1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp

174 500 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, bên cạnh tác động tích cực, XKLĐ còn tồn tại những bất cập, kể cả những điều có thể nhận thấy được như việc tuyển chọn, đào tạo, làm thủ tục trước khi đi lao động ở nước ngoài

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐẶNG NGUYÊN ANH

Trang 2

Lời cảm ơn

Tôi bắt đầu nghiên cứu chủ đề này từ năm 2003, khi thực hiện Đề tài cấp Viện: “Xuất khẩu lao động ở Việt Nam: Một số vấn đề thực tiễn và chính sách”

và quyết định làm luận án tiến sĩ theo chủ đề này khi tham gia cuộc khảo sát

“Tác động của di cƣ lao động đến sức khỏe trẻ em ở Việt Nam” – CHAMPSEA, do tổ chức Wellcome Trust, Vương quốc Anh hỗ trợ tài chính

Đến nay, luận án đã hoàn thành, nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn khoa học, PGS TS Đặng Nguyên Anh, đã tận tình hướng dẫn và góp ý cho tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này trong suốt 5 năm qua Làm việc với thầy, tôi không chỉ được hướng dẫn về kiến thức khoa học, mà còn có

cơ hội hiểu biết nhiều thêm về đạo đức nghề nghiệp của người làm công tác nghiên cứu

Tôi cảm ơn Ban Lãnh đạo Viện Xã hội học, TS Nguyễn Đức Vinh, Trưởng phòng Dân số và Môi trường, người trực tiếp quản lý tôi trong công việc hàng ngày, đã giúp đỡ tôi về chuyên môn, và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án

Xin cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, Khoa Xã hội học, Phòng Quản lý Đào tạo đã làm việc đầy trách nhiệm và hỗ trợ cho tôi hoàn thiện

hồ sơ bảo vệ đúng quy định và hoàn thành chương trình đào tạo đúng thời hạn

Sau cùng, nhưng đặc biệt quan trọng, tôi xin cảm ơn gia đình và những người thân yêu của tôi Sự động viên, khích lệ và những ủng hộ thầm lặng của

họ có giá trị rất lớn, giúp tôi nuôi dưỡng niềm say mê và tập trung hoàn thành

đề tài nghiên cứu này

Hà Nội, tháng 9 năm 2016

Tác giả

Nghiêm Thị Thủy

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy Đặng Nguyên Anh Luận án của tôi có sử dụng cơ sở dữ liệu của đề tài khảo sát: “Tác động của di cư lao động đến sức khỏe trẻ em ở Việt Nam” – CHAMPSEA do PGS.TS Đặng Nguyên Anh làm Chủ nhiệm, mà tôi là một trong những thành viên tham gia trực tiếp vào đề tài ngay từ giai đoạn khởi động nghiên cứu cho đến khi kết thúc đề tài Việc sử dụng số liệu của đề tài để thực hiện luận án này đã được sự đồng ý và khuyến khích của Chủ nhiệm đề tài

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Cục QLLĐNN Cục Quản lý lao động Ngoài nước

TCH và HNQT Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

UNIFEM/ UN Women Tổ chức vì sự tiến bộ của phụ nữ Liên hiệp quốc

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

LỜI CAM ĐOAN iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HỘP ix

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG CHÍNH 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 18

1.1 Lao động nước ngoài và sự thay đổi kinh tế gia đình 18

1.2 Lao động nước ngoài và chăm sóc sức khỏe trẻ em trong gia đình 22

2 Lao động nước ngoài và việc giáo dục, xã hội hóa trẻ em trong gia đình 25

3 Nhận xét sơ bộ và định hướng nghiên cứu 29

Tiểu kết chương I 32

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 33

2.1 Định nghĩa các khái niệm làm việc 33

2.2 Thao tác hóa khái niệm 36

2.3 Các cách tiếp cận lý thuyết 38

2.4 Kinh nghiệm giải quyết vấn đề XKLĐ và chăm sóc trẻ em ở một số nước trong khu vực 48

2.5 Chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam về XKLĐ và chăm sóc trẻ em 59

Tiểu kết chương 2 64

Trang 6

CHƯƠNG 3 BỐ/ MẸ ĐI XKLĐ VÀ SỰ QUAN TÂM CỦA HỌ ĐỐI

VỚI GIA ĐÌNH VÀ CON CÁI Ở NHÀ 65

3.1 Sự tương đồng và khác biệt giữa hộ gia đình có bố mẹ ở nhà và hộ có bố/ mẹ đi XKLĐ 65

3.2 Động cơ và sự chấp nhận hy sinh của người đi XKLĐ 70

3.3 Việc làm, nghề nghiệp và điều kiện kinh tế của các hộ gia đình 78

3.4 Những mối quan tâm của người đi XKLĐ với con cái ở nhà 86

Tiểu kết chương 3 101

CHƯƠNG 4 VIỆC CHĂM SÓC TRẺ EM TRONG CÁC HỘ GIA ĐÌNH CÓ BỐ/MẸ ĐI XKLĐ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 102

Dẫn nhập 102

4.1 Đôi nét về nhóm trẻ em trong mẫu khảo sát 102

4.2 Chăm sóc trẻ em về tình cảm – đạo lý 104

4.3 Chăm sóc về sức khỏe 114

4.4 Chăm lo giáo dục tri thức cho trẻ 130

Tiểu kết Chương 4 143

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 145

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA NGHIÊN CỨU SINH 150

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Số thành viên trong hộ gia đình 66

Biểu đồ 2: Độ tuổi của bố, mẹ trẻ trong các hộ gia đình 67

Biểu đồ 3: Lý do chính khiến bố/mẹ quyết định đi XKLĐ 71

Biểu đồ 4: Mục đích sử dụng nguồn tiền gửi về của bố/ mẹ đi XKLĐ 73

Biểu đồ 5: Tương quan về thời gian đi XKLĐ của bố/ mẹ 76

Biểu đồ 6: Địa điểm đi lao động ở nước ngoài của bố/ mẹ 77

Biểu đồ 7: Người chăm sóc chính cho trẻ khi bố/mẹ đi XKLĐ 87

Biểu đồ 8: Người chăm sóc trẻ ở các gia đình có bố/mẹ đi XKLĐ 88

Biểu đồ 9: Hình thức liên lạc của bố/ mẹ đi XKLĐ với trẻ 93

Biểu đồ 10: Thông tin trao đổi khi liên lạc với bố/ mẹ 97

Biểu đồ 11: Lần gần đây nhất gặp bố/ mẹ 100

Biểu đồ 12: Độ tuổi và giới tính của trẻ 103

Biểu đồ 13: Chiều cao, cân nặng của trẻ trong các hộ gia đình 117

Biểu đồ 14: Đánh giá học lực của trẻ trong các hộ gia đình 134

Biểu đồ 15: Điểm số so với các bạn cùng lớp của trẻ ở trong các hộ gia đình 136 Biểu đồ 16: Trẻ được khen thưởng về thành tích học tập ở trong các hộ gia đình 137

Biểu đồ 17: Kết quả học tập của trẻ trong các hộ gia đình 140

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Tóm tắt mẫu khảo sát tại 2 tỉnh 12

Bảng 2: Số trẻ em trong các hộ gia đình 66

Bảng 3: Trình độ học vấn của bố và mẹ trong các hộ gia đình 69

Bảng 4: Cuộc sống của người chăm sóc và bản thân trẻ so với

trước khi bố/ mẹ đi XKLĐ 74

Bảng 5: Nghề nghiệp của bố mẹ trong các hộ gia đình 78

Bảng 6: Sở hữu tài sản ở các hộ gia đình được khảo sát 81

Bảng 7: Nhận định về mức độ đầy đủ tài chính so với các bạn cùng tuổi của trẻ

trong các hộ gia đình 83

Bảng 8: Tiền tiết kiệm trong các hộ gia đình 85

Bảng 9: Thời gian bố/ mẹ đi XKLĐ tương quan với việc sử dụng 94

Bảng 10: Tần suất liên lạc của bố/ mẹ với trẻ trong 2 tuần qua 95

Bảng 11: Đánh giá của người chăm sóc về thái độ/ hành vi của trẻ

trong các hộ gia đình 104

Bảng 12 Ước lượng mô hình hồi quy về thái độ/hành vi của trẻ 106

Bảng 13: Ước lượng mô hình hồi quy về mức độ vui hay buồn của trẻ 107

Bảng 14: Lý do làm cho trẻ vui trong các hộ gia đình 108

Bảng 15: Lý do làm cho trẻ buồn trong các hộ gia đình 109

Bảng 16: Tương quan về việc đặt ra quy tắc ứng xử của trẻ tại các

địa điểm công cộng trong các hộ gia đình 112

Bảng 17: Những việc nhà mà trẻ thường làm ở trong các hộ gia đình 114

Bảng 18: Chiều cao, cân nặng của trẻ tương quan theo độ tuổi của trẻ 115

Bảng 19: Ước lượng mô hình hồi quy tác động của bố/ mẹ đi XKLĐ

đến chiều cao, cân nặng của trẻ 118

Bảng 20 Ước lượng mô hình hồi quy về tinh thần của trẻ 122

Bảng 21 Ước lượng mô hình hồi quy về sức khỏe tinh thần hòa đồng của trẻ với người lớn 123

Bảng 22: Nguồn nước uống chính của các hộ gia đình 126

Bảng 23: Thử hút thuốc lá/ các chất kích thích tương tự 127

Bảng 24: Hành vi gián tiếp ảnh hưởng tới sức khỏe trẻ em trong các hộ gia đình 129

Bảng 25: Ước lượng mô hình hồi quy về kết quả học tập của trẻ ở trường 132

Bảng 26: Tương quan giữa việc thích học của trẻ trong các hộ gia đình 135

Trang 9

DANH MỤC HỘP

Hộp 1: Lý do đi XKLĐ 72

Hộp 2: Lý do mẹ ở nhà chăm sóc trẻ 89

Hộp 3: Sự hỗ trợ của người thân khi mẹ đi XKLĐ 91

Hộp 4: Cách thức bố/mẹ đi XKLĐ liên lạc với gia đình và trẻ em 93

Hộp 5: Tần suất và nội dung trao đổi khi liên lạc của bố/ mẹ với gia đình và trẻ em 99

Hộp 6: Thái độ của trẻ khi có bố/ mẹ đi XKLĐ 110

Hộp 7: Quy tắc ứng xử đối với trẻ 112

Hộp 8: Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh lúc trẻ ốm khi bố, mẹ đi XKLĐ 125

Hộp 9: Kết quả học tập của trẻ qua tư liệu phỏng vấn sâu 138

Hộp 10: Đầu tư cho cho việc học hành của trẻ 142

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với quá trình CNH-HĐH, TCH và HNQT, di cư là một hiện tượng rất tự nhiên, đặc biệt là di cư quốc tế là xu thế hội nhập chung ở nhiều quốc gia trên toàn thế giới Ngày nay, với sự phát triển của mạng lưới giao thông, con người càng dễ

có những cơ hội khám phá những vùng đất mới để tìm kiếm những điều tốt đẹp nhất cho mình Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật phát triển chung đó

Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là đưa lao động đi làm việc

ở nước ngoài nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập và xóa đói giảm nghèo

Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ LĐ-TBXH,

có khoảng 500 nghìn lao động Việt Nam đang làm việc tại hơn 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề Bình quân mỗi năm, Việt Nam đưa được 80 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài, chiếm hơn 5% tổng số lao động được giải quyết việc làm mỗi năm Không chỉ ở Việt Nam mà một

số nước trong khu vực Đông Nam Á như Philippine, Indonexia, Thái Lan đã coi việc đi lao động ở nước ngoài là một nguồn sinh kế cho người dân và quốc gia [12] Lao động đi làm việc ở nước ngoài bao gồm cả nam lẫn nữ, cả những người có gia đình và người chưa có gia đình, họ làm những ngành nghề khác nhau từ lao động có kỹ năng tay nghề tới lao động chân tay Theo

số liệu từ các nước cho thấy phụ nữ tham gia ngày càng nhiều trong các luồng lao động di cư ra nước ngoài làm việc, dao động ở mức 70% ở Philippine và Indonexia cho đến 15% ở Thái Lan [61] và 30% Việt Nam [12] Trong số những phụ nữ đi lao động ở nước ngoài này có nhiều người đã kết hôn và có con nhỏ đang trong độ tuổi đi học Hầu hết số trẻ này phải ở lại quê nhà với

sự hỗ trợ chăm sóc của người thân trong gia đình

Ở Việt Nam, XKLĐ đã và đang đem lại nguồn ngoại tệ khá lớn, bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2008 - 2010 số ngoại tệ chuyển về nước khoảng

Trang 11

1,8-2 tỷ USD, chiếm khoảng 2% GDP [13] Nguồn tiền gửi về không chỉ góp phần nâng cao mức sống của mỗi gia đình mà còn làm thay đổi bộ mặt địa phương, đặc biệt khu vực nông thôn, nơi họ ra đi

Tuy nhiên, bên cạnh tác động tích cực, XKLĐ còn tồn tại những bất cập,

kể cả những điều có thể nhận thấy được như việc tuyển chọn, đào tạo, làm thủ tục trước khi đi lao động ở nước ngoài, cũng như những điều không thể nhìn thấy rõ như quá trình làm việc tại nước ngoài người lao động phải sống xa gia đình, do đó con cái thiếu đi bàn tay chăm sóc của bố mẹ Có thể nói, XKLĐ là một hiện tượng xã hội có tác động nhiều mặt đến cá nhân, gia đình, xã hội, kinh tế và văn hóa cả nơi đi và nơi đến Quá trình ra nước ngoài làm việc có ảnh hưởng tới các vấn đề về sức khỏe thể chất, tinh thần, tình cảm và hạnh phúc của chính người di cư cũng như những thân nhân ở lại quê nhà [65] Hiện nay trên thế giới chưa có số liệu thống kê chính xác trẻ em ở lại quê nhà khi mà bố/ mẹ của chúng di cư tìm kiếm việc làm nhưng mọi người trên thế giới cũng tin rằng có hàng chục triệu trẻ em có bố mẹ di cư [136]

Trong khi đó, trên bình diện khoa học, việc nghiên cứu về XKLĐ cho đến nay còn khá phiến diện Chúng ta có không ít các nghiên cứu về tác động của XKLĐ tới phát triển kinh tế, song lại thiếu vắng các công trình có cái nhìn đa chiều, nhất là chiều tác động của XKLĐ đối với sự phát triển của trẻ khi bố mẹ vắng nhà Khi bố hoặc mẹ đi vắng sẽ ảnh hưởng tới tất cả các thành viên trong gia đình, đặc biệt là ảnh hưởng tới trẻ em, sự ảnh hưởng này không chỉ ở thời điểm bố mẹ đi vắng mà còn ảnh hưởng tới tương lai của trẻ Ở Việt Nam, tính tới thời điểm hiện nay có rất ít các nghiên cứu đánh giá tác động của XKLĐ đến chăm sóc trẻ em Vì vậy, nghiên cứu vấn đề chăm sóc trẻ em trong các gia đình có bố mẹ đi lao động ở nước ngoài có ý nghĩa về mặt khoa học và ý nghĩa về thực tiễn Xuất phát từ tình hình đó, chúng tôi quyết định lựa

chọn đề tài: “Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi

Trang 12

xuất khẩu lao động: hiện trạng và giải pháp”, với hy vọng góp phần khỏa lấp

dần khoảng trống giữa khoa học và đời sống thực tiễn, nhất là thực tiễn đưa người đi XKLĐ hiện nay

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu

và khung phân tích

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu này là góp phần tìm hiểu thực trạng chăm sóc trẻ em trong các gia đình có bố mẹ đi XKLĐ ở Việt Nam trong những năm gần đây, kể cả trên hai phương diện tích cực và tiêu cực của nó, trên cơ sở đó

đề xuất giải pháp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực cho trẻ khi bố mẹ không còn là tác nhân giáo dục và xã hội hóa trực tiếp nữa

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để có thể thực hiện được mục tiêu đã đề ra, người viết có nhiệm vụ làm tổng quan tình hình nghiên cứu của các tác giả trước để kế thừa thành tựu và các bài học kinh nghiệm ở họ Tiếp đó là xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu, trong đó có định nghĩa các khái niệm liên quan, thao tác hóa các khái niệm “Chăm sóc trẻ em trong gia đình” và lựa chọn các lý thuyết, các quan điểm lý luận giúp cho việc giải thích và phân tích các vấn đề nghiên cứu

Ở phần nội dung nghiên cứu, luận án sẽ đi sâu tìm hiểu thực tế khi

bố/mẹ đi lao động ở nước ngoài ảnh hưởng tới việc chăm sóc trẻ em ở các chiều cạnh về mặt tình cảm, sức khỏe và tri thức của trẻ của trẻ em Phân tích người nuôi dưỡng trẻ chăm sóc cho trẻ về mặt tình cảm, sức khỏe và phát triển tri thức khi bố/ mẹ đi vắng Cụ thể: tác động của bố/ mẹ đi lao động ở nước ngoài ảnh hưởng thế nào tới hành vi và thái độ của trẻ; tình hình sức khỏe của trẻ tại thời điểm nghiên cứu và hành vi chăm sóc sức khỏe của trẻ như nào; và thực trạng kết quả học tập của trẻ Việc bố/ mẹ đi vắng có ảnh hưởng gì đến kết quả học tập của

Trang 13

trẻ là những thông tin mà luận án cần tìm hiểu Những thông tin mà cuộc nghiên cứu cần tìm hiểu sẽ được người chăm sóc, các thầy cô giáo, chính quyền địa phương và chính các em cung cấp

Sau cùng, qua tìm hiểu thực trạng chăm sóc trẻ trong gia đình có bố/

mẹ đi XKLĐ và từ kết quả nghiên cứu thu được, luận án sẽ đưa ra những đề xuất định hướng và giải pháp nhằm tăng cường phúc lợi và chăm sóc trẻ em

2.3 Câu hỏi nghiên cứu

Căn cứ và mục tiêu, nhiệm vụ và các vấn đề nghiên cứu, để thực hiện luận án này chúng tôi đặt ra các câu hỏi nghiên cứu sau:

Câu hỏi 1: Có sự khác biệt trong việc chăm sóc (kể cả về tình cảm, sức

khỏe và tri thức) giữa trẻ em có bố/ mẹ đi XKLĐ và trẻ em có cả bố và mẹ đều ở nhà, không đi làm ăn xa không?

Câu hỏi 2: Nếu có sự khác biệt thì sự khác biệt đó được biểu hiện cụ

thể ra sao, tích cực hay tiêu cực, và điều đó có ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống hiện tại và tương lai của các em?

Câu hỏi 3: Liệu có vấn đề xã hội nào đang đặt ra, song chưa được nhận thức

đầy đủ trước thực trạng chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố/ mẹ đi XKLĐ hay không?

2.4 Giả thuyết nghiên cứu

Tương ứng với các câu hỏi nghiên cứu ở trên, luận án đưa ra một số giả thuyết nghiên cứu sau:

- Giả thuyết 1: Như chúng ta đều biết, gia đình và bố mẹ là nhân tố quan trọng

trong việc chăm sóc, giáo dục và xã hội hóa trẻ em Một khi bố/ mẹ đi XKLĐ

sẽ tạo ra một khoảng trống lớn trong đời sống gia đình Và như vậy, việc chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố/ mẹ đi XKLĐ và hộ gia đình có bố mẹ ở nhà chăm sóc sẽ rất khác nhau;

Trang 14

- Giả thuyết 2: Nhóm trẻ em có bố/ mẹ đi xuất khẩu lao động ít được quan tâm,

chăm sóc về tình cảm, sức khỏe, học tập so với nhóm trẻ mà bố mẹ không đi xuất khẩu lao động Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống hiện tại cũng như tương lai của các em;

- Giả thuyết 3: Dường như chính sách của nhà nước còn chưa đầy đủ và đồng bộ,

các cơ quan đoàn thể, các tổ chức xã hội cũng chưa ý thức đầy đủ về vấn đề xã hội đặt ra trong việc chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố/ mẹ đi XKLĐ

2.5 Khung phân tích

Dựa trên mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu đưa ra, chúng tôi xây dựng một khung phân tích về việc chăm sóc trẻ em ở các hộ gia đình có bố/ mẹ đi XKLĐ để kết nối và giải thích nội dung nghiên cứu của luận án:

Chú thích:

: Để chỉ chiều tác động của các tác nhân đối với trẻ em

: Để chỉ chiều ảnh hưởng của bố/ mẹ đi XKLĐ đến trẻ em

- Những ảnh hưởng

của bố/ mẹ đi XKLĐ:

+ Tình cảm, đạo lý + Sức khỏe

+ Tri thức (học tập)

- Những vấn đề đặt ra

- Gợi ý giải pháp và chính sách

- Người hỗ trợ/ giúp đỡ

- Trẻ em:

+ Trẻ em trai + Trẻ em gái

- Khác…

Trang 15

3 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng của nghiên cứu này là việc chăm sóc trẻ em trong gia đình

có bố mẹ đi XKLĐ Từ góc nhìn xã hội học có thể nói, đối tượng nghiên cứu

ở đây là việc chăm sóc, xã hội hóa trẻ em trong một hoàn cảnh đặc thù

11 (bao gồm cả trẻ trai và trẻ gái)

Nhóm 2: Nhóm gia đình có bố mẹ đang ở nhà chăm sóc trẻ em (không đi XKLĐ và không di cư) Nhóm này bao gồm: 1) Người đại diện cho hộ gia đình, hiểu biết về tình hình kinh tế trong gia đình; 2) Người chăm sóc trẻ hay còn gọi

là người bảo hộ cho trẻ; 3) Trẻ em trong độ tuổi 9-11 (trẻ trai và trẻ gái) Đây

là nhóm đối chứng để so sánh kết quả và thấy được sự giống và khác nhau giữa nhóm trẻ em có bố/mẹ đi LĐNN với nhóm trẻ có bố mẹ chăm sóc

