1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện nam sách tỉnh hải dương hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã ái quốc và xã đồng lạc)

137 451 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu “Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến sự biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương hiện nay nghiên cứu trường hợp tại Xã

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 8

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 10

6 Câu hỏi nghiên cứu 11

7 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 11

8 Phương pháp nghiên cứu 13

NỘI DUNG CHÍNH 16

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 16

1.1 Cơ sở lý luận 16

1.1.1 Khái niệm công cụ 16

1.1.2 Những lý thuyết xã hội học được vận dụng 21

1.1.3 Quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước về gia đình và ruộng đất 28

1.2 Cơ sở thực tiễn 35

1.2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu……… 37

1.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội ở xã Ái Quốc và Đồng Lạc 359

1.2.3 Đặc điểm về quá trình đô thị hóa……… 48

Chương 2: THỰC TRẠNG MẤT ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở XÃ ÁI QUỐC VÀ XÃ ĐỒNG LẠC 48

2.1 Thực trạng dân số, lao động, ngành nghề 48

2.1.1 Cơ cấu dân số, lao động 48

2.1.2 Cơ cấu ngành nghề 49

2.2 Thực trạng mất đất sản xuất nông nghiệp ở xã Ái Quốc và Đồng Lạc .60

Trang 4

2.2.2 Thực trạng mất đất nông nghiệp ở xã Đồng Lạc 62

Chương 3: BIẾN ĐỔI CHỨC NĂNG KINH TẾ CỦA HỘ GIA ĐÌNH 65

3.1 Tác động của thu hồi đất nông nghiệp tới sự biến đổi nghề nghiệp, việc làm của gia đình 65

3.1.1 Biến đổi cơ cấu nghề nghiệp 65

3.1.2 Biến đổi vai trò giới trong gia đình 71

3.1.3 Biến đổi lao động việc làm 73

3.2 Biến đổi phương thức sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình 81

3.2.1 Biến đổi phương thức sản xuất nông nghiệp 81

3.2.2 Biến đổi phương thức kinh doanh 84

3.3 Biến đổi mức sống của hộ gia đình 87

3.3.1 Biến đổi mức sống của hộ gia đình 87

3.3.2 Biến đổi cơ cấu chi tiêu của hộ gia đình 89

3.4 Những tác động tích cực và tiêu cực của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình 93

3.4.1 Những tác động tích cực 93

3.4.2 Những tác động tiêu cực 97

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Biến đổi nghề nghiệp theo địa bàn nghiên cứu 65Bảng 3.2 Biến đổi sản xuất theo địa bàn nghiên cứu 67Bảng 3.3 Tương quan về tuổi theo địa bàn khảo sát 69Bảng 3.4 Tương quan mức độ thu hồi đất nông nghiệp khi xây dựng khu công nghiệp theo tuổi 70 Bảng 3.5 Tương quan về tình trạng việc làm theo giới tính 77Bảng 3.6.Tương quan tình trạng việc làm của người lao động sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp theo giới tính 79Bảng 3.7: Tương quan lý do người lao động không được nhận vào xí nghiệp làm việc theo giới tính 80Bảng 3.8 Sự chuyển đổi đất nông nghiệp theo địa bàn nghiên cứu 82Bảng 3.9 Tương quan Mức độ biến đổi quy mô trồng Lúa sau khi thu hồi đất nông nghiệp theo tuổi 83Bảng 3.10 Mục đích sử dụng tiền đền bù theo địa bàn nghiên cứu 84Bảng 3.11: Tương quan mục đích sử dụng tiền đền bù từ đất nông nghiệp theo giới tính 86Bảng 3.12 Thu nhập từ các nguồn khác nhau theo địa bàn nghiên cứu 88Bảng 3.13 Các khoản chi tiêu hiện nay so với trước đây theo địa bàn nghiên cứu 90Bảng 3.14: Chi tiêu bình quân theo đầu người/ tháng của các hộ gia đình theo địa bàn nghiên cứu 92Bảng 3.15 Đồ dùng trong gia đình theo địa bàn nghiên cứu 96

