn rau quả sạch là loại rau có sử dụng hóa chất nhưngnằm trong hàm lượng cho phép Đây là khái niệm cần được phân biệt khi đưa hàngvào thị trường EU Xu hướng phát triển của thị trường EU là hướng đến các sản phẩmhữu cơ, song không vì thế mà các loại sản phẩm rau quả khác không có cơ hội thâmnhập thị trường này, miễn là đáp ứng được tiêu chuẩn của thị trường này Một điều tragần đây cho thấy, có khoảng 20% người tiêu dùng chọn mua rau quả sạch và 50%thỉnh thoảng mới mua.
Một điểm quan trọng khác là người tiêu dùng Châu Âu thường rất nhạy cảm vềgiá cả giữa rau sạch và rau sạch thông thường Họ sẵn sàng chấp nhận mức giá caohơn 10% đối với những sản phẩm đạt tiêu chuẩn tốt Hiện nay, người tiêu dùng EUđang trong sự chuyển dịch sang tăng cường các sản phẩm rau xanh và trái cây thay thếcho việc tiêu thụ nhiều thực phẩm có chất béo Một xu hướng khác là họ đang thiên vềtiêu dùng các sản phẩm rau quả tiện dụng, chế biến như nước quả ép, rau quả đónghộp, ngân giấm, chế biến sẵn
2.2.3 Chính sách và quy định nhập khẩu tại thị trường Châu Âu
2.2.3.1 Hệ thống chính sách
Tại EU, chính sách nông nghiệp chung (CAP) được áp dụng thống nhất trên toànkhối để kiểm soát và trợ giá trong lĩnh vực nông nghiệp[II.10] Mục tiêu của CAP baogồm việc phát triển nền nông nghiệp EU, hỗ trợ cộng đồng nông nghiệp các nước
Trang 28thành viên và kiểm soát giá cả của các sản phẩm nông nghiệp CAP đã góp phần lớnvào việc tăng sức cạnh tranh cho ngành nông nghiệp EU nhiều năm qua.
EU áp dụng một mức thuế quan chung đối với hàng hóa từ các nước thứ ba nhậpkhẩu vào thị trường 27 nước thành viên Đối với các mặt hàng rau và quả, EU tổ chứcmột thị trường chung (common market organization - CMO) nhằm hoạch định chínhsách và thiết lập những thỏa thuận thương mại cho toàn khối để ổn định thị trường EU
đề ra những quy định khắt khe đối với các sản phẩm nhập khẩu vào khối, đặc biệt làquy định về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm Các sản phẩm rau, quả phải tuânthủ nhiều quy định mang tính bắt buộc như luật thực phẩm chung, chứng nhận phùhợp tiêu chuẩn, giới hạn dư lượng tối đa, các quy định khác về vệ sinh thực vật và bảo
vệ cây trồng…
Cơ quan an toàn thực phẩm châu Âu (Euro Food Safety Authority – EFSA) đượcthành lập vào năm 2002, có nhiệm vụ giám sát việc tuần thủ các quy định về an toànthực phẩm, các nguyên tắc chung và quy định khác về nguồn gốc của sản phẩm LuậtThực phẩm chung chính thức có hiệu lực từ tháng 1/2005 Theo đó, mọi sản phẩm rau,quả được nhập khẩu vào EU đều bắt buộc có giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn,tuân thủ về giới hạn tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, các tiêu chuẩn miễn nhiễmbệnh dịch và côn trùng, các quy định về độ rắn chắc, độ sáng, mẫu mã, màu sắc, kíchthước, quy cách đóng gói, bảo quản
2.2.3.2 Các quy định thâm nhập thị trường EU
Quy định về thâm nhập thị trường được áp dụng cho tất cả các loại hàng hóa kinhdoanh tại thị trường EU Các nhà xuất khẩu từ các nước đang phát triển phải tuân theomọi quy định pháp luật áp dụng đối với mặt hàng mà mình kinh doanh tại đây Bêncạnh đó, một số nước thành viên EU còn có những quy định riêng của mình đối vớimặt hàng rau quả Việc đáp ứng những quy định này là một nhân tố quan trọng ảnhhưởng lớn tới khả năng thâm nhập thị trường của các doanh nghiệp xuất khẩu
