Trong điều kiện hạn chế về thời gian, mục tiêu nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong phạm vi: Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm cho môn học lý thuyết và xây dựng bộ công cụ đánh giá k
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NINH VŨ KHA
XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ MÔN KỸ THUẬT PHAY TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP NGHỀ CẮT GỌT KIM LOẠI Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
VIỆT NAM SINGAPORE
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401
S KC 0 0 4 0 2 0
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA SƯ PHẠM KỸ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NINH VŨ KHA
XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ MÔN KỸ THUẬT PHAY
TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP NGHỀ CẮT GỌT KIM LOẠI
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT NAM SINGAPORE
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401
TP Hồ Chí Minh – 7/2013
Trang 3LÝ LỊCH KHOA HỌC
I LÝ LỊCH TRÍCH NGANG
Họ và tên: Ninh Vũ Kha Giới tính: Nam
Ngày sinh: 25/05/984 Nơi sinh: Tân Uyên, Bình Dương
Nguyên quán: Tân Uyên, Bình Dương Dân tộc: Kinh
Nơi ở: Tân Vĩnh Hiệp, Tân Uyên, Bình Dương
Cơ quan đang công tác: Trường cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore
Điện thoại: 01222358060 Email: gianthienly1184@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Nơi học: Trường Đại học sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh
Ngành học: Cơ khí chế tạo
Thời gian học: 2006-2008 Hệ đào tạo: Chính quy
Luận án tốt nghiệp: Thiết kế hệ thống bơm mực in tự động
Nơi tốt nghiệp: Trường ĐH spkt Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn: Nguyễn Văn Sâm
III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC
9/2008-9/2009 Cty TNHH Tatung Nhân Viên
9/2009-nay Trường Cao đẳng nghề Việt
Nam Singapore
Giáo viên
Xác nhận của cơ quan Ngày tháng…năm2013
Người khai ký tên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình thực hiện của riêng cá nhân tôi,
các tài liệu sử dụng trong luận văn này đã được ghi trích dẫn đầy đủ tên tác giả
và tác phẩm Các dữ liệu, số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn Ninh Vũ Kha
Trang 5
LỜI CÁM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Khoa Sư Phạm Kỹ Thuật, phòng Đào tạo – Bộ phận sau đại học và trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP
Hồ Chí Minh đã cho tôi một môi trường lý tưởng để học tập và
trưởng thành, đặc biệt quý Thầy Cô giảng dạy lớp Cao học khóa
19B thời gian qua đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn suốt thời gian
Cảm ơn quý Thầy Cô khoa Sư phạm kỹ thuật trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật TP HCM đã có những ý kiến đóng góp quý báu,
đồng thời đã giúp đỡ, tư vấn cho tôi những thông tin, tư liệu quý giá
để hoàn chỉnh luận văn
Xin gởi lời cảm ơn đến lãnh đạo trường Cao đẳng nghề Việt Nam Singapore cùng toàn thể giáo viên khoa Cơ khí Chế tạo và các
em học sinh trong hai lớp thực nghiệm đã giúp đỡ, đồng hành và
tham gia trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn
Cảm ơn tất cả những thành viên trong lớp cao học Giáo Dục Học khóa 19B đã đem đến cho tôi những cơ hội tuyệt vời để học tập
và chia sẻ Đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn
thành đề tài
NINH VŨ KHA
Trang 6TÓM TẮT
Trong những năm gần đây, trắc nghiệm khách quan đang ngày càng được
quan tâm và được sử dụng phổ biến trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
học sinh trong Giáo dục nói chung và trong Giáo dục Nghề nghiệp nói riêng Bên
cạnh đó, để nâng cao chất lượng đào tạo trong Giáo dục Nghề nghiệp thì năng lực
nghề nghiệp của người học cần được đánh giá theo những tiêu chí nhất định dựa
trên tiêu chuẩn kỹ năng nghề Với cách tiếp cận như trên, người nghiên cứu thực
hiện luận văn tốt nghiệp với tên đề tài: “Xây dựng bộ câu hỏi kiểm tra, đánh giá
cho môn học Kỹ Thuật Phay trình độ trung cấp nghề cắt gọt kim loại tại trường
cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore”
Trong điều kiện hạn chế về thời gian, mục tiêu nghiên cứu của đề tài được giới
hạn trong phạm vi: Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm cho môn học lý thuyết và xây
dựng bộ công cụ đánh giá kỹ năng (bảng kiểm) cho môn học thực hành
Nội dung chính của đề tài gồm có 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề tài Chương này có 3 nội dung:
- Đại cương về kiểm tra đánh giá
- Cơ sở xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm cho môn học lý thuyết
- Cơ sở xây dựng bộ công cụ đánh giá kỹ năng cho môn học thực hành
Chương 2: Cơ sở thực tiển của đề tài Chương này có nội dung:
- Giới thiệu Trường cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore
- Giới thiệu chương trình, nội dung môn học
- Thực trạng vấn đề kiểm tra đánh giá môn học
Chương 3: Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm cho môn học Kỹ Thuật Phay
Chương này gồm 2 nội dung:
- Giới thiệu môn học lý thuyết Kỹ Thuật Phay
- Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm cho môn học
Chương 4: Xây dựng bộ công cụ đánh giá kỹ năng (checklist) cho môn học thực hành
Chương này gồm 2 nội dung:
Trang 7- Giới thiệu môn học thực tập Kỹ Thuật Phay
- Xây dựng bộ công cụ đánh giá kỹ năng (checklist) cho môn học
Kết quả nghiên cứu của đề tài:
Qua quá trình thực hiện, đề tài đã đạt được những kết quả sau:
- Biên soạn được 297 câu hỏi trắc nghiệm được sắp xếp thành 4 hình thức câu trắc nghiệm Thông qua phương pháp nghiên cứu lấy ý kiến chuyên
gia, phân tích và thử nghiệm, các câu hỏi trong bộ câu hỏi trắc nghiệm đã đảm
bảo những tiêu chuẩn về nội dung cũng như hình thức của câu trắc nghiệm
- Biên soạn được 22 bảng kiểm đánh giá quy trình (checklist) cho môn học thực hành Thông qua phương pháp nghiên cứu tham khảo ý kiến các
chuyên gia trong nghề Cắt gọt kim loại, thì các bảng kiểm này đã đảm bảo
những tiêu chí đánh giá theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề
ABSTRACT
In recent years, objective test question has been increasingly interested in
and commonly used for testing and evaluating the learning outcomes of students in
education in general and professional education in particular Additional , in order
to improve of the training quality in vocational education, the professional capacity
of the learners should be assessed according to skills standards With the above
approach, the author has chosen the thesis with the title:"Building the set of test
questions and skill evaluation tools for subject of technical milling of Vocational
level at Vietnam – Singapore Vocational College City” Xây dựng bộ câu hỏi
kiểm tra, đánh giá cho môn học Kỹ Thuật Phay tại trường cao đẳng nghề Việt
Nam- Singapore
For a limited time, the author concentrated on creating the data of test
questions for the theoretical subject and skill evaluation tools (checklist) for
subject of practical skills
The main content of the thesis includes three chapters:
Chapter 1: The theoretical basis for the research problem
Trang 8This chapter has three contents:
- A basic of test and evaluation in brief
- A rationale for buiding objective test questions for theoretical subject
- A rationale for buiding skill evaluation tools for practical subject
Chapter 2: Buiding the test questions and evaluation questions for the subject of
Technical Milling
This chapter has two contents:
- Introducing the theoretical subject of Technical Milling