3.3 Phạm vi nghiên cứu

3.3.1 Về không gian: Không gian (hay địa bàn nghiên cứu) được lựa chọn

nghiên cứu là 2 tỉnh Hải Dương và Thái Bình, thuộc vùng châu thổ sông Hồng

3.3.2 Về thời gian: Luận án này sử dụng số liệu trong khảo sát: “Tác

động của di cư lao động đến sức khỏe trẻ em ở Việt Nam” (CHAMPSEA)

Thời gian của cuộc nghiên cứu CHAMPSEA diễn ra từ năm 2008-2009 và năm 2010 tiến hành nhập và xử lý số liệu Đó là thời gian diễn ra việc chăm

Trang 16

sóc trẻ ở các hộ gia đình có bố mẹ đi lao động ở nước ngoài ít nhất được 6 tháng tính tới thời điểm nghiên cứu Ngoài ra, trong thời gian làm luận án từ năm 2011 đến 2016, tác giả còn trở lại địa bàn nghiên cứu nhiều lần để bổ sung thêm tài liệu nhằm đưa ra kết quả khoa học có tính thuyết phục hơn

3.3.3 Về vấn đề nghiên cứu: Các vấn đề nghiên cứu đặt ra khá rộng,

song luận án này chỉ tập trung vào một một độ tuổi nhất định của trẻ (9-11 tuổi), cho nên không thể suy rộng hay bao quát cho tất cả các hộ gia đình có bố/mẹ đi XKLĐ để con cái của họ ở lại quê nhà Cũng cần nhấn mạnh, luận

án là công trình nghiên cứu đầu tiên tiến hành phân tích số liệu của cuộc khảo sát riêng cho Việt Nam.1

4 Phương pháp nghiên cứu

Như đã trình bày ở phần trên, luận án sử dụng nguồn số liệu từ một cuộc khảo sát quốc tế mà nghiên cứu sinh có vinh dự được tham gia trong suốt quá trình thiết kế, thu thập và xử lý số liệu cho Việt Nam Cuộc khảo sát Champsea thu thập các số liệu định lượng và định tính ở nhiều phương diện

và bình diện khác nhau Riêng trong nghiên cứu này người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

4.1 Phương pháp nghiên cứu

4.1.1 Phương pháp định lượng

 Phương pháp chọn mẫu: Theo hướng dẫn của chuyên gia quốc tế, kỹ thuật lấy mẫu phi xác suất có chủ đích, quả tuyết lăn (Snowball – Network sampling), được sử dụng nhằm đáp ứng được dung lượng mẫu và đảm bảo

có cả trẻ em trai và trẻ em gái, có bố/mẹ đi XKLĐ và nhóm đối chứng là

1 Hiện có một số bài viết quốc tế sử dụng số liệu của 4 nước tham gia khảo sát để so sánh kết quả nhưng chưa có phân tích nào riêng cho số liệu của Việt Nam

Trang 17

trẻ em có bố mẹ ở nhà chăm sóc Trên thực địa, kỹ thuật chọn mẫu này tỏ

ra hiệu quả và đáp ứng được số lượng mẫu cần thiết

 Phương pháp thu thập thông tin định lượng đối với cá nhân: Kỹ thuật phỏng vấn bảng hỏi bán cấu trúc với đại diện hộ gia đình, với người chăm sóc trẻ và bảng hỏi đơn giản dành cho trẻ em

Phương pháp xử lý thông tin:

- Sau khi tiến hành khảo sát tại địa bàn, các kết quả nghiên cứu đều được giám sát viên làm sạch tại thực địa để tránh những thông tin bị bỏ sót;

- Từ tháng 9/2008 đến tháng 1/2009, số liệu khảo sát được nhập 2 lần bằng phần mền MS Access do các nghiên cứu viên của Trung tâm Châu Á Thái Bình Dương thực hiện;

- Trước khi chuyển số liệu cho nhà tài trợ, số liệu được làm sạch thêm một lần nữa để tránh trong khi nhập số liệu bị nhập nhầm

4.1.2 Phương pháp định tính

Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu cá nhân với khoảng 50 người chăm sóc trẻ dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng mà nhóm nghiên cứu sẽ lựa chọn

ra, đó là những hộ gia đình được đánh giá chăm sóc trẻ tốt hoặc chưa tốt; trẻ

có kết quả học tập tốt hoặc kém; trẻ có vấn đề về tình cảm, hành vi, sức khỏe

để tìm hiểu kỹ hơn tác động của quá trình bố/ mẹ đi XKLĐ đến trẻ em trong gia đình Động cơ của hành động và ý nghĩa của thái độ, nhận thức được thể hiện rõ và đầy đủ hơn trong kết quả phỏng vấn định tính Phương pháp nghiên cứu định tính nhằm mục đích có được những thông tin sâu cần thiết bổ sung

và giải thích cho kết quả khảo sát định lượng Thời gian thực hiện nghiên cứu định tính được tiến hành vào giữa năm 2009

Lựa chọn mẫu nghiên cứu định tính được dựa trên các tiêu chí sau: i) giới và tuổi của đứa trẻ; ii) mối quan hệ giữa người chăm sóc và đứa trẻ; iii) tình trạng đi XKLĐ của bố mẹ; iv) sức khỏe tâm sinh lý của trẻ Ngoài ra, các

Trang 18

thông tin qua trao đổi với đại diện cho trường học, thôn/ xóm, nơi mà trẻ sinh sống và học tập như: trưởng thôn, đại diện phụ nữ thôn, giáo viên

4.1.3 Các phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác

Bên cạnh việc sử dụng bộ số liệu từ khảo sát Champsea “Tác động của di cư lao động đến sức khỏe trẻ em ở Việt Nam”, nghiên cứu sinh còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác trong quá trình thực hiện luận án:

Phương pháp phỏng vấn hồi cố: Bên cạnh những thông tin, dữ liệu tại

thời điểm nghiên cứu, khảo sát Champsea cần khôi phục lại những thông tin

và sự kiện diễn ra trước và sau thời điểm bố mẹ chia tay trẻ để đi lao động ở nước ngoài Do đó, kỹ thuật phỏng vấn hồi cố được vận dụng Điểm mấu chốt của kỹ thuật này là điều tra viên cần gợi ý và đặt câu hỏi chính xác, gắn với các sự kiện để giúp cho người trả lời sắp xếp, nhớ và hồi cố lại những diễn biến liên quan đến các sự kiện và hành động trong quá khứ Yêu cầu đó không chỉ đòi hỏi điều tra viên có kỹ năng thành thạo mà họ còn cần phải kiên nhẫn, lắng nghe và kết nối được các thông tin do người trả lời cung cấp

Phương pháp tổng quan tài liệu: Tác giả tìm kiếm, tổng hợp và phân tích

các tài liệu liên quan tới di cư nói chung và di cư lao động ra nước ngoài làm việc nói riêng theo chủ đề: i) lao động nước ngoài và sự thay đổi kinh tế gia đình; ii) tác động của lao động nước ngoài đến sức khỏe trẻ em; iii) và, lao động nước ngoài và việc giáo dục, xã hội hóa trẻ em Đây được xem là phương pháp quan trọng trong quá trình phân tích và viết luận án Việc tham khảo các nghiên cứu có liên quan, kể cả của các tác giả trong nước cũng như tác giả nước ngoài, không chỉ giúp cho nghiên cứu sinh biết được những gì người đi trước đã làm, những gì họ chưa làm được, những gì đã làm nhưng chưa thỏa đáng, ở cả hai phương diện là nội dung và phương pháp nghiên cứu, để xác định hướng nghiên cứu của mình cho phù hợp

Trang 19

4.2 Số liệu khảo sát Champsea và sự lựa chọn để phân tích trong luận án

Khảo sát Champsea nhằm tìm hiểu tác động của việc bố/mẹ di cư đối với sức khỏe và hạnh phúc của trẻ nhỏ dưới 12 tuổi tại 4 quốc gia là Indonexia, Philippine, Thái Lan và Việt Nam, là những nước có đông lao động đi làm việc ở nước ngoài Khảo sát Champsea được tài trợ bởi tổ chức Wellcome Trust, Vương quốc Anh, với hỗ trợ về kỹ thuật, chuyên môn của Đại học St Andrews và Đại học Tổng hợp Quốc gia Singapore Giống như các quốc gia tham gia nghiên cứu (Indonexia, Philippine, Thái Lan) nhiệm vụ của phía Việt Nam là tiến hành thu thập số liệu tại hai tỉnh Thái Bình và Hải Dương thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng nơi có nhiều lao động đi làm việc ở nước ngoài Các quốc gia sử dụng bộ công cụ khảo sát giống nhau để tăng khả năng so sánh và khái quát hóa các kết quả nghiên cứu thu được Vì tính đặc thù của nghiên cứu này là có tiến hành phỏng vấn trẻ em, nên tại mỗi quốc gia thực hiện khảo sát đều được sự đồng ý của Hội đồng đạo đức nghiên cứu tại các quốc gia Việc nghiên cứu ở Việt Nam đã được Hội đồng đạo đức nghiên cứu của Trường Đại học Y tế công cộng cấp phép

Năm 2008, cuộc khảo sát định lượng với dung lượng mẫu xấp xỉ 1.000

hộ gia đình được tiến hành tại 2 tỉnh của mỗi quốc gia được thực hiện Tại mỗi tỉnh sẽ chọn ra một huyện và trong huyện sẽ chọn ra một số xã có đông lao động đi làm việc ở nước ngoài Tại tỉnh Thái Bình, nhóm nghiên cứu được

sự giúp đỡ của Sở Lao động – Thương binh xã hội tỉnh, đã đề xuất thực hiện nghiên cứu tại huyện Vũ Thư và được phòng Lao động – Thương binh xã hội của huyện giúp thống kê số lao động đi làm việc ở nước ngoài của từng xã Trên cơ sở số liệu của huyện Vũ Thư, nhóm nghiên cứu đã chọn ra được 5 điểm xã để tiến hành nghiên cứu Đối với tỉnh Hải Dương, nghiên cứu cũng thực hiện các bước tương tự và nhóm đã tổ chức nghiên cứu tại 6 xã thuộc huyện Chí Linh (nay là thị xã Chí Linh)

Trang 20

Tiêu chí lựa chọn hộ gia đình nghiên cứu cần hội đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, hộ gia đình phải có đủ cả bố mẹ và ít nhất có một đứa con trong

nhóm 3-5 tuổi hoặc 9-11 tuổi Thứ hai, trong trường hợp không di cư, hộ gia

đình đó có cả bố và mẹ ở nhà, không đi làm ăn xa trong nước hoặc đi làm việc

ở nước ngoài tại thời điểm khảo sát Thứ ba, trong trường hợp di cư XKLĐ,

hộ gia đình hiện có bố hoặc mẹ hoặc cả 2 đi lao động ở nước ngoài với thời gian ít nhất 6 tháng tính đến thời điểm khảo sát

