Vì vậy, để có thể nắm bắt chặt chẽ các cơ hội mà WTO mang đến, Việt Namcần phải tiếp tục hoạch định và tiến hành một loạt cải cách thương mại trong đó baogồm hoàn thiện các chính sách th
Trang 1-*** -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
SỰ THAY ĐỔI TRONG CÁC CHÍNH SÁCH THUẾ NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CHO PHÙ HỢP
VỚI CÁC CAM KẾT GIA NHẬP WTO
Họ và tên sinh viên : Trần Thị Minh Ngọc
Trang 2CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ NHẬP KHẨU 4
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế nhập khẩu 4
1.1.1 Khái niệm thuế nhập khẩu 4
1.1.2 Đặc điểm của thuế nhập khẩu 6
1.1.3 Vai trò của thuế nhập khẩu 8
1.1.4 Nguyên tắc xây dựng thuế nhập khẩu 11
1.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam theo các cam kết gia nhập WTO 16
1.3 Bài học thực tế từ Trung Quốc trong điều chỉnh chính sách thuế NK sau khi gia nhập WTO 19
CHƯƠNG 2: SỰ THAY ĐỔI TRONG CHÍNH SÁCH THUẾ NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM THEO CÁC CAM KẾT GIA NHẬP WTO 26
2.1 Các cam kết về thuế nhập khẩu của Việt Nam khi gia nhập WTO 26
2.2 Sự thay đổi của chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam nhằm thực hiện các cam kết gia nhập WTO 32
2.2.1 Thuế nhập khẩu của Việt Nam trước năm 2005 32
2.2.2 Thuế nhập khẩu của Việt Nam sau năm 2005 39
2.3 Đánh giá kết quả đạt được 52
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN THUẾ NHẬP KHẨU VIỆT NAM CHO PHÙ HỢP VỚI CÁC CAM KẾT GIA NHẬP WTO 57
3.1 Định hướng hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam 57
3.1.1 Căn cứ xây dựng chính sách nhập khẩu 57
3.1.2 Định hướng hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam 61
Trang 3điều kiện gia nhập WTO 70
3.2.2 Phân định trách nhiệm pháp lý trong việc giám định chất lượng 723.2.3 Xây dựng mạng lưới thông tin, xúc tiến thương mại và ngân hàng dữliệu có liên quan đến hàng hóa nhập khẩu 73
3.2.4 Đổi mới và tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực, cán bộ hoạtđộng trong lĩnh vực nhập khẩu và tuyên truyền chính sách thuế nhập khẩu 74
3.2.5 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật để thực hiện chính sách thuếnhập khẩu 75
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 4Bảng 2.1: Diễn giải mức thuế NK bình quân Việt Nam 26
Bảng 2.2: Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hoá theo ngành (Đơn vị: %) 28
Bảng 2.3: Mức thuế cam kết bình quân theo nhóm ngành hàng chính 29
Bảng 2.4: Các cam kết cắt giảm thuế NK theo một số nhóm mặt hàng chính 30
Bảng 2.5: Thuế suất đối với xe ôtô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (kể cả lái xe) có dung tích xi lanh dưới 1.500cc 41
Bảng 2.6: Thuế suất đối với xe ô tô từ 10 đến 15 chỗ ngồi (kể cả lái xe) 41
Bảng 2.7: Các ngành sẽ có mức bảo hộ thực tế giảm (Đơn vị: %) 55
Trang 5Tên viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
AHTN ASEAN Harmonised Tariff
Nomenclature Biểu thuế quan hài hòa ASEANAFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực Thương mại Tự do ASEANASEAN Association of Southeast
Asian Nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam ÁATIGA ASEAN Trade In Goods
Agreement Hiệp định thương mại hàng hóa ASEANCEPT Common Effective
Preferential Tariff
Hiệp địnhvề chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
GATS General Agreement on
Trade in Services Hiệp định chung về Thương mại dịch vụGATT General Agreement on
Tariffs and Trade
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
HS Harmonized System Danh mục hài hòa mô tả và mã hàng hóa
của Tổ chức Hải quan Thế giớiMFN Most Favoured Nation Đãi ngộ tối huệ quốc
NT National Treatment Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
TRIPS Trade-related Aspects of
Intellectual Property Rights
Hiệp định về các khía cạnh của quyền sởhữu trí tuệ liên quan đến thương mại
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Nhận thức được vai trò to lớn và tầm quan trọng của WTO đối với sự pháttriển của nền kinh tế toàn cầu cũng như đối với sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốcgia, Việt Nam quyết định nộp đơn xin gia nhập tổ chức WTO vào tháng 12 năm
1994 Mục tiêu của việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO lànhằm mở rộng các mối quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với các Thành viênkhác, thể hiện quyết tâm cao đưa nền kinh tế nước ta hội nhập với hệ thống thươngmại thế giới
Ngày 11-1-2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổchức Thương mại Thế giới Từ đó đến nay, người dân Việt Nam đã chứng kiếnnhiều diễn biến kinh tế phức tạp là hệ quả từ việc hội nhập này Với Việt Nam, việcgia nhập WTO đã tạo ra các cơ hội để thúc đẩy cải cách thể chế, tạo lập môi trườngđầu tư và kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo điều kiện mở rộngthị trường xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
Vì vậy, để có thể nắm bắt chặt chẽ các cơ hội mà WTO mang đến, Việt Namcần phải tiếp tục hoạch định và tiến hành một loạt cải cách thương mại trong đó baogồm hoàn thiện các chính sách thuế NK theo các cam kết gia nhập Tổ chức Thươngmại Thế giới để đạt được các mục tiêu định ra: mở cửa thị trường, tự do hóa thươngmại, phát triển sản xuất, ổn định ngân sách Nhà nước…
Trở thành một thành viên của WTO, Việt Nam đang dần từng bước tự do hóathương mại, bỏ đi các rào cản thuế quan mang tính chất bảo hộ đối với các ngànhkinh tế non trẻ và các doanh nghiệp trong nước Sự hòa nhập tất yếu của Việt Namvào WTO đang đặt ra nhiệm vụ thích hợp hóa các chính sách quản lý phát triển kinh
tế, trong đó đặc biệt nhấn mạnh chính sách thuế nhập khẩu đối với các điều kiện vàthông lệ thế giới Nhận thức được việc trở thành thành viên của WTO sẽ gắn liềnvới cả quyền lợi được hưởng lẫn nghĩa vụ phải thực hiện, Việt Nam cam kết lấy cácnguyên tắc của WTO làm nền tảng cho các chính sách hoàn thiện thuế nhập khẩucủa mình
Trang 7Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, em xin chọn đề tài khóa luận: “Sự thay đổi
trong các chích sách thuế nhập khẩu của Việt Nam và định hướng hoàn thiện cho phù hợp với các cam kết gia nhập WTO.” để tìm hiểu và nghiên cứu.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Chỉ ra các thay đổi của hệ thống thuế NK Việt Nam qua các thời kỳ, đi sâuvào phân tích những điểm khác biệt và thay đổi sau sự kiện Việt Nam trở thànhthành viên của WTO, phân tích đánh giá quá trình cải cách chính sách thuế NK củanước ta trong giai đoạn qua
Đưa ra các phương hướng và biện pháp hoàn thiện hệ thống thuế NK của ViệtNam sao cho phù hợp với các cam kết gia nhập WTO
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến thuế NK của ViệtNam như luật thuế NK, biểu thuế NK, các Nghị định, quyết định… đã được banhành Ngoài ra, các cam kết khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới vànhững quy định, nguyên tắc nền tảng của WTO cũng là đối tượng nghiên cứu trongphạm vi khóa luận
Phạm vi nghiên cứu về thời gian là từ năm 1986 tới nay Trong đó năm 2005đóng vai trò một mốc quan trọng trong quá trình sửa đổi và bổ sung thuế NK Năm
2005 là năm khởi đầu của kế hoạch cải cách và hiện đại hóa hệ thống thuế giai đoạn2005-2010 Chính phủ Việt Nam đã ban hành Luật thuế XNK 2005 và nhiều vănbản khác có liên quan trên cơ sở hòa hợp với các quy định và nguyên tắc của WTO,
là bước tiến qua trọng thúc đẩy của Việt Nam gia nhập WTO Đây có thể coi là tiền
đề cho quá trình hoàn thiện chính sách thuế NK sau này cho phù hợp với các camkết gia nhập WTO
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết dựa trên hệ thống thuế của Việt Nam đã được ban hành
và thông qua Trên cơ sở đó ứng chiếu với thực trạng thu thuế của nước ta để đưa ragiải pháp Cụ thể, loại hình nghiên cứu khoa học mô tả, thống kê và so sánh được ápdụng để đưa ra đánh giá cuối cùng, qua đó chỉ ra các phương hướng và biện pháp
Trang 8hoàn thiện thuế NK nước ta cho phù hợp với cam kết gia nhập WTO Ngoài ra còn
sử dụng các bảng biểu, sơ đồ để minh họa các vấn đề nghiên cứu
5 Kết cấu của khóa luận
Nội dung của khóa luận được phân bổ trong ba chương theo kết cấu như sau:
Chương 1: Lý thuyết chung về thuế Nhập khẩu
Chương 2: Sự thay đổi của trong chính sách thuế Nhập khẩu của Việt Nam
theo các cam kết gia nhập WTO
Chương 3: Định hướng hoàn thiện thuế Nhập khẩu Việt Nam cho phù hợp với
các cam kết gia nhập WTO
Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của T.S Nguyễn Xuân Nữ– Giảng viên trường Đại học Ngoại Thương Em xin được gửi đến cô cùng tất cảcác thầy cô giáo của trường đại học Ngoại Thương lời cảm ơn chân thành nhất Donhững hạn chế về thời gian, nguồn lực nghiên cứu và khả năng của người viết, khóaluận khó tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết Kính mong các thầy cô giáocùng bạn đọc góp ý để đề tài được phát triển thêm
