1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự ảnh hưởng của học thuyết “tam tòng, tứ đức” đối với người phụ nữ việt nam hiện nay

54 671 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy tôi chọn sự ảnh hưởng của học thuyết “Tam tòng, tứ đức” đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay là đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình 2.. Tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề ảnh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN MẠNH PHƯƠNG

SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT “TAM TÒNG, TỨ ĐỨC”

ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN MẠNH PHƯƠNG

SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT “TAM TÒNG, TỨ ĐỨC”

ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Xh2b

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: ThS Giáp Thị Dịu

Sơn La, năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này tôi xin bày tỏ lòng cám ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và các thầy cô trong khoa Lý luận chính trị (Trường Đại học Tây Bắc) đã giúp đỡ động viên tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn đến các cơ quan, ban ngành đã tạo điều kiện giúp

đỡ tôi tài liệu để phục vụ cho khóa luận như: Ban Giám hiệu Trường Đại học Tây Bắc, Phòng quản lý khoa học và quan hệ Quốc tế Trường Đại học Tây Bắc, thư viện Trường Đại học Tây Bắc, Thư viện tỉnh Sơn La

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến cô giáo Ths Giáp Thị Dịu, người đã nhiệt tình chỉ bảo hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Sơn La, tháng 5 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Mạnh Phương

Trang 4

MỤC LỤC

Mở đầu 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài 3

3.1 Phạm vi nghiên cứu 3

3.2 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 3

4.1 Mục đích 3

4.2 Nhiệm vụ 4

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của đề tài 4

7 Kết cấu của đề tài 4

Chương 1: HỌC THUYẾT “TAM TÒNG” “TỨ ĐỨC TRONG NHO GIÁO 5

1.1 Vị trí học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo 5

1.1.1 Một vài nét về sự hình thành và phát triển của Nho giáo 5

1.1.2 Vấn đề người phụ nữ trong Nho giáo 6

1.2 Nội dung của học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” 7

1.2.1 Thuật ngữ “Tam tòng”, “Tứ đức” 7

1.2.2 " Tam tòng", “Tứ đức” trong Nho giáo nguyên thuỷ 7

1.2.3 " Tam tòng", “Tứ đức” trong Hán Nho 9

1.2.4 Mối quan hệ "Tam tòng", "Tứ đức" 9

1.3 Học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” ở Việt Nam 10

1.3.1 Vài nét về sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam 10

1.3.2 Nội dung học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” ở Việt Nam 12

Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT “TAM TÒNG” “TỨ ĐỨC” ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY 14

2.1 Ảnh hưởng của thuyết “Tam tòng” đối với người phụ nữ Việt Nam ngày nay 14

2.1.1 Giai đoạn từ phong kiến Việt Nam độc lập đến 1945 14

2.1.2 Giai đoạn từ 1945 đến nay 17

2.2 Ảnh hưởng của thuyết “Tứ đức” đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay 21

Trang 5

2.2.1 Thuật ngữ "Công" 21

2.2.2 Thuật ngữ "Dung" 29

2.2.3 Thuật ngữ "Ngôn" 32

2.2.4 Thuật ngữ "Hạnh" 34

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ TIÊU CỰC CỦA HỌC THUYẾT “TAM TÒNG” “TỨ ĐỨC” ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY 39 3.1 Phương hướng xây dựng người phụ nữ Việt Nam hiện nay 39

3.1.1 Trung hậu, đảm đang 39

3.1.2 Chuẩn mực học vấn, kiến thức 40

3.1.3 Chuẩn mực về ý thức pháp luật 40

3.1.4 Chuẩn mực về nghề nghiệp 40

3.1.5 Chuẩn mực tác phong, thói quen, lối sống thanh lịch 41

3.1.6 Chuẩn mực trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình 41

3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế tiêu cực của học thuyết “tam tòng”, “tứ đức” đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay 41

3.2.1 Phát huy bình đẳng giới 41

3.2.2 Đổi mới chính sách xã hội đối với phụ nữ và gia đình 43

3.2.3 Tâm lý ngại sinh con ở một số phụ nữ 44

3.2.4 Sự biến động về loại hình gia đình trong thời kỳ hiện đại 44

3.2.5 Phát huy những mặt tích cực của người phụ nữ truyền thống 45

Kết luận 47

Danh mục Tài liệu tham khảo 49

Trang 6

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam bước sang thời kỳ đổi mới với nhiều thay đổi lớn lao trên mọi lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, đã dẫn đến những thay đổi về yêu cầu, những đòi hỏi, những tiêu chí đánh giá của xã hội về người phụ nữ Người phụ nữ trong thời đại mới phải đẹp toàn diện hơn, tài giỏi hơn, tích cực tham gia các công tác xã hội, đảm đang việc gia đình Và bên cạnh những nét đẹp hiện đại, người phụ nữ cần phải gìn giữ những nét đẹp truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam

Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, đánh dấu một bước chuyển mình lớn lao của dân tộc, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới Đổi mới là một xu hướng tất yếu của của đất nước, trên thực tế trải qua gần hai mươi năm thực hiện, nó đã tạo ra sự biến đổi mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế Tuy nhiên, đổi mới không đơn giản chỉ là đổi mới về kinh tế mà nó kéo theo sự biến đổi toàn diện kể cả con người một cách sâu sắc, từ đó, tạo điều kiện cho sự phát triển mới về vật chất Đảng và Nhà nước

ta luôn luôn xác định: Con người là yếu tố quan trọng hàng đầu, trong đó người phụ nữ

là lực lượng đông đảo, nắm vai trò to lớn trong gia đình và ngoài xã hội

Đạo Nho là một đạo chủ yếu bàn về chính trị, luân lý, đạo đức Nho học vào Việt Nam và đã đi hết một chặng đường dài lịch sử dân tộc ta Trên chặng đường ấy, có lúc nó giữ vai trò thúc đẩy, có lúc nó kìm hãm sự phát triển kinh tế, văn hoá, chính trị của con người Việt Nam Nhưng dù thúc đẩy hay kìm hãm, nó đều góp phần làm nên truyền thống tư tưởng, văn hoá dân tộc; góp phần vào bước tiến của xã hội, con người Việt Nam; xây dựng nước Việt Nam ngàn năm văn hiến, trong đó, ảnh hưởng lớn nhất đến người phụ nữ Việt Nam chính là học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức”

Giai cấp phong kiến Việt Nam đã tiếp thu, vận dụng phạm trù “Tam tòng” làm công cụ để giáo hoá về tâm lý, đạo đức nhằm xây dựng mẫu người phụ nữ tiêu biểu cho xã hội cũ “Tam tòng”, “Tứ đức” là một trong những chuẩn mực cơ bản nhất đối với người phụ nữ xưa, nó là thước đo giá trị, tài năng, đức hạnh của người đàn bà Và quan trọng hơn cả là sự ăn sâu bén rễ của nó vào tư tưởng, tâm hồn, nhân cách, lối sống, thói quen của mọi người trong xã hội, là điều bản thân họ đặt vào tâm vào lòng

để tự răn dạy và hoàn thiện Yêu thương hết mực, hy sinh hết mình, tần tảo một nắng

Trang 7

hai sương, cam chịu, nhẫn nại… là những đức tính mãi dệt nên cuộc đời người phụ nữ Việt Nam ở xã hội phong kiến; dệt nên chân dung đậm nét của họ trong giai đoạn dài của lịch sử dân tộc