Trong mỗi hộ gia đình được lựa chọn sẽ tiến hành phỏng vấn với 01 người lớn thông hiểu về tình hình của hộ gia đình; 01 người chăm sóc trẻ (người chịu trách nhiệm chăm sóc chính đối với đứa trẻ nghiên cứu, và người này nắm bắt được các thông tin về tình hình tình cảm, sức khỏe thể chất - sức khỏe tinh thần, và giáo dục của trẻ); và 01 trẻ có độ tuổi từ 3-5 tuổi hoặc từ 9-

11 tuổi (trẻ thuộc nhóm đích), những trẻ này sẽ được cân và đo chiều cao Tuy nhiên trong luận án này chỉ phân tích nhóm trẻ trong độ tuổi từ 9-11 tuổi vì những trẻ trong độ tuổi 3-5, khảo sát không tiến hành thu thập thông tin như nhóm trẻ 9-11 tuổi mà chỉ tiến hành cân, đo và hoạt động vẽ tranh của trẻ cho nên những thông tin về tác động của bố/mẹ đi XKLĐ đến kết quả học tập, hành vi học tập và hành vi liên quan đến sức khỏe không được thu thập Vì vậy, nhóm trẻ 3-5 tuổi không được phân tích trong luận án này Những dữ liệu phân tích trong luận án này được lấy từ bảng hỏi hộ gia đình, bảng hỏi người chăm sóc trẻ và bảng hỏi trẻ trong độ tuổi từ 9-11

Tổng cộng tại 2 tỉnh có 517 hộ gia đình có trẻ em trong độ tuổi từ 9-11 được khảo sát, trong đó phỏng vấn tại tỉnh Thái Bình là 257 hộ và tỉnh Hải Dương là 260 hộ Tương ứng là 517 người chăm sóc trẻ, đồng thời là đại diện cho hộ gia đình của trẻ và 517 trẻ trong độ tuổi từ 9-11 Trong số này, 285 trẻ

có bố hoặc mẹ đi XKLĐ (ít nhất đã được 6 tháng tính đến thời điểm khảo sát)

Trang 21

và 232 trẻ có bố mẹ ở nhà Số trẻ em gái là 276 em (chiếm 53,4%), trẻ em trai

241 trẻ (chiếm 46,6%) Cơ cấu mẫu khảo sát ở mỗi tỉnh và mỗi loại hộ gia đình đều khác nhau, được thể hiện trong Bảng 1 dưới đây:

Bảng 1: Tóm tắt mẫu khảo sát tại 2 tỉnh

Nguồn: Khảo sát Champsea

Từ thông tin về mẫu nghiên cứu, kết quả khảo sát sẽ được phân tích ở những phần sau

4.3 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

Đây là kết quả nghiên cứu dựa trên số liệu thu thập cho đề tài tác động của

di cư lao động ở nước ngoài đến sức khỏe trẻ em ở Việt Nam, theo tiêu chí của nhà tại trợ, địa bàn khảo sát được lựa chọn là hai tỉnh nông thôn thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng có đông người dân đi XKLĐ: Hải Dương và Thái Bình là hai tỉnh tập trung đông dân cư và có nhiều lao động đi XKLĐ tại Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản

Địa bàn nghiên cứu 1

Tỉnh Hải Dương: Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ sông

Hồng, là một trong những cái nôi của nền văn hoá lâu đời của dân tộc Việt Nam, có diện tích 1662 Km2 Theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở (2009), dân số của Hải Dương là 1,703,492 người, trong đó gần 1,4 triệu người sống tại khu vực nông

Địa bàn và phân bố mẫu

Trang 22

thôn Số người trong độ tuổi lao động khoảng 1,1 triệu người với khoảng 55% làm việc trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, vì vậy ngoài thời gian làm những nghề này người dân phải tìm việc làm khác để tăng thu nhập cho hộ gia đình Trước tình hình đó, nhu cầu đi XKLĐ đã tăng nhanh, hàng năm số lượng người của địa phương đi làm việc ở nước ngoài trên toàn tỉnh ước tính khoảng hơn 3,000 lao động, tập trung chủ yếu vào thị trường Đài Loan và các nước Nhật Bản, Malaysia

… Năm 2011, toàn tỉnh có 3,100 người đi làm việc ở nước ngoài,năm 2013, Hải Dương đưa 3,205 người, vượt 7% kế hoạch [42] Tính cả giai đoạn 2010-2014 toàn tỉnh đưa được 19,561 lao động đi làm việc ở nước ngoài [20]

Địa bàn nghiên cứu 2

Tỉnh Thái Bình: Thái Bình là tỉnh ven biển, thuộc khu vực Đồng bằng

sông Hồng, nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh Diện tích tự nhiên: 1,542,24 km2, chiếm 0,5% diện tích đất đai của cả nước

Dân số Thái Bình năm 2012 ước khoảng: 1,787,000 người Trong đó dân số nông thôn chiếm 94,2%, dân số thành thị chỉ chiếm 5,8%; mật độ dân

số 1,138 người/km2; bình quân nhân khẩu là 3,75 người/hộ; tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên hiện nay là 1,02%

Nguồn lao động trong độ tuổi: 1,073,000 người Trong đó, lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp chiếm 74,3%, công nghiệp và xây dựng chiếm 17%, khu vực dịch vụ - thương mại chiếm 8,7% Lao động qua đào tạo chiếm 23,5% (Công nhân kỹ thuật và nghiệp vụ 13,5%; Trung cấp 5,5%; Cao đẳng, đại học và trên đại học 4,5%)2

[43]

Thái Bình là tỉnh đông dân cư, đất sản xuất ít nên số lao động thiếu việc làm cao Vì vậy, trong khoảng 10 năm trở lại đây phong trào đi XKLĐ ở

2

Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái Bình http://sokhdt.thaibinh.gov.vn/

Trang 23

Thái Bình phát triển Giai đoạn 1998-2001 toàn tỉnh chỉ đưa được 435 lao động đi giúp việc ở Đài Loan, tuy nhiên từ năm 2002 đến 2015 trung bình mỗi năm có khoảng 2,500- 3,000 lao động đi làm việc ở nước ngoài Tính đến đầu năm 2015, toàn tỉnh có 17,586 lao động đã xuất cảnh và còn 14,614 vẫn đang làm việc ở nước ngoài Trong đó cụ thể là: Malaysia chiếm 43,8% (6,397 lao động), Đài Loan: 42,4%, Hàn Quốc: 13,1%, còn lại là Nhật Bản và một số nước Trung Đông3

[44], trong đó tỷ lệ nữ chiếm đa số (81,5%), [25] Những huyện có số lao động đi nhiều nhất là huyện Vũ Thư: 2,850 người, huyện Thái Thụy (2,800 người), và các huyện khác có khoảng 2,000 người4

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Đến thời điểm hiện nay, đã có không ít các công trình nghiên cứu về tác động của XKLĐ đến đời sống của người dân, nhất là về mặt kinh tế cả ở đầu đi và đầu đến Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của bố/ mẹ đi lao động ở nước ngoài tới con cái của họ thì vẫn còn rất hiếm, nhất là ở Việt Nam Bằng những phỏng vấn đa dạng các đối tượng có liên quan như người đại diện cho gia đình, người chăm sóc chính cho trẻ và trẻ trong độ tuổi 9-11, cũng như phân tích đa chiều cả người ở nhà chăm sóc trẻ và chính bản thân trẻ, đã mang lại sự hiểu biết tương đối toàn diện về ảnh hưởng của bố/ mẹ đi XKLĐ tới gia đình họ, đặc biệt là của người mẹ đi XKLĐ tới chăm sóc trẻ em trong gia đình Luận án đã góp phần làm phong phú thêm cho nhận thức của chúng ta về những ảnh hưởng xã hội của người đi XKLĐ ở cả hai đầu đi và đến

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận khoa học

Để thực hiện luận án, tác giả đã định nghĩa mang tính thao tác một số khái niệm có liên quan, cũng như thao tác hóa khái niệm “Chăm sóc trẻ em

3 http://thanglongosc.edu.vn/thai-binh-xuat-khau-lao-dong-mang-lai-hieu-qua-kinh-te.html

Trang 24

trong gia đình”, nhất là việc chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố/ mẹ

đi XKLĐ Việc định nghĩa và thao tác hóa khái niệm như vậy đã góp phần làm sáng tỏ hơn nội hàm và ngoại diên của các khái niệm này, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam ở những thập niên đầu thế kỷ 21

Luận án sử dụng các lý thuyết xã hội học như lý thuyết Cấu trúc – chức năng, lý thuyết Vốn xã hội và lý thuyết Xã hội hóa để giải thích các vấn đề nghiên cứu đặt ra trên thực địa Tuy nhiên, bên cạnh đó, qua việc phân tích nguồn số liệu mới thu về từ thực địa, cuộc nghiên cứu còn góp phần kiểm chứng mức độ chính xác cũng như tính phổ biến của các lý thuyết này trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đặt trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang ngày càng nhiều lao động đi làm việc ở nước ngoài, số trẻ em có bố mẹ đi làm việc ở nước ngoài vì thế cũng ngày càng gia tăng, thì rõ ràng là đề tài này mang ý nghĩa thực tiễn khá sâu sắc Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là một tài liệu tham khảo chẳng những cho các cơ quan quản lý, cơ quan hoạch định chính sách, các tổ chức xã hội, mà còn cho cả những ông bố/bà mẹ có kế hoạch để con cái ở lại quê nhà để đi XKLĐ Từ kết quả nghiên cứu này, người đọc có thể rút ra các bài học kinh nghiệm hoặc lựa chọn cho mình cách ứng xử cho phù hợp

- Nghiên cứu này được tiến hành ở 2 tỉnh có tỷ lệ người dân đi lao động

ở nước ngoài cao, đặc biệt là nữ giới tham gia vào thị trường lao động ở nước

Trang 25

ngoài và để con ở lại quê nhà cho chồng hoặc người thân chăm sóc rất phổ biến Vì vậy đây vẫn là một nghiên cứu trường hợp, kết quả nghiên cứu không thể khái quát hóa cho toàn bộ đất nước Việt Nam;

- Trẻ em là những công dân dưới 16 tuổi, song trong nghiên cứu này của chúng tôi chỉ tập trung phân tích nhóm trẻ mục tiêu trong độ tuổi từ 9-11, cho nên kết quả phân tích và những nhận xét của luận án đưa ra không mang tính đại diện cho trẻ ở các nhóm tuổi khác;

- Số liệu phân tích trong luận án chỉ được thu thập một lần duy nhất cho nên, những thông tin về sức khỏe, giáo dục tri thức của trẻ trước khi bố/ mẹ đi XKLĐ không được thu thập Hạn chế này không cho phép chúng tôi tiến hành

so sánh tác động trước và sau khi bố/ mẹ đi XKLĐ;