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viênTrần Thị Minh Ngọc
Trang 9CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ NHẬP KHẨU
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế nhập khẩu
1.1.1 Khái niệm thuế nhập khẩu
Khi ngoại thương mở rộng, hàng hóa được di chuyển từ khu vực lãnh thổ nàysang khu vực lãnh thổ khác là một hiện tượng tất yếu và thường xuyên diễn ra Cácquốc gia nhập khẩu từ nền kinh tế thế giới những hàng hóa được làm ra tương đối rẻhơn so với trong nước Điều này tuy mang lại lợi ích cho người tiêu dùng nhưngcũng gây ra một số ảnh hưởng tiêu cực đối với nền sản xuất của chính nước đó
Vì vậy, để đảm bảo nền sản xuất nội địa, một số phương pháp được sử dụngvới mục đích hạn chế hàng hóa ngoại nhập Thuế NK là một biện pháp ra đời tươngđối sớm, được chính phủ hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng như một công
cụ quản lý hoạt động NK và bảo hộ nền sản xuất trong nước
Xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, có nhiều cách hiểu khác nhau vềthuế NK:
Thuế NK được hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là một loại thuế đánh vào mỗiđơn vị hàng hóa mậu dịch, phi mậu dịch nhập khẩu từ bên ngoài.(1)
Xét từ khía cạnh pháp luật, thuế NK còn được hiểu là sắc thuế đánh vào hànghóa NK theo quy định pháp luật của một quốc gia
Xét từ khía cạnh của người nộp thuế, thuế NK là một khoản tiền tệ mà ngườichủ hàng hóa NK phải nộp cho hải quan là cơ quan đại diện cho nước chủ nhà.Còn theo David Begg đã trình bày trong cuốn Kinh tế học, thuế NK là loạithuế yêu cầu người NK hàng hóa phải trả một tỷ lệ phần trăm cụ thể theo giá quốc
tế cho nhà nước.(2)
Hay hiểu một cách chi tiết hơn, thuế NK là một loại thuế gián thu đánh vàocác hàng hóa mậu dịch, phi mậu dịch được phép nhập khẩu qua biên giới hải quancủa một nước
1() TS Bùi Thị Lý (chủ biên), 2009, Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế, tr.58
2() David Begg, 1992, “Economics”
Trang 10Tóm lại, từ các khái niệm trên, chúng ta có thể tổng hợp lại để đưa ra kháiniệm sau:
“Thuế NK là một loại thuế gián thu đánh vào các mặt hàng mậu dịch, phi mậu dịch được phép nhập khẩu qua biên giới hải quan của một quốc gia hoặc một nhóm các quốc gia”
Theo luật thuế hiện hành của các nước, bất kỳ hàng hóa nào, khi có sự dịchchuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác, đều bị đánh thuế NK Tuy nhiên, vẫn cómột số trường hợp hàng hóa lưu thông không bị đánh thuế NK vì mục đích đặc biệtnhư an toàn quốc gia, viện trợ nhân đạo…Hàng hóa trong trường hợp quá cảnh,chuyển khẩu hay các trường hợp tương tự khác cũng không phải chịu thuế NK Thuế NK là thuế gián thu, trong đó người nộp thuế không phải là người chịuthuế Người nộp thuế là các tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi nhập khẩu hàng hoá.Nhưng người tiêu dùng mới là người chịu thuế thực tế Giá hàng hóa khi được lưuthông trên thị trường nội địa đã bao gồm cả thuế NK Vì vậy, sự thay đổi của thuếsuất NK ảnh hưởng đến cả sản xuất và tiêu dùng trong nước thông qua việc tácđộng vào giá cả hàng hóa
Với sự xuất hiện của các khu vực thuế quan đặc biệt, khái niệm đường biêngiới hải quan trong thuế NK trở nên không đồng nhất với khái niệm đường biên giớiđịa lý Biên giới trong pháp luật thuế là biên giới về mặt kinh tế Bất cứ ở đâu, khinào có sự phân định giữa nền kinh tế nội địa với nền kinh tế nước ngoài thì đó làbiên giới được hiểu theo pháp luật thuế
Ngày nay, thuế NK vẫn được sử dụng như một biện pháp bảo hộ sản xuất nộiđịa, hạn chế nhu cầu tiêu dùng một số loại hàng hóa cũng như đóng vai trò là mộtnguồn thu cho ngân sách Nhà nước Không những thế, thuế NK còn là một công cụ
để định hướng tiêu dùng trong nước, điều chỉnh nền kinh tế và là một phần củachiến lược quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nước
Tự do thương mại phát triển, tồn tại sự đối lập trong việc sử dụng chính sáchthuế NK giữa nhóm nước phát triển với nhóm nước kém và đang phát triển Cácnước có nền kinh tế thị trường phát triển thì muốn xóa bỏ hàng rào thuế NK để mởrộng và tăng cường bành trướng kinh tế Ngược lại, các nước kinh tế kém và đang
Trang 11phát triển, không muốn bị lệ thuộc vào các thế lực kinh tế bên ngoài thì muốn duytrì và củng cố hàng rào thuế quan để bảo hộ các ngành sản xuất nội địa Tuy nhiên,trong điều kiện nền kinh tế thế giới phát triển theo xu hướng hội nhập và tự do hiệnnay, thuế NK của các quốc gia nói chung ngày càng được điều chỉnh sao cho phùhợp với các nguyên tắc, cam kết trong khu vực và trên toàn thế giới
1.1.2 Đặc điểm của thuế nhập khẩu
Bên cạnh những đặc điểm của thuế nói chung như tiền nộp thuế được trích từthu nhập của các tổ chức, cá nhân hay luật thuế được cơ quan quyền lực cao nhấtcủa mỗi quốc gia ban hành dưới các dạng văn bản quy phạm là luật và bộ luật…,thuế NK còn có những đặc điểm riêng như sau:
- Thuế NK là một loại thuế gián thu Thuế NK không được thu trực tiếp từ
người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa mà được thu từ người nộp thuế là tổchức, cá nhân thực hiện hoạt động NK Khi đó, thuế NK trở thành một bộ phận cấuthành nên giá cả của hàng hóa tại nước NK Ví dụ: một chiếc xe cứu thương đượcnhập khẩu vào Việt Nam với giá CIF là 20.000 USD, thuế suất là 15%3, thì giá bántrên thị trường Việt Nam, bao gồm cả tiền thuế NK là 20.000 X 15% = 3000 USD
Và khoản thuế này sẽ được các bệnh viện nộp gián tiếp cho nhà nước khi bỏ tiền ramua xe cứu thương về trang bị thêm Nói một cách tổng quát, nếu t là thuế suất,biểu thị bằng phần trăm (chẳng hạn 20%), thì giá tối thiểu lưu thông trên thị trườngnội địa của hàng hóa đã nhập khẩu sẽ là (1+t) nhân với trị giá tính thuế của hànghóa này
- Thuế NK gắn liền với hoạt động ngoại thương Ngoại thương giữ một vai trò
quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân, mang lại lợi ích cho cácthành phần kinh tế khác nhau của một quốc gia Nhà nước phải có những biện phápkhác nhau để quản lý chặt chẽ hoạt động ngoại thương, khiến nó diễn ra một cách
có hiệu quả Thuế NK là một công cụ quan trọng được chính phủ sử dụng nhằmkiểm soát hoạt động ngoại thương thông qua hành vi kê khai, kiểm tra, tính thuế đốivới hàng hóa NK Việc đánh thuế NK và áp thuế suất phải căn cứ vào giá trị và
3() Biểu thuế xuất nhập khẩu 2012, chương 87 (mã số thuế 87032191)
Trang 12chủng loại hàng hóa được lưu thông Trị giá tính thuế phải phản ánh khách quan,trung thực trị giá giao dịch thực của hàng hóa NK và mỗi chủng loại hàng hóa phảiđược mô tả rõ ràng và chính xác trong biểu thuế với mã số thuế riêng biệt.
- Thuế NK mang tính quốc tế Do sự biến động của kinh tế thế giới hay xu
hướng thương mại quốc tế trong từng thời kỳ sẽ tác động trực tiếp tới hàng hóa NKcủa các quốc gia nên thuế NK chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố quốc tế khácnhau Để theo kịp hoàn cảnh kinh tế - xã hội trong và ngoài nước, chính sách thuế
NK phải có tính linh hoạt cao, thay đổi phù hợp tùy theo tình hình kinh tế thế giới
và đảm bảo hòa hợp với những cam kết quốc tế Đặc biệt, chính sách thuế NK cònchịu ảnh hưởng mạnh của xu hướng quốc tế và toàn cầu hóa Khi trở thành thànhviên của tổ chức thương mại thế giới WTO, thuế quan của các quốc gia đều phảituân theo các nguyên tắc được liệt kê cụ thể trong Hiệp định chung về Thuế quan vàThương mại (GATT) Hay theo các cam kết về thuế trong hiệp định ưu đãi thuếquan ASEAN để tiến hành thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), cácthành viên của ASEAN phải tuân thủ theo Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuếquan có hiệu lực chung (CEPT) Hiệp định này quy định rõ chương trình cắt giảm
và xóa bỏ hàng rào thuế quan đối với hàng hóa NK từ các nước trong nội khốikhông muộn hơn năm 2015 mà các quốc gia thành viên ASEAN phải thực hiện
Đối tượng chịu ảnh hưởng của thuế NK không chỉ là các doanh nghiệp, người tiêu dùng trong nước mà cả các doanh nghiệp XK của nước ngoài Cùng một loại
hàng hóa, tại những quốc gia khác nhau, sẽ bị áp những mức thuế suất khác nhau
Có những mặt hàng thuộc biểu thuế ưu tiên NK của một số nước nhưng với nướckhác thì không, và ngược lại Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa khiđược tiêu thụ trên thị trường nước NK Vì vậy, các doanh nghiệp XK phải tìm hiểucác đặc điểm và quy định cụ thể về chính sách thuế NK của nước mà họ muốn bánhàng Thuế đối kháng, thuế tự vệ, thuế chống bán phá giá cũng tác động đến cácdoanh nghiệp thuộc nước XK Các hình thức thuế này được sử dụng để bảo vệ hànghóa nội địa thông qua việc đánh thuế làm tăng giá mặt hàng, từ đó giảm tính cạnhtranh về giá thông qua nâng giá thành của hàng hóa NK Điều này khiến cho một số
Trang 13doanh nghiệp XK không thể định giá sản phẩm quá thấp khi thâm nhập thị trườngnước NK hay nhờ được trợ cấp từ chính phủ nước XK mà hạ giá thành hàng hóaNK.