Tìm hiểu đạo xưa của cha ông là chuyện cần thiết để học và phát huy những cái hay, cái đẹp của đường lối giáo dục xưa; cách duy trì đạo lý của dân tộc Thực tế lịch

sử đã chứng minh, đất nước có nền Nho học thì phép tắc, trật tự được củng cố; người phụ nữ có đạo nho thì thuỳ mị, nết na, đức hạnh; người với người có lòng nhân ái… Tuy nhiên, mặt trái của thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức”, của Nho giáo đã gieo cho con người đầu óc địa vị, tư tưởng gia trưởng, đẳng cấp vua/tôi, cha/con, chồng/vợ Quyền lực của vua là tuyệt đối trong quốc gia, quyền lực của cha là tuyệt đối trong gia đình Người phụ nữ bị phụ thuộc vào người đàn ông Họ bị cột chặt vào lĩnh vực gia đình

mà không có điều kiện phát huy tài năng, thực hiện khao khát chính đáng của mình

Lịch sử sang trang Người phụ nữ hiện đại ở thế kỷ XXI đã có quyền bình đẳng thực sự, có điều kiện xã hội - gia đình để phát huy tài năng của mình Nhưng cũng là thời điểm khắc nghiệt của kinh tế thị trường, "vàng thau lẫn lộn", đạo đức phẩm hạnh của người phụ nữ đang bị thử thách gay gắt Đây thực sự là cuộc đấu tranh phức tạp giữa những điều tốt đẹp và những cái xấu Có rất nhiều người phụ nữ thành đạt trên các bình diện của cuộc sống, song cũng không ít phụ nữ sa vào các tệ nạn xã hội, huỷ hoại nhân cách, bán rẻ lương tâm, cuộc sống của mình Thực tiễn cuộc sống mới, quy luật mới đòi hỏi người phụ nữ, người vợ, người mẹ ngày nay phải có những nhận thức, hành động mới cho phù hợp Tổ chức cuộc sống gia đình có văn hoá về mọi mặt: vật chất, tinh thần… là điều không đơn giản Điều này đòi hỏi họ phải có những đức tính quý báu mang tính truyền thống và trình độ, kiến thức, điều kiện, chuẩn mực hiện đại Hơn cả là sự nỗ lực hết mình, tự chiến thắng bản thân vì những điều tốt đẹp cho xã hội, vì hạnh phúc của gia đình Vậy phụ nữ Việt Nam vận dụng phát huy mặt tích cực

của “Tam tòng”, "Tứ đức” như thế nào để xây dựng chuẩn mực hiện đại

Học thuyết "Tam tòng", "Tức đức" bên cạnh ảnh hưởng tiêu cực nó còn góp phần làm nên những nét đẹp tryền thống của người phụ nữ Việt Nam Trong giai đoạn đất nước thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, người phụ nữ Việt Nam cần khắc phục quan niệm “Tam tòng” và tiếp thu vận dụng "Tứ đức" (công dung -ngôn -hạnh) như thế nào là một vấn đề có ý nghĩa thiết thực

Trang 8

Vì vậy tôi chọn sự ảnh hưởng của học thuyết “Tam tòng, tứ đức” đối với

người phụ nữ Việt Nam hiện nay là đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề ảnh hưởng của học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức”trong Nho giáo đối với người phụ nữ Việt Nam ở mức độ ít nhiều trực tiếp hay gián tiếp đã được một số tác giả Nho học, triết học các nhà bình luận nghiên cứu từ rất sớm Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau về vấn đề này Điển hình là

“Nho Giáo” của Trần Trọng Kim với hai tập: Quyển Thượng và Quyển Hạ; “Khổng

học đăng” của Phan Bội Châu; “Chuyên khảo về Nho giáo” của Đặng Thai Mai; “Nho giáo xưa và nay” của Vũ Khiêu,

Trong tác phẩm “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, ông đã khái quát quá trình lịch sử hình thành, phát triển của Nho giáo và các quan điểm cơ bản qua các thời kỳ Ông đã phân tích khá sâu học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” trong lịch sử phát triển của Nho giáo: Nho giáo thời Xuân Thu; Nho giáo thời Lưỡng Hán; Nho giáo thời Tam Quốc; Nho giáo đời Thanh và đặc biệt là Nho giáo ở Việt Nam

Về sách, báo, tạp chí như: Báo Phụ nữ, Tạp chí Gia đình, Báo Tiền phong phạm trù công - dung - ngôn - hạnh và đạo tam tòng cũng được bàn đến nhưng nghiên cứu dưới góc độ hẹp, đi vào từng khía cạnh nhỏ

Như vậy, những công trình nghiên cứu về đề tài này đã nêu lên nội dung cơ bản của "Tứ đức" và học thuyết “Tam tòng” nhưng xung quanh nó vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn, tìm hiểu và nghiên cứu nhất là sự ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của nó đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài

3.1 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của học thuyết tam tòng, tứ đức đối với

người phụ nữ Việt Nam hiện nay

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung làm rõ một số nội dung cơ bản trong thuyết tam tòng, tứ đức của

Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó đối với phụ nữ Việt Nam hiện nay

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

4.1 Mục đích

- Nghiên cứu học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo

Trang 9

- Đánh giá ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của học thuyết này đối với người phụ

nữ Việt Nam ngày nay

- Trên cơ sở đó, đề ra một số giải pháp nhằm khắc phục những mặt hạn chế; tiếp thu vận dụng sáng tạo giá trị tích cực của học thuyết "Tam tòng", "Tứ đức" góp phần vào việc xây dựng và phát huy vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

4.2 Nhiệm vụ

- Phân tích rõ nội hàm, ngoại diên của phạm trù: Tam tòng, tứ đức (công - dung

- ngôn - hạnh) ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam

- Phân tích ảnh hưởng của học thuyết này đối với phụ nữ Việt Nam xưa (trong chế độ phong kiến), đặc biệt là đối với phụ nữ Việt Nam hiện nay

- Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị tốt đẹp và khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của học thuyết này trong quá trình xây dựng phụ nữ Việt Nam hiện đại

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của đề tài là quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về học thuyết tôn giáo nói chung và

về Nho giáo nói riêng; các tác phẩm kinh điển về Nho học; các văn kiện của Đảng; những chính sách, chiến lược xây dựng con người mới của Nhà nước

Đề tài cũng sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, lôgíc, lịch sử, so sánh, thống kê, điều tra

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Học thuyết “Tam tòng” “Tứ đức” Trong Nho giáo

Chương 2: Ảnh hưởng của học thuyết “Tam tòng” “Tứ đức” đối với người phụ

nữ Việt Nam ngày nay

Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế

tiêu cực của học thuyết “Tam tòng” “Tứ đức” đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay

Trang 10

Chương 1 HỌC THUYẾT “TAM TÒNG” “TỨ ĐỨC TRONG NHO GIÁO

1.1 Vị trí học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” trong Nho giáo

1.1.1 Một vài nét về sự hình thành và phát triển của Nho giáo

Thời kỳ lịch sử Cổ - Trung đại, Trung Quốc là một trong những trung tâm văn minh lớn của thế giới Giai đoạn này, Trung Quốc có nhiều phát minh vĩ đại như phát minh ra chữ viết, giấy, nghề in, thuốc súng, thiên văn học… Cùng với ấn Độ và các dân tộc phương Đông khác, Trung Quốc còn là quê hương của nhiều trường phái triết học lớn; là chiếc nôi của nhiều nhà tư tưởng Trong lịch sử cũng như trong hiện tại việc đánh giá vai trò của triết học, tôn giáo Trung Quốc đối với sự phát triển của các nước chịu ảnh hưởng Hán hoá vẫn là một vấn đề được nhiều người quan tâm, bàn luận

Vào khoảng thế kỷ XVII đến thế kỷ XI (Trước Công nguyên) trên dải hoàng thổ phì nhiêu của con sông Hoàng Hà phía Bắc Trung Quốc đã xuất hiện một liên minh thị tộc lớn, một nền nông nghiệp định cư khá phát triển, chữ viết bắt đầu được sử dụng Nhà nước với những hình thức phôi thai của nó đã xuất hiện, đó là thời Ân - Thương

Bước sang thế kỷ XI (Trước Công nguyên) bộ lạc du mục Chu từ phía Tây Bắc men theo sông Hoàng Hà tiến vào và tiêu diệt nhà Ân, lập nên nhà Chu, mở đầu thời kỳ

"Văn minh dựng nước" Trung Quốc

Thời kỳ này, Trung Quốc có nhiều trường phái triết học, tiêu biểu là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia, Âm dương gia… Có thể khẳng định: trừ Phật giáo được

du nhập từ ấn Độ, các hệ thống triết học được thành lập thời kỳ này - với những tư tưởng cơ bản của nó - còn tồn tại và ảnh hưởng sâu đậm trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc Mỗi nhà tư tưởng sau này đều tự xếp mình vào một trường phái nào đó để giải thích là phát triển những quan niệm của bậc tiền bối

Nho giáo ra đời và nó trở thành một trong sáu trường phái cơ bản của triết học Trung Quốc thời bấy giờ Nho giáo ra đời cách đây 26 thế kỷ, tức vào khoảng thế kỷ thứ VI (Trước Công nguyên) đến thế kỷ thứ V (Trước Công nguyên)

Người sáng lập ra đạo Nho là Khổng Tử Khổng Tử sinh năm 551 Trước Công Nguyên và mất năm 479 Trước Công Nguyên, thọ 73 tuổi, tên thật là Khâu Trọng Ni, sinh ở Khúc Phụ, nước Lỗ, trong một gia đình quý tộc nhỏ Khổng tử sống ở thời đại nhà Chu suy nhược, chư hầu lấn át, trật tự Lễ, Pháp bị đảo lộn thế cục biến loạn, dân