Những quy định luật pháp quan trọng nhất bao gồm hệ thống theo dõi (track andtrace), ngưỡng tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ( MRLs), đóng gói, dán nhãn,thuế quan và hạn ngạch Ngoài ra, còn có một số quy định cụ thể liên quan đến sảnphẩm không biến đổi gen (GMOs), phương pháp xạ chiếu sản phẩm, vệ sinh an toànthực phẩm và nông nghiệp hữu cơ
Trang 29 Ngưỡng tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ( MRL)
Từ tháng 9 năm 2008, EU đã ban hành quy định chuẩn hóa ngưỡng tối đa dưlượng thuốc bảo vệ thực vật (MRL) được phép có trong hàng hóa trên toàn lãnh thổChâu Âu Trong khi đó, một số siêu thị còn tăng mức MRL lên 70% so với quy định.Bất kì sản phẩm nào chứa nhiều hơn 70% ngưỡng tối đa dư lượng thuốc cho phép sẽkhông được nhập khẩu vào EU Cũng có vài nơi yêu cầu một số sản phẩm chỉ sử dụngtối đa 4 loại thuốc Nếu sản phẩm nào sử dụng quá 4 loại thì sẽ bị loại bỏ cho dù mức
sử dụng thấp hơn so với chuẩn quy định Còn có một số nước khác cũng đang dần hạthấp mức độ sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật
Hệ thống theo dõi (Track và trace)
An toàn sức khỏe của người tiêu dùng hiện là vấn đề ưu tiên hàng đầu trongchuỗi cung ứng hàng rau quả tại thị trường các nước Châu ÂU Đây chính là nguyênnhân khiến hệ thống theo dõi hàng hóa hay còn gọi là “tracking và tracing” ngày càngđóng vai trò quan trọng và ở một phương diện nào đó, nó đã trở thành một trongnhững yêu cầu có tính pháp lý tại EU Theo đó, lộ trình của hàng hóa trong chuỗi cungứng sẽ được ghi chép lại cẩn thận để từ đó xác định rõ nguyên nhân khi có vấn đề phátsinh Đây cũng là bằng chứng xác thực và hiệu quả nhất là trong trường hợp khi hànghóa bị nghi ngờ là không an toàn với người tiêu dùng Hệ thống theo dõi là một lợi thếgiúp doanh nghiệp bạn duy trì được lòng tin của người tiêu dùng đối với sự an toàn vàchất lượng của hàng hóa thực phẩm mà họ mua Điều này có nghĩa là nông dân/ nhàsản xuất phải bỏ nhiều thời gian và công sức hơn vào việc cung cấp thông tin nhưthông tin về đặc điểm hàng hóa với những phân cấp khác trong chuỗi cung ứng Doanhnghiệp nên thường xuyên trao đổi với đối tác nhập khẩu về lộ trình của hàng hóa vàlựa chọn tiêu chuẩn theo dõi phù hợp nhất với thị trường xuất khẩu mục tiêu
Dán nhãn hàng hóa
Các nước trong thị trường Châu Âu cũng ban hành một số quy định về dánnhãn hàng hóa, về sản phẩm biến đổi gen, thực phẩm được sản xuất theo quy địnhmới, thực phẩm vì mục đích dinh dưỡng, phụ gia và gia vị…
Chỉ thị 0118 của EU có hiệu lực vào tháng 10/2002 đưa ra một khung pháp lýchung cho việc phê duyệt các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm được nuôi trồngbằng công nghệ sinh học Để hoàn thiện khung pháp lý này, EU đang chuẩn bị một
Trang 30luật mới về “ thức ăn và thực phẩm mới lạ” và “ khả năng tìm thấy dấu hiệu và nhãnmác” Luật này sẽ thiết lập những quy định để kiểm soát việc đưa các sản phẩm này rathị trường Một vài yêu cầu trong luật dự kiến này lại cho thấy là không thể thực hiệnđược và không liên quan đến việc bảo vệ những nguy cơ ảnh hưởng tới môi trường vàsức khỏe