1.1.3 Vai trò của thuế nhập khẩu
1.1.3.1 Thuế nhập khẩu là một trong những nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
Nguồn thu nội bộ được coi là cơ sở vững chắc để nền tài chính của một quốcgia phát triển lành mạnh Thuế NK là một trong những nguồn thu góp phần ổn địnhkinh tế - xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho kinh tế quốc dân phát triển bềnvững, lâu dài Ở các nước kém và đang phát triển, lượng của cải vật chất tự sản xuấtchưa thực sự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu trong nước, bên cạnh đó, khả năng tàichính của Chính phủ lại eo hẹp Vì vậy, mục tiêu động viên số thu cho ngân sáchNhà nước từ thuế NK được coi trọng Ngược lại, sản xuất nội địa của các quốc giaphát triển không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn có khả năngcung cấp cho thị trường quốc tế Hơn hết, các quốc gia này đề cao tự do hóa thươngmại và tìm kiếm những lợi ích nó mang lại Việc dựng lên các rào cản về thuế NK
sẽ khiến cho các quốc gia phát triển và người dân của họ gặp cản trở trong quá trìnhtham gia thương mại quốc tế Do đó, tại các nước phát triển, thuế suất đánh vàohàng hóa NK thấp và nguồn thu từ thuế NK cũng không lớn
Hiện nay, tỷ lệ thuế NK trong tổng nguồn thu của Chính phủ chiếm tỷ lệ khá
đa dạng Ví dụ: tại một số nước đang phát triển có tỷ lệ cao như Ấn Độ 28,5%;Philippin 24%; Thái Lan 23%; Malaysia 17% Trong khi đó, các nước phát triển có
ty lệ rất thấp Canada 1,7%; Mỹ 1,4%; Anh 0,07%; Pháp 0,03%; CHLB Đức 0%.(4)Trên thực tế, một trong những cam kết về thuế khi các nước trở thành thànhviên của WTO là việc cắt giảm thuế suất NK đánh vào phần lớn các mặt hàng, mởcửa thị trường để tự do thương mại hóa Xu hướng này có thể sẽ khiến cho nguồnthu thuế từ nhập khẩu sẽ giảm sút nếu lượng hàng hóa NK vào thị trường nội địakhông tăng
4() GS.TS Bùi Xuân Lưu, PGS.TS Nguyễn Hữu Khải; 2009 Giáo trình Kinh tế Ngoại thương, , tr.303
Trang 141.1.3.2 Thuế nhập khẩu góp phần định hướng tiêu dùng trong nước và điều tiết kinh doanh
Thuế NK có tác động đồng thời đến sản xuất và tiêu dùng do đối tượng chịuthuế bao gồm cả hàng hóa là đầu vào của các ngành sản xuất nội địa và sản phẩmtiêu dùng trong nước
Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa trên thị trường nội địa phụ thuộc vào khả năngthanh toán của cá nhân hay tổ chức Khả năng thanh toán lại phụ thuộc vào hai yếutố: số lượng thu nhập mỗi cá nhân, tổ chức nắm giữ và giá cả hàng hóa, dịch vụđược lưu thông Là một bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa NK, thuế NK tác độnggián tiếp vào thu nhập, góp phần làm tăng lên hay giảm đi về cả số lượng và cơ cấucủa yếu tố “cầu” trên thị trường Phần đông người tiêu dùng luôn có tâm lý lựa chọnnhững mặt hàng có giá thành cạnh tranh hơn nên việc đánh thuế NK cao hay thấp sẽảnh hưởng tới lượng cầu của một mặt hàng, trong một thời gian cố định Thông qua
đó, thuế NK có thể kích thích hay hạn chế tiêu dùng một số mặt hàng nhất định
Ví dụ, tại Việt Nam, thuế suất NK của các mặt hàng xa xỉ hay độc hại thườngcao Theo biểu thuế năm 2012, thuế NK một số loại thuốc lá, xì gà nguyên điếu là100- 135%; một số loại rượu nước ngoài và đồ uống lên men là 50-55%; một số loại
ô tô và xe bốn bánh là 70-78% trong khi thuế NK của các mặt hàng như đồ thựcphẩm thiết yếu thông thường từ 0%-10%, ngũ cốc như yến mạch, lúa mạch, ngô hạt,thóc để làm giống, hạt giống một số loại là 0%, một số loại hóa chất, nguyên vậtliệu dùng cho công nghiệp nặng, máy móc dùng trong xây dựng và dụng cụ ngành y
là 0%(5)
5() Biểu thuế xuất nhập khẩu 2012
Thuế NK Giá
Cầu-tiêu dùngCung-sản xuất
Trang 15Vai trò định hướng tiêu dùng của thuế NK đã giúp cho nhà nước có thể điềutiết kinh doanh và ổn định thị trường nội địa một cách gián tiếp thông qua giá cả củahàng hóa cũng như tâm lý của người tiêu dùng trong nước Hiệu quả khi sử dụngthuế NK như một công cụ vĩ mô thường có tầm ảnh hưởng trong phạm vi rộng dotồn tại mối tương quan giữa các ngành nghề sản xuất và dịch vụ với nhau Tuynhiên, hiệu quả này diễn ra chậm hơn so với các phương pháp trực tiếp khác Vìvậy, một khi sửa đổi biểu thuế, chúng ta cần xem xét cụ thể xu hướng tiêu dùng và
cơ cấu nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, coi đây là một trong những cơ sở đểđưa ra thuế suất hợp lý
1.1.3.3 Thuế nhập khẩu góp phần bảo vệ và phát triển sản xuất trong nước
Với mục tiêu bảo vệ nền sản xuất nội địa, đặc biệt một số ngành công nghiệpnon trẻ, những biểu thuế NK khác nhau được xây dựng dựa trên cở sở chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và điều kiện cụ thể của mỗi giai đoạnlịch sử Thuế NK là một khoản tiền được tính vào giá nên mức thuế suất cao haythấp ảnh hưởng lớn đến giá cả hàng hóa lưu thông trên thị trường Việc đánh thuế
NK thấp đối với hàng hóa là tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu sẽ làm giảm giá cả đầuvào; dẫn đến giảm giá thành của thành phẩm cuối cùng Máy móc, trang thiết bị,dây chuyền…được áp thuế suất ưu đãi cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổimới công nghệ từ đó giảm giá thành, nâng cao chất lượng cũng như là sức cạnhtranh về sản phẩm
Thuế NK một số nhóm hàng tiêu dùng được quy định ở mức cao nhằm nânggiá cả hàng hóa lên cao, góp phần hạn chế lượng cầu của người dân Đồng thờitrong điều kiện đó, hàng sản xuất trong nước sẽ tăng tính cạnh tranh so với hàng
NK do mức giá thành ưu đãi hơn Việc áp dụng thuế NK bảo hộ đóng vai quantrọng trong quá trình phát triển của các nước đặc biệt đối với các mặt hàng chủ lực,xương sống của nền kinh tế khi đang ở giai đoạn phát triển ban đầu Tuy nhiên, với
xu hướng hội nhập và mở cửa thị trường, biện pháp bảo hộ nền sản xuất nội địabằng thuế quan đang dần được thay thế bởi việc sử sử dụng các công cụ khác hữuhiệu hơn
1.1.3.4 Thuế nhập khẩu góp phần thực hiện chính sách đối ngoại của Nhà nước
Trang 16Trong quá trình khu vực và toàn cầu hóa, phần lớn các quốc gia trên thế giớiđều đang theo đuổi tự do thương mại Các nước, với đủ loại trình độ và quy mô pháttriển, xây dựng và thực hiện những chiến lược khác nhau để tham gia vào thị trườngkhu vực, quốc tế nhằm mục đích tìm kiến những ích lợi do hợp tác, liên minh vàphân công lao động mang lại Một trong những nỗ lực mà các quốc gia đã và đangthực thi là tìm cách giảm dần và xóa bỏ hàng rào thuế quan, thúc đẩy các hoạt độngngoại thương.
Cụ thể, qua tám vòng đàm phán của GATT, từ năm 1948 đến năm 1994, vấn
đề giảm thuế quan, xóa bỏ các rào cản thương mại và loại trừ phân biệt đối xử vẫn
là đích đến cơ bản của WTO Mục tiêu của WTO là dần dần tiến tới tự do hóa trênphạm vi toàn cầu về thương mại Vì vậy, để đạt được mục tiêu đó, những cản trở vềthuế NK cần phải được dỡ bỏ Tuy nhiên, WTO vẫn thừa nhận cho phép các nước
sử dụng thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước do xuất phát điểm về mặt kinh tếgiữa các thành viên là khác nhau, nhưng phải ràng buộc và cam kết mức thuế tiếntới dần dần dỡ bỏ hoàn toàn
Ngày nay, hội nhập kinh tế được coi là xu hướng phát triển chính của các nềnkinh tế trên thế giới Trong các hình thức hội nhập kinh tế phổ biến như thỏa thuậnthương mại ưu đãi, hiệp định thương mại tự do, hiệp định đối tác kinh tế, thị trườngchung, các hình thức liên minh như liên minh thuế quan, liên minh kinh tế và tiền
tệ, thuế quan là một trong những vấn đề được chú ý, thể hiện thiện ý của các quốcgia trong việc mở cửa thị trường đối với các nước đối tác hay các thành viên còn lạicủa liên minh, diễn đàn kinh tế
1.1.4 Nguyên tắc xây dựng thuế nhập khẩu
1.1.4.1 Nguyên tắc công khai, minh bạch, rõ ràng
Nguyên tắc công khai, minh bạch, rõ ràng yêu cầu các điều khoản trong chínhsách thuế NK phải được quy định rõ ràng và mang tính đại chúng Thuế NK phảiđược công bố và tuyên truyền một cách công khai trên các phương tiện đại chúng, Các văn bản luật hay dưới luật phải chỉ rõ nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền của đốitượng liên quan, đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế… nhằm ngăn ngừa hiệntượng trốn, gian lận thuế Nk ở đối tượng nộp thuế; hiện tượng tham ô và biển thủ
Trang 17thuế NK ở nhân viên hải quan, đồng thời cho thấy thái độ nghiêm túc và kỷ luật củachính phủ trong vấn đề thực hiện chính sách thuế NK Xây dựng các quy định trongchính sách thuế NK theo một chiều hướng nhất định, tránh trường hợp thay đổi vàđiều chỉnh đột ngột Luật thuế NK cũng bao gồm các điều khoản quy định cáctrường hợp ưu đãi miễn, giảm thuế, thời gian ân huệ thuế cho các chủ thể kinh tế, do
đó, sự rõ ràng và minh bạch có thể giúp các doanh nghiệp hoạch định chính xác mọichi phí về thuế NK và đánh giá đầy đủ ưu đãi của thuế
Nguyên tắc công khai, minh bạch, rõ ràng trong vấn đề xây dựng thuế NKđược biểu hiện cụ thể qua các điểm sau:
- Hệ thống thuế NK phải được hình thành trên một trình tự pháp lý nghiêmngặt Chiều hướng xây dựng chính sách thuế quan được xác định cụ thể, rõ ràng,nhất quán trong một thời kỳ nhất định, phù hợp các điều kiện và yêu cầu phát triểncủa nền kinh tế
- Những quy định về thuế NK phải nhất quán và từng bước đơn giản hóa để dễdàng đạt được tính minh bạch Căn cứ tính thuế phải rõ ràng, phương pháp tính thuế
NK phải dễ thực hiện và kiểm tra