Trang 11

tình khổ sở Đứng trên lập trường của bộ phận cấp tiến trong giai cấp quý tộc Chu, ông đem sách thành hiền đời trước ra lập thành một học thuyết có hệ thống, lấy Nhân – Lễ

- Nghĩa – Trí – Tín mà dạy người, lấy cương thường mà hạn chế nhân dục để giữ trật

tự trong xã hội cho bền vững

Khổng Tử là một nhà tư tưởng lớn, có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hoá Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam Tài liệu chủ yếu để nghiên cứu tư tưởng của ông là cuốn Luận ngữ, ghi lại lời của Khổng Tử và học trò

Học thuyết của Khổng Tử được lưu truyền rộng và gây ảnh hưởng tới nhiều dân tộc Á Đông trong đó có Việt Nam Trong học thuyết Khổng Tử, người phụ nữ ít được bàn đến nhưng không phải là không có Điều này thể hiện trong học thuyết "Tam tòng", "Tứ đức"

1.1.2 Vấn đề người phụ nữ trong Nho giáo

Con người là vấn đề trung tâm của Nho giáo nhưng không được bàn đến trong tất cả các mặt của nó mà chú trọng vào khía cạnh luân lí, đạo đức, nhằm mục đích xoa dịu mâu thuẫn giai cấp và ổn định trật tự xã hội Con người trong Nho giáo được bàn đến dưới nhiều góc độ, trong đó người phụ nữ ít được bàn đền, vai trò của họ rất mờ nhạt Một số vấn đề trong Nho giáo đề cập đến người phụ nữ như học thuyết luân lí đạo đức phong kiến; quan niệm về đạo làm vợ, đạo làm con; các quan hệ với mọi người trong gia tộc, ngoài xã hội; quan niệm về phạm vi, lĩnh vực, công việc mà họ được phép tham gia Nhìn chung, người phụ nữ trong Nho giáo được đánh giá là một lực lượng cơ bản để xây dựng xã hội nhưng họ luôn ở vị trí phụ thuộc vào nam giới,

họ chỉ tồn tại với tư cách là một yếu tố cần, cho trật tự gia đình và xã hội

Về số phận họ, cũng như số phận con người nói chung, theo Khổng Tử, con người có mệnh và không thể cưỡng lại mệnh Còn Mạnh Tử cho rằng, trời an bài địa vị

xã hội cho con người Đổng Trọng Thư cho rằng, trời và người cảm thông với nhau, trời là chủ tể của người, người có công thì hưởng, người có tội thì phạt, bắt khổ phải khổ, cho sung sướng được sung sướng Quan điểm này được xây dựng trên lập trường của giai cấp thống trị, nó phục vụ cho mục đích của giai cấp thống trị, nó buộc con người nói chung đặc biệt là phụ nữ vào khuôn phép nhất định của xã hội, nó xoa dịu mâu thuẫn giai cấp, khiến cho người phụ nữ luôn cam chịu, nhẫn nhục, bằng lòng với

số phận mình

Trang 12

Theo Khổng Tử, người phụ nữ phải theo Lễ để ngăn cấm đại dục, nghĩa là việc

ăn uống, trai, gái là cái vốn có Cái đại ố là ở sự chết chóc, nghèo khổ, bao giờ cũng

có Cho nên, dục ố là cái mối lớn của cái tâm, người ta giấu kín cái tâm Khổng Tử, luôn lấy tình cảm làm trọng, nhưng theo Khổng Tử tình cảm của người thường không

có giới hạn sẽ dẫn đến hư hỏng, ông chủ trương dùng “Lễ” để ngăn giữ những điều xấu từ khi chưa hình thành

Vấn đề người phụ nữ trong Nho giáo không được bàn luận nhiều và không hệ thống, có thể nói, trung tâm của vấn đề này chính là phạm trù “Tam tòng” và “Tứ đức”, nó được coi là một chuẩn mực cơ bản để xây dựng người phụ nữ xưa

1.2 Nội dung của học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức”

Học thuyết của Nho giáo chủ yếu bàn về các mối quan hệ luân thường đạo lý trong xã hội, qua mỗi thời đại khác nhau, Nho giáo nói chung, phạm trù “Tam tòng”

và “Tứ đức” nói riêng có những sự biến đổi về nội dung và ảnh hưởng của nó đến tư tưởng, hành động của người phụ nữ Vậy chúng ta phải hiểu “Tam tòng” và “Tứ đức”

là gì?

1.2.1 Thuật ngữ “Tam tòng”, “Tứ đức”

“Tam tòng”: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, có nghĩa là ở nhà theo

cha, xuất gia theo chồng, chồng chết theo con Tòng còn có nghĩa phục tùng, tuân theo tuyệt đối

“Tứ đức”: Công – Dung – Ngôn – Hạnh Theo từ điển Hán Việt: Công có nghĩa là khéo

léo Dung có nghĩa là dáng mạo, gồm có dung mạo: chỉ dáng điệu và sắc mặt; dung sắc: chỉ dung mạo và nhan sắc Ngôn có nghĩa là lời nói Hạnh là chỉ nết na đức hạnh

Còn một số quan điểm khác cho rằng:

Công: có nghĩa là công việc, biết cách làm việc một cách có trí tuệ, có tỉ mỉ

Dung: là dung nhan, dung mạo, nghĩa là dáng dấp thể hiện ra bên ngoài qua gương mặt, qua dáng hình khi đi đứng, nói cười, ứng xử

Ngôn: vừa mang nghĩa “thuyết” tức là ý nghĩa, trí tuệ, vừa mang nghĩa “thoại” tức lời ăn tiếng nói

Hạnh: tức đức hạnh, phẩm giá

1.2.2 " Tam tòng", “Tứ đức” trong Nho giáo nguyên thuỷ

Như đã nói, thời đại của Khổng Tử là "Bá đạo" (đạo của các nước chư hầu) đang nổi nên lấn át vương đạo (Đạo của Nhà Chu), trật tự, lễ nghĩa Nhà Chu bị đảo lộn trước tình hình đó ông chủ trương lặp lại kỉ cương cũ của nhà Chu, ông xây dựng học thuyết

Trang 13

“Nhân – Lễ – Chí – Tín”, “Chính danh”, “Hiếu đễ” Để học thuyết của mình trở thành hiện thực, Khổng Tử tập trung xây dựng mẫu người quân tử với chủ trương "Đức trị" Còn về phụ nữ, do quan niệm bất bình đẳng nam nữ nên hầu như ông không chú tâm vào việc xây dựng mẫu người phụ nữ cụ thể cho xã hội đương thời Theo Khổng Tử, nếu người đàn ông tu dưỡng “Đức” và “Tài” và trở thành chính nhân quân tử thì tất yếu người phụ nữ phải đi vào khuôn phép Ông cho rằng trong gia đình thì người phụ nữ là nhân tố sắp đặt lo toan công việc, trên cơ sở đó, Khổng Tử đưa ra chuẩn mực của người phụ nữ, người phụ nữ trước hết phải hiểu và làm theo “Tam tòng”:

Tại gia tòng phụ Xuất giá tòng phu Phu tử tòng tử

Có nghĩa là, người phụ nữ khi còn ở nhà thì phải nghe theo cha, lấy chồng phải theo chồng; chồng chết phải theo con, phải ở vậy "Tòng" con suốt đời, không được đi bước nữa

Phạm trù “Tứ đức”: Công - Dung - Ngôn - Hạnh Công chỉ sự khéo léo, đảm đang trong công việc gia đình, là nữ công gia chánh; tề gia nội trợ Dung là vẻ đẹp hình thức, thể hiện dáng vẻ tự nhiên kết hợp với trang phục, tạo nên sự đoan trang, thuỳ mị nói chung Ngôn chỉ lời ăn tiếng nói, chỉ sự lựa chọn từ ngữ tế nhị, kín đáo, nữ tính Hạnh chữ hạnh kiểm, đức hạnh, là lòng nhân ái, là sự tuân theo lễ nghĩa và hiếu

đễ với cha mẹ, anh em…

Trong bốn đức nêu trên, Khổng Tử nhấn mạnh đức "Hạnh" Theo ông, người phụ nữ đạt đến đức "Hạnh" điều căn bản là phải có tấm lòng "hiếu" nhưng phải dựa trên cơ sở "ái", "kính" Người có hiếu trước hết phải nuôi cha mẹ Nuôi nhưng phải kính, không kính là bất hiếu Nuôi cha mẹ cốt ở sự thành kính, dẫu phải uống nước lã,

ăn gạo xấu mà làm cho cha mẹ vui, đó là hiếu Song bên cạnh đó, ông lại có quan niệm rất tiến bộ khi cho rằng không phải sự phục tùng cha mẹ một cách thụ động không phân biệt phải trái, lấy lễ nghĩa mà thờ cha mẹ, không phải cha mẹ làm điều gì trái đạo cũng theo