- Buiding the test questions for the subject
Chapter 3: The practical basic:
- Introduction to the Vietnam – Singapore Vocational College
- Introducing to the program subjects
- The reality of the test and evaluate method subject
Chapter 4: Building the skill evaluation tools (checklist) for practical subjects This
chapter includes two contents
- Introducing practical jubject of Technical Milling
- Buiding the skill evaluation tool (checklist) for the subject
Results of project:
During the research, I have achieved the following results:
- Compiled 297 questions are arranged into four type of test questions
After consulting experts and testing, objective test questions meet the
standards in both content and form
- Compiled 22 checklists for evaluating skills of practical subject After
consulting experts in industrial sewing, skill evaluation tools satisfy the
standards in both content and form
Trang 9MỤC LỤC
Quyết định giao để tài
Lý lịch khoa học ii
Lời cam đoan iii
Lời cám ơn iii
Tóm tắt iv
Mục lục vii
Danh mục bảng xi
Danh mục hình vẽ và sơ đồ xiii
Các chữ viết tắt xiv
PHẦN A: MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục tiêu – nhiệm vụ của đề tài 4
4 Giả thuyết của nghiên cứu 5
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5
6 Phương pháp thực hiện đề tài 5
7 Giới hạn đề tài 6
8 Kế hoạch thực hiện đề tài 6
9 Một số thuật ngữ liên quan đến đề tài 6
PHẦN B: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI I Đại cương về kiểm tra, đánh giá
1.Giới thiệu 10
2 Định nghĩa 10
3 Phân loại 10
4 Ý nghĩa 12
Trang 105 Chức năng 12
6 Những đặc tính của trắc nghiệm khách quan 13
7 Tiêu chí của một bài kiểm tra 14
8 Các nguyên tắc đánh giá 16
II Cơ sở xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm cho môn học lý thuyết 17
1 Đại cương về trắc nghiệm 17
1.1 Khái niệm trắc nghiệm khách quan 17
1.2 Mục đích sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 18
1.3 Các hình thức và nguyên tắc soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm khách
quan 21
1.4 Phân tích câu trắc nghiệm 27
2 Quy trình xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm cho môn học 33
2.1 Phân tích nội dung môn học 33
2.2 Xác định mục tiêu kiểm tra, đánh giá 35
2.3 Lập dàn bài trắc nghiệm 40
2.4 Biên soạn các câu trắc nghiệm 43
2.5 Thi thử và sửa chữa định tính 44
2.6 Xử lý định lượng 44
2.7 Lập ngân hàng câu hỏi cho môn học 45
III Cơ sở xây dựng bộ công cụ đánh giá kỹ năng cho môn học thực hành 45
1 Các lĩnh vực đánh giá kết quả học tập trong đào tạo nghề 45
1.1 Đánh giá kiến thức 45
1.2 Đánh giá kỹ năng 47
1.3 Đánh giá thái độ 49
2 Quy trình xây dựng bộ công cụ đánh giá kỹ năng cho môn thực hành 51
2.1 Khái niệm đánh giá kỹ năng trong dạy học 51
2.2 Quy trình xây dựng bộ công cụ đánh giá kỹ năng cho môn thực hành 51 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỂN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CHO MÔN HỌC KỸ THUẬT PHAY I Giới thiệu về trường cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore 55
Trang 111 Đặc điểm 55
2 Cơ sở vật chất 56
3 Nhiệm vụ 56
4 Ngành nghề đào tạo 57
II Giới thiệu về khoa cơ khí chế tạo 60
III.Thực trạng về vấn đề kiểm tra đánh giá 61
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM CHO MÔN HỌC LÝ THUYẾT KỸ THUẬT PHAY I Giới thiệu môn học lý thuyết Kỹ Thuật Phay 68
1 Vị trí môn học 68
2 Đề cương môn học 70
3 Mục tiêu cụ thể của môn học 74
II Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm cho môn học lý thuyết Kỹ Thuật Phay 77 1 Phân tích nội dung môn học 77
2 Xác định mục tiêu – nội dung kiểm tra, đánh giá 77
3 Lập dàn bài trắc nghiệm 88
4 Biên soạn các câu trắc nghiệm 90
5 Thử nghiệm và lấy ý kiến tham khảo 92
6 Phân tích và đánh giá câu trắc nghiệm 96
7 Lập ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho môn học 106
CHƯƠNG 4: XÂY DỰNG BỘ BẢNG KIỂM ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG CHO MÔN THỰC HÀNH KỸ THUẬT PHAY I Giới thiệu môn học thực hành Kỹ Thuật Phay 109
1 Vị trí môn học 109
2 Đề cương môn học 111
3 Mục tiêu cụ thể của môn học 134
4 Phân tích nghề phay 136
II Xây dựng bộ công cụ đánh giá kỹ năng cho môn học thực hành Kỹ Thuật Phay 139
1 Phân tích nội dung môn học 139
Trang 122 Xác định công việc hay kỹ năng cần đánh giá 139
3 Liệt kê các vật liệu, dụng cụ và thiết bị cần cho việc đánh giá 139
4 Thiết lập các tiêu chuẩn về sự thực hiện các kỹ năng 139
5 Biên soạn công cụ đánh giá kỹ năng cho môn học 141
6 Lấy ý kiến tham khảo về các đề thi đánh giá kỹ năng 142
PHẦN C: KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ I Kết luận 148
II Tự đánh giá những đóng góp của đề tài 148
III Hướng phát triển của đề tài 149
IV Đề xuất 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 13Bảng 2.1 Bảng tỉ lệ % các trường cao đẳng, trung cấp có BCHTN của
Bảng 2.2 Bảng tỉ lệ % sử dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá của
Bảng 2.3 Bảng tỉ lệ % mức độ nhận thức của GV về hiệu quả khi sử
Bảng 2.4
Bảng tỉ lệ % mức độ nhận thức của GV về sự cần thiết của
Bảng 2.5 Nguyên Nhân gây khó khăn khi thực hành môn Kỹ Thuật
Bảng 3.1 Bảng thống kê mục tiêu cụ thể của môn học Kỹ Thuật Phay 74
Bảng 3.2 Bảng phân tích nội dung – xác lập mục tiêu cần kiểm tra
Bảng 3.3 Bảng quy định 2 chiều về nội dung cần kiểm tra theo từng bài 88
Bảng 3.4 Bảng thống kê số lượng mục tiêu ứng với mức độ 90
Bảng 3.5 Bảng thống kê số câu trắc nghiệm theo các hình thức câu trắc
Bảng 3.6 Bảng thống kê các ý kiến tham khảo về bộ câu hỏi trắc
Trang 14Bảng 3.7 Bảng phân bố tần số các câu trắc nghiệm theo độ khó 98
Bảng 3.8 Bảng phân bố tần số các câu trắc nghiệm theo độ phân cách 100
Bảng 3.9 Bảng thống kê các câu hỏi có độ phân cách kém 101
Bảng 3.10 Bảng thống kê số lượng và chất lượng các câu hỏi sau khi
Trang 15DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Các Phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo cách
Hình 2.1 Đội ngũ giáo viên trường cao đẳng nghề Việt Nam-Singapore 50
Hình 2.2 Biểu đồ tỉ lệ %các trường cao đẳng, trung cấp có BCHTN
Hình 2 4 Biểu đồ tỉ lệ % mức độ nhận thức của GV về hiệu quả khi sử
Hình 2.5 Biểu đồ trình bày mức độ cần thiết của bộ câu hỏi trắc
Hình 2.6 Biểu đồ tỉ lệ % nguyên Nhân gây khó khăn khi thực hành
Hình 3.1 Biểu đồ phân bố tỉ lệ các mục tiêu so với các mức độ nhận
Hình 3.4 Biểu đồ phân bố độ phân cách của các câu trắc nghiệm 100
Hình 3.5: Biểu đồ phân bố tỉ lệ các hình thức câu hỏi trắc nghiệm 107
Hình 4.1
Biểu đồ tỉ lệ % mức độ tự tin khi thao tác chuyên môn của học sinh khi có tiêu chí đinh sẵn trong bảng kiểm đánh gía quy trình
146
Trang 16DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 171 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ mới: thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để đáp ứng cho công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước vấn đề đào tạo nguồn nhân lực được đặt lên hàng đầu trong vấn đề nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục nghề nghiệp Bộ lao động và thương binh xã hội tạo đã có những cải cách để nâng cao chất lượng dạy và học Chất lượng dạy và học được kiểm tra đánh giá (KTĐG) bằng nhiều hình thức KTĐG là một khâu quan trọng của quá trình giảng dạy, là khâu mang tính chất quyết định về việc kết luận thành quả của học sinh vì vậy cần được xem xét lựa chọn cách thức kiểm tra đánh giá có tác dụng tích cực nhất KTĐG là một phần không tách rời của quá trình giảng dạy nó kích thích học tập có hiệu quả nhất và
có thể kiểm tra chất lượng của học sinh ở mức độ nào?