Các quy định cụ thể về bao gói và dán nhãn một số loại rau quả cũng được quyđịnh tại Mục các tiêu chuẩn Marketing tại EU trên Website của Europa
Thuế quan và hạn ngạch
Rất nhiều loại hoa quả tươi khi thâm nhập vào thị trường Châu Âu đều phảichịu thuế nhập khẩu Thuế nhập khẩu là để đảm bảo các nhà cung cấp rau quả ở EU cóthể bán sản phẩm của họ tại EU Thuế nhập khẩu bảo vệ họ khỏi sự cạnh tranh của cácsản phẩm nhập khẩu giá rẻ có xuất xứ từ các nước khác trên thế giới Thuế nhập khẩuđối với rau quả được áp ở mức cao hơn trong mùa vụ tại EU Lúc trái mùa, mức thuếlại thấp hơn để đảm bảo nguồn cung cấp ổn định quanh năm Nhìn chung, mức thuếthường được áp dụng là thuế giá hàng – tức là tính trên cơ sở trọng lượng hay số lượngcủa hàng hóa Bên cạnh đó, các nước EU cũng sử dụng hạn ngạch thuế quan và áp giánhập khẩu ( entry price) cho một số sản phẩm Hạn ngạch thuế quan quy định số lượnghàng nhất định mà nhập khẩu dưới mức đó được hưởng thuế quan ưu đãi, còn nhậpkhẩu trên mức đó thì phải chịu thuế suất thông thường hoặc thuế suất mang tính phânbiệt đối xử Giá nhập khẩu được xác định theo giá trị trường Tất cả hàng nhập khẩuvới giá thấp hơn giá này sẽ phải chịu thêm thuế Con số chênh lệch giữa trị giá hảiquan và giá nhập khẩu càng lớn thì mức thuế phải chịu càng cao
Như vậy, thông qua những số liệu trên có thể khẳng định Châu Âu là một thịtrường thực sự tiềm năng cho ngành rau quả Việt Nam, vì thế các doanh nghiệp xuấtkhẩu rau, quả Việt Nam cần tìm hiểu thật kỹ thông tin cũng như nhu cầu của thị trường
để có chiến lược chính xác thâm nhập thị trường này Trong các nước Châu Âu thì cómột số nước có khối lượng nhập khẩu rau, quả tương đối lớn và là các thị trường tiềmnăng cho rau, quả Việt Nam Đó là các nước như Hà Lan, Đức, Pháp, Anh, Italia Sauđây là một vài nét sơ lược về thị trường các nước này và tình hình nhập khẩu rau quả từViệt Nam
2.2.4 Tổng quan về một số nước trong thị trường Châu Âu
Trang 31- Ngôn ngữ chính thức: tiếng Hà Lan
- Thể chế chính phủ: Quân chủ lập hiến và Nghị viện
- Tổng kim ngạch xuất khẩu: 451,3 tỷ USD (2010)
- Tổng kim ngạch nhập khẩu: 408,4 tỷ USD (2010)
Hà Lan là một nước hẹp, người đông, không có nhiều tài nguyên thiên nhiênnhưng Hà Lan đã biết sử dụng thế mạnh của mình là một quốc gia ven biển, cửa khẩucủa 3 con sông lớn ở Tây Âu và giữa các cường quốc kinh tế Anh, Pháp, Đức để pháttriển ngành dịch vụ hàng hải, cảng, vận tải…Hà Lan cũng đã tận dụng đất đai màu mỡ
để phát triển nông nghiệp và ngành công nghiệp thực phẩm
Nền kinh tế Hà Lan được ghi nhận là nền kinh tế ổn định, về tăng trưởng côngnghiệp, tỉ lệ thất nghiệp và lạm phát, thặng dư tài khoản vãng lai khá lớn, và đóng vaitrò quan trọng như là một trung tâm giao thông của Châu Âu Quốc gia này được đánhgiá là một trong những quốc gia Châu Âu cho thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớnnhất và là một trong bốn nhà đầu tư lớn nhất tại Mỹ