- Nhà nước và các cơ quan hành thu phải tạo điều kiện cho các chủ thể kinhdoanh và dân chúng tiếp cận và có được thông tin cụ thể về số tiền thuế NK phảinộp, thủ tục thu, nộp thuế, ưu đãi về thuế một cách nhanh chóng, rõ ràng và minhbạch
- Thời gian và không gian thu thuế NK phải được quy định rõ ràng và thuậntiện cho cả người nộp và thu thuế Đơn giản hóa các thủ tục hành chính, khai báohải quan tạo điều kiện cho doanh nghiệp NK hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế Ứngdụng sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin để cải tiến cơ sởvật chất, hỗ trợ thực hiện chính sách thuế NK
1.1.4.2 Nguyên tắc hiệu quả, linh hoạt
Nguyên tắc hiệu quả đòi hỏi việc xây dựng hệ thống thuế quan phải chú trọngđến hiệu quả kinh tế - xã hội đạt được khi thực hiện bất kỳ một chính sách thuế NKnào Tác dụng của thuế NK ngày nay không chỉ giới hạn ở chỗ tạo ra khoản thu chủyếu cho ngân sách; mà còn được Nhà nước sử dụng để tác động vào các hoạt động
Trang 18của đời sống kinh tế - xã hội Thuế NK là một công cụ tài chính vĩ mô thường đượccác quốc gia xây dựng để thực hiện nhiều mục tiêu khác nhau: góp phần hình thànhnguồn thu ngân sách Nhà nước; tăng cường quản lý các hoạt động ngoại thương; tạomôi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước;khuyến khích đầu tư, đặc biệt đầu tư nước ngoài và tiết kiệm trong nền kinh tế; điềutiết hợp lý thu nhập của doanh nghiệp và mọi tầng lớp dân cư; điều chỉnh các hoạtđộng kinh tế vĩ mô theo hướng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện, bền vững Hiệu quả của hệ thống thuế NK còn thể hiện thông qua chi phí hành thu thấp.Khi thu thuế, có hai loại chi phí bao giờ cũng phát sinh; là chi phí trực tiếp và chiphí gián tiếp Tính hiệu quả của thu thuế thể hiện qua lượng thuế Nk thu được nhiềunhất trên cơ sở tổng chi phí hành chính là thấp nhất Theo các nhà hoạch định chínhsách, chi phí hành thu hiệu quả không nên vượt quá 1% tổng số tiền thu được từthuế NK Muốn giảm bớt chi phí thu thuế NK, các nước phải cải tiến phương pháphành thu HIện nay, có một phương pháp tương đối tiết kiệm chi phí trong thu thuế
NK là để người nộp thuế tự khai, tự tính và tự nộp thuế Bên cạnh đó, hải quan điện
tử cũng nên được sử dụng một cách rộng rãi và hiệu quả Các khoản chi phí hànhchính còn phụ thuộc vào tính phức tạp của hệ thống thuế NK: các điều khoản miễngiảm; số lượng, mức độ phân biệt của thuế suất đối với đối tượng nộp thuế cũngnhư cơ sở tính thuế…Vì vậy, hệ thống thuế NK nên được đơn giản hóa, chứa đựng
ít mục tiêu xã hội để giảm bớt chi phí hành thu
Ngoài ra, hệ thống thuế NK phải có tính linh hoạt Tính linh hoạt trong vấn đềxây dựng hệ thống thuế NK được thể hiện thông qua khả năng thích ứng với nhữnghoàn cảnh kinh tế thay đổi Khi được hoạch định, chính sách thuế NK phải đảm bảo
sự ảnh hưởng đối với các chủ thể kinh tế ở mức độ, thời điểm và đối tượng thíchhợp; đảm bảo sự ổn định và khuyến khích phát triển nền kinh tế Điều này khôngchỉ giúp Nhà nước tiết kiệm chi phí hành thu mà còn giúp các doanh nghiệp tiếtkiệm thời gian và công sức cho việc thực thi các chính sách thuế NK
1.1.4.3 Nguyên tắc công bằng, bình đẳng
Đầu tiên, nguyên tắc công bằng thể hiện ở chỗ không có sự phân biệt trongviệc đánh thuế NK đối với các đối tượng nộp thuế khác nhau Thuế NK phải góp
Trang 19phần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, kể cả các doanhnghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp nhà nước vàdoanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài Mức độphân biệt của thuế suất NK được xây dựng dựa trên sự khác nhau của mỗi chủngloại hàng hóa mà không chịu ảnh hưởng của chủ thể tham gia hoạt động NK làdoanh nghiệp trong nước hay nước ngoài.
Một trong những nguyên tắc của WTO thể hiện rõ nhất nguyên tắc công bằng,bình đẳng trong việc xây dựng chính sách thuế NK là nguyên tắc có đi có lại.Nguyên tắc có đi có lại yêu cầu các nước phải dành cho nhau những ưu đãi và đãingộ tương xứng Một quốc gia muốn mở cửa thị trường, giảm thuế suất và bỏ bớtcác thủ tục đối với hàng NK thì có quyền đòi hỏi các quốc gia thành viên khác cónhững nhượng bộ tương tự Vì vậy, còn phải tính đến các ưu đãi mà thành viênkhác của WTO dành cho khi xây dựng chính sách thuế NK của một nước, qua đó,đảm bảo nguyên tắc công bằng, bình đẳng giữa các quốc gia
Nguyên tắc bình đẳng còn là nền tảng của nguyên tắc NT (NationalTreatment) trong các hiệp ước quốc tế; đặc biệt là trong cam kết, quy định củaWTO Nguyên tắc NT được quy định cụ thể tại các điều khoản: Điều III Hiệp địnhGATT, Điều 17 Hiệp định GATS và Điều 3 Hiệp định TRIPS Nguyên tắc nàyđược nhấn mạnh trong mối tương quan giữa các doanh nghiệp trong nước và nướcngoài Các quốc gia không thể vì mục đích bảo hộ một số ngành sản xuất non trẻ màđánh thuế NK phân biệt Theo nguyên tắc này, hàng NK không phải chịu mức thuếsuất cao hơn, thủ tục hành chính và kinh doanh phức tạp hơn so với hàng hóa sảnxuất nội địa Đây là một vấn đề thuộc về phạm trù công bằng xã hội trong kinhdoanh Nguyên tắc đối xử quốc gia tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thànhphần kinh tế trong nước và ngoài nước cũng như giữa các hoạt động kinh tế đượcthực hiện
Nguyên tắc bình đẳng thể hiện mối tương quan thuế NK của một quốc gia vớicác quốc gia và khu vực khác, là nền tảng quan trọng của nguyên tắc MFN Nguyêntắc MFN (Most favoured nation) là nguyên tắc có tính bắt buộc tương đối với cácquốc gia khi tham gia các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực, quốc tế hay có ký kết các
Trang 20hiệp ước song phương và đa phương về thuế quan Mục đích của việc sử dụngnguyên tắc MFN trong thương mại quốc tế là chống phân biệt đối xử trong buônbán quốc tế, làm cho điều kiện cạnh tranh giữa các đối tượng kinh doanh ngangbằng nhau Điều khoản quy định về thuế NK trong MFN được quy định ngay tạiđiều I của GATT: nếu một quốc gia dành thuế suất NK ưu đãi cho một một nướcthành viên thì cũng phải dành sự ưu đãi này cho các nước thành viên còn lại
1.1.4.4 Nguyên tắc tuân thủ quy định về thông lệ quốc tế
Chính sách thuế NK nên được xây dựng trên nguyên tắc tuân thủ quy định vềthông lệ quốc tế về phân loại mã hàng, giá tính thuế, thuế suất…hàng hóa NK Đểtạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi buôn bán, các quốc gia cần phải tuân thủcác quy định chung có liên quan đến hoạt động ngoại thương Trong đó đánh thuếbao nhiêu vào hàng nào có liên quan chặt chẽ đến phân loại hàng hóa và xác định trịgiá tính thuế của hàng hóa NK Vì vậy, chính sách thuế NK của các quốc gia nênxây dựng sao cho hòa hợp với các thông lệ và điều ước, hiệp định của khu vực vàquốc tế Ví dụ: luật thuế NK và biểu thuế NK của các quốc gia là thành viên của tổchức WTO nên được xây dựng sao cho phù hợp và tiếp cận nhất với Danh mục hàihòa và mô tả mã hàng hóa của Tổ chức Hải quan thế giới, Hiệp định chung về thuếquan và thương mại (GATT), Hiệp định về xác định trị giá tính thuế Hải quan, Quytắc xuất sứ…
Trong luật thuế NK của hầu hết các quốc gia, nguyên tắc thuế NK được xâydựng trên cơ sở tuân thủ quy định về thông lệ cũng được nêu lên Trong luật thuế
NK 2005 của Việt Nam, nguyên tắc này được thể hiện ngay tại Điều 6: “Trongtrường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
có quy định về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu khác với quy định của Luật này thì
áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó” Điều này thể hiện sự tôn trọng cũngnhư việc chứng minh Việt Nam là một phần của liên kết và hợp tác về kinh tế trongquá trình hội nhập quốc tế và tự do hóa thương mại Điều 6 trong Luật thuế NK
2005 đã đưa ra phương thức giải quyết tranh chấp khi có mâu thuẫn xảy ra về thuếsuất và việc phân loại hàng hóa để đánh thuế khi làm thủ tục hải quan
Trang 211.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam theo các cam kết gia nhập WTO
Hai mươi năm kể từ năm 1986 đến năm 2006, quá trình thực hiện công cuộcđổi mới đã đem lại cho Việt Nam nhiều thành tựu to lớn, thay đổi bộ mặt kinh tế vàđời sống trong nước Với mục tiêu nhanh chóng thóat khỏi tình trạng là một nướcnghèo và kém phát triển, công cuộc đổi mới ở Việt Nam cần tiếp tục được thực hiệnsâu rộng hơn nữa Trở thành thành viên chính thức WTO sẽ là động lực thúc đẩyViệt Nam tiến hành các công cuộc cải cách kinh tế - xã hội mạnh mẽ, toàn diện
Sau khi gia nhập WTO, trong các chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách thuếđược coi là phải điều chỉnh nhiều nhất Chúng liên quan trực tiếp đến việc thực thicác cam kết gia nhập và chịu tác động gần như tức thì (nhất là cắt giảm thuế quan)
từ việc thực thi các cam kết này Việc cắt giảm thuế suất NK là một đặc điểm quantrọng khi gia nhập WTO mặc dù vấn đề này không được xây dựng thành điều khoảnriêng nhưng được thể hiện trong một số điều khoản của GATT Kèm theo đó, ViệtNam phải điều chỉnh các vấn đề khác của chính sách thuế NK cũng là cần thiết bởinhững lý do sau đây:
Thứ nhất, sau khi trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới, ViệtNam phải thực sự thi hành các cam kết được đưa ra theo những lộ trình cố định Saukhi các vòng đàm phán kết thúc, Việt Nam phải cắt giảm thuế suất NK, dỡ bỏ hàngrào thuế quan theo các cam kết đạt được để đảm bảo yếu tố tự do của thương mạiquốc tế Bên cạnh đó, WTO yêu cầu các nước thành viên chỉ được bảo hộ bằng thuếquan trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, không được sử dụng các hạn chế địnhlượng Cụ thể, Việt Nam sau khi chính thức gia nhập, phải nghiêm túc thực hiện 4nguyên tắc cơ bản của WTO mà GATT đưa ra là:
- Chỉ bảo hộ sản xuất trong nước bằng thuế quan, không được phép sử dụng hạn chế định lượng, trừ những trường hợp đặc biệt;
- Mức thuế quan phải giảm dần và phải được ràng buộc không tăng trở lại;
- Áp dụng quy chế tối huệ quốc;
- Áp dụng quy chế đãi ngộ quốc gia;
Trang 22Thứ hai, hoàn thiện chính sách thuế NK theo các cam kết của WTO khuyếnkhích một số ngành sản xuất Việt Nam phát triển Cải cách thuế NK là một phầnđộng lực cho Nhà nước Việt Nam đơn giản hóa và chuẩn hóa thủ tục Hải quan, xóa
bỏ tình trạng quan liêu, tập trung hóa cơ sở dữ liệu thông tin, làm cho thương mạitrở nên đơn giản hơn, giảm chi phí cho các nhà sản xuất nội địa Đặc biệt, việc giảmthuế suất NK đối với các mặt hàng nguyên vật liệu là đầu vào của một số ngànhnghề trong nước, đặc biệt là những ngành công nghiệp nặng và công nghệ cao cũngnhư máy móc, thiết bị, dây truyền phục vụ… góp phần khuyến khích các doanhnghiệp nội địa mở rộng quy mô sản xuất Bên cạnh đó, thuế suất giảm khiến cho cảchủng loại và chất lượng hàng hóa NK trở nên đa dạng, tạo sức ép cho các mặt hàng
có chức năng tương tự được sản xuất trong nước Dưới một môi trường cạnh tranhhơn, các doanh nghiệp phải tự tìm cách phát triển bản thân mình để sản phẩm sảnxuất ra không bị chèn ep bởi hàng ngoại nhập Không chỉ chất lượng mà cả mẫu mãcũng như khâu phân phối đến người tiêu dùng cũng sẽ được coi trọng và cải tiến.Thứ ba, Việt Nam thực hiện lộ trình cắt giảm thuế sau khi gia nhập WTO vềthuế NK nhằm mục đích đảm bảo ổn định kinh tế, chính trị và công bằng xã hộitrong nước thông qua khía cạnh không có phân biệt đối xử trong thương mại.Những nguyên tắc của WTO yêu cầu các thành viên còn lại phải dành cho ViệtNam các quy chế đãi ngộ MFN và quy chế NT về thuế NK ngay lập tức, vô điềukiện và ngược lại Nguyên tắc này thể hiện sự ngang hàng của Việt Nam đối cácthành viên của WTO trên trường quốc tế Trong nền kinh tế thế giới, vị thế của ViệtNam, thông qua quy chế đãi ngộ MFN, nguyên tắc NT, sẽ không bị các nước pháttriển chèn ép khi tham gia vào các hoạt động mang tính quốc tế và được bảo hộtrước các hành vi mang tính phân biệt đối xử từ các nền kinh tế phát triển hơn Thứ tư, thị trường tiêu dùng Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ việc thuế suất
NK Ngày nay, nhập khẩu cho phép người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn đối với
cả hàng hóa và dịch vụ lẫn phạm vi chất lượng Thực tế đã chứng minh, nếu thuếquan càng giảm thì người tiêu dùng Việt Nam càng có lợi Nó đem đến cho chúng
ta sự lựa chọn và phạm vi rộng hơn rất nhiều để lựa chọn hàng hóa và dịch vụ Thuếsuất NK được tính trực tiếp vào giá thành sản phẩm và người tiêu dùng là người
Trang 23phải bỏ ra một phần thu nhập của mình để chịu thuế NK Thuế suất giảm theo đúng
lộ trình cam kết, giá hàng hóa có xu hướng giảm, cùng một gói ngân sách, chúng
ta có thể mua được rổ hàng hóa lớn hơn Qua đó, chất lượng đời sống nói chung củangười dân Việt Nam được cải thiện và nâng cao Ngoài ra, cải cách thuế NK sẽ giúpcho hoạt động thông quan của các doanh nghiệp NK trở nên nhanh chóng gọn nhẹ,tiết kiệm thời gian hàng hóa từ cửa khẩu đến tay người tiêu dùng, tạo điều kiện choviệc mở rộng nhập khẩu các mặt hàng cần bảo quản đặc biệt như đồ đông lạnh… vàsản phẩm theo mùa như quần áo…Điều này cũng làm đa dạng hóa chủng loại hànghóa và dịch vụ được lưu thông trên thị trường
Thứ năm, thay đổi chính sách thuế NK phù hợp với các cam kết gia nhậpWTO góp phần làm cho môi trường kinh tế Việt Nam trở nên cạnh tranh và bìnhđẳng hơn, không có sự phân biệt đối với các thành phần kinh tế khác nhau Điềunày tạo điều kiện cho việc phát triển thương mại tự do và hợp tác với các nền kinh
tế trên thế giới của nước ta Để làm tốt được điều này, bên cạnh việc cắt giảm thuếsuất, các yếu tố khác của chính sách thuế NK cũng cần thiết được chính phủ quantâm và điều chỉnh Giá tính thuế, phương pháp tính thuế, quy định xuất xứ hàng hóanên được sửa đổi và hoàn thiện cho phù hợp với các quy định tại GATT, Hiệp định
về xác định trị giá tính thuế Hải quan, Hiệp định về Quy tắc xuất xứ để thuận tiêntrong việc xác định thuế suất của từng loại hàng hóa và đơn giản hóa thủ tục, quátrình kê khai cũng như thu thuế NK
Thứ sáu, đòi hỏi của WTO về việc cải cách thuế NK theo đúng lộ trình đã camkết thúc đẩy chính phủ Việt Nam hoạt động tốt hơn, hiệu quả và linh hoạt hơn Hoạtđộng thay đổi chính sách thuế NK sẽ diễn ra theo hướng có lợi cho tự do hóathương mại theo khu vực và toàn cầu Thị trường cũng như nền kinh tế Việt Nam sẽdần mở cửa rộng rãi với phần lớn đối tượng kinh tế khác nhau Điều này góp phầntạo nên một môi trường kinh tế, xã hội phức tạp hơn, đòi hỏi chính phủ không thểđưa ra những chính sách thiếu thận trọng Do đó dưới sức ép của yêu cầu ban hànhcác chính sách rõ ràng và hoàn thiện hơn về thuế NK, chính phủ Việt Nam phải làmviệc có kỷ luật hơn Bên cạnh đó, một trong những nguyên tắc quan trọng mà WTOđòi hỏi khi chính phủ phải tuân theo khi hoàn thiện thuế NK là minh bạch và công
Trang 24khai Nguyên tắc này giúp chính phủ hạn chế các thiệt hại từ hành vi gian dối vàtham nhũng trong chậm thuế, trốn thuế, gian lận thuế Không những thế, thuế NKthay đổi theo các cam kết gia nhập WTO đòi hỏi Việt Nam phải nâng cao trình độcủa bộ máy hành chính cho đồng đều, tăng tính hiệu quả và linh hoạt trong việcthực thi các chính sách luật thuế NK mới được ban hành
Tóm lại, việc điều chỉnh các chính sách thuế NK sao cho phù hợp với các camkết gia nhập WTO không chỉ mang tính bắt buộc thông qua các vòng đàm phán vàcác nguyên tắc cũng như hiệp định chung mà còn phù hợp với đòi hỏi chung củacác chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam với vai trò là một phần của nền kinh
tế thế giới
1.3 Bài học thực tế từ Trung Quốc trong điều chỉnh chính sách thuế NK sau khi gia nhập WTO
Tuy khác nhau về quy mô nhưng xem xét trên nhiều khía cạnh, giữa nền kinh
tế Trung Quốc và nền kinh tế Việt Nam vẫn có nhiều điểm tương đồng Kể từ lúcbắt đầu chương trình mở cửa nền kinh tế, Trung Quốc đã tiến hành hàng loạt cảicách cơ bản trong các lĩnh vực thương mại hay có liên quan tới thương mại TrungQuốc cũng đã sửa đổi và ban hành hơn 3000 luật và quy định kể từ khi trở thànhthành viên chính thức thứ 143 của WTO vào tháng 12 năm 2001 Đặc biệt, TrungQuốc đã tiến hành sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện chính sách thuế NK một cáchnghiêm ngặt cho phù hợp với các cam kết gia nhập WTO
Theo sự đánh giá khách quan của các tổ chức trọng tài thương mại, TrungQuốc đã hoàn thành hai vấn đề lớn liên quan tới chính sách thuế NK: thực hiện đầy
đủ các cam kết cắt giảm thuế suất của mình theo các tiêu chí của WTO và giảm cácrào cản thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài
Đến cuối năm 2005 và đầu năm 2006, hàng hóa nhập khẩu vào Trung Quốcđược coi là chịu thuế suất thấp nhất trong số các nước đang phát triển Với mứcgiảm này, Trung Quốc thực sự đã trở thành một thị trường XK đầy tiềm năng đốivới các nước nghèo và các nước đang phát triển Tổng lượng hàng hóa XK từ cácquốc gia trên vào Trung Quốc chỉ sau tổng lượng hàng hóa XK vào Liên minh châu
Âu (EU) và Hoa Kỳ
Trang 25Theo tổng hợp của WTO, biểu thuế MFN áp dụng năm 2005 của Trung Quốcgồm 7550 dòng Trong đó 7501 dòng (tương đương với tỷ lệ 99,4% biểu thuế) làthuế tương đối còn 44 dòng là thuế tuyệt đối Tại chương 85, có 5 dòng liên quantới sản phẩm điện tử, thì áp thuế phần trăm nếu giá thấp hơn hoặc bằng một mứcxác định; và áp thuế hỗn hợp nếu giá cao hơn mức này Ngoài ra còn có 55 dònghàng chịu hạn ngạch thuế quan.
Mức cam kết cắt giảm thuế quan của Trung Quốc trong giai đoạn 2002-2005
là 2,4% Đây là một mức cam kết cắt giảm khá đáng kể trong một thời gian tươngđối ngắn Mức thuế quan trung bình thực tế đã giảm từ 15,6% trong năm 2001xuống còn 9,7% năm 2005.(6)
Thuế suất MFN bình quân của nhóm hàng nông nghiệp giảm từ 23,1% năm
2001 xuống 18,5% ngay vào năm 2002 và còn 15,3% năm 2005.(7) Đến năm 2008,mức thuế quan trung bình của hàng nông nghiệp giảm còn 15,1%.(8) Đối với một sốloại ngũ cốc, dầu ăn, đường, phân vô cơ và phân hữu cơ, len và bông, hạn ngạchthuế quan đã được áp dụng thay cho hạn ngạch NK
Với nhóm sản phẩm phi nông nghiệp, thuế MFN bình quân giảm từ 14,4%năm 2001 xuống 8,8% năm 2005.(9)
Thuế suất MFN áp dụng cho sản phẩm ô tô đã giảm từ mức bình quân 30,1%năm 2001 xuống còn 14,8% năm 2005 Hạn ngạch NK trước kia áp dụng với một sốsản phẩm ô tô đã được bãi bỏ vào cuối năm 2004
Đối với hàng dệt may, thuế suất giảm từ 20,7% xuống 10,9% trong giai đoạn
từ 2001-2005.(10)
23/4/2003, Trung Quốc trở thành thành viên của Hiệp định Công nghệ Thôngtin (ITA) Do đó, thuế suất đối với các dòng hàng ITA được nhập khẩu đều ở mứcthuế suất bằng 0%
6() Vụ Chính sách thương mại đa biên-Bộ Thương mại, 2008, Trung Quốc nhìn lại 5 năm hậu WTO.