Việc kiểm tra kiến thức một cách có hệ thống và toàn diện sẽ cung cấp cho giáo viên có được những thông tin kịp thời và nhiều mặt về diễn biến của quá trình giảng dạy, về khả năng tiếp thu của học sinh tới một thời điểm nhất định của quá trình giảng dạy Vấn đề đặt ra là kiểm tra như thế nào để được phản ánh kịp thời và toàn diện, khách quan và chính xác đến người học và giáo viên
Có nhiều hình thức KTĐG kết quả học tập của học sinh: kiểm tra vấn đáp (kiểm tra miệng trao đổi giữa giáo viên và học sinh), kiểm tra viết,… Trong các hình thức kiểm tra thì trắc nghiệm khách quan là hình thức đáp ứng được yêu cầu của KTĐG nhất Thi trắc nghiệm có độ may rủi thấp hơn rất nhiều so với tự luận Đề thi trắc nghiệm thường bao gồm 50 – 100 câu hỏi nhỏ phủ kín toàn bộ nội dung môn học Vì vậy thí sinh không thể học tủ một số phần nào đó của môn học như khi thi tự luận do
đó kết quả đánh giá sẽ khách quan và chính xác hơn
Bản thân tôi là một giáo viên dạy nghề đảm nhận phụ trách môn Kỹ Thuật Phay, qua nhiều năm tổ chức thi kiểm tra bằng phương pháp tự luận nhận thấy chưa đánh giá phủ kín hết lượng kiến thức mà học sinh có được và còn để rơi vào tình trạng học tủ
Với những lý do trên tôi đã thực hiện đề tài: “Xây dựng bộ câu hỏi kiểm tra -
đánh giá môn học Kỹ Thuật Phay trình độ trung cấp nghề cắt gọt kim loại tại
Trang 18trường cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore” gồm 2 phần chính: Bộ câu hỏi trắc
nghiệm dùng cho việc kiểm tra kiến thức đối với môn học lý thuyết và bộ công cụ đánh giá kỹ năng (bảng kiểm) dùng cho việc kiểm tra - đánh giá kết quả thực hành đối với môn học thực hành
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:
Trong những năm gần đây đã có những luận văn thạc sĩ, công trình nghiên cứu khoa học về việc xây dựng bộ câu hỏi kiểm tra- đánh giá hay những đề tài về xây dựng ngân hàng câu hỏi kiểm tra -đánh giá, điển hình là 3 đề tài nghiên cứu khoa học trong 2 năm gần đây:
2.1 Công trình nghiên cứu khoa học của Nguyễn Thị Danh:
Năm 2012 Nguyễn Thị Danh có công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành
giáo dục học, luận văn thạc sĩ là “Xây dựng ngân hàng câu hỏi kiểm tra đánh giá môn
học vật lý trị liệu- phục hồi chức năng ngoại khoa tại trường Đại học y dược Tp Hồ Chí Minh”
- Tóm tắt công trình nghiên cứu “Xây dựng ngân hàng câu hỏi kiểm tra đánh giá
môn học vật lý trị liệu- phục hồi chức năng ngoại khoa tại trường Đại học y dược Tp
Hồ Chí Minh” chị Nguyễn Thị Danh đã thực hiện Biên soạn được bộ câu hỏi trắc
nghiệm được sắp xếp thành 4 hình thức câu trắc nghiệm Thông qua phương pháp nghiên cứu lấy ý kiến chuyên gia, phân tích và thử nghiệm, các câu hỏi trong bộ câu hỏi trắc nghiệm đã đảm bảo những tiêu chuẩn về nội dung cũng như hình thức của câu trắc nghiệm
- Những mặt làm được của công trình nghiên cứu là xây được bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan
- Những mặt chưa làm của công trình là chưa xây dựng bộ bảng kiểm đánh gía quy trình, phân tích độ khó và độ phân cách của bộ câu hỏi trắc nghiệm chưa cụ thể và chi tiết, chưa nghiên cứu ứng dụng phần mềm quản lý bộ câu hỏi trắc nghiệm
2.2 Công trình nghiên cứu khoa học của Đinh Thị Thu Thủy:
Năm 2012 Chị Đinh Thị Thu Thủy có công trình nghiên cứu khoa học chuyên
ngành giáo dục học, luận văn thạc sĩ là “Xây dựng bộ câu hỏi đánh giá theo chuẩn
kỹ năng cho môn học thực tập kỹ thuật may tại trường cao đẳng kinh tế -kỹ thuật
Trang 19Vinatex Tp HCM”
- Tóm tắt công trình nghiên cứu “Xây dựng bộ câu hỏi đánh giá theo chuẩn kỹ
năng cho môn học thực tập kỹ thuật may tại trường cao đẳng kinh tế -kỹ thuật Vinatex Tp HCM” Chị Đinh Thị Thu Thủy đã thực hiện biên soạn được 40 bảng
kiểm đánh giá quy trình (checklist) theo chuẩn kỹ năng nghề cho môn học thực tập may 1 Thông qua phương pháp nghiên cứu tham khảo ý kiến các chuyên gia trong nghề May công nghiệp, thì các bảng kiểm này đã đảm bảo những tiêu chí đánh giá theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề
- Những mặt làm được của công trình nghiên cứu là bộ bảng kiểm đánh giá quy trình phân tích được độ khó của bộ câu hỏi trong bộ câu hỏi
- Những mặt chưa làm được của công trình là chưa nghiên cứu ứng dụng phần mềm quản lý bộ câu hỏi đánh giá kỹ năng, chưa kết hợp trang thiết bị hổ trợ trong việc tổ chức kiểm tra và đánh giá trên máy tính
2.3 Công trình nghiên cứu khoa học của Lưu Thị Lan Anh:
Năm 2013 Chị Lưu Thị Lan Anh có công trình nghiên cứu khoa học chuyên
ngành lý luận và phương pháp dạy học kỹ thuật, luận văn thạc sĩ là “Xây dựng
ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Dung Sai Kỹ Thuật Đo tại trường
Trung Học Kỹ Thuật Thực Hành thuộc Trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM”
- Tóm tắt công trình nghiên cứu “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Dung Sai Kỹ Thuật Đo tại trường Trung Học Kỹ Thuật Thực Hành thuộc Trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM” Lưu Thị Lan Anh đã thực hiện Biên soạn được 104 câu hỏi trắc nghiệm được sắp xếp thành 4 hình thức câu trắc nghiệm Thông qua phương pháp nghiên cứu lấy ý kiến chuyên gia, phân tích và thử nghiệm, các câu hỏi trong bộ câu hỏi trắc nghiệm đã đảm bảo những tiêu chuẩn về nội dung cũng như hình thức của câu trắc nghiệm
- Những mặt làm được của công trình nghiên cứu là xây được bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho môn Dung Sai Kỹ Thuật Đo tại trường Trung Học Kỹ Thuật Thực Hành thuộc Trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM
- Những mặt chưa làm đươc của công trình là chưa xây dựng bộ bảng kiểm
Trang 20đánh gía quy trình, phân tích độ khó và độ phân cách của bộ câu hỏi trắc nghiệm chưa cụ thể và chi tiết, chưa nghiên cứu ứng dụng phần mềm quản lý bộ câu hỏi trắc nghiệm
Các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên
Có những mặt đã làm được là xây dựng câu hỏi trắc nghiệm đánh giá phần kiến thức hoặc bộ bảng kiểm đánh giá phần kỹ năng nghề có thử nghiệm
Và có chung những mặt chưa làm được là chưa xây dựng được bộ câu hỏi kiểm tra đánh gía cả kiến thức lẫn kỹ năng, phân tích độ khó, độ phân cách của các câu hỏi trắc nghiệm chưa được cụ thể và chi tiết, chưa ứng dụng được phần mềm quản
lý bộ câu hỏi trắc nghiệm
Với đề tài “Xây dựng bộ câu hỏi kiểm tra - đánh giá cho môn học Kỹ Thuật
Phay trình độ trung cấp nghề cắt gọt kim loại tại trường cao đẳng nghề Việt Nam
– Singapore.” Người thực hiện đề tài đã tiến hành kết hợp xây dựng bộ câu hỏi
trắc nghiệm đánh giá phần kiến thức và bộ bảng kiểm đánh giá phần kỹ năng của người học nghề, và đã tiến hành thử nghiệm phân tích độ khó, độ phân cách của các câu hỏi trắc nghiệm thật cụ thể và chi tiết với sự hổ trợ của phần mềm Microsoft Excel, từ đó đều chỉnh và hoàn thiện bộ câu hỏi Bộ câu hỏi kiểm tra- đánh môn Kỹ Thuật Phay trình độ trung cấp nghề cắt gọt kim loại có tính ứng dụng cao trên thực tiễn