Các ngành kinh tế trọng điểm là dịch vụ, công nghệ sinh học, hóa chất, đóngtàu, nông nghiệp…
Trang 32Về thị trường rau quả, dù là nước có 90% sản phẩm nông sản xuất khẩu sangcác nước Châu Âu, nhưng đây vẫn là một thị trường tiềm năng Theo phân tích thống
kê của CBI- Trung tâm xúc tiến nhập khẩu sang EU từ các nước đang phát triển thìmỗi năm nhập khẩu rau quả của Hà Lan tăng với tốc độ +7,8/ năm trong đó nhập khẩu
từ các nước đang phát triển và ở mức cao hơn so với mức bình quân tại Châu Âu HàLan chiếm 12% tổng lượng nhập khẩu của EU từ các nước đang phát triển và theo sốliệu chính thức, các nước đang phát triển cung cấp 24% trên tổng khối lượng nhậpkhẩu của Hà Lan
2.2.4.1.3 Quan hệ hợp tác giữa Hà Lan và Việt Nam
Hà Lan là bạn hàng lớn thứ 4 của Việt Nam ở Tây Âu (sau Đức, Anh, Pháp).Kim ngạch thương mại hàng năm trong 2 năm gần đây đạt trên 2 tỷ USD (xem bảng)
Bảng 4: Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước trong thời gian qua
Đơn vị: nghìn USD
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hà Lan là các loại giày dép,may mặc, hạt tiêu, cà phê, hàng rau quả, đồ gỗ và các sản phẩm gỗ chế biến Kimngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu xuất khẩu sang Hà Lan năm 2009 và T10/2010như sau:
Bảng 5: Tổng hợp các mặt hàng chủ yếu Việt nam xuất khẩu sang Hà Lan năm
Trang 33tử và linh kiện USD 188.135.543 242.077.003
(Nguồn: Tổng Cục Hải Quan)
Như vậy, hàng rau quả cũng là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang
Hà Lan, tuy nhiên trị giá xuất khẩu so với các mặt hàng khác còn rất thấp
2.2.4.1.4 Các quy định về nhập khẩu của Hà Lan
Thuế nhập khẩu
Tất cả hàng hóa nhập khẩu vào Hà Lan phải qua thông quan và chịu thuế hảiquan trừ khi là hàng hóa đó được miễn thuế hoặc thuế hải quan theo pháp luật Nóichung, thuế hải quan là một mức tỉ lệ được tính theo giá hàng (1%) được áp dụng chogiá trị giao dịch (đồng euro của EU) của hàng nhập khẩu dựa trên chi phí của hànghóa, bảo hiểm và cước vận chuyển.Tuy nhiên, đối với một số mặt hàng lại chịu mộtmức thuế cụ thể (bao nhiêu trên một sản phẩm, một lít, một kilô v.v…) và các mặthàng khác thì lại ở một mức tổng hợp (kết hợp cả mức tính theo giá hàng và các mức
cụ thể) Giá trị hàng hóa chịu thuế do luật hải quan EU quyết định
Bảng thuế quan điều hoà của Châu Âu mô tả các mức thuế quan và phân loạihàng hóa theo loại sản phẩm, đó là động vật và các sản phẩm rau, sợi dệt và các sảnphẩm dệt Biểu thuế đưa ra một số các mức thuế cho từng hạng mục
Có một mức thuế giá trị gia tăng áp dụng cho hàng hóa trong nước và nhập khẩu
ở mỗi một giai đoạn sản xuất và phân phối Đối với hàng nhập khẩu thuế được đánhgiá trên giá trị đã thanh toán thuế quan CIF tại cảng vào ở Hà Lan Nếu thuế cho hànghóa hoặc các phí khác (chưa bao gồm thuế VAT) được áp dụng thì cũng bao gồm cả sốlượng bị đánh thuế Mức thuế VAT giống nhau cho cả hàng trong nước và hàng nhậpkhẩu
Biện pháp phi thuế quan
Trang 34Hà Lan là một trong những nước thành viên của EU, có chính sách quản lý chấtlượng hàng hóa chủ yếu theo luật chung của EU Dưới đây xin giới thiệu một số hàngrào kỹ thuật đối với hàng hóa nhập khẩu và lưu thông vào thị trường Hà Lan.