Tuân Tử lại cho rằng người làm con hiếu có ba hạng, người con hiếu sở dĩ có ba điều không theo mệnh cha Theo mệnh thì cha mẹ nguy, không theo mệnh thì cha mẹ yên, người hiếu tử không theo mệnh là hợp với đạo trung Theo mệnh thì cha mẹ nhục, không theo mệnh thì cha mẹ vinh, người hiếu tử không theo mệnh là hợp với điều

Trang 14

nghĩa Theo mệnh là cầm thú, không theo mệnh làm cho cha mẹ được vẻ vang, người hiếu tử không theo mệnh là kính cha mẹ Cho nên, điều đáng theo mà không theo là không phải đạo làm con, chưa nên theo mà đã theo, là không hợp đạo trung Biết rõ cái nghĩ đáng theo và không đáng theo mà lại hết sức cung kính, trung tín, đoan xác, rồi

cứ cẩn thận mà làm, thế gọi là đạo hiếu Như vậy, đạo “Tòng cha” là phải biết rõ điều phải trái, cái đáng làm và cái không đáng làm, nếu không dẫu có đức hạnh tốt thế nào

mà con người không biết dùng hợp lý thì cũng thành ra dở Còn Mạnh Tử thì cho rằng thông qua ngôn ngữ giao tiếp, qua lời ăn tiếng nói hàng ngày có thể đánh giá được những hạng người khác nhau trong xã hội

1.2.3 " Tam tòng", “Tứ đức” trong Hán Nho

Năm 221 TCN nhà Tần tiêu diệt Tề, kết thúc cục diện chiến quốc Lưu Bang giành được chính quyền lập ra nhà Hán Trong bối cảnh đó xuất hiện nhà triết học duy tâm nổi tiếng Đổng Trọng Thư (180 - 105 Trước Công nguyên) Tư tưởng triết học và chính trị của ông thể hiện mục đích phục vụ vương quyền của chế độ chuyên chế phong kiến Ông đề cập đến phạm trù "Tam tòng", “Tứ đức” nhưng đã tước đi những yếu tố nhân văn, nhân ái, tiến bộ của Khổng Tử, thay vào đó là quan niệm nghiệt ngã - một quy tắc đạo đức phi nghĩa lý: Vua bảo tôi chết, tôi phải chết, nếu không mắc tội bất trung, cha bảo con chết, con phải chết, nếu không mắc tội bất hiếu Chồng nói, vợ tuyệt đối phải nghe theo, dù sai, dù đúng, người phụ nữ trong gia đình không có quyền tham gia hay phản kháng

Như vậy, đạo lý làm người đã trở thành quy định khắt khe, bề tôi phải trung với

vua, con phải hiếu với cha mẹ, vợ phải giữ đạo tòng với chồng Từ đó dẫn đến một

lôgíc: Bề trên là chân lý, là tuyệt đối; bề dưới phải phục tùng, người phụ nữ phải phục

tùng một cách tuyệt đối với cha và chồng

1.2.4 Mối quan hệ "Tam tòng", "Tứ đức"

"Tam tòng" và "Tứ đức" là hai phạm trù cơ bản, là chuẩn mực đạo đức để xây dựng mẫu người phụ nữ phong kiến của Nho giáo Giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời

Điểm chung giữa hai phạm trù này đều là những quy tắc, lễ nghĩa, chuẩn mực bắt buộc đối với người phụ nữ Cả hai đều được giai cấp thống trị phong kiến sử dụng ngày một triệt để như một công cụ đắc lực để giáo hoá người phụ nữ với mục đích: ổn định xã hội, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị và của người đàn ông

Trang 15

Tuy nhiên, giữa chúng cũng có nét khác biệt ở phạm vi, đối tượng đề cập "Tam tòng" chỉ mối quan hệ giữa người phụ nữ với nam giới trong gia đình và ngoài xã hội,

đó là: cha, chồng, con trai, đề cao sự phục tùng một chiều, sự chung thuỷ của họ đối với người đàn ông Còn “Tứ đức” chú trọng vào sự tự tu dưỡng của chính bản thân phụ nữ Tu dưỡng Công - Dung - Ngôn - Hạnh để đạt được "Tam tòng" "Tứ đức" là điều kiện để thực hiện tốt đạo tòng cha, tòng chồng, tòng con Ngược lại “Tam tòng” chứng minh cho “Tứ đức”, cho phẩm hạnh của người phụ nữ

Trong bản thân phạm trù “Tứ đức” cũng có mối quan hệ với nhau Đó là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức Hạnh là nội dung Công, Dung, Ngôn là hình thức Chúng bổ sung cho nhau, thể hiện thông qua nhau Như vậy, Nho giáo đòi hỏi ở người phụ nữ vẻ đẹp toàn diện theo một khuôn mẫu nhất định Sâu xa hơn, là đòi hỏi

sự toàn tâm, toàn ý, sự hy sinh hết mình đối với nam giới

Khi hiểu được mối quan hệ giữa các phạm trù, chúng ta tránh hiểu chúng một cách rời rạc hoặc tuyệt đối hoá một phạm trù nào và có thái độ khách quan, biện chứng khi xem xét sự ảnh hưởng của nó đối với người phụ nữ Việt Nam

Như vậy, Nho giáo có bước thăng trầm trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, học thuyết " Tam tòng", “Tứ đức” không nằm ngoài bước thăng trầm đó Có lúc nó chi phối vận mệnh người phụ nữ Việt Nam; có lúc lại mờ nhạt; có mặt tích cực, có điều hạn chế Nó đi vào đời sống tư tưởng của nhân dân Việt Nam, đã ăn sâu bén rễ từ rất lâu Vậy sự ảnh hưởng của nó như thế nào đối với phụ nữ Việt Nam?

1.3 Học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” ở Việt Nam

1.3.1 Vài nét về sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam

Vị trí của Nho giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam là một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với việc nghiên cứu truyền thống tư tưởng của dân tộc cũng như sự ảnh hưởng của nó đối với người dân Việt Nam

Đạo Nho được truyền bá vào Việt Nam không bằng con đường giao lưu văn hoá; cũng không bằng con đường tìm đến của người bản xứ mà bằng con đường xâm lược của phong kiến phương Bắc vào thế kỷ thứ II Sau Công nguyên (tức vào thời Tây Hán) Lúc đầu đạo Nho không được đón nhận bởi nó theo bước chân giặc vào nước ta

Về sau được truyền bá rộng rãi và phát triển manh mẽ

Trang 16

Triều Lý (1010 - 1225) cùng với việc tôn sùng đạo Phật đã lập văn miếu thờ Khổng Tử (1070); tổ chức thi tam giáo (1074) để chọn hiền tài; lập Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của Việt Nam

Thời Trần bắt đầu từ năm 1267, nho sĩ được nắm quyền binh Đó là bước ngoặt lớn đối với nho sĩ nước ta Cuối Trần, xu thế Tống Nho đã thể hiện khá rõ ở Chu Văn

An, Trương Hán Siêu, Trần Nguyên Đán

Thời Lê là thời kỳ đạo trị nước yên dân của Nho giáo có tính xuyên suốt, chi phối mọi hoạt động chính trị, xã hội Người đương thời đặc biệt quan tâm đến các khái niệm đạo đức như "Trung, hiếu", "lễ nghĩa", … Thời Lê - đặc biệt thời Lê Thánh Tông (1260 - 1497) Đạo Nho đạt đến điểm cực thịnh

Sang thế kỷ XVI - XVIII, một thế kỷ mà xã hội Việt Nam có nhiều diễn biến phức tạp, có nhiều biến động về chính trị tư tưởng, thế kỷ XVIII - thế kỷ đánh dấu nhiều sự kiện nổi bật, đặc biệt là những biến động về chính trị, tư tưởng Thời kỳ này Nho giáo được đề cao nhưng không tách rời Phật giáo, Đạo giáo, giữa chúng có sự nhất thể hoá Hiện tượng "Tam giáo đồng nguyên" trên cái nền tư tưởng chi phối của Nho giáo đang là xu hướng lớn thời bấy giờ và nó tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới các bình diện tư tưởng