3 MỤC TIÊU- NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
3.1 Mục tiêu của đề tài:
Xây dựng bộ câu hỏi kiểm tra - đánh giá cho môn học Kỹ Thuật Phay trình độ trung cấp nghề cắt gọt kim loại tại trường cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore
3.2 Nhiệm vụ đề tài:
Đề tài “Xây dựng bộ câu hỏi kiểm tra - đánh giá cho môn học Kỹ Thuật Phay
trình độ trung cấp nghề cắt gọt kim loại tại trường cao đẳng nghề Việt Nam – Singapore.” thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu cơ sở lý luận để xây dựng bộ câu hỏi kiểm, tra đánh giá
cho môn học Kỹ Thuật Phay
Trang 21- Nhiệm vụ 2: Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm cho môn học Kỹ Thuật Phay
- Nhiệm vụ 3: Xây dựng bộ công cụ đánh giá kỹ năng (bảng kiểm đánh giá quy
trình) cho môn học Kỹ Thuật Phay
4 GIẢ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU:
Nếu áp dụng bộ câu hỏi kiểm tra - đánh giá cho môn học Kỹ Thuật Phay- ngành Cắt gọt kim lọai tại trường cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore thì sẽ góp phần: phục
vụ hiệu quả cho công tác kiểm tra - đánh giá khách quan kết quả học tập môn Kỹ Thuật Phay của học sinh, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở trường Cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Bộ câu hỏi kiểm tra- đánh giá cho môn học Kỹ Thuật Phay
6 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
6.1 Tìm hiểu tài liệu
- Chương trình đào tạo ngành Cắt gọt kim loại
- Mục tiêu, nội dung chương trình môn học Kỹ Thuật Phay
- Các văn bản pháp lý quy định về quy trình xây dựng bộ câu hỏi kiểm tra đánh giá -Thu thập tài liệu trên sách, báo, internet, tìm hiểu thông tin về yêu cầu của các công
ty xí nghiệp, tìm hiểu nội dung của các buổi phỏng vấn việc làm của học sinh và sinh viên tốt nghiệp để lập cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
6.2 Phương pháp thử nghiệm
Trang 22- Các câu hỏi trắc nghiệm khách quan đã được biên thông qua các bài kiểm tra kiểm tra định kỳ
- Bộ công cụ đánh giá kỹ năng được thử nghiệm trong điều kiện thực tế để xác định tính khả thi của bộ công cụ khi áp dụng vào thực tiễn đánh giá
6.3 Phương pháp thống kê, phân tích dữ liệu
Thống kê số liệu với sự hổ trợ của chương trình excel, tổng hợp các số liệu của quá trình thử nghiệm để trên cơ sở đó phân tích các câu trắc nghiệm, các bảng kiểm đánh giá quy trình đồng thời đưa ra kết luận hoặc điều chỉnh nội dung đề tài
6.4 Phương pháp tổng hợp ý kiến chuyên gia
Trao đổi, phát phiếu lấy ý kiến về bộ câu hỏi kiểm tra - đánh giá của những chuyên gia, giáo viên dạy nghề Cắt gọt kim lọai lâu năm
7 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Do thời gian thực hiện đề tài có hạn nên đề tài “ Xây dựng bộ câu hỏi kiểm tra - đánh giá cho môn học Kỹ thuật phay “ thực hiện những nội dung sau:
- Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm cho môn học Lý thuyết Kỹ thuật phay-ngành
cắt gọt kim loại tại trường cao đẳng nghề Việt Nam- Singapore
- Biên soạn bộ công cụ đánh giá kỹ năng gồm một số bảng kiểm đánh giá quy
trình (checklist) cho môn học Thực hành Phay - ngành cắt gọt kim loại tại trường cao
đẳng nghề Việt Nam- Singapore
- Thực hiện thử nghiệm với số lượng 63 học sinh
8 KẾ HOẠCH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
Để hoàn thành đề tài, người thực hiện đã tiến hành qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Thu thập tài liệu, tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài hoàn
thành đề cương cho đề tài
Giai đoạn 2: Viết cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Giai đoạn 3: Phân tích nội dung phần lý thuyết môn Kỹ thuật Phay, biên soạn câu hỏi
Trang 23Giai đoạn 6: Thử nghiệm bộ bảng kiểm đánh giá quy trình
Giai đoạn 7: Viết và hoàn chỉnh luận văn
9 XÁC ĐỊNH MỘT SỐ THUẬT NGỮ CƠ BẢN
9.1 Trắc nghiệm
Trắc nghiệm dịch từ chữ Test, có nguồn gốc Latinh là Testum với nghĩa nguyên
thuỷ là lọ đất sét dùng trong thuật kim đan để thử vàng Năm 1890 nhà tâm lý học Hoa
Kỳ Mack Cattell đưa ra khái niệm trí tuệ trong tác phẩm: Trắc nghiệm trí tuệ đo lường
để chỉ một loại chứng tích tâm lý khác biệt giữa các cá nhân, từ đó trắc nghiệm được hiểu theo nghĩa rộng là dụng cụ, phương tiện, cách thức để khảo sát, đo lường trong tâm lý Trong quá trình phát triển, trắc nghiệm phân chia nhiều loại khác biệt tùy mục đích khảo sát: trắc nghiệm trí thông minh, trắc nghiệm sở thích, trắc nghiệm nhân cách, trắc nghiệm thành tích học tập,…
Theo Giáo sư Trần Bá Hoành, trắc nghiệm trong giáo dục là một phương pháp đo
để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh (chú ý, tưởng tượng, ghi nhớ, thông minh, năng khiếu…) hoặc để kiểm tra - đánh giá một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ của học sinh
Một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái (Behavior) để trả lời cho câu hỏi “Thành tích của cá nhân như thế nào, so sánh với những người khác hay so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ học tập dự kiến”
9.2 Trắc nghiệm kiến thức:
Là cách gọi ngắn gọn của trắc nghiệm thành tích học tập, dùng để kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo (3K) của học sinh về các môn học ở nhà trường
9.3 Kiểm tra
Theo Trần Bá Hoành: Kiểm tra là việc thu thập những dữ liệu, thông tin làm cơ
sở cho việc đánh giá1
Theo Nguyễn Văn Tuấn: Kiểm tra là công cụ để đo mức độ lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kĩ xảo của học người học2
1
Trần Bá Hoành: Đánh giá trong giáo dục NXB Hà Nội, 1996, Tr.15
2 Nguyễn Văn Tuấn: Lí luận dạy học Trường đại học Sư phạm kĩ thuật TPHCM, 2009, Tr.91
Trang 24Theo Nguyễn Chính Thắng: Kiểm tra là giai đoạn kết thúc của quá trình dạy của giáo viên và quá trình học tập của học sinh đối với một môn học nào đó, là một chức năng cơ bản, chủ yếu của quá trình dạy học3
Vậy có thể hiểu: Kiểm tra là công cụ để thu thập dữ liệu, thông tin nhằm đo mức
độ lĩnh hội kiến thức, và hình thành kĩ năng, kĩ xảo của học sinh Đồng thời kiểm tra
là một giai đoạn cơ bản, chủ yếu của quá trình dạy học
9.4 Đánh giá
Theo Trần Bá Hoành: Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp
để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc4
Theo Dương Thiệu Tống: Đánh giá là quá trình thu thập, phân tích và giải thích thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt đến các mục tiêu giảng huấn về phía học sinh Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng (đo lường) hay định tính (quan sát) 5
Theo Nguyễn Văn Tuấn: Đánh giá là xác định mức độ của trình độ kiến thức kỹ năng, kỹ xảo của học sinh6