EU trong đó có Hà Lan là thành viên của WTO, có chế độ quản lý nhập khẩuchủ yếu dựa trên các nguyên tắc của Tổ chức này Các mặt hàng quản lý bằng hạnngạch không nhiều, nhưng lại sử dụng khá nhiều biện pháp phi quan thuế Mặc dù thuếquan của EU thấp hơn so với các cường quốc kinh tế lớn và có xu hướng giảm, nhưng
EU vẫn là một thị trường bảo hộ rất chặt chẽ vì hàng rào phi quan thuế (rào cản kỹthuật) rất nghiêm ngặt Do vậy, hàng xuất khẩu của Việt Nam muốn vào được thịtrường này thì phải vượt qua được rào cản kỹ thuật của EU Rào cản kỹ thuật chính làqui chế nhập khẩu chung và các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của EU,được cụ thể hóa ở 5 tiêu chuẩn của sản phẩm: chất lượng, vệ sinh thực phẩm, an toàncho người sử dụng, bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn về lao động
- Đối với tiêu chuẩn chất lượng: Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 gần như
là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sang thị trường
Hà Lan thuộc các nước đang phát triển Thực tế cho thấy ở các nước đang phát triểnChâu Á và Việt Nam, hàng của những doanh nghiệp có giấy chứng nhận ISO 9000thâm nhập vào thị trường EU dễ dàng hơn nhiều so với hàng hóa của các doanh nghiệpkhông có giấy chứng nhận này
- Đối với tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm: Các công ty chế biến thực phẩm phải tuânthủ các tiêu chuẩn vệ sinh chặt chẽ Về phương diện này, việc áp dụng hệ thống HACCP(Hazard Analysis Critical Control Point) là rất quan trọng và gần như là yêu cầu bắt buộcđối với các xí nghiệp chế biến thủy hải sản của các nước đang phát triển muốn xuất khẩusản phẩm vào thị trường Hà Lan cũng như EU
- Đối với tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng: Ký mã hiệu trở nên quan trọngtrong việc lưu thông hàng hóa trên thị trường EU Các sản phẩm có liên quan tới sứckhỏe của người tiêu dùng phải có ký mã hiệu theo qui định của EU Ví dụ: CE bắtbuộc có ký mã hiệu đối với đồ chơi, thiết bị điện áp thấp, thiết bị y tế, nguyên vật liệuxây dựng,
- Đối với tiêu chuẩn bảo vệ môi trường: Thị trường EU nói chung và Hà Lan nóiriêng yêu cầu hàng hóa có liên quan đến môi trường phải dán nhãn theo qui định (nhãn
Trang 35sinh thái, nhãn tái sinh) và có chứng chỉ được quốc tế công nhận Ví dụ, tiêu chuẩnGAP (Good agricultural Practice) và các nhãn hiệu sinh thái (Ecolabels) đang ngàycàng được phổ biến, chứng tỏ các cấp độ khác nhau về môi trường tốt Ngoài ra, cáccông ty phải tuân thủ hệ thống quản lý môi trường (các tiêu chuẩn ISO14000) và các
bộ luật mang tính xã hội về đạo đức Tiêu chuẩn The Social Accountability 8000 sẽcàng trở nên quan trọng trong những năm tới
- Đối với tiêu chuẩn về lao động: Ủy ban Châu Âu (EC) đình chỉ hoạt động củacác xí nghiệp sản xuất nội địa ngay khi phát hiện ra những xí nghiệp này sử dụng laođộng cưỡng bức và cấm nhập khẩu những hàng hóa mà quá trình sản xuất sử dụng bất
kỳ một hình thức lao động cưỡng bức nào như lao động tù nhân, lao động trẻ em,v.v
đã được xác định trong các Hiệp ước Geneva ngày 25/9/1926 và 7/9/1956 và các Hiệpước Lao động Quốc tế số 29 và 105