- Vì luận án sử dụng nguồn số liệu có sẵn nên còn nhiều khía cạnh liên quan khác như điều kiện vật chất của trẻ trong gia đình có bố/mẹ đi xuất khẩu

và gia đình của trẻ có bố mẹ ở nhà, việc đầu tư cho vui chơi giải trí và đầu tư cho giáo dục của trẻ như thế nào vẫn chưa được phân tích trong luận án Cũng

vì vậy, chủ đề nghiên cứu này, theo chúng tôi, vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu trong tương lai gần

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các công trình khoa học đã công bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung luận án đã được cân nhắc để chia thành 4 chương Trong đó:

Chương 1 dành cho việc tổng quan tình hình nghiên cứu về chủ đề nghiên cứu, với mục đích là kế thừa thành tựu và kinh nghiệm của các tác giả

đi trước, đồng thời xác định hướng nghiên cứu của luận án

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận, phương pháp luận và cơ sở thực tiễn của chủ đề nghiên cứu Đó là việc định nghĩa và thao tác hóa khái niệm

Trang 26

làm việc, lựa chọn các cách tiếp cận lý thuyết, phân tích hệ thống chính sách và kinh nghiệm đưa người đi lao động ở nước ngoài của nhiều nước khác nhau

Chương 3 trình bày đặc điểm gia đình, cũng như đặc điểm nhân khẩu học của những thành viên có liên quan trong các hộ gia đình có bố/ mẹ đi XKLĐ và bố mẹ ở nhà Đây là tiền đề cần thiết, giúp cho việc phân tích các vấn đề then chốt của cuộc nghiên cứu ở chương tiếp theo

Sau cùng, Chương 4 đi sâu phân tích tình hình chăm sóc trẻ trong các

hộ gia đình có bố/mẹ đi XKLĐ và trẻ có bố mẹ ở nhà trên các phương diện tình cảm, đạo lý, sức khỏe, chăm lo giáo dục tri thức, nhất là những hệ quả của nó đối với cuộc sống hiện tại và tương lai của trẻ

Kết cấu của luận án như trên, cố nhiên, không phải là ý muốn chủ quan của tác giả, mà xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ, các giả thuyết nghiên cứu và nhất là kết cấu đó đã tạo ra một khung khổ cho việc trình bày các kết quả nghiên cứu một cách tốt nhất

Trang 27

NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

XKLĐ là hiện tượng xã hội mang tính phổ biến ở nhiều quốc gia, dân tộc, nhất là trong bối cảnh TCH và HNQT về kinh tế như hiện nay Đây không chỉ là vấn đề liên quan đến các nhà quản lý và hoạch định chính sách

mà còn là một chủ đề được giới khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc

độ khác nhau, kể cả trên hai mặt tích cực và tiêu cực của nó Khái quát lại thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước, ở trong nước cũng như ở nước ngoài, chúng tôi thấy nổi bật lên các nội dung nghiên cứu cơ bản sau đây:

1.1 Lao động nước ngoài và sự thay đổi kinh tế gia đình

Trong hơn hai thập kỷ qua, kiều hối nổi lên được coi là nguồn vốn thứ hai của các nước đang phát triển và nó vẫn còn tiếp tục tăng trưởng trong thời gian tới Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2005, người di cư trên toàn thế giới gửi về quê hương 232 tỷ USD, trong số đó khoảng 167 tỷ USD được gửi về các nước đang phát triển, số tiền này gấp đôi số tiền viện trợ chính thức và gấp

10 lần ròng vốn tư nhân [135], [92] Ở tầm vi mô, kiều hối làm tăng ngân sách gia đình, tạo điều kiện cho các hộ gia đình ở các nước đang phát triển đầu tư cho

y tế, đầu tư vào vốn con người như giảm lao động trẻ em và tăng đầu tư cho giáo dục của trẻ Ở vấp độ vĩ mô, hai nhà nghiên cứu kinh tế là Adams và Page (2003) đã phân tích số liệu của 71 quốc gia, kết quả cho thấy có mối quan hệ giữa di cư và kiều hối và sự giảm sút nghèo đói ở các quốc gia này Kết quả phân tích chỉ ra rằng, “tăng trưởng 10% thị phần trong một quốc gia từ những người di cư quốc tế thì sẽ giảm 2% những người có thu nhập 1USD/ngày” [48]

Xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau (cả lực hút và lực đẩy) khiến nhiều người phải di chuyển đến nơi khác để tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập Nhà

Trang 28

Xã hội học Douglas S.Massey (1993) cho rằng sự di chuyển quy mô lớn của những người nhập cư từ vùng đang phát triển đến vùng đã phát triển do có những nền tảng cả kinh tế lẫn xã hội [101]

XKLĐ làm tăng thu nhập Mặc dù mức thu nhập của người di cư có thấp hơn so với người sở tại, song vẫn cao hơn so với thu nhập của chính họ trước khi quyết định di cư Trong công trình nghiên cứu “Di cư lao động của Việt Nam: Những vấn đề chính sách và thực tiễn” của tác giả Đặng Nguyên Anh cho biết, có trên 80% người di cư cho biết thu nhập của họ cao hơn hoặc cao hơn nhiều so với trước khi di cư, kể cả đối với những người mù chữ hoặc

có trình độ học vấn thấp [45] Và theo báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (2010) cho thấy, di cư lao động có thể như là một hình thức bảo trợ xã hội Với những nơi có điều kiện kinh tế và xã hội kém có thể tìm kiếm việc làm ở những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội tốt hơn [38] Đây chính là một trong những động lực chính thúc đẩy di cư và hài lòng với quyết định di cư cho dù di cư sẽ có những khó khăn vất vả

Theo số liệu Điều tra mức sống gia đình 2006 (VHLSS, 2006) do Tổng cục Thống kê thực hiện cho biết, có khoảng 6,9% hay 1,4 triệu hộ gia đình Việt Nam nhận được kiều hối trong năm 2006 và số kiều hối này chiếm khoảng 10% tổng thu nhập của gia đình họ [6]

Tiền gửi về của người di cư chiếm vị trí đáng kể trong thu nhập bằng tiền của các hộ gia đình Số tiền này thường được chi cho tiêu dùng gia đình hoặc đầu tư cho sản xuất nhằm tạo ra nguồn thu nhập mới Tuy nhiên đối với các hộ nghèo, phần lớn tiền gửi về được dùng cho chi tiêu cho cuộc sống hàng ngày thay vì đầu tư sản xuất Bên cạnh nhu cầu chi tiêu hàng ngày, Kết quả điều tra di cư giữa kỳ năm 2004 giữa Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên hợp quốc còn cho biết nguồn tiền người di cư gửi về còn được đầu tư cho học

Trang 29

hành và khám chữa bệnh, đóng góp cho giỗ chạp/ma chay, cưới xin [31] Ở Việt Nam, quá trình người lao động ra nước ngoài làm việc có tác động đến gia đình ở quê nhà, cụ thể là tác động kinh tế được thể hiện rõ nét nhất trong báo cáo của Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội (2010) cho thấy, “kinh tế được nâng lên, điều kiện sống của những người ở nhà tốt hơn nhờ vào những người thân đi XKLĐ” [40]

Ở trong khu vực Đông Nam Á, Thái Lan là nước có lịch sử lâu dài đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài Theo đánh giá của Chính phủ Thái Lan, di

cư lao động quốc tế ở nước này chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ nhưng nó lại tác động tích cực tới nền kinh tế của quốc gia đó Theo như báo cáo của tổ chức Lao động Quốc tế Thái Lan (2011), tính trung bình tiền của người lao động gửi về chiếm 1% GDP của cả nước, bên cạnh đó nó còn giúp tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động [85]

Trong khi đó, hầu hết lao động đi làm việc ở nước ngoài của Việt Nam

có nguồn gốc là lao động nông thôn, chiếm trên 90% tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài hàng năm Bình quân mỗi năm, Việt Nam đưa được 80,000 lao động đi làm việc, chiếm hơn 5% tổng số lao động được giải quyết việc làm mỗi năm Tính riêng năm 2010, các doanh nghiệp lao động ở nước ngoài trên cả nước đã đưa đi hơn 85,000 người XKLĐ đã và đang đem lại nguồn ngoại tệ khá lớn, theo báo cáo của Cục Quản lý Lao động Ngoài nước từ năm 1990-2014 cho biết, bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2008 - 2010 số ngoại

tệ chuyển về nước khoảng 1,8 tỷ USD, chiếm khoảng 2% GDP Nguồn tiền gửi

về không chỉ góp phần nâng cao mức sống của mỗi gia đình mà còn làm thay đổi bộ mặt địa phương, đặc biệt khu vực nông thôn, nơi họ ra đi [12]

Trong công trình "Chiều cạnh giới của di dân thời kỳ CNH- HĐH đất nước” của tác giả Đặng Nguyên Anh (2005), đã tìm thấy “có rất nhiều lý do

Trang 30

khác nhau để người lao động quyết định di cư, song lý do quan trọng nhất là tất cả đều mọi người đi XKLĐ mong muốn cải thiện đời sống cho bản thân và gia đình họ" [3] Lao động ở nước ngoài là mục tiêu góp phần phát triển nguồn nhân lực, kỹ năng làm việc, tạo thu nhập cho người lao động, tăng thu nhập ngoại tệ, tăng cường quan hệ quốc tế [45] Tuy nhiên, kiều hối có thể là một trong những tác động trực tiếp liên quan tới hoạt động kinh tế của trẻ em

ở lại quê nhà, nó không ảnh hưởng tới việc thay đổi việc học hành [49] Các nghiên cứu về di cư của Acosta, P (2003), Chant, S., và Radcliffe, S (1992), Kahn, K và các tác giả (2003), và Stark, O., và Taylor, J E (1991) đều chỉ ra rằng, quá trình di cư của bố mẹ có thể có cả tác động tích cực và hậu quả tiêu cực do di cư mang lại cho cả người di cư và những thành viên ở lại quê nhà Mặt tích cực của di cư mà ai cũng thấy rõ đó là nâng cao phúc lợi, kinh tế của

cả người đi và người ở lại [49], [67], [91], [127] Bên cạnh đó, Gao và các tác giả (2010), Jones, A và các tác giả (2004) và nhà tâm lý học Pottinger, A M (2005) và báo cáo của Tổ chức Cứu trợ trẻ em Sri Lanka (2006) cho thấy rằng, trẻ em có bố mẹ di cư được chu cấp đầy đủ về kinh tế, vật chất hơn là mặt tinh thần [75], [89], [113], [118] Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2006) cho biết, lượng kiều hối gửi về gia đình từ những lao động di cư trên thế giới tác động đến xóa đói giảm nghèo, ổn định tài chính và phát triển kinh tế của những nước có lao động đi làm việc ở nước ngoài [135] Hầu hết các nghiên cứu cho tới thời điểm hiện tại đã cung cấp những thông tin quan trọng của kiều hối và thấy rằng kiều hối nhận được từ di cư có thể hỗ trợ gia đình ở quê nhà giảm thiểu rủi ro về kinh tế và khắc phục những hạn chế vốn cho đầu tư [101], [127]