Theo Nguyễn Chính Thắng: Đánh giá là căn cứ vào các số liệu, thông tin nhận được trong kiểm tra để ước lượng, nhận định, phán đoán và đề xuất các ý kiến nhằm làm cho việc học tập và giảng dạy tốt hơn7
Theo Phan Trọng Ngọ: Đánh giá trong dạy học bao gồm việc thu thập thông tin
về một lĩnh vực nào đó trong dạy học; nhận xét và phán xét đối tượng đó, trên cơ sở đối chiếu các thông tin thu nhận được với các mục tiêu được xác định ban đầu8
9.5 Kiến thức
Là những điều nhận biết được, hoặc qua quá trình trải nghiệm, hoặc nhờ quá trình học tập; hay kiến thức là tổng thể của các tri thức có thể ứng dụng được phù hợp với tình huống một cách nhanh chóng và chính xác Kiến thức được cơ cấu thành hai
3
Nguyễn Chính Thắng: Kiểm tra và đánh giá trong dạy học Trường đại học Mở Bán công TPHCM, Tr.2
4 Trần Bá Hoành: Đánh giá trong giáo dục NXB Hà Nội, 1996, Tr.5
5 Dương Thiệu Tống: Trắc nghiệm & Đo lường thành quả học tập NXB Khoa học xã hội, 1995, Tr.362
6 Nguyễn Văn Tuấn: Lí luận dạy học Trường đại học Sư phạm kĩ thuật TPHCM, 2009, Tr.91
7
Nguyễn Chính Thắng: Kiểm tra và đánh giá trong dạy học Trường đại học Mở Bán công TPHCM, Tr.2
8 Phan Trọng Ngọ: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường NXB Đại học Sư phạm, 2005, Tr.402
Trang 25loại chính: hệ thống những kiến thức được được thể hiện trên các vật mang tri thức như: sách, tài liệu, đĩa mềm, băng video, và có khả năng lan truyền rộng rãi Loại kiến thức thứ hai là kiến thức ngầm chúng được tích lũy trong từng bộ não con người hoặc một tổ chức cần thiết cho việc khai thác và sử dụng kiến thức hiện đã được điển chế hóa Vì vậy quá trình đào tạo là quá trình thực hiện sự phát triển và chuyển hóa lẫn nhau giữa kiến thức ngầm và kiến thức hiện
Kỹ năng là những thuộc tính khác nhau của nhân cách (những đặc điểm của cá nhân) tạo tiền đề cho việc thực hiện thành công những hoạt động nhất định
Người tốt nghiệp một ngành nghề đào tạo thường có thể hành nghề trong một số ngành nghề thực tế; nói một cách khác , một ngành nghề đào tạo thường tương ứng với một số nghề thực tế
9.7 Chuẩn đầu ra ( Learning Outcomes)
“Chuẩn đầu ra là sự khẳng định sinh viên tốt nghiệp làm được những gì
và kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vi cần đạt được của sinh viên” (GS Nguyễn Thiện Nhân)
Chuẩn đầu ra là lời khẳng định của những điều mà chúng ta muốn sinh viên của chúng ta có khả năng làm , biết hoặc hiểu nhờ hoàn thành một khóa đào tạo
9.8 Tiêu chuẩn nghề (Occupation Standards)
Tiêu chuẩn nghề là một tập hợp các quy định về các công việc cần làm và mức
độ cần đạt được trong thực hiện các công việc đó tại chỗ làm việc ở trình độ nghề tương ứng
Tiêu chuẩn nghề là những công bố xác định cụ thể về các kiến thức, kỹ năng và
Trang 26thái độ đòi hỏi người lao động phải có trong một nghề nhất định và về trình độ của sự thực hiện hay năng lực thực hiện (Tiêu chí/Tiêu chuẩn thực hiện) mà người đó phải đạt được để “hành nghề” có kết quả
Trang 27Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
I ĐẠI CƯƠNG VỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
1 Giới thiệu:
Kiểm tra và đánh giá là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học
Kiểm tra - đánh giá có mối liên hệ khăng khít với nhau, trong đó kiểm tra là phương tiện còn đánh giá là mục đích, không thể đánh giá mà không dựa vào kiểm tra Thi là một hình thức kiểm tra có tầm quan trọng đặc biệt và cho điểm là dạng đánh giá phổ biến xác định bằng định lượng trình độ của học sinh
2 Định nghĩa:
Kiểm tra: Kiểm tra: là công cụ hay phương tiện để đo lường trình độ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh
Đánh giá: là một khái niệm nhằm xác định mức độ của trình độ của học sinh
- Mối quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá: Kiểm tra - Đánh giá có mối liên
hệ khăng khít với nhau Kiểm tra là phương tiện của đánh giá Đánh giá là mục đích của kiểm tra Mục đích đánh giá quyết định nội dung và hình thức của kiểm tra
- Không thể đánh giá mà không dựa vào kiểm tra Thi là một hình thức kiểm tra có tầm quan trọng đặc biệt, cho điểm là dạng đánh giá phổ biến nhằm xác định trình độ của học sinh
3 Phân loại:
Kiểm tra kết quả học tập được thực hiện ở tất cả các khâu của quá trình dạy học Do đó các phương pháp kiểm tra - đánh giá cũng là những phương pháp dạy học nhưng chúng được sử dụng ở giai đoạn giảng dạy khi giáo viên có đầy đủ căn cứ để yêu cầu học sinh báo cáo lại sự lĩnh hội tài liệu đã học và đánh giá trình độ lĩnh hội tài liệu của từng học sinh
Có hai hình thức kiểm tra và đánh giá là kiểm tra - đánh giá hình thành và kiểm tra - đánh giá tổng kết kiểm tra - đánh giá hình thành là kiểm tra đánh giá dựa trên cơ sở sự hình thành kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong học tập và tạo ra động lực
Trang 28phát triển Đó là sự phản hồi nhanh để kịp thời sửa chữa ở mỗi giai đoạn cần thiết của
sự phát triển trong suốt quá trình học tập
Kiểm tra - đánh giá hình thành là kiểm tra - đánh giá từng bước một cách chính thức để cung cấp số liệu chứng minh sự mạnh, yếu và quyết định làm gì để phù hợp với chương trình đào tạo
Kiểm tra - đánh giá hình thành có thể được thực hiện một cách thường xuyên ngay trong quá trình học bài mới hay vận dụng kiến thức đã học, một cách định kỳ sau mỗi chương, học phần hay học kỳ
Kiểm tra - đánh giá tổng kết được thực hiện vào cuối năm học, cuối môn học
Cả hai hình thức kiểm tra - đánh giá này người ta thường dùng các phương pháp chung sau:
+ Phương pháp quan sát thường xuyên và có hệ thống
+ Phương pháp kiểm tra miệng
+ Phương pháp kiểm tra viết
+ Phương pháp kiểm tra - đánh giá những công việc thực hành
Có nhiều phương pháp cụ thể và công cụ để tiến hành kiểm tra - đánh giá ở trường Đại học như làm bài tập, ghi nhật ký, viết đề án nhỏ, thảo luận với cá nhân, kiểm tra mở sách, giải quyết vấn đề, trắc nghiệm lựa chọn đa phương án, phiếu thăm
dò, phiếu tự đánh giá…
Trang 29Sơ đồ 1.1: Các Phương pháp kiểm tra -đánh giá kết quả học tập theo cách thực
hiện việc đánh giá
5 Chức năng: Gồm có 3 chức năng sau: So sánh, phản hồi, dự đoán
- Chức năng so sánh: Giữa mục đích yêu cầu (MĐYC) đề ra với kết quả thực
hiện được Nếu không có kiểm tra và đánh giá thì không có dữ kiện, số liệu xác thực
để so sánh kết quả nhận được vơí MĐYC
- Chức năng phản hồi: Hình thành mối liên hệ nghịch (trong và ngoài) Nhờ có chức năng này người giáo viên dần dần điều chỉnh quá trình dạy học ngày một tối ưu
CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA- ĐÁNH GIÁ
TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
Objective tests
TỰ LUẬN Essay tests
Trang 306 Những đặc tính của trắc nghiệm khách quan
Một trắc nghiệm tốt phải có đặc 2 tính sau9
:
6.1 Đặc tính thiết kế tốt: tức là được thiết kế theo đúng quy trình và tuân thủ các
nguyên tắc thiết kế Những đặc tính thiết kế thường liên quan đến giai đoạn phác thảo thiết kế trắc nghiệm Do vậy ngay khi bắt đầu xây dựng, người thiết
kế phải tính đến có những khả năng nào để tạo ra các đặc tính này Theo các chuyên gia thiết kế trắc nghiệm, có bốn đặc tính cơ bản của một trắc nghiệm
được thiết kế tốt:
6.1.1 Có mục đích được xác định rõ ràng: để xác định rõ mục đích đo
lường, từng mục tiêu cụ thể, người thiết kế trắc nghiệm phải trả lời các câu hỏi: Test này được thiết kế để đo cái gì? Ai sẽ làm test này? Điểm của test được sử dụng như thế nào? Câu hỏi đầu tiên liên quan đến mục tiêu đo lường không chỉ của cả phép đo mà còn của từng câu hỏi, liên quan đến cấu trúc phép đo, miền đo… Câu hỏi thứ ba liên quan đến các kiểu câu hỏi, đến các hình thức cho điểm…
6.1.2 Có nội dung đo lường cụ thể và được chuẩn hóa: đây chính là sự cụ
thể hóa các miền đo, cụ thể hóa các chỉ số đo, cụ thể hóa nội dung đo lường của từng câu hỏi Từng câu hỏi chỉ đo một nội dung rất cụ thể, ở một phạm vi rất hẹp, nhưng tất cả các câu hỏi được lựa chọn phải đủ rộng bao quát khắp miền đo, phải được người làm test biết hoặc hiểu ở mức có thể… Nội dung phải được chuẩn hóa có nghĩa là tất cả những người làm test đều được đo lường trên cùng một vấn đề, cùng một nội dung, trên từng nội dung cụ thể cùng hiểu theo một cách thống nhất với người thiết kế
6.1.3 Có cách thức làm test được chuẩn hóa: tức là có sự thống nhất cách
hướng dẫn, cách giải đáp thắc mắc như nhau cho mọi nghiệm thể Trong mọi trường hợp, tất cả các nghiệm thể phải nhận được sự hướng dẫn cách làm như nhau
6.1.4 Cách cho điểm được chuẩn hóa: Thủ tục cho điểm phải giống nhau với
tất cả các nghiệm thể Những trắc nghiệm dạng chủ quan hay khách
9 Nguyễn Công Khanh: Đánh giá và đo lường trong khoa học xã hội NXB Chính trị quốc gia, 2004, Tr.36
Trang 31quan phải thống nhất cách cho điểm theo các phạm trù, mức độ… có
sự giải thích chi tiết, thống nhất để sao cho điểm số trắc nghiệm có
“nhiều nhất” tính khách quan
6.2 Đặc tính đo lường tốt: tức là được đánh giá về độ tin cậy, độ hiệu lực xem
thực tế nó có đưa ra được những thông tin chính xác, phù hợp với mục tiêu đo
lường và những thông tin đó có nhiều lợi ích hay không?
Trái với những đặc tính thiết kế được xác định ngay từ giai đoạn đầu của quá trình thiết kế phép đo đạc, tính đo lường của công cụ thường liên quan đến các giai đoạn sau: đo trên mẫu thử và thử trên các nhóm mẫu khác nhau và đo trên mẫu chính thức để đánh giá độ tin cậy, độ hiệu lực và đánh giá các đặc tính của từng câu hỏi (độ khó, độ phân biệt, tính đại diện, tính hiệu lực…)
Các đặc tính đo lường không chỉ phụ thuộc vào các đặc tính thiết kế, mà còn phụ thuộc đáng kể vào các đặc tính của mẫu (như độ lớn của mẫu, tính đại diện của mẫu…) Mặt khác, các đặc tính đo lường còn phụ thuộc vào các phép toán thống
kê được dùng để phân tích kiểm định độ tin cậy, độ hiệu lực (phải thỏa mãn các điều kiện khi sử dụng một phép toán thống kê nào đó…)
7 Các tiêu chuẩn của một bài kiểm tra
Trong quá trình dạy của giáo viên và quá trình học tập của hoc sinh, kiểm tra được xem như là phương tiện thường dùng của giáo viên để đánh giá kết quả học tập của người học Một bài kiểm tra cần phải có 3 tiêu chuẩn: tính giá trị, tính tin cậy và tính dễ sử dụng
+ Nội dung kiểm tra: cần phải phù hợp và bao quát được các phần quan trọng của giáo trình, sách giáo khoa và bài giảng của giáo viên
+ Sự nhất trí nội tại của bài kiểm tra: cần phải thể hiện sự liên hệ nhất quán
Trang 32của các câu hỏi trong toàn bài kiểm tra Câu hỏi có giá trị phải có sự phân biệt được sự khác biệt giữa học sinh giỏi và học sinh kém
+ Sự so sánh các tiêu chuẩn ngoại lai: Sau quá trình học tập, kết quả kiểm tra cho thấy có sự phù hợp với các kết quả đánh giá khác với đối tượng tương tự
+ Các yếu tố ảnh hưởng ngoại lai khi người học làm bài
+ Sự khách quan của người chấm thể hiện ở điểm số ổn định, không phụ thuộc vào người chấm bài kiểm tra
7.3 Tính dễ sử dụng
Bài kiểm tra dễ sử dụng thể hiện ở 3 yếu tố :
- Hình thức tổ chức quá trình kiểm tra: Bài kiểm tra phải được giáo viên biên soạn rõ ràng, không mơ hồ, tránh được những yếu tố lệch lạc khi người học làm bài kiểm tra, phải có hướng dẫn rõ ràng, ghi thời gian làm bài, các điểm số và tài liệu được sử dụng (nếu có)
- Dễ chấm: Bài kiểm tra phải được cấu trúc thang điểm hợp lý, rõ ràng để việc chấm bài của giáo viên được thuận tiện và dễ dàng và để nâng cao mức tin cậy của bài kiểm tra
- Ít tốn kém: để thực hiện tổ chức một bài kiểm tra, các yếu tố như không gian, thời gian làm bài, chấm bài cũng như thời gian soạn đề và phương tiện liên hệ phải được giảm thiểu Tuy nhiên việc tiết kiệm này không ảnh hưởng đến tính chất đáng tin cậy và có giá trị của bài kiểm tra Sự tiết kiệm đúng đắn không rời mức độ thỏa mãn mục đích của bài kiểm tra
8 Các nguyên tắc đánh giá
8.1 Khách quan
- Việc đánh giá không có tình cảm thiên vị cá nhân và các yếu tố ngoại lai xen
Trang 33vào kết quả điểm số của bài kiểm tra
- Phù hợp với trình độ thực tế của người học
- Để đạt được nguyên tắc này trong quá trình đánh giá thì chúng ta phải xác định chính xác đối với việc đánh giá Bài kiểm tra nhằm mục đích khảo sát mức
độ lĩnh hội kiến thức, mức độ rèn luyện kỹ năng, hình thành kỹ xảo của người học thì việc đánh giá phải theo sát mục tiêu đã được đề ra
8.2 Dựa vào mục tiêu dạy học
- Mục tiêu dạy học là yếu mà giáo viên đã xác định từ lúc khởi điểm của một chương trình giảng dạy của giáo viên và học tập của người học
- Việc đánh giá là xem xét, tổng kết lại kết quả các mục tiêu đã đạt được đến mức độ nào Do đó đánh thì phải lấy mục tiêu dạy học làm chuẩn
- Mục tiêu giáo dục này, người giáo viên không tùy tiện đặt ra
8.4 Đánh giá phải thường xuyên và có kế hoạch
- Sự lĩnh hội kiến thức, sự rèn luyện kỹ năng, và việc hình hành kỹ xảo ở người học cũng như mọi hoạt động thường xuyên của con người đều vận động và phát triển không ngừng Do đó kết quả đánh giá chỉ có giá trị thực sự ngay trong thời điểm đánh giá Chính vì vậy, việc đánh giá chính xác, phải thực hiện thường xuyên trong suốt quá trình học tập với nhiều dạng khác nhau
- Việc đánh giá mức độ lĩnh hội của người học phải có kế hoạch, phải được nghiên cứu thời gian và hình thức tổ chức kiểm tra phù hợp
8.5 Đánh giá nhằm cải tiến phương pháp giảng dạy, hoàn chỉnh chương trình học
Dựa vào những kết qủa của việc kiểm tra và đánh giá, giáo viên và các cơ sở
Trang 34giáo dục tìm hiểu những tác nhân đưa đến kết quả để phát huy những ưu điểm, khắc phục những nhược điểm, cải tiến và cập nhật những thông tin mới, những phương pháp giảng dạy mới để kịp thời sửa đổi và bổ xung những chương trình học tập phù hợp với mục tiêu đào tạo và những yêu cầu cấp thiết của các công ty, doanh nghiệp