- Hệ thống chính trị : liên bang và dân chủ nghị viện
- Tôn giáo: đạo Cơ đốc và đạo Do thái
2.2.4.2.1 Về địa lý:
Nước Đức nằm trong Trung âu, giữa 47016’15” và 550 03’ 33” vĩ độ bắc và 50 52’
01” và 150 02’ 37” kinh độ đông Về phía bắc Đức có ranh giới với Đan mạch và nằmgiáp ranh với biển Baltic và Bắc hải, về phía đông nam là Áo, về phía nam là Thụy Sĩ.Phía tây bắc là Hà Lan, phía tây nam là Pháp Chiều dài ranh giới của nước Đức tổngcộng là 3.757 km
Diện tích của Đức là 357,021km2, trong đó có 349,223 km2 là đất liền,7,798km2 là nước Tổng diện tích đất nông nghiệp của Đức là 53,5%, nên đây cũng lànước có lượng xuất khẩu hàng nông sản lớn ở Châu âu, 29,5% diện tích là đất rừng,12,3% là đất ở và giao thông
Nước Đức có khí hậu ôn hòa, ấm áp, không chịu điều kiện thời tiết khắc nghiệt
Trang 362.2.4.2.2.Về kinh tế:
Đơn vị tiền tệ: Euro
Tổ chức thương mại tham gia: EU, WTO, OECD
GDP( PPP) : 2,951 nghìn tỷ $( 2010)
Tỷ lệ tăng trưởng GDP: 3,3% ( 2010)
GDP bình quân đầu người ( PPP) : 35.900 ( 2010)
Kịnh tế Đức là nền kinh tế lớn nhất trong Châu Âu Đức cũng là một trong nhữngnước đứng đầu thế giới về xuất khẩu, năm 2010 giá trị xuất khẩu đạt 1.137 nghìn tỷUSD, với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như máy móc, hàng thiết bị,ô tô, thực phẩm,nông sản, dệt may…Nhưng đồng thời Đức cũng là nước nhập khẩu lớn thứ hai thế giớivới giá trị xuất khẩu năm 2010 là 1.120 nghìn tỷ USD với các mặt hàng máy móc, đồuống, lương thực, nông sản…
Về ngành rau quả, Đức là nước sản xuất trái cây lớn thứ 6 trong EU, nhưngđồng thời cũng là nước tiêu thụ trái cây lớn nhất EU Thị trường rau và trái cây Đức làthị trường được đánh giá rất tiềm năng, do dân số đông nhất ở EU cộng thêm những nỗlực trong việc giảm béo phí, lão hóa của Chính phủ đã khuyến khích người tiêu dùngtiêu thụ nhiều trái cây, giảm các đồ ăn ngọt khác (1/5 trái cây và 3/5 rau quả là đượcsản xuất trong nước) Hơn ½ lượng rau và trái cây được nhập khẩu từ Tây Ban Nha vàItaly, một số khác được nhập khẩu từ Pháp và Hà Lan
2.2.4.2.3 Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Đức:
Hai nước đã ký kết một số hiệp định tạo cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác kinh
tế như: Hiệp định đánh thuế 2 lần, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, các Hiệpđịnh hợp tác hàng hải, hàng không…Kim ngạch trao đổi giữa hai nước hàng năm đềutăng
Với tỷ phần 29% của 2.117,8 triệu Euro tổng kim ngạch xuất khẩu giữa EU vàViệt Nam, CHLB Đức là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong khối EU.Năm 2006, tổng kim ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và Đức đạt 2,360 tỷUSD, trong đó Việt Nam xuất 1,445 tỷ USD và nhập 914 triệu USD ( nguồn: Tổng cụcHải quan) Những mặt hàng chủ yếu là hàng dệt may, hàng nông sản, giầy dép…
Trang 37Thời gian vừa qua ngay trong điều kiện kinh tế Đức suy thoái mạnh nhưng traođổi thương mại song phương và xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Đức vẫn đạtmức tăng trưởng cao.