Mối liên hệ giữa kinh tế và trẻ em được thể hiện theo mô hình rút gọn là: việc đứa trẻ không tham gia ở trường học sẽ dẫn đến gia tăng việc tham gia vào các hoạt động kinh tế và ngược lại; sức khỏe kém sẽ ảnh hưởng đến kết

Trang 31

quả học tập; việc bố mẹ đi làm ăn xa khiến cho việc kiểm soát trẻ sẽ khó khăn hơn, đặc biệt là kiểm soát việc học hành sẽ dẫn đến trẻ tăng nhu cầu học thêm

Vì vậy, kiều hối không chỉ đơn thuần là tăng thu nhập của gia đình nhận tiền

mà nó còn có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực phi kinh tế khác nữa

1.2 Lao động nước ngoài và chăm sóc sức khỏe trẻ em trong gia đình

Di cư là một hiện tượng xã hội có tác động nhiều mặt tới cá nhân, gia đình, cộng đồng, tác động đến kinh tế và văn hóa cả ở nơi đi và nơi đến Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, di cư của bố mẹ có thể có những ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đối với người di cư và các thành viên gia đình ở lại quê nhà Cụ thể, trong báo cáo nghiên cứu “Di cư và sức khỏe ở cộng đồng châu Âu” xuất bản năm 1998 của nhóm các tác giả Carballo, M;

J Divino, và D Zeric, và các tác giả khác như Chant, S., và Radcliffe, Kahn

và các tác giả… đã chỉ ra rằng di cư ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, tinh thần, tình cảm và hạnh phúc cho cả người di cư cũng như các thành viên trong gia đình của người di cư [65], [67], [91], [127] Một vài nghiên cứu của Goode (1964), Gulati (1993), Hadi (1999), Kuhn (2003) cho thấy, những thành viên trong hộ gia đình có người di cư có sức khỏe tốt hơn so với những thành viên ở hộ gia đình không có người di cư [77], [77] Goode

W J., 1964 The family Englewood Cliff, NJ Prentic Hall

[78], [79], [94] Hơn nữa, một số nghiên McKenzie, D J., (2006), Mansuri, G., (2007), Trung tâm nghiên cứu Di dân Scalabrini (2004) cũng đã chỉ ra rằng, trẻ em có bố mẹ đi làm ăn xa có chiều cao cao hơn [104], [120] và cân nặng hơn [102], [104] so với những đứa trẻ không có bố mẹ đi làm ăn xa Một nghiên cứu thực hiện tại Mexico cho thấy “di cư của bố mẹ cải thiện cho sức khỏe trẻ em và làm giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh” [102] Ngoài ra, kết quả nghiên cứu khác của nhóm các tác giả Massey, D S., (1993) và Stark, O., và Taylor, J E., (1991) cũng tìm thấy, trẻ em của các hộ gia đình có bố mẹ di cư có

Trang 32

sức khỏe tốt hơn so với trẻ em trong các gia đình không có bố mẹ di cư do việc

sử dụng các khoản chi phí cho nhu cầu đầu tư giáo dục và sức khỏe của trẻ em

Mặt khác, một số nghiên cứu của các nhà khoa học như nhà tâm lý học Gao và các tác giả (2010) trong tác phẩm “Tác động của cha mẹ đi cư đến sức khỏe và hành vi của trẻ vị thành niên ở Trung Quốc”; Jones, A và các tác giả khác đã trình bày trong công trình “Kinh nghiệm của trẻ em khi sống xa cha mẹ như một hệ quả của di cư, 2004” và nhà tâm lý học Pottinger,

A M (2005) trong tác phẩm “Kinh nghiệm của trẻ em có cha mẹ di cư tại thành phố Jamaica” và báo cáo của Tổ chức Cứu trợ trẻ em Sri Lanka (2006),

đã tìm thấy những hậu quả tiêu cực của việc di cư của bố mẹ đối với sức khỏe tinh thần của trẻ em ở lại quê nhà như “trẻ cảm thấy buồn hơn” [75], [89], [113], [118], trong khi một số nhà khoa học khác như Konseiga, A và các tác giả (2009), nhà tâm lý học Salah, M A (2008) và Shen, M cùng các tác giả (2009), cũng nhận thấy tác động tiêu cực đến sức khỏe thể chất, cụ thể là “trẻ có bố mẹ di cư sẽ bị thiếu cân và thấp còi hơn so với trẻ khác” [93], [119], [124] Trong số này, một nghiên cứu được tiến hành với học sinh trung học ở vùng nông thôn Trung Quốc thấy rằng tỷ lệ thương tật hàng năm

ở trẻ em trong những gia đình có bố mẹ đi làm ăn xa cao gấp hai lần so với trẻ em sống chung với bố mẹ [124]

Báo cáo của Quỹ Phát triển phụ nữ của Liên Hợp quốc năm 2010 cho biết, phụ nữ hiện chiếm khoảng ½ số người di cư trên thế giới Số lượng người di cư ở khu vực Đông Nam Á đã tăng từ 4% năm 1980 lên gần 40% vào cuối những năm 1990 [35], và theo số liệu của Cục Quản lý lao động nước ngoài từ 1990-2014 và UN Women và Cục QLLĐNN (2011) cho biết,

ở Việt Nam có khoảng 1/3 phụ nữ hiện đang đi làm việc ở nước ngoài [12], [36] Hiện nay rất ít các nghiên cứu đánh giá về tác động của người mẹ đi lao động ở nước ngoài đến trẻ em, tuy nhiên một số công trình nghiên cứu ở trên thế giới như Konseiga, A và các tác giả (2009), Salah, M A (2008) và Shen, M và

Trang 33

các tác giả (2009) chỉ ra rằng bố mẹ đi lao động ở nước ngoài có tác động tiêu cực đến sức khỏe thể chất của trẻ [93], [119], [124] Chẳng hạn, nghiên cứu ở Nairobi về “Đánh giá tác động của người mẹ di cư đến tình trạng tử vong trẻ

em trong các khu tái định cư Nairobi” vào năm 2009 của Konseiga và các tác giả khác cho thấy, trẻ em có mẹ di cư dễ bị bệnh như: cảm lạnh, ho, đau bụng, đau đầu và có cảm giác không ngon miệng hơn trẻ có mẹ ở nhà chăm sóc [93]

Tương tự như vậy, một nghiên cứu của UNICEF tiến hành tại Moldova (Đông Âu), thấy trẻ em có bố mẹ đi làm ăn xa không được chăm sóc khi cần thiết và thời gian tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế chậm hơn, và

ăn những thức ăn chất lượng kém hơn so với những đứa trẻ có bố mẹ ở nhà chăm sóc Nghiên cứu này cũng cho thấy trẻ em có bố mẹ di cư có tiếp xúc với những chất kích thích có hại cho sức khỏe như uống rượu, thậm chí là gây ra chết người như sử dụng ma túy và quan hệ tình dục khi còn rất nhỏ do thiếu hoặc không có sự giám sát của những người lớn có trách nhiệm [119] Tuy nhiên, một nghiên cứu có quy mô nhỏ ở Thái Lan

về “Gia đình di cư và chỉ số IQ của trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuổi đến trường tại Thái Lan, 2006” đã cho thấy, nếu bố mẹ đi làm ăn xa trong một khoảng thời gian ngắn (khoảng sáu tháng) thì việc bố mẹ đi làm ăn xa

đó không có ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc tình trạng dinh dưỡng của trẻ em, còn bố mẹ đi làm xa với thời gian trên sáu tháng thì sẽ có ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ [108]

Gần đây, một vài nghiên cứu của Jampaklay (2006, 2011), Jones, H., và Kittisuksathit (2003), Loury (1977) từ góc nhìn nhân khẩu học và xã hội học,

đã tìm thấy cả những tác động tích cực và tiêu cực của bố mẹ đi làm ăn xa đối với sức khỏe trẻ em và kết quả học tập của trẻ ở lại quê nhà [86], [87], [88], [108] Tuy nhiên, tác động di cư của bố mẹ đối với sức khỏe trẻ em ở lại quê

Trang 34

nhà là một chủ đề gần như chưa được nghiên cứu nhiều Các nghiên cứu để giải quyết các mối quan hệ nhân quả giữa di cư và sức khỏe của trẻ em có thể nói là vẫn còn rất ít Vì vậy, việc nghiên cứu về chủ đề mối quan hệ giữa di cư đặc biệt là di cư quốc tế của bố mẹ tới sức khỏe của trẻ em trong gia đình là điều cần thiết

1.3 Lao động nước ngoài và việc giáo dục, xã hội hóa trẻ em trong gia

đình

Theo hai nhà kinh tế học Cox-Edwards, A và M Ureta (2003) nhận định rằng, trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã ngày càng quan tâm đến những tác động của di cư và kiều hối với sự phát triển của cộng đồng [71] Trong khi một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng di cư có thể mang lại lợi ích cho cộng đồng và lợi ích rõ ràng nhất là cho các thành viên trong gia đình bằng cách tăng thu nhập cho gia đình họ Khi nhắc đến di cư lao động quốc tế các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các tác động và mối quan hệ của di

cư "quốc tế" và “kiều hối”, cụ thể nguồn kiều hối gửi nhà về sẽ góp phần nâng cao các khoản đầu tư cho giáo dục của trẻ [103] Trong các hoàn cảnh khác nhau, việc con cái sống xa bố mẹ sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của trẻ

em Nghiên cứu về tác động của di cư đến kết quả giáo dục trẻ đã chỉ ra rằng, việc bố mẹ đi làm ăn xa mục đích là đầu tư giáo dục cho con cái trong gia đình đồng thời cũng làm giảm lao động trẻ em Khi đánh giá tác động của di

cư và kiều hối gửi về tới giáo dục của trẻ, các giả thuyết đều đưa ra mối quan hệ giữa tiền gửi về và giáo dục, cụ thể khi kiều hối gửi về sẽ làm gia tăng cơ hội đầu tư cho giáo dục Tính logic của nó thể hiện chính là các khoản đầu tư cho giáo dục được sẵn sàng nếu so với giai đoạn trước đây khi mà bố mẹ chúng chưa ra nước ngoài làm việc thì việc đầu tư cho giáo dục chưa thực sự được quan tâm