đang đặt ra
II CƠ SỞ XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM CHO MÔN HỌC LÝ THUYẾT
1 Đại cương về trắc nghiệm
1.1 Khái niệm trắc nghiệm
Trắc nghiệm là một dụng cụ hay một phương thức hệ thống nhằm đo lường một
mẫu các động thái để trả lời cho câu hỏi “Thành tích của cá nhân như thế nào, so sánh
với những người khác hay so với một lĩnh vực các nhiệm vụ học tập được dự kiến?”10
Theo Giáo sư Trần Bá Hoành11, trắc nghiệm trong giáo dục là một phương pháp
đo để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh (chú ý, tưởng tượng, ghi nhớ, thông minh, năng khiếu…) hoặc để kiểm tra - đánh giá một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ của học sinh
Theo Giáo sư Lâm Quang Thiệp, trắc nghiệm là phương pháp dùng để lượng giá
trong giáo dục Trắc nghiệm có các dạng thức sau đây: trắc nghiệm thành quả để đo lường mức độ học được sau một thời kỳ giảng dạy nào đó; trắc nghiệm năng khiếu để
dự báo việc thực hiện của một người trong tương lai, bao gồm việc giải quyết các vấn
đề nằm bên ngoài sự trải nghiệm trực tiếp của người học Phương pháp trắc nghiệm có thể là khách quan có thể là chủ quan
Theo Giáo sư Dương Thiệu Tống12 thì theo nghĩa chữ Hán khi đề cập đến từ trắc
nghiệm có nghĩa là đo lường, chứng thực hay suy xét về vấn đề nào đó Theo nghĩa
này thì trắc nghiệm bao gồm cả hình thức kiểm tra loại luận đề (còn gọi là trắc nghiệm loại luận đề) và trắc nghiệm khách quan Để cho dễ dàng phân biệt giữa hai hình thức kiểm tra này cũng theo tác giả Dương Thiệu Tống thì sử dụng từ “luận đề” (tức là loại trắc nghiệm luận đề) và “trắc nghiệm” (tức là loại trắc nghiệm khách quan)
10
Dương Thiệu Tống (2005): Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập Nxb Khoa học Xã hội, Tr.364
11 Trần Bá Hoành (1995): Đánh giá trong giáo dục Tài liệu dùng cho các trường đại học và Sư Phạm và Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, tr 36
12 Dương Thiệu Tống (2005): Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập Nxb Khoa học Xã hội, Tr.13-14
Trang 35Cho đến nay, người ta thường hiểu bài trắc nghiệm là một phương pháp kiểm tra khách quan gồm những bài tập nhỏ hoặc câu hỏi có kèm theo những câu trả lời sẵn, yêu cầu học sinh sau khi suy nghĩ, dùng một ký hiệu đơn giản đã quy ước để trả lời
1.2 Mục đích sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm
Khi nói đến trắc nghiệm thì người ta thường nghĩ đến việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra trình độ của người học, ít người nghĩ đến những mục đích khác của trắc nghiệm Theo tác giả Lê Đức Ngọc13 câu hỏi trắc nghiệm được sử dụng với ba mục đích chính là để giảng dạy, để học tập và để kiểm tra và đánh giá Ba mục đích
trên có thể được hiểu như sau:
Sử dụng để giảng dạy
Trong việc giảng dạy thì ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm có thể được dùng để:
- Cải tiến phương pháp giảng dạy: sử dụng các câu hỏi cho học sinh chuẩn bị
ở nhà, thảo luận và trao đổi kiến thức trên lớp, phụ đạo và hướng dẫn cách học Làm tăng hứng thú học tập cho người học vì được đối thoại, tránh độc thoại
- Chuẩn hóa kiến thức môn học: các giảng viên mới tốt nghiệp, các giảng viên khác nhau có thể có sự truyền thụ khác nhau đến người học và dẫn đến sự tiếp thu khác nhau ở người học, nhưng khi dạy theo ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm sẽ cho kết quả tiếp thu nội dung môn học của người học là như nhau Tránh dạy tùy tiện, lệch lạc trong việc truyền thụ kiến thức
- Dạy nhận thức và tư duy bậc cao: quá trình phân tích, đánh giá và thảo luận các câu hỏi trắc nghiệm tại lớp đã góp phần dạy nhận thức và tư duy bậc cao cho học viên Nhanh chóng rút ngắn khoảng cách giữa thầy già, thầy trẻ vì đều dạy nhận thức bậc cao theo cùng một công cụ là ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Như vậy, trong giảng dạy thì giáo viên mới ra trường lẫn giáo viên đã giảng dạy lâu năm điều có thể sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm như là một công cụ để yêu cầu học sinh tự thu thập thông tin, xử lí thông tin, tìm lời giải đáp để tăng tính tích cực trong quá trình học tập
Sử dụng để học tập
13 Lê Đức Ngọc: Giáo dục đại học phương pháp dạy và học Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.123-126
Trang 36Ngoài việc sử dụng để giảng dạy thì ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm được dùng cho người học trong quá trình học tập
- Ngân hàng câu hỏi trắc nghiêm giúp người học xác định kiến thức chuẩn của môn học cần phải đạt được của môn học Vì khi soạn câu hỏi trắc nghiệm cho một môn học, người biên soạn phải làm theo một quy trình: Người biên soạn đi từ việc xác định mục tiêu của bài học, phân tích nội dung môn học, lập bảng quy định hai chiều…
để thực hiện biên soạn ra những câu trắc nghiệm ứng với từng bài học cho nên những câu trắc nghiệm đó là những câu trắc nghiệm bám theo sát mục tiêu học tập, hay nói cách khác nó là những kiến thức chuẩn của môn học, nếu giải quyết được những câu
đó nghĩa là người học đã lĩnh hội được những kiến thức chuẩn của môn học
- Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm giúp người học có thể tự học tập, tự ôn tập, tự tìm tòi và tự kiểm tra trình độ nhận thức của chính bản thân mình sau một quá trình học tập, và bên cạnh đó người học có thể mở rộng kiến thức qua các tài liệu tham khảo khác nhau mà không nhất thiết phải là những tài liệu do giảng viên giới thiệu trong quá trình học tập Trong quá trình soạn thảo câu trắc nghiệm dùng để học tập thì người soạn trắc nghiệm không chỉ dừng lại ở những kiến thức trong giáo trình mà còn mở rộng thông qua những tài liệu liên quan đến nội dung và mục tiêu của môn học, đào sâu vấn đề do đó để giải quyết được vấn đề đòi hỏi người học phải đi tìm tòi những tài liệu liên quan
- Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm giúp người học có thể tự tổ chức học nhóm học tập riêng lẽ, phân chia theo tổ, hoặc phụ đạo lẫn nhau giữa các học sinh cùng lớp hay khác lớp, và qua đó có thể trao đổi thảo luận các được các quan điểm cá nhân của bản thân, nhận thức được cách giải quyết vấn đề với nhau trên cơ sở các câu hỏi đặt ra
có trong ngân hàng câu hỏi môn học, học phần
Như vậy đối với người học: căn cứ vào ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm của môn
học, học phần để lập kế hoạch tự học và tổ chức học của người học, nhằm lĩnh hội vững chắc nội dung chuẩn xác và đạt mục tiêu môn học yêu cầu
Sử dụng để kiểm tra đánh giá
Việc sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm để đánh giá kết quả học tập của người học, hay để xác định mức độ nhận thức của người học hiện nay được áp dụng