Năm 2008, kim ngạch thương mại Việt Nam đặt 3,5 tỷ USD, tăng 17%, trong
đó xuất khẩu của Việt Nam là 2,073 tỷ USD, tăng 16% Xu hướng tích cực đó tiếp tụcđược duy trì trong năm 2009, bất chấp suy thoái gia tăng Theo thống kê từ tổng cụcHải quan, thương mại Việt- Đức đạt 3,43 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Namvẫn đạt con số khả quan với 1,85 tỷ USD Trong 10 tháng năm 2010, xuất khẩu củaViệt Nam sang CHLB Đức đạt 1,823 tỷ USD
Bảng 6: Tổng hợp các mặt hàng chủ yếu Việt nam xuất khẩu sang CHLB Đức
( Nguồn: Tổng cục hải quan)
Nhìn vào bảng tổng hợp trên, chúng ta có thể nhận ra, hàng rau quả tuy là mộttrong những mặt hàng chủ yếu xuất khẩu sang Đức[II.15,16,17] nhưng trị giá xuấtkhẩu vẫn còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam cũng như
là mối quan hệ thương mại thương mại giữa Việt Nam- Đức
2.2.4.2.4 Các quy định về nhập khẩu của Đức:
Thuế nhập khẩu
Trang 38Hầu hết các loại thuế nhập khẩu vào Đức đều theo thuế suất của hiệp định ưuđãi MF Thuế suất cao hơn áp dụng cho các mặt hàng: dệt may, ô tô, thiết bị điện giadụng, cao su, nhựa và kim loại…
Thuế giá trị gia tăng (VAT)
Hàng hóa nhập khẩu vào Đức thường phải chịu thuế giá trị gia tăng Thuế suấtnày khác nhau đối với từng loại hàng và nước xuất khẩu
Đối với sản phẩm nông nghiệp, thuế suất là 7%, còn đối với hàng nông nghiệpmức thuế này là 16% giá trị hàng nhập cộng với phí thông quan và chí phí vận chuyểntới địa chỉ đầu tiên trong nước
Thuế chống trợ cấp
Thuế chống trợ cấp là thuế dung để trừng phạt đối với các loại hàng hóa hậpkhẩu vào Đức được hưởng trợ cấp của Chính phủ nước xuất khẩu khiến cho chúng ảnhhưởng tới hàng hóa nội địa của Đức và của các nước thành viên EU Đây là danh mụcthuế mà các doanh nghiệp Việt Nam phải chú ý, bởi vì hiện nay vẫn còn một số mặthàng xuất khẩu chủ lực được Chính phủ trợ cấp xuất khẩu để tạo động lực xuất khẩu.Tuy nhiên khi sang nước nhập khẩu, một thị trường khó tính như Đức, sản phẩm đócũng có thể vị đánh thuế chống trợ cấp để đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường cũngnhư bảo vệ các doanh nghiệp của nước nhập khẩu
Quy định về bao gói
Bao bì là một bộ phận không thể thiếu của hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa xuấtnhập khẩu và vấn đề xử lý phế thải bao bì sau khi sản phẩm được sử dụng đang đượcđặt ra một cách cấp thiết nhằm mục đích hạn chế tối thiểu phế thải bao bì từ nguồn rácsinh hoạt để bảo vệ môi trường
Ở Đức bao gói sản phẩm được quy định trong Sắc lệnh về bao gói sản phẩmQuốc gia(“ Verpackungsverordnung”) Điều đầu tiên phải chú ý trong Sắc lệnh này làphải tránh phế thải bao bì Ngoài ra, có những điều khoản bổ sung về bao bì tái sửdụng, vật liệu tái sinh và các quy định khác về phế thải bao bì Sắc lệnh về bao gói củaĐức không đưa ra những quy định ngặt nghèo về nguyên vật liệu sản xuất bao bì Việc
sử dụng một số vật liệu nhất định để sản xuất bao bì có thể được tài trợ về mặt tàichính