Trang 35

Tuy nhiên, thời gian gần đây nguồn kiều gửi hối gửi về cho gia đình, đặc biệt là những gia đình ở các nước đang phát triển sẽ đầu tư vào nguồn vốn con người, cụ thể là cho trẻ em Theo như Acosta, P và các tác giả (2006) giải thích rằng, đầu tư cho trẻ em chính là chìa khóa phát triển đất nước trong tương lai [50] Trên cơ sở đó, hai nhà nghiên cứu của Việt Nam là Nguyễn Hữu Minh và Nguyễn Thị Thanh Tâm (2014), đã tìm thấy tác động của nguồn kiều hối do người đi lao động ở nước ngoài gửi về nước cụ thể là của người mẹ đã đóng góp vào kinh tế gia đình làm tăng cơ hội học hành cho con cái, thúc đẩy tính tự lập và trách nhiệm của trẻ ở khu vực nông thôn [21] Nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Xã hội học, Tâm Lý học Asis (2006), Kuhn (2006), Bryant (2005) cho biết, thành tích học tập của trẻ được phản ánh qua mô hình đầu tư cho giáo dục của bố mẹ di cư cho con cái của họ Phần lớn những đứa trẻ trong gia đình di cư đều học tại trường tư thục và có kết quả học tập tốt hơn những trẻ em trong gia đình bố

mẹ không di cư Một lợi ích nữa của kiều hối chính là giúp trẻ em không phải tham gia vào thị trường lao động sớm mà tiếp tục sự nghiệp học hành và nâng cao trình độ học vấn của chúng [52], [61], [94] Phát hiện từ một nghiên cứu ở Philippine của Battistella, G và Conaco, C (1998) cho thấy, người mẹ đi làm việc ở nước ngoài có tác động tích cực đến kết quả học tập của trẻ, trẻ có kết quả học tập tốt hơn so với các nhóm trẻ khác [62]

Lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đã và đang mang lại cho đất nước và cho bản thân gia đình họ những nguồn lực về kinh tế Đóng góp lớn nhất là nguồn tiền gửi về nước của người lao động với con số ước tính không dưới 1,2 tỷ USD/năm Nguồn tiền này đã đóng góp đáng kể vào thu nhập của họ, và nhiều hộ gia đình cùng với các thành viên đã thoát nghèo nhờ XKLĐ [2] Theo như phát hiện của Đặng Nguyên Anh và các tác giả (2010) cho thấy, cũng nhờ có các khoản tiền gửi từ nước ngoài về, vấn đề chăm

Trang 36

sóc sức khỏe được thực hiện tốt hơn Mức sống và đầu tư cho giáo dục của các hộ gia đình được cải thiện nhiều hơn trước [46]

Theo Carmen Camacho và I-Ling Shen (2010), sự gia tăng lượng kiều hối trên toàn cầu đã gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi về tác động kinh tế đối với những người nhận được nguồn tiền gửi Nghiên cứu chỉ ra rằng tiền gửi về từ người di cư lao động có vai trò rất quan trọng như: giúp làm tăng thu nhập của hộ gia đình và tăng đầu tư vào giáo dục công Tuy nhiên, mặt trái của kiều hối là thúc đẩy di cư, bố mẹ sẽ vắng nhà nhiều hơn và đồng nghĩa là số trẻ em sẽ ở lại quê nhà cũng nhiều hơn Đã

khi bố mẹ dời quê nhà để đi ra ngoài làm việc Khi bố mẹ đi làm ăn xa trẻ

em sẽ thiếu những giám sát của bố mẹ và sẽ ảnh hưởng tới hành vi của trẻ, điều đó có nghĩa là sẽ có những rủi ro xảy ra gây bất lợi cho trẻ khi bố

mẹ vắng nhà [64]

Nghiên cứu của Parreñas (2005a) chỉ ra rằng, trẻ em duy trì “tâm

lý dựa vào mẹ” và chúng coi những sự thay thế của người thân chỉ ở mức bình thường, mặc dù những người thân hỗ trợ chúng tối đa, những bất lợi xảy ra nhiều nhất ở những gia đình có mẹ đi làm ăn xa hơn những người bố đi làm ăn xa [110] Những trẻ em gái là con đầu có xu hướng thay thế bố mẹ mình để gánh vác công việc nhà và chăm sóc những thành viên khác trong gia đình Một số trẻ, đặc biệt là trẻ em trong gia đình nghèo ít có khả năng được tiếp cận giáo dục, chất lượng cuộc sống bị giảm sút khi mà mẹ của chúng đi vắng, mặc dù việc người mẹ đi vắng sẽ khiến cho chúng độc lập hơn và có thêm những kỹ năng mới Đánh giá của L.A Hoang and Brenda S.A Yeoh, (2015) nhận xét rằng, một

số trẻ em gái sẽ thấy không hài lòng với những gánh nặng đó, một số trẻ

Trang 37

khác chấp nhận và điều chỉnh cuộc sống của chúng như là sự “trả ơn” cho người mẹ đã phải đi làm ăn xa ở nước ngoài [55]

Sự di chuyển của các thành viên trong gia đình đặc biệt là của người

lớn có thể ảnh hưởng đến việc giáo dục trẻ em bị để lại quê nhà Đầu tiên, các

tác giả Hanson, G H và C Woodruff (2003) và hai nhà kinh tế học là McKenzie, D và Rapoport, H., (2011) đã chứng minh được sự vắng mặt của

bố mẹ có thể dẫn đến hàng loạt vấn đề có thể có tác động tiêu cực đến chất lượng giáo dục của trẻ [80], [103] Chẳng hạn, đó là những căng thẳng trong gia đình và ảnh hưởng tới hành vi của trẻ khi thiếu đi sự chăm sóc và dạy dỗ của bố mẹ [90] Kết quả nghiên cứu của Battistella và Conaco (1998) cho thấy, trẻ em trong gia đình có bố mẹ đi làm ăn xa ở Philippine, đặc biệt là trẻ

em vắng mẹ có kết quả học tập kém hơn so với các nhóm trẻ khác, mặc dù những đứa trẻ này cũng được chăm sóc bởi người thân và số tiền mà người

mẹ gửi về được đầu tư vào giáo dục của trẻ [62]

Hiện tượng bố mẹ di cư và tác động đối với những đứa trẻ bị để lại quê nhà ở vùng nông thôn Trung Quốc gần đây đã thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách, cơ quan chính phủ ở đất nước này Cụ thể, một số nghiên cứu của Lee (2011), Meyerhoefer và Chen (2011) cho rằng, di cư của bố mẹ có ảnh hưởng tiêu cực đến việc học của trẻ

em [97], [106] Ngược lại, Chen và các tác giả (2009) đã chỉ ra rằng quá trình

di cư của một hoặc cả hai bố mẹ không có tác động đáng kể vào việc giáo dục của trẻ em ở nhà [68] Trong khi đó, Lee và Park (2010) phát hiện ra rằng di

cư của người bố có ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ nhập học của trẻ em trai, nhưng ngược lại kết quả học tập của trẻ em gái dường như tốt hơn [96] Nghiên cứu của Lu (2012) đã phát hiện ra rằng bố mẹ di cư có tác động tiêu cực đến việc giáo dục con cái ở quê nhà, đặc biệt là trẻ em gái; trong khi sự di

Trang 38

cư của anh chị em của đứa trẻ thường dẫn đến những ảnh hưởng tích cực trong việc giáo dục trẻ em ở lại [99]

Thứ hai, việc đi lao động ở nước ngoài cũng có mặt tích cực của nó Đó

là, các thành viên đi làm ăn xa có thể cung cấp thông tin ở bên ngoài gia đình

và nó là vấn đề hữu ích cho giáo dục của trẻ em Tương tự như vậy, khi tiếp xúc với cuộc sống của thế giới bên ngoài có thể khiến người di cư thu được những thông tin về tầm quan trọng của việc đầu tư cho giáo dục, và làm như thế nào có thể đầu tư tốt nhất cho việc học tập con cái trong gia đình mình [96]

Cuối cùng, các khoản tiền gửi về nhà có thể có một tác động tích cực

đối với học hành của trẻ vì nguồn tài chính này có thể giúp giảm bớt khó khăn trong chi tiêu của gia đình và cho phép gia đình đầu tư nhiều hơn cho giáo dục của con em họ [71], [80]

Bên cạnh đó, sự vắng mặt của bố mẹ cũng có ảnh hưởng đối với vấn đề giáo dục trẻ em tuy nhiên ảnh hưởng này còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như sự hỗ trợ của người thân, nỗ lực của đứa trẻ, tuổi và giới tính của trẻ,…[99], [103]

Tóm lại, các tài liệu trên đều chỉ ra kiều hối có hai mặt, mặt tích cực

và mặt tiêu cực, chúng có tác động đến trẻ em nói chung và giáo dục của trẻ em nói riêng Một lần nữa chúng tôi phân tích để tìm ra những câu trả lời cho câu hỏi về việc liệu kiều hối và sự di cư của bố mẹ tác động tiêu cực hay tích cực giáo dục trẻ em trong gia đình

1.4 Nhận xét sơ bộ và định hướng nghiên cứu

Ngược trở lên là việc tóm lược một cách ngắn gọn quan điểm và những nội dung nghiên cứu của các tác giả cả ở Việt Nam và nước ngoài về chủ đề chăm sóc, giáo dục tri thức và xã hội hóa trẻ em trong các hộ gia đình có

Trang 39

bố/mẹ đi XKLĐ Đến đây, cần rút ra những nhận xét sơ bộ về thành tựu đã đạt được cũng như những bài học kinh nghiệm, nhằm định hướng cho nghiên cứu của luận án

1.4.1 Trước hết cần phải thừa nhận rằng chủ đề XKLĐ và ảnh hưởng của

nó đến đời sống kinh tế - xã hội ở cả nơi đi và nơi đến, trong đó có việc chăm sóc, giáo dục tri thức và xã hội hóa trẻ em ở các gia đình có bố/ mẹ

đi XKLĐ đã, đang được đông đảo các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Các nhà khoa học này không chỉ có các nhà kinh tế học, mà còn có các nhà nhân học, tâm lý học và xã hội học Phạm vi nghiên cứu của họ cũng không dừng lại ở việc nghiên cứu tác động của XKLĐ đến tăng trưởng kinh tế, mà còn là sự phát triển con người và nguồn nhân lực cho hiện tại

và tương lai Rõ ràng, chủ đề XKLĐ và những ảnh hưởng kéo theo của nó vừa mang tính thời sự, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với việc phát triển con người và xã hội

1.4.2 Tuy nhiên, nếu xem xét một cách tổng thể, chúng ra dễ dàng nhận

ra nhận ra là trên quy mô toàn thế giới chứ không riêng ở Việt Nam, trong nghiên cứu về XKLĐ, các nhà nghiên cứu đã và đang tập trung vào những khía cạnh kinh tế nhiều hơn là những khía cạnh xã hội Chẳng hạn, đó là

sự tác động của XKLĐ đến nền kinh tế của đất nước nói chung và đời sống kinh tế của hộ gia đình có người đi XKLĐ nói riêng, đó là những vấn đề mà người lao động gặp phải trước, trong và sau quá trình đi cư đi lao động ở nước ngoài; thậm chí đó còn là những tác động của XKLĐ đến nền kinh tế của nước nhận lao động (thường là những nước phát triển), chứ không phải ở nước đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài (những nước đang phát triển)… Trong khi đó, những khía cạnh xã hội liên quan đến XKLĐ như vấn đề chăm sóc, giáo dục và xã hội hóa đối với trẻ em có bố/ mẹ đi làm việc ở nước ngoài cho đến nay vẫn còn thiếu vắng Đúng