7() Vụ Chính sách thương mại đa biên-Bộ Thương mại, 2008, Trung Quốc nhìn lại 5 năm hậu WTO.
8() Viện chính sách và chiến lược phát triển, 2008, Nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
WTO-9() Vụ Chính sách thương mại đa biên-Bộ Thương mại, 2008, Trung Quốc nhìn lại 5 năm hậu WTO.
10() Vụ Chính sách thương mại đa biên-Bộ Thương mại, 2008, Trung Quốc nhìn lại 5 năm hậu WTO.
Trang 26Ngoài ra, trong giai đoạn 2001-2005, mức thuế suất NK đánh vào hàng sơ chếthấp hơn đối với hàng thành phẩm Đặc biệt, trong năm 2005, mức chênh lệch giữahàng sơ chế và thành phẩm đối với thực phẩm, đồ uống và thuốc lá; giữa hàng thô
sơ với hàng sơ chế đối với hàng dệt, may mặc là khá rõ Điều này thể hiện TrungQuốc khuyến khích nhập khẩu hàng sơ chế là đầu vào cho các ngành sản xuất, chếtạo thành phẩm của mình và đồng thời bảo hộ hàng thô, nguyên, vật liệu trongnước
Tháng 6 năm 2008, Trung quốc đưa ra quyết định thay đổi thuế suất NK đốivới 26 loại hàng hóa Trong đó giảm thuế NK đối với thịt lợn đông lạnh và một sốloại thức ăn cho động vật cùng với dầu ăn Thuế suất NK thịt lợn giảm từ 6% xuống3% Thuế NK thức ăn chế từ đậu tương và lạc dành cho động vật sẽ giảm từ 5%xuống 2% Thuế NK dầu lạc và dầu ôliu lần lượt từ 10% và 9% cùng giảm xuốngmức 5%.(11)
Tuy nhiên, trong giai đoạn 2001-2006, mức thuế suất của hàng hóa NK thuộcnhóm linh kiện, phụ tùng rời của ô tô đã gây ra bất đồng lớn giữa cải cách chínhsách thuế quan của Trung Quốc và các quy định trong khuôn khổ WTO Hoa Kỳ và
EU cho rằng Trung Quốc có hành vi bảo hộ đối với nền công nghiệp sản xuất ô tôtrong nước thông qua việc đánh thuế chênh lệch giữa ô tô nguyên chiếc và linh kiện,phụ tùng rời Linh kiện, phụ tùng rời NK chiếm tới 60%(12) giá trị của xe ô tô sảnxuất nội địa và được áp mức thuế NK thấp trong khi đánh thuế NK cao với ô tônguyên chiếc
Sau đó, Trung Quốc đã tạo ra rất nhiều bước đệm để tăng thuế cho phụ tùng ô
tô NK Thông qua đó, tăng giá thành ô tô NK trên thị trường Trung Quốc mà không
vi phạm các điều khoản đã cam kết khi gia nhập WTO Điều này khiến cho các nhàsản xuất nước ngoài sẽ phải mang công nghệ vào Trung Quốc do mức độ nhập khẩu
ô tô giảm, dẫn đến lợi nhuận giảm Ngành sản xuất ô tô nội địa của Trung Quốccũng có cơ hội để tiếp cận công nghệ kỹ thuật cao trong chế tạo ô tô, tạo điều kiện
11() Cổng thông tin điện tử Vietstock, 2008, Trung quốc giảm thuế NK một số mặt hàng nhằm chống lạm phát
12() Cổng thông điện tử tin về WTO và tiếp cận thị trường, 2008, giới thiệu Trung Quốc
Trang 27mở rộng và phát triển ngành ô tô trong nước Kết quả, giá ô tô NK liên tục giảm, ô
tô sản xuất trong nước ngày càng mở rộng thị phần Theo thống kê của WTO, tronggiai đoạn 2001-2005, ngành sản xuất thép và ô tô của Trung Quốc đã tăng tới 25%(13) sản lượng
Năm 2010 là mốc kết thúc trong quá trình thực hiện các cam kết hiện hành củaTrung Quốc về ràng buộc thuế suất thuế NK Trung Quốc đã giảm thuế suất NKràng buộc trung bình xuống còn 9,9% trong năm này.(14)
Nhìn chung, mức thuế NK ở Trung Quốc tương đối dễ dự đoán với hai lý dochính: 100% số dòng thuế áp cho hàng hóa NK bị cam kết ràng buộc và thuế suất
NK được đưa vào áp dụng thực tế gần bằng hoặc bằng mức ràng buộc trong cáccam kết gia nhập WTO
Kể từ cuối năm 2004, Trung Quốc đã chấm dứt áp dụng hạn ngạch NK, trongkhi đó cấm NK và cấp phép NK cũng được cắt giảm mạnh Từ năm 2005, TrungQuốc chỉ còn 3 loại hạn chế NK là giấy phép NK, giấy phép NK tự động và hạnngạch thuế quan NK
Danh mục hàng hóa quản lý bằng giấy phép NK đang hiện hành của TrungQuốc có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2006 Tổng cộng, danh mục có 83 dạngthuế theo mã HS 8 chữ số, thực hiện quản lý 3 chủng loại hàng bằng giấy phép NK.(15) Tất cả chủng loại hàng hóa nằm trong danh mục này là các chất hóa học có thểdùng điều chế vũ khí hoá học, hay dễ bị sử dụng để sản xuất ma tuý, hoặc các chấtphá hoại tầng ÔZôn
Hiện nay, Trung Quốc còn duy trì biện pháp cấm NK với một số chủng loạihàng hóa như một số mặt hàng cơ điện phế thải, phế thải y tế, hỗn hợp CFC-113,sừng tê giác vì lý do sức khoẻ, an toàn hoặc theo quy định của các công ước quốc
tế Trung Quốc cũng cấm NK một số sản phẩm hóa học độc hại, hay một số nguyên,vật liệu có chứa chất hóa học đã qua sử dụng
13() Cổng thông điện tử tin về WTO và tiếp cận thị trường, 2008, giới thiệu Trung Quốc
14() Cổng thông điện tử tin về WTO và tiếp cận thị trường, 2008, giới thiệu Trung Quốc
15() Trang điện tử Hồ sơ thị trường, chuyên mục thị trường Trung Quốc, các văn bản luật và dưới luật.
Trang 28Một số nhóm hàng NK bị hạn chế theo các công ước quốc tế hiện được quản
lý bằng giấy phép NK không tự động Đến năm 2006, số dòng thuế được áp dụnggiấy phép nhập NK tự động chiếm 16% tổng số dòng thuế trong cả biểu thuế NK Gia nhập WTO, Trung Quốc bắt buộc xóa bỏ hạn ngạch NK theo đúng nhưcác cam kết đã ký Hạn ngạch thuế quan hiện được duy trì với một số chủng loạihàng hóa thuộc nhóm hàng nông sản và phân bón
Trong khuôn khổ các ưu đãi thuế quan dành cho các nước ASEAN, TrungQuốc dành cho Việt Nam cũng như các quốc gia Đông Nam Á khác mức thuế ưuđãi với mức thuế suất bình quân là 9% và tổng số dòng thuế ưu đãi là 484 Trong
đó, thuế suất NK bình quân đối với nhóm hàng nông sản là 11,1% còn phi nông sản
là 8,6% Ngoài ra, Trung Quốc dành mức ưu đãi thuế quan cho các quốc gia thamgia Hiệp định Băng Cốc (Bangladesh, Ấn độ, Hàn quốc, Lào, Sri Lanka); các nước
và Đặc khu kinh tế trong khuôn khổ các thỏa thuận song phương (Pakistan, Đặc khuHành chính Hồng Kông và Macao) Trung Quốc cũng đơn phương dành ưu đãi thuế
NK (ở mức 0%) cho một số sản phẩm NK của 39 nước kém phát triển
Trung Quốc dành ưu đãi MFN về thuế NK cho tất cả các thành viên WTO, trừ
El Salvador và lãnh thổ của một vài thành viên EU Một số nước còn được hưởng
ưu đãi cao hơn mức MFN do cùng tham gia khu vực mậu dịch tự do hoặc ký kếtthỏa thuận thương mại tự do song phương với Trung Quốc Các quốc gia đã kýThỏa thuận Thắt chặt và tăng cường Hợp tác Kinh tế với Trung Quốc bao gồm Đặckhu Hành chính Hồng Kông và Macao Ngoài ra, Trung Quốc còn ký Thỏa thuậnKhung với các nước ASEAN, hiệp định thương mại tự do với Chile và hiệp địnhthương mại ưu đãi với Pakistan Hiện tại Trung Quốc đang đàm phán ký kết cáchiệp định song phương với một loạt quốc gia Tất cả các đối tác ký kết hiệp địnhthương mại song phương với Trung Quốc đều được Trung Quốc dành cho mức thuếquan ưu đãi
Tóm lại, năm 2001, cả trong và ngoài nước đều có những ý kiến trái chiềunhau khi Trung Quốc gia nhập WTO Trong khi nhiều người lạc quan về triển vọngphát triển được mở ra với nhiều ngành nghề lĩnh vực thì không ít người tỏ ra hoàinghi và e ngại về tác động bất lợi đối với nền sản xuất nội địa do tăng sức ép cạnh
Trang 29tranh từ bên ngoài Năm 2006, 5 năm sau đó, thành công của rất nhiều ngành sảnxuất trong nước đã góp phần củng cố vững chắc lòng tin của cả chính phủ và giớidoanh nghiệp Trung Quốc vào khả năng phát triển của nền kinh tế quốc dân Bêncạnh đó, chính sách thuế NK, đặc biệt lộ trình cắt giảm thuế vẫn được Trung Quốctuân thủ một cách nghiêm túc theo các cam kết gia nhập.