Thế kỷ XIX, nhà Nguyễn lật đổ chính quyền Tây Sơn giành quyền thống trị, lập triều Nguyễn Đây cũng là thời kỳ chiến tranh liên miên, kinh tế trì trệ, đời sống nhân dân cực khổ Để duy trì bộ máy thống trị phong kiến, nhà Nguyễn đã sử dụng Nho giáo như một công cụ đắc lực Nhà Nguyễn chủ trương độc tôn Nho giáo, nhưng lại gặp trở ngại và sự thâm nhập ngày càng mạnh mẽ của Thiên chúa giáo Năm 1858 - Việt Nam rơi vào tay thực dân Pháp, Nho học thời kỳ này là phương tiện thể hiện lòng yêu nước và nho học không thành công Nho học đã đi hết một chặng đường dài lịch

sử nước ta, từ thời Bà Trưng, Bà Triệu, Đinh, Lê, Trần…Trên chặng đường đó, Nho giáo đã gây ảnh hưởng rất sâu đậm đến tư tưởng dân tộc Việt Nam

Ngày nay, chúng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng cho sự nghiệp xây dựng đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội Nho học không còn giữ vị trí chi phối nhưng ảnh hưởng của nó trong tư tưởng của quần chúng, trong những phong tục tập quán, trong nếp nghĩ, cách làm của người dân Việt vẫn tồn tại Cụ thể là vẫn còn ảnh hưởng của quan niệm trọng nam, khinh nữ, của thuyết “Tam tòng”,

“Tứ đức” đối với người phụ nữ

Trang 17

Xuất phát từ những cơ sở trên, nghiên cứu ảnh hưởng của phạm trù 'Tam tòng",

“Tứ đức” đối với người phụ nữ Việt Nam ngày nay chúng ta sẽ có cái nhìn tổng thể, thái độ khách quan để đánh giá về giá trị cũng như hạn chế của nó

1.3.2 Nội dung học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” ở Việt Nam

Bắt đầu một giai đoạn mới của lịch sử, người ta phải xây dựng lại cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Trong công cuộc đó, vấn đề xây dựng con người là vấn

đề quan trọng hàng đầu Với Việt Nam, sau một nghìn năm đô hộ của phong kiến phương Bắc, đã bắt tay vào xây dựng đất nước độc lập, tự chủ Để giữ vững vị trí thống trị của mình, vấn đề đầu tiên mà giai cấp phong kiến Việt Nam đặt ra là xây dựng con người phục vụ cho chế độ phong kiến Việt Nam độc lập Để thực hiện điều này, giai cấp phong kiến Việt Nam đã sử dụng Nho giáo làm hệ tư tưởng thống trị của

xã hội, làm học thuyết để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, làm công cụ giáo huấn dân sinh, lấy thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” làm chuẩn mực cho phụ nữ noi theo Đây là điều kiện cơ bản nhất cho sự tồn tại của Nho giáo nói chung, học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” nói riêng Tuy nhiên, điều kiện này lại chịu sự tác động của những yếu tố mang tính đặc thù “Tam tòng”, “Tứ đức” được tiếp nhận, vận dụng một cách sáng tạo chứ không phải bê nguyên xi nội dung như trong Nho giáo của Trung Quốc

Nho giáo vào Việt Nam và đã mang một màu sắc riêng của dân tộc Theo giáo

sư Trần Văn Đoàn, Nho Việt đã tinh giản Nho giáo Trung Quốc thành một loại hình ý thức đặc thù Nho Việt chỉ lấy một phần có giá trị thực dụng để bảo vệ Tổ quốc khỏi ách ngoại xâm, hoặc gắn kết với quyền lực của kẻ thống trị Theo giáo sư Phan Đại Doãn các sĩ phu Việt Nam thường "Giản yếu", "lược luận", phần lớn tiếp nhận những luân lý đạo đức cơ bản của Nho giáo để áp dụng vào công cuộc xây dựng gia đình và cộng đồng Theo phó giáo sư Nguyễn Hùng Hậu, về đại thể, chủ yếu Nho Việt đi vào những vấn đề cấp bách thiết thực do đời sống xã hội đặt ra Khuynh hướng chủ đạo này có cái hay là lược bỏ những phần rối rắm, phức tạp; nhưng vì thế nó cũng lược bỏ những chỗ thâm sâu vi tế; làm mất tính hệ thống, thiếu cơ sở lý luận, tính nhất quán, thiếu sự chặt chẽ, lôgíc Điều này nói lên tính thực tế của người Việt Nam

Mặt khác, nhân dân Việt Nam có truyền thống tôn trọng phụ nữ Trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc nào cũng trải qua thời kỳ mẫu hệ và chế độ mẫu quyền, trong đó, phụ nữ làm chủ gia đình, dòng họ, phụ nữ có vai trò lớn lao trong đời sống kinh

tế, trong sinh hoạt xã hội cũng như tinh thần Mỗi người dân Việt Nam đều ghi nhớ một

Trang 18

huyền thoại tổ tiên, đó là: mẹ Âu Cơ, cha Lạc Long Quân là những người khai sáng ra lịch

sử dân tộc Mẹ đã đẻ ra 100 trứng, nở thành 100 chàng trai tuấn tú

Thời kỳ chuyển từ mẫu hệ sang phụ hệ, suốt thời kỳ phong kiến và mãi về sau này, xã hội Việt Nam đã thừa hưởng và bảo lưu truyền thống tốt đẹp: "Tôn trọng vai trò của người phụ nữ" Truyền thống này đã trở thành đạo lý khiến cho giai cấp phong kiến Việt Nam không thể không công nhận luật pháp nhà Lê có một số điều khoản liên quan đến phụ nữ mà các triều đại phong kiến Trung Hoa không có Sau khi Lê Lợi lên ngôi, năm 1429 ông ban hành phép quân điền (lấy ruộng công của làng xã định kỳ phân phối cho mọi thành viên trong làng xã), từ thê thiếp của các quan viên đến các bà góa, vợ con của những người phạm tội, đều được chia ruộng công… Đến luật Hồng Đức năm 1483 đã quy định con gái được hưởng quyền chia tài sản sở hữu của gia đình bình đẳng như con trai; khi đi lấy chồng, phần tài sản này vẫn là của riêng người vợ, không bị nhập vào tài sản của nhà chồng Điều đó cho phép người vợ có quyền tự do nhất định trong gia đình nhà chồng Gia đình nào không có con trai thừa tự thì người con gái được hưởng thừa kế ruộng, hương hoả Về lĩnh vực hôn nhân thì trong một số trường hợp phụ nữ được quyền ưu tiên: Con gái đã đính hôn chưa làm lễ cưới, nếu chẳng may người con trai bị phạm tội, bị tàn tật, bị phá sản, người phụ nữ có quyền từ hôn bằng cách trả lại đồ sính lễ; ngược lại, người con gái bị tàn tật, bị phạm tội thì người con trai không có quyền từ hôn

Như vậy, truyền thống tôn trọng phụ nữ của dân tộc Việt Nam không chỉ là đạo

lý mà còn được Nhà nước phong kiến hợp pháp hoá Điều này khiến cho nội dung của học thuyết "Tam tòng", "Tứ đức" không còn quá khắt khe hay ép buộc mà khiến cho người phụ nữ tự nguyện hành động theo "Tam tòng", "Tứ đức"

Tuy nhiên, đồng hành với truyền thống tốt đẹp trên là những quan niệm lạc hậu,

cổ hủ mà giai cấp phong kiến Việt Nam muốn duy trì để phục vụ cho mục đích của mình Những quan niệm, phong tục này có ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại của học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” trong xã hội Việt Nam Ví dụ như: tư tưởng "Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng", "Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô" (một trai cho là có, mười gái vẫn bằng không)

Tất cả những điều nêu trên là điều kiện khiến cho học thuyết “Tam tòng”, “Tứ đức” mang những nội dung mới, rất Việt Nam "Tam tòng", "Tứ đức" trong Nho giáo vào Việt nam và thăng trầm theo lịch sử của dân tộc Nó không chỉ là hình thức, lý luận mà nó ăn sâu bén rễ vào đời sống, vào tư tưởng của người dân đất Việt

Trang 19

Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT “TAM TÒNG”

“TỨ ĐỨC” ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Ảnh hưởng của thuyết “Tam tòng” đối với người phụ nữ Việt Nam ngày nay

2.1.1 Giai đoạn từ phong kiến Việt Nam độc lập đến 1945

Từ khi bước lên vũ đài lịch sử, giai cấp phong kiến Việt Nam rất coi trọng vấn

đề gia đình và xây dựng gia đình người Việt như thế nào Bởi trong xã hội phong kiến Việt Nam với nền sản xuất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp, mỗi gia đình là một đơn vị sản xuất khép kín … nên trách nhiệm của gia đình đối với việc truyền thụ kinh nghiệm, giáo dục, văn hoá là rất lớn Nguyên tắc tôn ti trật tự được giai cấp phong kiến sử dụng triệt

để trong việc phân định các mối quan hệ Đẳng cấp trong gia đình có liên quan chặt chẽ đến đẳng cấp ngoài xã hội