Trang 40

như hai tác giả Rapoport và Docquier (2006) cho biết những tài liệu về mối quan hệ giữa kiều hối và trẻ em hiện đang ở dạng các tài liệu kinh tế, các nhà nghiên cứu mới chỉ tập trung chuyên sâu vào xem xét tính kinh tế của kiều hối và có rất ít tài liệu nghiên cứu về tác động của kiều hối tới trẻ em ở lại quê nhà [116]

1.4.3 Về phương pháp nghiên cứu, chúng ta biết các nghiên cứu về XKLĐ và những ảnh hưởng của nó tới đời sống của các hộ gia đình có bố/ mẹ đi XKLĐ

và con cái của họ đều do các nhà nghiên cứu và các tổ chức có uy tín thực hiện, họ sử dụng cả hai nguồn số liệu định tính và định lượng để mô tả và phân tích các vấn đề nghiên cứu Ở Việt Nam, những thông tin mang tính chính thống thường được các báo cáo và các nhà nghiên cứu trích dẫn từ Website của Bộ LĐ-TBXH, hoặc từ Cục Quản lý lao động Ngoài nước, hay lấy nguồn thu thập số liệu về tiền gửi về của các cuộc khảo sát mức sống dân

cư, chứ không có nhiều nghiên cứu trực tiếp thu thập số liệu định lượng và các thông tin định tính từ thực địa

Như ở phần Mở đầu đã nói, chúng tôi không chỉ sử dụng cả hai phương pháp định lượng và định tính để thu thập các thông tin đang diễn

ra đối với những người có liên quan, mà còn sử dụng cả phương pháp phỏng vấn hồi cố để khôi phục lại những thông tin và sự kiện diễn ra trước và sau thời điểm bố mẹ chia tay trẻ để đi lao động ở nước ngoài Luận án này không có tham vọng gì khác hơn ngoài cung cấp cho bạn đọc một bức tranh chân thực từ thực địa về tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố/ mẹ đi XKLĐ trước năm 2008-2009 tại hai tỉnh Thái Bình và Hải Dương, để từ đó rút ra các bài học thiết thực và bổ ích 1.4.4 Điểm lại những thành tựu, kinh nghiệm và cả phương pháp ở các công trình và tác giả đi trước, chúng tôi coi đó là những tiền đề không thể thiếu để triển khai chủ đề nghiên cứu này Luận án này tập trung vào 3 khía cạnh chính là:

Ngày đăng: 27/10/2016, 16:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đặng Nguyên Anh, 1998. Vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di cư. Tạp chí Xã hội học. Số 2/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Xã hội học
[2] Đặng Nguyên Anh và các tác giả, 2003: “XKLĐ ở Việt Nam: Một số vấn đề thực tiễn và chính sách”. Đề tài cấp Viện, Viện Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “XKLĐ ở Việt Nam: Một số vấn đề thực tiễn và chính sách”
[3] Đặng Nguyên Anh, 2005. Chiều cạnh giới của di dân thời kỳ CNH- HĐH đất nước. Tạp chí Xã hội học số 2 (tr23-32) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Xã hội học số 2 (
[5] Bộ LĐ-TB&XH, TCTK và ILO, 2014. Điều tra Quốc gia về lao động trẻ em năm 2012. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra Quốc gia về lao động trẻ em năm 2012
[7] Bộ LĐTBXH, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW, 2010: Thực trạng và giải pháp cho XKLĐ ở Việt Nam. Báo cáo nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp cho XKLĐ ở Việt Nam
[8] Bộ Chính trị, Chỉ thị số 20/CT-TW ngày 5/11/2012 : “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới
[9] Bộ Y tế, UNICEF, 2012. Nguyên nhân và hậu quả của suy dinh dưỡng thấp còi: Cơ hội cải thiện sức khỏe và phát triển kinh tế. Bản tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân và hậu quả của suy dinh dưỡng thấp còi: Cơ hội cải thiện sức khỏe và phát triển kinh tế
[13] Cục Quản lý Lao động Ngoài nước, 2014. Báo cáo về hoạt động XKLĐ của Việt Nam. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về hoạt động XKLĐ của Việt Nam
[14] Hà Thúc Dũng và Nguyễn Ngọc Anh, 2012. Định hướng học tập và nghề nghiệp cho con cái của cư dân Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học xã hội, Số 7 (167) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học xã hội
[15] Vũ Quang Hà, Xã hôi học đại cương, Đại học quốc gia Hà Nội, 2002, tr 132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hôi học đại cương
[17] Lê Ngọc Hùng, 2003. “Lý thuyết và phương pháp tiếp cận mạng lưới xã hội: trường hợp tìm kiếm việc làm của sinh viên”, Tạp chí Xã hội học, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết và phương pháp tiếp cận mạng lưới xã hội: trường hợp tìm kiếm việc làm của sinh viên”, "Tạp chí Xã hội học
[18] Cao Vũ Hùng, 2014. “Sự phát triển của trẻ em qua các giai đoạn”. http://thankinhtreem.net/article/su-phat-trien-cua-tre-em-qua-cac-giai-doan-151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của trẻ em qua các giai đoạn
[20] Đặng Thị Mai, 2015. Giải quyết việc làm cho người lao động ở Hải Dương- Thực trạng và giải pháp.http://truongchinhtri.haiduong.org.vn/ViewDetail.aspx?nID=1697 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết việc làm cho người lao động ở Hải Dương- Thực trạng và giải pháp
[21] Nguyễn Hữu Minh và Nguyễn Thị Thanh Tâm, 2014. Phụ nữ nông thôn đi làm việc ở nước ngoài: Phân tích từ góc độ giới. Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, Số 5/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam
[22] Phan Thị Thanh Mai, Hà Thị Minh Khương, 2012. Chăm sóc và giáo dục con trong gia đình có vợ hoặc chồng di cư lao động. Tạp chí nghiên cứu Gia đình và Giới, Số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu Gia đình và Giới
[23] Đặng Thị Thanh Nhàn, 2013. Phụ nữ đi lao động nước ngoài và những tác động đến việc chăm sóc và giáo dục con cái trong gia đình, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, Số 6- 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới
[24] Nguyễn Thị Minh Phương, 2014. Định hướng giáo dục cho con trong các gia đình nông thôn ngày nay. Luận án Tiến sĩ Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giáo dục cho con trong các gia đình nông thôn ngày nay
[25] Nguyễn Thị Thanh Tâm, 2010. Một số vấn đề xã hội của phụ nữ nông thôn Việt Nam lấy chồng và đi lao động ở nước ngoài (Đề tài cấp Bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề xã hội của phụ nữ nông thôn Việt Nam lấy chồng và đi lao động ở nước ngoài
[26] Phạm Công Trứ, 2003. Một số vấn đề xung quanh thuật ngữ “lao động ở nước ngoài”. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật. Số 8/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: lao động ở nước ngoài”. "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
[102] McKenzie, D. J., 2006. Beyond remittances: The effects of migration on Mexican households. Retrieved 20 June 2009 from http://www.rrojasdatabank.info/migrbrain/ch4.pdf Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Số trẻ em trong các hộ gia đình - Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp
Bảng 2 Số trẻ em trong các hộ gia đình (Trang 75)
Bảng 3: Trình độ học vấn của bố và mẹ trong các hộ gia đình - Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp
Bảng 3 Trình độ học vấn của bố và mẹ trong các hộ gia đình (Trang 78)
Bảng 4 :  Cuộc sống của người chăm sóc và bản thân trẻ so với - Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp
Bảng 4 Cuộc sống của người chăm sóc và bản thân trẻ so với (Trang 83)
Bảng 6 : Sở hữu tài sản ở các hộ gia đình đƣợc khảo sát - Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp
Bảng 6 Sở hữu tài sản ở các hộ gia đình đƣợc khảo sát (Trang 90)
Bảng 7: Nhận định về mức độ đầy đủ tài chính so với các bạn cùng tuổi của trẻ - Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp
Bảng 7 Nhận định về mức độ đầy đủ tài chính so với các bạn cùng tuổi của trẻ (Trang 92)
Bảng 8: Tiền tiết kiệm trong các hộ gia đình - Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp
Bảng 8 Tiền tiết kiệm trong các hộ gia đình (Trang 94)
Biểu đồ 9: Hình thức liên lạc của bố/ mẹ đi XKLĐ với trẻ - Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp
i ểu đồ 9: Hình thức liên lạc của bố/ mẹ đi XKLĐ với trẻ (Trang 102)
Bảng 9: Thời gian bố/ mẹ đi XKLĐ tương quan với việc sử dụng - Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp
Bảng 9 Thời gian bố/ mẹ đi XKLĐ tương quan với việc sử dụng (Trang 103)
Bảng  14  cho  thấy,  với  những  trẻ  em  trong  gia  đình  có  bố  mẹ  ở  nhà,  điểm tốt chính là lý do làm cho trẻ cảm thấy vui hơn so với nhóm trẻ có bố/ - Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp
ng 14 cho thấy, với những trẻ em trong gia đình có bố mẹ ở nhà, điểm tốt chính là lý do làm cho trẻ cảm thấy vui hơn so với nhóm trẻ có bố/ (Trang 117)
Bảng 15 : Lý do làm cho trẻ buồn trong các hộ gia đình - Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp
Bảng 15 Lý do làm cho trẻ buồn trong các hộ gia đình (Trang 118)
Bảng 17 : Những việc nhà mà trẻ thường làm ở trong các hộ gia đình - Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp
Bảng 17 Những việc nhà mà trẻ thường làm ở trong các hộ gia đình (Trang 123)
Bảng 18: Chiều cao, cân nặng của trẻ tương quan theo độ tuổi của trẻ - Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp
Bảng 18 Chiều cao, cân nặng của trẻ tương quan theo độ tuổi của trẻ (Trang 124)
Bảng 19: Ƣớc lƣợng mô hình hồi quy tác động của bố/ mẹ đi XKLĐ - Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp
Bảng 19 Ƣớc lƣợng mô hình hồi quy tác động của bố/ mẹ đi XKLĐ (Trang 127)
Bảng 21. Ước lượng mô hình hồi quy về tinh thần hòa đồng của trẻ với người lớn - Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp
Bảng 21. Ước lượng mô hình hồi quy về tinh thần hòa đồng của trẻ với người lớn (Trang 132)
Bảng trên phân tích về thành tích học tập của trẻ theo nhận xét của giáo  viên chủ nhiệm và điều này, cũng không có sự khác biệt khi so sánh điểm của  trẻ với các bạn cùng lớp - Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi xuất khẩu lao động hiện trạng và giải pháp
Bảng tr ên phân tích về thành tích học tập của trẻ theo nhận xét của giáo viên chủ nhiệm và điều này, cũng không có sự khác biệt khi so sánh điểm của trẻ với các bạn cùng lớp (Trang 145)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w