Trang 37khá rộng rãi trong các kỳ thi kết thúc, phần lớn các môn học của một trường học đến một số môn trong các kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học và cả kỳ thi đại học Việc
sử dụng trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá nhằm để:
- Ra đề thi đánh giá tiếp thu môn học của học viên theo năng lực nhận thức và
tư duy mức cao Thực hiện kiểm tra giữa kỳ mà bấy lâu nay phần lớn chưa thực hiện được vì không có thời gian để chấm bài
- Đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên cả về khối lượng lẫn chất lượng giảng dạy môn học, học phần
- Hạn chế tiêu cực trong thi cử Trong một cuộc thi, nếu xây dựng nhiều đề thi bằng cách hoán vị đồng thời thứ tự câu, thứ tự câu đúng và câu nhiễu trong từng câu
và không đánh số thứ tự câu hỏi thi thì học viên không thể bảo nhau làm bài mặc dù các đề thi khác nhau đều hình thành từ cùng một số câu trắc nghiệm khách quan Câu hỏi trắc nghiệm khách quan có thể dùng với ba mục đích nói trên trong đó mục đích thứ ba là sử dụng để kiểm tra đánh giá hiện nay được các nhà giáo và người học biết đến nhiều nhất và cũng được các nhà nghiên cứu về trắc nghiệm quan tâm trong suốt một thời gian dài Còn hai loại trắc nghiệm với mục đích dùng để giảng dạy
và dùng để học tập thì chưa có được sự quan tâm nhiều, nó chỉ trong giai đoạn khởi sự Ngày nay, do nhu cầu tự học ngày càng cao cho nên việc nghiên cứu việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm dùng trong tự học ngày càng mang tính cấp bách Trong đề tài này chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu trắc nghiệm với mục đích chính là xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Phương pháp giảng dạy với sự hỗ trợ của máy tính dành cho việc tự học,
tự kiểm tra của sinh viên
Trắc nghiệm dùng với các mục đích khác nhau đã xuất hịên từ lâu đời, nó đã trải qua quá trình nghiên cứu và phát triển hơn 100 năm qua, để có thể tìm hiểu về sự phát triển của nó, xin giới thiệu sơ lược về lịch sử phát triển của trắc nghiệm
1.3 Các hình thức và nguyên tắc soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm
Trong một bài trắc nghiệm có thể có nhiều hình thức câu trắc nghiệm, nhưng thông dụng nhất là loại trắc nghiệm có nhiều lựa chọn, trắc nghiệm đúng – sai, trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi và trắc nghiệm điền khuyết Hiện nay quy cách biên soạn các loại câu trắc nghiệm này cũng như ưu, nhược điểm, những lưu ý về soạn thảo các hình
Trang 38thức trắc nghiệm này được phổ biến rộng rãi trong các tài liệu viết về trắc nghiệm Do
đó, người nghiên cứu không liệt kê chi tiết lại những nội dung này mà chỉ xin giới thiệu một vài đặc điểm cơ bản trong từng hình thức câu
1.3.1 Loại câu trắc nghiệm đúng – sai
Hình thức trắc nghiệm Đúng - Sai là một câu khẳng định gồm một hoặc nhiều mệnh
đề, học sinh đánh giá nội dung của câu ấy đúng hay sai Học sinh trả lời bằng cách đánh dấu chéo “X” vào phiếu trả lời ở câu thích hợp với ô có câu đúng (A) hoặc đánh dấu chéo vào ô có câu sai (B)
Đối với câu đúng, mọi chi tiết của nội dung trong câu trắc nghiệm phải phù hợp với tri thức khoa học Còn đối với câu sai chỉ cần một chi tiết không phù hợp với tri thức
khoa học thì toàn bộ câu trắc nghiệm đó được đánh giá là sai
Thí dụ ở môn Kỹ thuật phay
Câu 1 Khi tắt trục chính của máy phay, người thợ dùng tay để dừng trục chính
Loại trắc nghiệm này có ưu điểm là dễ soạn thảo, ít mắc sai lầm về kỹ thuật; hình thức trắc nghiệm gọn gàng, ít tốn giấy; ngoại trừ hình vẽ; thời gian trả lời của học sinh khá nhanh - một phút có thể trả lới 3 -4 câu trắc nghiệm
Tuy nhiên nó cũng có một số nhược điểm như xác suất may rủi cao 50%; dễ tiết
Trang 39lộ kết quả trong câu trắc nghiệm; dễ có các câu trắc nghiệm không có giá trị
Quy tắc biên soạn
- Tránh trích nguyên văn câu hỏi từ sách giáo khoa hoặc giáo trình
- Nội dung câu trắc nghiệm S chỉ cần một yếu tố sai Không nên có nhiều yếu
tố sai vì học sinh có cơ hội dễ dàng phát hiện ra câu S
- Nội dung câu Đ hoặc câu S phải chắc chắn dựa vào cơ sở khoa học, không phụ thuộc vào quan điểm riêng của cá nhân
- Tránh dùng các từ mơ hồ, từ tiết lộ kết quả: các từ “thường thường‟‟, “đôi khi‟‟, “ có thể‟‟, “một vài‟‟ thường là câu Đ Còn các từ : “tất cả‟‟, “ không bao giờ‟‟, “luôn luôn‟‟ thường là câu S
- Tránh câu có cấu trúc quá dài gồm nhiều chi tiết phức tạp hay những câu phủ định nhất là phủ định kép
- Trong bài trắc nghiệm, câu đúng và câu sai được sắp xếp một cách ngẫu nhiên, tỉ lệ giữa câu Đ và sai tương đương nhau để giữ kết quả đồng đều khi học sinh đoán mò
1.3.2 Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: Multiple choise question ký hiệu
"mcq"
Đây là loại trắc nghiệm thông dụng nhất Loại này thường có hai phần:
- Phần tiên đề được gọi là phần dẫn hay phần gốc: nội dung phần này là nêu
ra vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu một câu hỏi
- Phần giải đáp hày gọi là phần lựa chọn: phần này gồm các phương án, thường là được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C, D hoặc các số 1, 2, 3, 4 Trong các phương án đã chọn, trong các phương án chỉ có duy nhất một phương án đúng hoặc một phương án đúng nhất còn các phương án khác được đưa vào với tác dụng gây nhiễu, còn gọi là câu mồi Do vậy khi các câu lựa chọn được chuẩn bị tốt thì một người không có kiến thức chắc chắn
về vấn đề đó sẽ không thể nhận biết được trong tất cả các phương án đã chọn đâu là phương án đúng, đâu là phương án nhiễu
Trang 40Trắc nghiệm nhiều lựa chọn có thể đặt dưới dạng hình vẽ
Loại trắc nghiệm này có ưu điểm là xác suất may rủi thấp hơn so với trắc nghiệm
Đ - S Nếu câu trắc nghiệm là 4 lựa chọn thì tỉ lệ may rủi là 25%, nếu có 5 lựa chọn thì
tỷ lệ mai rũi là 20%; phân biệt được một cách khá chính xác học sinh giỏi và học sinh kém
Tuy nhiên nó cũng có một số khuyết điểm là mất nhiều thời gian và công sức để soạn thảo; tốn giấy và mất nhiều thời gian trả lời so với trắc nghiệm Đ – S; học sinh có thể nhận ra câu trả lời đúng trong các mồi nhử; học sinh nào có óc sáng kiến có thể tìm
ra những câu trả lời hay hơn phương án đúng đã cho, nên họ có thể không thỏa mãn hay cảm thấy khó chịu
Quy tắc biên soạn
- Các câu trắc nghiệm phải hoàn toàn độc lập với nhau
- Các trắc nghiệm gồm phần gốc và phần lựa chọn có cấu trúc câu văn gọn gàng, tránh câu quá dài gồm nhiều chi tiết phức tạp làm rối trí học sinh
- Nếu phần gốc là câu lững, thì phần gốc và phần lựa chọn phải ăn khớp với nhau theo đúng cú pháp
- Phần trả lời thường là 4 lựa chọn, thống nhất các câu trong bài trắc nghiệm
- Phần lựa chọn chỉ có một kết quả đúng mà thôi Trường hợp xét các kết quả đều có phần đúng ít nhiều, thì trong phần dẫn phải ghi rõ "hơn cả", "nhất"