Giai cấp phong kiến Việt Nam chủ trương duy trì đạo “Tam tòng” trong xã hội:

"Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"

Trong Nho giáo nguyên thuỷ của Trung Hoa chỉ nói đến mối quan hệ cha - con Cha đặt đâu con ngồi đó Nhưng ở Việt Nam lại được đề cập dưới góc độ: cha mẹ - con cái: "cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó" Ở vị trí người con (đặc biệt là con gái) phải luôn nghe theo sự dạy bảo, ý kiến, những quyết định… của cha mẹ Trong quan hệ vợ

- chồng, người chồng có quyền lớn hơn người vợ trong mọi lĩnh vực; giữa những người con với nhau thì con trai có quyền, có lợi hơn người con gái: "con gái là con người ta", "con gái cái bòn" Những người nam giới có quyền lớn hơn chưa hẳn do họ

có tài năng, đức độ cao hơn mà cái quyền đó là do địa vị làm chồng, làm cha, làm người đàn ông đem lại Điều này phục vụ đắc lực cho mục đích của giai cấp lãnh đạo

xã hội phong kiến: đảm bảo tôn ti, trật tự thuận theo một chiều từ trên xuống, từ trong gia đình ra ngoài xã hội

"Tại gia tòng phụ": Người con gái chưa lấy chồng thì phải nghe, theo, tuân phục cha mẹ, cha mẹ bảo sao, con nghe vậy, dù đúng, dù sai Nếu thấy cha mẹ sai mà cãi lại hoặc làm trái lời là bất hiếu Trong hiện thực cuộc sống, có nhiều người cha không giữ đúng đạo làm cha, sa vào các tệ nạn xã hội, huỷ hoại bản thân, đạo đức kém cỏi, bất tài… nhưng với thân phận là con gái - người con không có quyền tham gia, góp ý hay

Trang 20

khuyên bảo Trong hôn nhân, người phụ nữ hoàn toàn không có quyền tự do tìm hạnh phúc của mình Hôn nhân của họ được thực hiện theo nguyên tắc "cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó" Chính đạo "tòng" trong Nho giáo đã dẫn đến nhiều cuộc hôn nhân ngang trái trong xã hội như nạn tảo hôn, ép duyên làm cay đắng, ngậm ngùi bao kiếp người

Như vậy, quan niệm "Tại gia tòng phụ" chính là cơ sở đảm bảo quyền tối cao của người cha, nó hình thành cách tư duy, lối sống, tính cách gia trưởng cho người đàn ông trong gia đình, còn người phụ nữ thì cam chịu, mà thực chất là đảm bảo quyền lực tập trung trong tay vua chúa, thần dân là phải tòng vua: “vua bảo thần chết thần không thể không chết”

Người phụ nữ trong xã hội phong kiến, ngoài việc bị áp bức về dân tộc, còn chịu áp bức về giai cấp, về giới Họ là nô lệ của những người bị nô lệ; là nạn nhân của những hủ tục lạc hậu, lễ giáo phong kiến

"Xuất giá tòng phu" Theo trật tự lôgíc của đạo “Tam tòng”, người phụ nữ khi

đi lấy chồng tất yếu phải "tòng" chồng… Nhân gian có câu "nhân vô thập toàn" (không ai hoàn thiện ), người đàn ông dù tài giỏi đến đâu cũng có những hạn chế nhất định Nhưng theo quan điểm này thì người chồng dù tốt đẹp hay xấu xa, dù hay dù dở thì người vợ vẫn phải "tâm phục, khẩu phục", phải nghe, phải theo vô điều kiện Cuộc sống phụ thuộc vào người khác đã biến người phụ nữ thành kẻ cam chịu, buông xuôi với số phận của mình Họ không có quyền và không dám tự khẳng định mình trong hôn nhân, trong hạnh phúc hay khổ đau; họ phó thác cuộc đời mình cho sự may rủi Ai may mắn thì lấy được người chồng tốt Ai rủi ro thì lấy phải người chồng không xứng làm chồng Như Hồ Xuân Hương đã từng nói:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

Tròn hay méo, lành hay vỡ là do tay người nặn, do số phận an bài, hay:

Thân em như hạt mưa sa Hạt rơi xuống giếng, hạt ra ngoài đồng

(ca dao)

Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai ?

(ca dao)

Trang 21

Theo đạo “Tam tòng”, người vợ trong gia đình giống như một thứ công cụ để sai bảo, một kiểu nô dịch, họ không có cuộc sống cho mình, không có chính kiến của mình, họ phải hi sinh bản thân cho người khác không phải vì họ kém cả về tài năng, đức độ mà chỉ vì họ ở địa vị người phụ nữ Vào năm 1920, có trận đói lớn, nhiều người chồng đã bán vợ với giá một người một quan tiền Kết quả của quan niệm trọng nam khinh nữ nêu trên là rất nhiều gia đình bất hạnh Đạo “Tam tòng” thực sự là sợi dây oan nghiệt trói chặt cuộc đời người phụ nữ Đứng trước thực trạng đó của xã hội, nhiều người phụ nữ đã ý thức được tài năng, phẩm giá của mình; mặt khác, họ cũng nhận ra thế lực kìm hãm cuộc đời mình, họ than rằng:

Em như cây quế hồng hoa Trồng nơi đất xấu không ra được chồi

"Phu tử tòng tử" trong cuộc sống không kể hết những rủi ro, mất mát mà người phụ nữ thời phong kiến phải gánh chịu Nhưng có lẽ sự mất mát lớn nhất đối với cuộc đời của người phụ nữ đó là sự ra đi vĩnh viễn của người chồng Trong trường hợp này, đạo Nho cho rằng "phu tử tòng tử" Chồng chết, người vợ không được đi bước nữa, phải ở vậy nuôi con

Ai cũng biết tình thương yêu, sự nuôi nấng, dạy bảo con cái là thiên chức, là sứ mệnh, là bổn phận và cả nguyện vọng của người mẹ Nhưng Nho giáo đã biến những điều thiêng liêng đó trở thành công cụ trói chặt người phụ nữ để thực hiện mục đích giai cấp: giữ gìn trật tự xã hội, củng cố vị trí, quyền lợi của mình, giai cấp phong kiến

đã nâng chữ "tòng tử" thành một nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức để đánh giá phẩm chất của người phụ nữ Trong thực tế đã có nhiều tấm bảng vàng trinh tiết của vua quan được trao cho những người vợ đã suốt đời thờ chồng nuôi con Dư luận xã hội đối với những người phụ nữ đó là kính trọng, là ngưỡng mộ và điều này đã hình thành nên thói quen tâm lý rất lớn đối với người dân Việt Nam Nhưng có ai hiểu trong lòng

họ là sự hi sinh lớn lao những khát vọng hạnh phúc riêng tư, những cay đắng, ngậm ngùi … họ là biểu tượng rõ nhất của sự cam chịu, là nạn nhân của bất công, của bất bình đẳng trong xã hội cũ

Không phải ngẫu nhiên mà giai cấp phong kiến Việt Nam xếp phụ nữ và người nghèo hèn vào một hạng Chế độ áp bức phụ nữ gắn liền với xã hội có áp bức giai cấp

Do đó, chế độ phục tùng được phong kiến ra sức củng cố bằng pháp luật, đạo lý, dư

Trang 22

luận xã hội phong kiến cùng nhau thắt chặt cái thòng lọng gia trưởng, phụ quyền đối với người phụ nữ - những người bị áp bức nhất trong những người bị áp bức Tuyệt đối hoá chữ "Tòng" không nằm ngoài những mục đích trên

2.1.2 Giai đoạn từ 1945 đến nay

Xã hội Việt Nam ngày nay được xây dựng lên sau Cách mạng Tháng 8 năm

1945, đánh đổ chế độ thực dân xâm lược và chế độ phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm, tiến lên chủ nghĩa xã hội Vì vậy, về chế độ xã hội hiện nay là không còn cơ sở

để phục hồi chế độ xã hội cũ, trong đó Nho học làm nền tảng tư tưởng Tuy nhiên, sự ảnh hưởng Nho giáo nói chung và "Tam tòng", "Tứ đức" nói riêng vẫn còn tồn tại và có thể phát huy tác dụng trong việc giáo hoá người phụ nữ trong thời kỳ mới