Trên thực tế, các chính sách cải cách thuế NK đã gây ra những ảnh hưởng tíchcực đến nền kinh tế Trung Quốc Bất chấp khủng hoảng tài chính diễn ra khắp nơitrên thế giới, tổng kim ngạch NK của Trung Quốc năm 2009 vẫn tăng trưởng Theotheo số liệu của Tổng cục Hải quan Trung Quốc công bố ngày 10/1/2010, TrungQuốc đã trở thành quốc gia NK lớn thứ 2 thế giới và trong tương lai có khả năng trởthành nước NK lớn nhất thế giới Năm 2009, nhập khẩu của nước này tăng 2,8% sovới năm 2008 dù cả thế giới đang phải vật lộn với cuộc khủng hoảng tài chính Vàtheo số liệu Bộ thương mại Trung Quốc công bố năm 2011, kim ngạch NK củaTrung Quốc đã tăng lên 24,9% so với năm 2010 (tương đương tăng 1,74 nghìn tỷUSD)
Mặc dù Trung Quốc đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện của WTO, thậm chí mộtvài điều kiện còn được thỏa mãn trước thời hạn, nhưng chỉ là những điều kiện có lợicho phía Trung Quốc Cơ hội các dòng hàng ngoại nhập như ôtô, công nghệ cao,hoặc may mặc, nông sản xâm nhập vào thị trường trung quốc vẫn còn bỏ ngỏ và làniềm hy vọng cho nhiều thị trường XK có khả năng
Thông qua quá trình thực hiện chính sách cải cách thuế NK, chúng ta có thểnhận thấy một số nét chính về định hướng thay đổi của Trung Quốc trong giai đoạnvừa qua:
- Chính sách cắt giảm thuế suất NK của Trung Quốc có lợi cho các doanhnghiệp nội địa trong việc thu hút khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại từ các quốcgia bên ngoài
- Giảm thuế suất để tạo điều kiện thu hút nhiên, nguyên, vật liệu trong nướckhông đủ khả năng cung cấp hoặc gây ảnh hưởng đến vấn đề môi trường
- Cắt giảm thuế suất gắn liền với thúc đẩy nâng cao năng lực cạnh tranh củacác doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề trong nước
Trang 30- Thống nhất chính sách thuế NK và thủ tục hải quan một cách đông bộ; nângcao vai trò kiểm soát của cơ quan Hải quan trong việc thực thi chính sách thuế NK.
Trang 31CHƯƠNG 2: SỰ THAY ĐỔI TRONG CHÍNH SÁCH THUẾ NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM THEO CÁC CAM KẾT GIA NHẬP WTO
2.1 Các cam kết về thuế nhập khẩu của Việt Nam khi gia nhập WTO
Tổng quát, lộ trình giảm thuế NK của Việt Nam sau khi gia nhập WTO có thểđịnh hướng theo ba hướng chính sau:
- Cắt giảm thuế NK theo các Hiệp định tự do hoá theo ngành (bảng 2.2)
- Cắt giảm thuế NK theo từng nhóm ngành hàng chính (theo từng dòng thuếchủ yếu) (bảng 2.3)
- Cắt giảm thuế suất có chọn lọc theo nhóm mặt hàng chính (bảng 2.4)
Bảng 2.1: Diễn giải mức thuế NK bình quân Việt Nam
Chung toàn biểu 17,4 17,2 13,2
(Nguồn: Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị phổ biến các cam kết WTO
của Việt Nam tháng 11 năm 2006, Hà Nội)
Biểu thuế hiện hành (MFN) tại thời điểm gia nhập có mức thuế bình quân là17,2 % và các dòng hàng có mức thuế suất từ 0 - 5% chiếm tỉ trọng xấp xỉ một nửa.Như vậy, Việt Nam đã ràng buộc 100% biểu thuế và 90% kim ngạch NK hàng năm
là phạm vi mở cửa để gia nhập WTO thông qua cam kết giảm 30% so với mức thuếhiện hành
Việt Nam cam kết giảm mức thuế NK bình quân chung toàn công nghiệp vànông nghiệp từ mức hiện hành từ 17,4% xuống còn 13,2%, thực hiện dần trongvòng 5-7 năm Trong nông nghiệp, mức thuế bình quân hàng nông sản giảm từ23,5% xuống còn 20,9%, thực hiện trong khoảng 5 năm Trong công nghiệp, mứcthuế bình quân giảm từ 16,8% xuống 12,6%, thực hiện trong vòng từ 5 đến 7 nămtùy theo mỗi nhóm hàng
Trang 32Theo Biểu cam kết thuế quan, trong số 10.600 dòng thuế NK Việt Nam phảicắt giảm thuế khoảng 3.800 dòng thuế (chiếm tỷ lệ 35,5%); ràng buộc ở mức thuếhiện hành với khoảng 3.700 dòng (chiếm tỷ lệ 34,5%); ràng buộc theo mức thuếtrần –với 3.170 dòng thuế (chiếm tỷ lệ 30%) Mức thuế trần cao hơn mức thuế suấthiện hành và chủ yếu được áp dụng đối với các nhóm hàng kim loại, xăng dầu, hoáchất, một số phương tiện vận tải Mức cắt giảm thuế NK có biên độ, từ 2% đến63,2%, tùy thuộc từng ngành khác nhau Việc cắt giảm trên diện rộng sẽ được thựchiện trong vòng 2-3 năm đầu, các năm sau có phạm vi ít hơn và đồng đều hơn.Ngoài ra, 4 mặt hàng gồm: trứng, đường, thuốc lá lá, muối sẽ được áp dụng cơchế hạn ngạch thuế quan Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế suất trong hạn ngạchđối với từng loại hàng hóa là trứng: 40%; đường thô: 25%; đường tinh: 50-60%;thuốc lá lá: 30%; muối ăn: 30% Mức thuế này tương đương với mức thuế MFNhiện hành và thấp hơn nhiều so với mức thuế ngoài hạn ngạch
Ngay khi gia nhập, một số hàng hóa đang được áp thuế suất cao, từ 30% trởlên sẽ được cắt giảm ngay lập tức Những nhóm hàng dệt may, cá và sản phẩm cá,
gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc thiết bị điện-điện tử có cam kết cắt giảmthuế nhiều nhất
Việt Nam cũng cam kết tham gia vào một số Hiệp định tự do hoá theo ngành,bao gồm cả tham gia toàn bộ và tham gia một phần Những ngành mà Việt Namcam kết tham gia đầy đủ là sản phẩm công nghệ thông tin (ITA), dệt may (TXT) vàthiết bị y tế(ME) Những ngành mà Việt Nam tham gia một phần là thiết bị máy baydân dụng (CA), hoá chất (CH) và thiết bị xây dựng Thời gian để thực hiện cam kếtgiảm thuế là từ 3-5 năm Theo đó khoảng 330 mặt hàng thuộc nhóm công nghệthông tin phải có thuế suất 0% sau 3-5 năm, tối đa là sau 7 năm Một số mặt hàngdệt may cũng giảm thuế đáng kể sau khi Việt Nam tham gia Hiệp định dệt may.Thuế suất NK của nhóm hàng vải vóc giảm từ 40% xuống 12%; quần áo từ 50%xuống 20%; sợi từ 20% xuống 5%
Về ITA: Thực tế, việc cắt giảm thuế xuống 0% được thực hiện với khoảng mộtnửa số dòng thuế thuộc diện ITA Các mặt hàng hiện có thuế suất cao, sẽ phải cắtgiảm xuống 0% bao gồm:
Trang 33- Thuỷ tinh để sản xuất chất bán dẫn,
- Băng, đĩa, bộ nhớ, ổ lưu dữ liệu các loại,
- Máy tính, linh kiện và các thiết bị phụ trợ máy tính, màn hình, máy chiếu,
- Điện thoại các loại, máy FAX, thiết bị viễn thông, cáp viễn thông,
- Thiết bị âm thanh dùng trong viễn thông: micro, loa
Bảng 2.2 sẽ đề cập cụ thể về tình hình cam kết theo các Hiệp định tự do hoátheo ngành của Việt nam trong WTO
Bảng 2.2: Các cam kết thực hiện Hiệp định tự do hoá theo ngành (Đơn vị: %)
Hiệp định tự do hoá theo ngành Số dòng thuế T/s MFN
(%)
T/s cam kết cuối cùng (%)
1 HĐ công nghệ thông tin ITA- tham gia 100% 330 5,2 0
2 HĐ hài hoà hoá chất CH- tham gia 81% 1.300/1.600 6,8 4,4
3 HĐ thiết bị máy bay dân dụng CA- tham gia
Ngoài ra, tham gia không đầy đủ một số Hiệp định khác như thiết bị khoa học, thiết bị xây
dựng…
(Nguồn: Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị phổ biến các cam kết WTO
của Việt Nam tháng 11 năm 2006, Hà Nội)
Bảng 2.3: Mức thuế cam kết bình quân theo nhóm ngành hàng chính
(Đơn vị: %)
Nhóm mặt hàng Thuế suất cam kết tại
thời điểm gia nhập
Thuế suất cam kết cắt giảm cuối cùng cho
Trang 3410 Máy móc thiết bị cơ khí 9,2 7,3
11 Máy móc thiết bị điện 13,9 9,5
13 Hàng chế tạo khác 12,9 10,2
(Nguồn: Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị phổ biến các cam kết WTO
của Việt Nam tháng 11 năm 2006, Hà Nội)
Trong lĩnh vực nông nghiệp, mức cam kết của ta là cắt giảm khoảng 10% sovới mức thuế MFN hiện hành, từ 25,2 % vào thời điểm gia nhập xuống còn 21,0%.Mức độ giảm thuế có sự khác nhau giữa các sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm Cácsản phẩm chế biến bị đánh mức thuế NK cao khoảng 40-50% thì thuế suất bị yêucầu giảm lớn hơn so với nông sản thô Những nhóm hàng cụ thể phải cắt giảm thuếsuất nhiều là các loại quả quả ôn đới (táo, nho, đào, lê, kiwi…) và quả có múi (cam,quýt; thịt, sữa, rau, quả chế biến và thực phẩm chế biến Thời gian cắt giảm từ 3-5năm, tức là sẽ bắt đầu giảm từ năm 2007 và hoàn thành vào các năm 2009 – 2012tuỳ theo sản phẩm, với mức giảm bằng nhau cho mỗi năm
Trong lĩnh vực công nghiệp, mức cam kết thuế bình quân vào thời điểm gianhập là 16,1% và mức cắt giảm cuối cùng sẽ là 12,6% Mức cắt giảm đi khoảng23%, phần lớn được thực hiện trong vòng 3 – 7 năm
Tóm lại, mức cắt giảm trung bình của Việt Nam tương thấp hơn so với cácnước đang phát triển và đã phát triển trong vòng đàm phán Uruguay (1994) Tạilĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam cắt giảm 10% trong khi các nước đang phát triển
và đã phát triển cam kết cắt giảm là 30% và 46% Tại lĩnh vực công nghiệp, Việt
Trang 35Nam cắt giảm khoảng 23% trong khi các nước đang phát triển và đã phát triển camkết cắt giảm là 24% và 37%.