Trong Sắc lệnh này, bao bì được chia ra 3 loại:
Trang 39Bao bì vận chuyển: gồm một số loại như thùng, container, sọt, bao tải, pallet,thùng các tông …và các loại bao bì tương tự dung để bảo vệ hàng hóa tránh hư hỏngtrong quá trình vận chuyển từ nơi sản xuất đến nơi phân phối hoặc để vận chuyển antoàn
Bao gói thứ hai: là loại bao bì được sử dụng thêm để đóng gói sản phẩm đảmbảo cho sản phẩm được giữ vệ sinh, tránh bị nhiễm bẩn cũng như tăng độ bền Loạibao bì này không cần phải chuyển tới người tiêu dùng cuối cùng Bao bì này thường làbao nhựa, hộp carton… nói chung là những loại bao bì tương tự được sử dụng trongquá trình bán hàng Bao bì loại này có tác dụng như sau: giúp hàng hóa có thể đượctrên cơ sở tự phục vụ; tránh hoặc giảm rủi ro mất cắp; phục vụ cho mục đích quảngcáo
Bao gói hàng hóa; là loại bao gói cho từng đơn vị sản phẩm và được đưa đếntay người tiêu dùng cuối cùng
- Quy định về chấp nhận mang bao bì trở về: Vấn đề quan trọng trong Sắc lệnh
về bao bì đối với các công ty ở những nước phát triển là quy định chấp nhận mang trở
về bao bì mà mình đã đóng gói, nếu bao bì không thể tái chế hoặc tái sử dụng Nhữngnhà sản xuất ở các nước đang phát triển ( trừ khi chính họ vận chuyển hàng hóa đếnĐức) sẽ không phải chịu trách nhiệm nhưng những nhà nhập khẩu của Đức thì phảichịu chi phí Khi đó, nhà nhập khẩu sẽ yêu cầu nhà xuất khẩu lần sau sử dụng các loạibao bì phù hợp với Sắc lệnh về bao bì- đó là những bao bì có thể tái chế hoặc sử dụng.Những sản xuất và phân phối nước ngoài có thể thuê một bên thứ ba thực hiện nghĩa
vụ này, có nghĩa là những bao bì đã qua sử dụng không nhất thiết phải mang về nướcxuất xứ
- Nhãn hiệu xanh “ Green Dot” : hệ thống DSD (Duales system Deutschland) làmột hệ thống về tái sử dụng và tái chế bao bì quan trọng nhất ở Đức Đây là mộtchương trình liên kết hoạt động thương mại để giải quyết vấn đề phế thải bao bì mộtcách hiệu quả và thu thập rác thải với chi phí thấp nhất có thể Các doanh nghiệp sẽphải trả phí để được phép in chữ Green Dot lên bao bì và phải ký hợp đồng về việcnày Hệ thống DSD được duy trì dựa trên đóng góp tài chính của doanh nghiệp
Quy định về nhãn mác
Trang 40Với mục đích đảm bảo an toàn cho người sử dụng, nhãn mác trở nên rất quantrọng trong việc lưu thông hàng hóa trên thị trương Đức Nhãn hàng hóa ở Đức phảibao gồm các thông tin cơ bản sau:
- Trọng lượng và khối lượng theo hệ thống đo lường mét
- Chất phụ gia theo tên các loại
- Điều kiện bảo quản đặc biệt
- Thời hạn sử dụng
- Hướng dẫn cách sử dụng đặc biệt
Ngoài ra, CHLB Đức còn có các quy định về kiểm dịch động thực vật rất khắtkhe, các quy định về sở hữu trí tuệ, bảo hộ nhãn hiệu, sáng chế… cũng được quy địnhchặt chẽ trong luật của Đức
Khí hậu ở pháp thường là mùa đông mát mẻ và mùa hè ôn hòa, nhưng dọc bờbiển Địa Trung Hải mùa hè thường rất nóng Ở Pháp thường có tuyết lở và bão tuyếtvào mùa đông
2.2.4.3 2Về kinh tế