Sau Cách mạng Tháng Tám và sự sụp đổ của thành trì phong kiến, người phụ

nữ được giải phóng 1945 đến 1975 đất nước vẫn chìm trong chiến tranh Đạo “Tam tòng” đối với người phụ nữ trong thời chiến đã mang những nội dung mới, nổi bật là tấm lòng chung thuỷ chờ đợi của họ Nhiều người phụ nữ chờ chồng một năm, hai năm… mười năm… và cả cuộc đời Sự gặp gỡ và hạnh phúc của người phụ nữ có khi chỉ tính bằng giờ Có hàng triệu, triệu người phụ nữ đã hy sinh tất cả tuổi trẻ, tình yêu, hạnh phúc những khát vọng của bản thân… cho sự bình yên của Tổ quốc Những người phụ nữ yếu đuối, cam chịu, an phận xưa, nay họ trở thành những thanh niên xung phong gan dạ; mỗi phụ nữ là một chiến sĩ, mỗi làng xóm của họ là một pháo đài Giai đoạn mới của lịch sử dân tộc đã thay đổi mục đích sống của người phụ nữ, đạo

“Tam tòng” không bó hẹp trong lĩnh vực gia đình, không còn mang tính chất ép buộc

mà có nội dung rộng lớn, cao cả và tự nguyện: Tòng chồng, tòng con vì đất nước

Hoàn cảnh lịch sử biến đổi dẫn đến vai trò, vị trí, mục tiêu của con người cũng

có biến đổi theo Những mốc son của lịch sử dân tộc Việt Nam từ 1945 đến nay có ảnh hưởng lớn lao đến thân phận ngươì phụ nữ phải kể đến: Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đất nước hoàn toàn giải phóng, năm 1986 đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, cho đến nay

đã trải qua gần 20 năm, đem lại sự phát triển nhanh trên nhiều lĩnh vực Từ sau đổi mới, người phụ nữ thực sự có quyền bình đẳng, quyền bình đẳng ấy không chỉ được ghi trong hiến pháp, pháp luật và nó còn đi vào cuộc sống, cách suy nghĩ và nhận thức của mỗi người Ngày nay người phụ nữ đã tự khẳng định được bản thân mình, không còn chịu sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến và những quan niệm cổ hủ, lạc hậu đã tự vươn mình ra ngoài xã hội, ra khỏi bức tường phong kiến và đã thành công trong nhiều

Trang 23

lĩnh vực của cuộc sống như sự nghiệp, đạo đức, tài năng,… Việc người phụ nữ có quyền bình đẳng không có nghĩa là phủ nhận sạch trơn những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của đạo “Tam tòng”, “Tứ đức” Để làm nên bản sắc văn hóa riêng của một dân tộc ngoài bề dầy văn hóa truyền thống của dân tộc hàng ngàn năm thì còn phải tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng văn hóa của nhân loại, của quá khứ Nhìn những đạo lí Nho giáo riêng rẽ, ta thấy có hay có dở, có đúng có sai, không hoàn toàn đồng nhất Nhưng nếu từ những đạo lí riêng rẽ ấy mà nhìn nhận bằng nhận thức cảm tính và bằng tư duy siêu hình, thì một số đạo lí đúng đắn, hấp dẫn dễ thành ra toàn bộ học thuyết là hoàn hảo và đưa tới bảo thủ mù quáng, và ngược lại, một số đạo lí lạc lõng dễ thành ra học thuyết lỗi thời và đưa tới chủ nghĩa xóa sách, rốt cuộc là đều thoát li hiện thực, bảo thủ cũng sai mà xóa sạch cũng sai

Kinh nghiệm sinh động, thiết thực và phong phú của cuộc sống luôn đòi hỏi: bao giờ cũng đặt sự vật và con người dưới ánh sáng của khoa học và của thực tiễn cách mạng mà phân biệt đúng sai, cụ thể để kế thừa và phát huy cái tốt cải tạo và xóa bỏ cái

cũ Do đó, đối với đạo “Tam tòng”, “Tứ đức” chúng ta phải có cách nhìn nhận đánh giá khách quan, tìm ra điểm tích cực để góp phần xây dựng người phụ nữ trong thời đại mới và vận dụng nó như thế nào trong thời đại nền kinh tế thị trường

Chúng ta phải khẳng định một điều rằng giá trị của đạo “Tam tòng” tạo nên tôn

ti trật tự trong gia đình: cha mẹ đối với con cái, con cái đối với cha mẹ, anh chị em đối với nhau, mọi người trong gia đình yêu thương tôn trọng lẫn nhau, bởi chúng ta biết rằng gia đình là một tế bào của xã hội Chính vì thế việc xây dựng gia đình văn hóa trong thời đại ngày nay là điều rất có ý nghĩa và quan trọng, nó là cơ sở cho sự ổn đinh

và phồn vinh của xã hội

Bước vào công cuộc đổi mới, nền kinh tết thị trường tạo ra những thời cơ đồng thời là những thách thức mà chúng ta phải đối mặt, những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, văn hóa phẩm ngoại lại đã và đang ngày càng len lỏi vào ngõ ngách từng gia đình, từng cá nhân, một số phụ nữ có lối sống khác và không thoát khỏi những cám dỗ, đã sa vào làm mai một truyền thống văn hóa của dân tộc

Phụ nữ ngày nay có điều kiện để khẳng định mình và có xu hướng độc lập nên

họ không còn nghe theo hay phục tùng cha mẹ như trước đây Ông và ta thường nói:

“cá không ăn muối cá ươn, con không nghe lời cha mẹ trăm đường con hư” Nhưng thế hệ trẻ bây giời thích sống độc lập, sống riêng để được tự do thoải mái và không bị

Trang 24

phụ thuộc Nhiều người nghĩ: mình có cuộc sống riêng của mình, có quyền riêng tư của mình, cha mẹ có cuộc sống riêng của cha mẹ, không ai phụ thuộc ai nên cũng không cần phải nghe theo họ nhưng đâu biết rằng cha mẹ tần tảo nuôi dậy con cái đâu phải chỉ bằng vật chất, bằng truyền thống gia đình mà còn bằng cả trái tim, cả cuộc đời trải nghiệm của họ

Một hiện thực đau lòng hiện nay đó là khoảng cách về thế hệ giữa cha mẹ và con cái dẫn đến suy nghĩ và cách sống khác nhau, con cái luôn cho mình là người thời hiện đại phải sống theo kiểu hiện đại, cho cha mẹ là cổ hủ, còn cha mẹ thì cho rằng con cái còn trẻ người non dạ, chưa trải đời dễ sa ngã và làm những điều sai trai Thực

tế ý kiến của cha mẹ thường xuất phát từ lòng yêu thương con cái, là cái kết quả của cả một đời trải nghiệm cuộc sống Ví thế con cái không nên có thái độ mảy may, xem thường những điều cha mẹ dạy, cha mẹ cũng không nên áp đặt những suy nghĩ của mình đối với con cái, ý kiến của cha mẹ cần được tôn trọng sau đó phân biệt đúng sai

và đưa ra lựa chọn đúng đắn nhất Như vậy, đạo “Tòng” cha mẹ nhìn dưới góc độ tích cực vẫn có những yếu tố cần thiết cho cuộc sống hiện đại, điều này vô cùng quan trọng đối với việc xây dựng gia đình hiện đại, nhất là đối với người phụ nữ bởi họ luôn là người có vai trò quan trọng trong việc lưu giữ, kế thùa đạo đức của dân tộc

Bên cạnh đó thì vẫn còn những hiện tượng đàn ông gia trưởng độc đoán ép con gái phải phục tùng theo ý mình, con cái cần biết phân biệt đúng sai, không phải cái gì cũng nghe và làm theo Thấy cha mẹ sai thì phải biết đấu tranh, góp ý, khuyên bảo, đấu tranh với những sai lầm của cha mẹ là một nội dung mới của đạo “Tam tòng” trong thời đại mới

Như vậy, trong gia đình hiện đại người phụ nữ có điều kiện để phát huy hết khả năng của mình nhưng không phải vì thế mà sống buông thả tự do, mà phải luôn luôn tu dưỡng, rèn luyện nhân phẩm, đạo đức dưới sự giáo dục của gia đình và xã hội để xứng đáng là người phụ nữ Việt Nam thế kỉ XXI

Đạo “Tam tòng” trong xã hội phong kiến luôn bênh vực và coi trọng người đàn ông, còn phụ nữ (người vợ) chỉ được xem là người nâng khăn sửa túi, ngoài việc phục tùng chồng một cách vô điều kiện, người phụ nữ chẳng có chút quyền lợi nào Xã hội hiện đại đã lên tiếng phê phán, lên án điều đó Vấn đề đặt ra là, nếu xã hội hiện đại phê phán điều đó thì liệu đạo “Tam tòng” còn tồn tại hay không? nếu tồn tại thì được hiểu như thế nào? Ngày nay, theo nghĩa đen, người phụ nữ lấy chồng phải theo chống như