Bảng 2.4: Các cam kết cắt giảm thuế NK theo một số nhóm mặt hàng chính
Thuế suất cuối cùng(%)
Thời hạn thực hiện
Thựchiệnngay
Trang 36TT Mặt hàng
Thuế suất Cam kết với WTO MFN(%)
Thuế suất khi gia
Thuế suất cuối
Thời hạn thực
+ Xe dưới 2.500 và những loại khác 90 90 70 7 năm
- Xe tải
+ Loại khác có t/s hiện hành là 80% 80 80 70 7 năm+ Loại khác có t/s hiện hành là 60% 60 60 50 5 năm
- Xe máy
(Nguồn: Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị phổ biến các cam kết WTO
của Việt Nam tháng 11 năm 2006, Hà Nội)
2.2 Sự thay đổi của chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam nhằm thực hiện các cam kết gia nhập WTO
2.2.1 Thuế nhập khẩu của Việt Nam trước năm 2005
2.2.1.1 Từ năm 1986 đến năm 1991
Ngày 29 tháng 12 năm 1987, lần đầu tiên luật thuế NK chính thức được banhành, là một phần của luật “thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch” Tronggiai đoạn này, danh mục hàng hóa nhập còn hạn chế, chưa đến 170 mặt hàng, đượcquản lý chủ yếu bằng các chính sách thuế quan chủ yếu Sau đây là nội dung cơ bảnđược điều chỉnh trong chính sách thuế nhập khẩu đầu tiên:
- Luật thuế XK, NK hàng mậu dịch ban hành năm 1987 là chính sách thuế NKđầu tiên được thể chế hóa bằng văn bản pháp luật Và luật thuế NK này được cơquan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam là Quốc hội thông qua và ban hành
Trang 37Trong luật thuế này, tồn tại sự phân biệt trong chế độ thu thuế đối với hàng mậudịch và hàng phi mậu dịch.
- Đối tượng chịu thuế NK là tất cả hàng hoá được mua bán, trao đổi với nướcngoài, khi NK qua biên giới Việt Nam.(16) Đối tượng chịu thuế này được chia vàonhóm hàng mậu dịch Luật thuế NK năm 1987 không điều chỉnh nhóm hàng hóa phimậu dịch
- Trong luật thuế này, thuế suất chỉ được chia làm 2 mức: thuế suất tối thiểu vàthuế suất phổ thông.(17) Mức thuế suất tối thiểu áp dụng đối với hàng hóa NK từ cácnước có ký kết điều khoản ưu đãi trong quan hệ buôn bán với Việt Nam, thuế suấtphổ thông áp dụng đối với những hàng hóa thuộc trường hợp còn lại Mức thuế suấtthấp nhất là 0% và cao nhất là 60% (18)
- Giá tính thuế đối với hàng hoá NK là giá mua tại cửa khẩu đến, bao gồm cảphí vận tải, phí bảo hiểm được thỏa thuận theo như hợp đồng giao dịch Giá tínhthuế được tính bằng Việt Nam đồng với tỷ giá dùng làm cơ sở để xác định giá tínhthuế do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố.(19)
- Hàng hóa phi mậu dịch trong trường hợp nhập khẩu được áp dụng theo biểuthuế qui định trong biểu thuế hàng hóa với mức thuế suất từ 35% đến 50%
- Trong điều khoản về thủ tục nộp thuế, thời gian và địa điểm nộp thuế NKchưa được xác định rõ ràng Vấn đề kiểm soát hàng hóa và quản lý hoạt động NKgặp nhiều khó khăn Công tác đấu tranh chống buôn lậu và bảo vệ nền sản xuất nộiđịa cũng bị hạn chế
Tóm lại, luật thuế NK năm 1987 là luật thuế NK đầu tiên được Quốc hội banhành thay thế chế độ thu bù chênh lệch ngoại thương trước đây Đây cũng là lần đầutiên, trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, Nhà nước
sử dụng chính sách thuế NK làm công cụ quản lý hoạt động NK , qua đó điều tiết vĩ
mô nền kinh tế quốc dân Vì vậy, Luật thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu hàng mậudịch ban hành năm 1987 còn nhiều bất cập Bất cập lớn nhất của luật thuế NK này
16() Điều 1, chương I, Luật thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu hàng mậu dịch_1987
18() Biểu thuế, chương III, Luật thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu_1987
19() Điều 5, chương II, Luật thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu hàng mậu dịch_1987
Trang 38là sự đơn giản, chưa bao quát đầy đủ các khía cạnh cần xem xét của thuế NK Cùng
đó, biểu thuế suất đi cùng còn quá sơ sài, danh mục hàng hóa chưa đến 200, mô tảhàng hóa thô sơ, thuế suất đơn điệu Tuy nhiên, luật thuế NK 1987 được ban hành
đã một phần hoàn thành mục tiêu tăng cường quản lý các hoạt động NK, góp phầntích cực vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại thương
và 1998
a Thuế nhập khẩu thông qua năm 1991
Ngày 26 tháng 12 năm 1991, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam đã thông qua Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu với những nội dung đã được thayđổi cơ bản như sau:
- Đối tượng điều chỉnh không chỉ là hàng hóa mậu dịch mà còn là hàng hóaphi mậu dịch, được trao đổi buôn bán dưới mọi hình thức NK: tiểu ngạch, chínhngạch, đi thăm thân nhân, đi du lịch…Đối tượng điều chỉnh còn bao gồm cả hànghoá từ khu chế xuất đưa ra thị trường trong nước
- Trong luật thuế nhập khẩu 1987, mới chỉ nhắc đến thuế suất của các mặthàng thuộc thỏa thuận của Việt Nam với các quốc gia khác(20) thì trong luật nhậpkhẩu năm 1991, đã có sự xuất hiện của các điều ước quốc tế Hàng hóa NK theođiều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, có quy định khác về thuế NKthực hiện theo điều ước quốc tế (21)
21() Điều 4, chương I, Luật thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu_1991
Trang 39- Giống như luật thuế ban hành năm 1987, thuế suất cũng chỉ bao gồm thuếsuất ưu đãi và thuế suất thông thường (22)
- Trong biểu thuế NK, dựa trên danh mục HS, danh mục hàng hóa NK đượcxây dựng và sử dụng thay cho danh mục hàng hóa của Hội đồng tương trợ kinh tế.Biểu thuế suất đối với nhóm mặt hàng được Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hànhcòn biểu thuế cụ thể theo từng mặt hàng do Chính phủ ban hành Chính phủ cóquyền điều chỉnh mức thuế suất của từng mặt hàng trong giới hạn khung thuế suấtcho phép của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
- Biểu thuế NK bao gồm 36 mức thuế áp dụng cho hơn 3000 nhóm mặt hàng,
từ 0% đến 200% Điều này làm cơ cấu biểu thuế NK trở nên phức tạp Trong biểuthuế, khoảng 55,8 % tổng danh mục thuế suất dưới 5% Tuy nhiên một số mặt hàngtiêu dùng trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất không hiệu quả bị đánh thuếsuất NK cao và quá cao Tình trạnh buôn lậu trở nên phổ biến và khó có thể kiểmsoát do mức lợi nhuận có được bởi sự chênh lệch giá giữa hàng buôn lậu và hàngchịu thuế NK
- Các vấn đề về miễn thuế, giảm thuế và hoàn thuế được quy định chi tiết hơn;nhiều trường hợp phi mậu dịch được xem xét tới Bên cạnh đó, để thu hút nguồnđầu tư vào một số ngành nghề, luật thuế 1991 có nhắc đến các điều khoản ưu đãithuế NK nhằm khuyến khích đầu tư nước ngoài dành cho các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài, hay hợp tác với nước ngoài trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinhdoanh
- Thời gian và địa điểm nộp thuế đã được quy định rõ ràng cũng như các điềukhoản xử lý vi phạm cũng được liệt kê một cách chi tiết nhằm tránh các trường hợptrốn thuế, buôn lậu… và góp phần giúp cho công tác thu thuế trở lên hợp lý và minhbạch hơn.(23)
b Sửa đổi bổ sung năm 1993
So với luật thuế ban hành năm 1991, Luật thuế NK sửa đổi bổ sung thôngqua vào năm 1993 có 7 cải cách với mục đích rõ ràng và đơn giản hơn
22() Điều 9, chương III, Luật thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu_1991
23() Chương V, chương VI, Luật thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu_1991
Trang 40- Đối tượng không chịu thuế NK được đơn giản hóa khi chuyển từ 3 trườnghợp xuống còn 2 trường hợp Hàng chuyển khẩu và vận chuyển quá cảnh hoặcmượn đường được gộp chung vào thành một.
- Sửa đổi các điều khoản miễn thuế cho phù hợp với tình hình kinh tế củanước ta trong giai đoạn này cũng như chia nhỏ các trường hợp để minh bạch và rõràng trong vấn đề ưu đãi, tránh trường hợp gian lận thuế
- Phạt do nộp muộn thuế giảm từ 0,5% xuống còn 0,2% nhằm khuyến khíchhoạt động ngoại thương mở rộng và phát triển
- Sửa đổi các chữ "Hội đồng Nhà nước" được sửa đổi thành các chữ "Uỷ banthường vụ Quốc hội" và các chữ "Hội đồng bộ trưởng" được sửa đổi thành các chữ
"Chính phủ" do sự thay đổi của cơ chế nhà nước
Sự thay đổi trong Luật thuế NK năm 1993 là kết quả cần thiết của sự điềuchỉnh của nền kinh tế cũng như thay đổi của cơ chế nhà nước Số doanh nghiệp tưnhân tham gia vào hoạt động NK ngày càng tăng, hoạt động NK ngày càng phứctạp Sửa đổi Luật thuế NK năm 1991 cũng là bước đầu trong quá trình cải cách thuếcủa nước ta trong quá trình 15 năm cải cách thuế và là tiền đề cho lần cải cách tiếptheo diễn ra vào năm 1998
c Sửa đổi bổ sung năm 1998
Đến năm 1998, Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiện chính sách tổ chức và quản lýhoạt động NK đặt ra từ thời kỳ 1992-1995 Tuy nhiên, nước ta đã bắt đầu ký kết vàthực hiện các cam kết quốc tế song phương, đa phương nhằm đẩy mạnh quan hệkinh tế với trên 140 nước và vùng lãnh thổ Các cam kết chủ yếu mang tính khu vực
và liên khu vực Vì vậy yếu tố khu vực, quốc tế được nhấn mạnh và đề cập đến mộtcách rõ ràng hơn Cụ thể, có 6 điểm sửa đổi trong luật thuế NK năm 1998 như sau:
- Thuế suất NK thay vì phân chia thành thuế suất thông thường và thuế suất ưu
đãi thì được phân chia thành thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi và thuế suất
ưu đãi đặc biệt Thuế suất ưu đãi được chia làm hai loại là thuế suất ưu đãi cho cácnước cùng Việt Nam có ký hiệp định MFN và thuế suất ưu đãi đặc biệt cho cácnước cùng Việt Nam có thỏa thuận đặc biệt về thuế quan Điều này tạo điều kiệncho Việt Nam thuận lợi hơn trong quá trình hợp tác kinh tế quốc tế và tham gia