Trang 25

ông cha ta vẫn thường nói “thuyền theo lái, gái theo chồng” trong một số trường hợp người chồng có thể theo vợ do nhà vợ không có con trai hay vì lí do nào đó Người vợ không còn phải phục tùng chồng một cách tuyện đối, xem chồng là trời dù đúng dù sai cũng phải nghe theo, hạnh phúc gia đình phải được xây dựng và vun đắp từ hai phía Chữ “Tòng” được cả hai cùng thực hiện

“Thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn”

Bên cạnh những yêu cầu về mặt tình cảm, thì trong cuộc sống thời kinh tế thị trường, người ta còn đòi hỏi những điều kiện khác trước khi quyết định hôn nhân Một trong những điều kiện được lớp trẻ quan tâm nhất là điều kiện kinh tế "Đối tác" phải

có một nghề, một việc làm ổn định, có thu nhập ổn định, có một nơi ở hoặc điều kiện để

có thể an cư Như vậy, nội dung cơ bản của mối quan hệ vợ - chồng ngày nay là: Vợ - chồng cùng xây dựng kinh tế, tổ chức cuộc sống gia đình, nuôi dạy con cái thành người có ích cho xã hội

Người phụ nữ đã được giải phóng khỏi những hủ tục, kìm hãm con người Nhưng trên thực tế, trong yếu tố tâm lý, ý thức xã hội điều này vẫn chưa hoàn toàn bị bác bỏ trong cuộc sống vẫn có những phụ nữ khi chồng chết đi, chấp nhận khi sống cảnh goá bụa vì họ đứng giữa một bên là đạo lý truyền đời, một bên là khát vọng hạnh phúc Nguyên tắc "tòng tử" không còn bó hẹp trong phạm vi "không tái giá" Điều chủ yếu trong quan niệm về vai trò của người mẹ hiện đại là: chăm con khoẻ, dạy con ngoan trở thành người tốt Pháp luật, dư luận xã hội tạo điều kiện cho người mẹ tái giá khi chồng không còn, khi hạnh phúc tan vỡ nhưng như thế không có nghĩa là họ không còn trách nhiệm với con cái Tái giá vẫn thực hiện đạo của người mẹ! quan tâm, chăm sóc, dạy bảo con Vấn đề xã hội hiện đại lên án không phải là sự tái giá mà là sự thiếu trách nhiệm của người mẹ đối với con Dưới sự tác động tiêu cực của cơ chế thị

Trang 26

trường, đã có nhiều người phụ nữ vì mải chạy theo danh vọng, tiền bạc, ái tình mà không làm trọn đạo làm mẹ Hậu quả của sự vô trách nhiệm đó là đem lại cho xã hội những thành viên hư hỏng, chúng nhanh chóng bị cám dỗ bởi các tệ nạn xã hội Khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, xã hội ngày càng hiện đại hơn, con người đã có thể thực hiện nhiều ước mơ mà những thế kỷ trước tưởng như hoang đường Nhưng dù khoa học, xã hội tiến tới đâu chăng nữa cũng không có một cái gì có thể thay thế được vai trò, trái tim của người mẹ đối với con

Bên cạnh nghĩa vụ công dân, phụ nữ hiện đại vẫn đấu tranh làm tròn trách nhiệm đối với gia đình Nghị quyết 04/NQ - TW của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: "Phụ nữ vừa là người lao động, người công dân, vừa là người mẹ, là người thầy đầu tiên của con người" Người thầy đầu tiên ở sự truyền nối, tạo dựng nền văn hoá để hình thành tâm hồn, tư duy, nhân cách cho con người

Như vậy, đạo "tam tòng" cùng Nho giáo đã tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam từ thời Bắc Thuộc Đến nay, nhìn chung nó chỉ còn là dư âm của xã hội cũ, những tác động tiêu cực của nó đã bị pháp luật dư luận xã hội và chính bản thân phụ

nữ bác bỏ Với quan điểm kế thừa, những giá trị còn lại của "tam tòng" vẫn còn ý

nghĩa sâu sắc đối với việc xây dựng người phụ nữ Việt Nam hiện đại

2.2 Ảnh hưởng của thuyết “Tứ đức” đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay

(Gia Huấn Ca) Như vậy, theo "Tứ đức" của Nho giáo, đức "Công" giới hạn về nội dung và về phạm vi công việc mà người phụ nữ được quyền tham gia đó là gia đình Một người vợ mẫu mực trong xã hội phong kiến phải là người phụ nữ hiền thục, chăm chỉ, lo toan việc nhà Công việc ngoài xã hội không thuộc quyền, trách nhiệm của họ mà thuộc về người nam giới Mục đích của chế độ phong kiến khi sử dụng "Tứ đức" làm chuẩn mực cho phụ nữ là muốn tạo ra những con người an phận, cam chịu để giữ gìn trật tự xã hội

Trang 27

Người phụ nữ với những đặc điểm về hình thể, tính cách, tâm hồn… rất phù hợp với công việc gia đình Nhưng khi xã hội phong kiến chỉ lấy đó làm chuẩn mực để đánh giá toàn diện về người phụ nữ thì thật bất công Tuy nhiên, đó là quan niệm, còn trong thực tiễn cuộc sống sinh hoạt, đấu tranh của người dân Việt Nam thì phạm trù " Công " không còn nguyên nghĩa mà được biến tấu một cách linh hoạt, phù hợp với đời thường Nội dung của chữ " Công " không bị bó hẹp, đơn thuần mà mở rộng trong lĩnh vực xã hội, trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm

Trong đời sống vật chất của gia đình người Việt truyền thống phụ nữ đóng góp rất nhiều sức lực từ công việc đồng áng, chợ búa đến hàng loạt công việc không tên khác:

Vì chồng nên phải gắng công Nào ai xương sắt da đồng chi đây

Họ hy sinh bản thân, tuổi xuân của mình:

Một ngày hai bữa cơm đèn Còn đâu má phấn răng đen hỡi chàng

Họ là những người tạo tiền của cho chồng "của chồng, công vợ" Họ là người gìn giữ, xây dựng, bảo vệ đời sống vật chất của gia đình "chồng như giỏ, vợ như hom" hay "tay hòm chìa khoá" …

Trong đời sống tinh thần, trong hôn nhân: Quan hệ vợ chồng là tiền đề nảy sinh các quan hệ gia đình và đảm bảo sự tồn tại hay tan vỡ của nó Theo Nho giáo Trung Quốc, quan hệ hôn nhân được sắp đặt theo một trật tự nhất định, yếu tố trước quyết định yếu tố sau: "Phu - Phụ" (chồng - vợ) Nhưng theo tập quán Tiếng Việt, trật tự đó

bị đảo lộn thành: "phụ - phu" (vợ - chồng) Trong thực tế của cuộc sống cũng cho thấy vai trò của người vợ trong hôn nhân và đời sống tinh thần là hết sức quan trọng Người

vợ là người bạn đời, người chia sẻ trách nhiệm, nghĩa vụ, niềm hạnh phúc, sự khổ đau với chồng, là người nâng đỡ, là chỗ dựa tình cảm, là nguồn động viên khích lệ chồng:

Chồng em áo rách em thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người

(ca dao)

Ngày đăng: 27/10/2016, 16:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1994), Từ điển Hán Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
2. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2006), Giáo trình triết học Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác – Lênin
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
7. Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục (1990), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục
Tác giả: Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1990
8. Quang Đạm (1994), Nho giáo xưa và nay, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
Tác giả: Quang Đạm
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1994
9. Nguyễn Hùng Hậu (2001), Triết lý trong văn hoá phương Đông, Nxb Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý trong văn hoá phương Đông
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu
Nhà XB: Nxb Sư phạm
Năm: 2001
10. Trần Trọng Kim (1971), Nho Giáo - Quyển thượng - Quyển hạ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho Giáo - Quyển thượng - Quyển hạ
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1971
11. Vũ Khiêm (1991), Nho giáo xưa và nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
Tác giả: Vũ Khiêm
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
12. Lê Minh (2000), Gia đình và người phụ nữ , Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và người phụ nữ
Tác giả: Lê Minh
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2000
13. Hồ Chí Minh (1993), Về đạo đức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đạo đức
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
14. Lê Thị Quý (2003), Người phụ nữ trong gia đình đô thị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người phụ nữ trong gia đình đô thị
Tác giả: Lê Thị Quý
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
15. Nguyễn Tài Thư (1993), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tài Thư
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
17. Trần Quốc Vượng (2001), Truyền thống phụ nữ Việt Nam , Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống phụ nữ Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 2001
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII Khác
5. Các tạp chí: "Tuổi trẻ", "Phụ nữ", "Thanh niên", "Văn hoá&#34 Khác
16. Nguyễn Hữu Vui (1998), Lịch sử Triết Học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w