Trang 6

Biểu đồ 3.1 Đóng góp chính vào thu nhập hộ gia đình theo địa bàn nghiên

cứu 71

Biểu đồ 3.2 Sự thay đổi việc làm theo địa bàn nghiên cứu 73

Biểu đồ 3.3 Thực trạng việc làm theo địa bàn nghiên cứu 76

Biểu đồ 3.4 Biến đổi mức sống theo địa bàn nghiên cứu 87

Biểu đồ 3.5 Loại nhà ở theo địa bàn nghiên cứu 93

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa kéo theo đó là quá trình đô thị hóa đang diễn ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước với tốc

độ ngày càng cao Theo quy luật chung, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa sẽ dẫn đến việc hình thành nên các khu công nghiệp, khu đô thị và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội Để có tiền đề về vị trí, đất đai xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị và các công trình công cộng, Nhà nước đã tiến hành thu hồi nhiều khu đất trong đó phần lớn là đất nông nghiệp giao cho các chủ đầu tư để thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh và phát triển cơ sở hạ tầng… Điều đó đã gây ảnh hưởng lớn đến việc làm và đời sống hộ gia đình bị thu hồi đất

Hải Dương là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng Sông Hồng đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020 phấn đấu trở thành tỉnh có tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ là chủ yếu, trong những năm qua Hải Dương đã triển khai thực hiện nhiều dự án phát triển kinh tế - xã hội như: chỉnh trang đô thi; xây dựng mới công sở; mở rộng hạ tầng giao thông; xây dựng khu dân cư, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất… Điều đó đã giúp cho Hải Dương đạt được những thành công nhất định trong việc thu hút các nguồn đầu

tư trong nước và nước ngoài, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động, phát triển kinh tế - xã hội

Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, Hải Dương tiến hành thu hồi đất trong đó phần lớn là đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị và hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội Việc thu hồi đất làm cho người nông dân mất toàn bộ hoặc một phần đất sản xuất không có

Trang 8

khả năng chuyển đổi nghề nghiệp hoặc thiếu việc làm dẫn đến giảm thu nhập, đời sống hộ gia đình gặp nhiều khó khăn Từ đó đã nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp: khiếu kiện đông người, thất nghiệp tăng, dư thừa lao động, không có việc làm, lao động di cư tự do tới các thành phố lớn, tệ nạn xã hội…và tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định xã hội

Việc nghiên cứu những thay đổi trong cuộc sống của người nông dân cùng những khó khăn mà họ phải đương đầu trong quá trình chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp như phải chuyển đổi việc làm, thay đổi thu nhập, lối sống, phương thức đầu tư sản xuất kinh doanh, định hướng nghề cho con cái, chiến lược sống là vấn đề cần thiết và cấp bách trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế - xã hội, nhằm tìm hiểu khả năng thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống của người nông dân, cũng như việc đền bù đất đai sau khi thu hồi sẽ gây nên những hậu quả không tốt đến người nông dân, từ đó góp phần tìm ra hướng đi và cách giải quyết đúng đắn cho vấn đề này

Thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện công nghiệp hóa trong những năm gần đây đã mang lại những thay đổi lớn ở các vùng nông thôn Các nhà máy, khu công nghiệp được hình thành đã tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, tạo

ra nhiều nguồn thu nhập, nâng cấp cơ sở hạ tầng và góp phần rất lớn trong việc xóa đói giảm nghèo ở nhiều vùng nông thôn

Tuy nhiên, việc thu hồi đất nông nghiệp cho công nghiệp hóa đã tác động đến việc làm và đời sống của các hộ nông dân trước mắt cũng như lâu dài Việc mất đất sẽ dẫn đến tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, dư thừa một bộ phận lao động, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, tình hình trật tự an ninh trở nên ngày càng phức tạp, không tự chủ về lương thực là tình trạng phổ biến của người nông dân vùng công nghiệp hóa Vì một phần lớn diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi cho việc xây dựng các khu công nghiệp, cụm công

Trang 9

nghiệp, đô thị hóa và xây dựng cơ sở hạ tầng, số hộ nông dân mất đất phải chuyển đổi việc làm tăng lên nhanh chóng Ngoài việc đền bù cho nông dân bằng tiền mặt, những nỗ lực của chính quyền địa phương và các doanh nghiệp lấy đất nhằm giúp đỡ nông dân tìm kiếm việc làm sau khi thu hồi đất là rất ít Chính sách thu hồi đất để phát triển công nghiệp do đó đã để lại những mặt tích cực và hạn chế trên cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường

Quá trình thu hồi đất nông nghiệp có tác động rất lớn đến sự biến đổi các chức năng cơ bản trong gia đình hiện nay, đặc biệt là chức năng kinh tế của

hộ gia đình Sự biến đổi chức năng kinh tế tất yếu sẽ ảnh hưởng đến các chức năng khác của gia đình như ảnh hưởng đến giáo dục gia đình, phân công lao động theo giới Mặt khác sự biến đổi chức năng kinh tế gia đình còn thể hiện

ở việc gia đình với tư cách là đơn vị kinh tế tự cung tự cấp, sản xuất khép kín, thành một đơn vị kinh tế độc lập phụ thuộc chặt chẽ vào thị trường đồng thời nó cũng làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, việc làm, lao động theo trình

độ, độ tuổi và giới tính; các mối quan hệ trong gia đình; văn hóa gia đình, và đây như là một hệ quả tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn hiện nay, tác giả lựa chọn đề tài “Tác

động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của

hộ gia đình ở huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương” (nghiên cứu trường hợp tại

Xã Ái Quốc và Xã Đồng Lạc) Với đề tài trên tác giả mong muốn được góp

phần nào đó nhằm làm rõ hơn chính sách thu hồi đất sản xuất nông nghiệp của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương đối với vấn đề này, đồng thời đảm bảo quyền lợi chính đáng cho những hộ gia đình bị thu hồi đất

2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Trang 10

Trong lịch sử phát triển của gia đình, gia đình vừa là một đơn vị kinh tế, vừa

là cái nôi đầu tiên và suốt đời nuôi dưỡng, giáo dục con người duy trì và phát triển ở họ những quan hệ tình cảm đặc biệt từ thế hệ này sang thế hệ khác

Dưới tác động của quá trình đô thị hóa thì chức năng của gia đình đang có nhiều biến đổi, thiết chế gia đình cũng đang cần có những thay đổi phù hợp với giá trị về sự bình đẳng và an sinh cho mỗi thành viên của gia đình trong những điều kiện mới Sự biến đổi chức năng kinh tế của gia đình đã có tác động rất lớn đến cơ cấu nghề nghiệp, việc làm, chiến lược sống, phong tục tập quán, thói quen ứng xử, việc quản lý giáo dục con cái trong gia đình Việt Nam truyền thống, các giá trị mới xuất hiện đã phá vỡ những hệ giá trị truyền thống

Vì lẽ đó gia đình đang trở thành một vấn đề của toàn cầu, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển chung của toàn bộ nhân loại Gia đình đang trở thành một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong mọi chiến lược phát triển của các quốc gia, cũng như của Liên Hợp Quốc

Trong cuốn “Gia đình học” của hai tác giả là GS.TS Đặng Cảnh Khanh và

PGS.TS Lê Thị Quý, NXB Lý luận chính trị, HN 2007: Trong cuốn sách này

đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu lý luận về gia đình, phân tích những biến đổi của gia đình Việt Nam từ xã hội nông nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp hóa Những thách thức của gia đình Việt Nam trước quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đã phản ánh sâu sắc những biến đổi của gia đình Trong đó tập trung vào nghiên cứu vị trí vai trò cũng như chức năng của gia đình đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người Trong cuốn sách này tác giả đã đề cập đến chức năng kinh tế của gia đình, coi gia đình như là một đơn vị kinh tế Vai trò và tầm quan trọng trong phát triển kinh tế của gia đình trong sự phát triển của đất nước

Trang 11

Trong cuốn “Gia đình và biến đổi gia đình Việt Nam” của PGS TS Lê

Ngọc Văn, NXB Khoa học xã hội, HN 2011: Trong cuốn sách này tác giả đã làm rõ những biến đổi về chức năng, mối quan hệ trong gia đình hiện nay dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đồng thời cũng làm rõ những xu hướng biến đổi mối quan hệ gia đình trong điều kiện kinh tế

xã hội mới, đó là sự biến đổi mối quan hệ của gia đình từ gia đình truyền thống đến sự phát triển của gia đình hiện đại

Những nghiên cứu trên đã phản ánh những biến đổi các chức năng, mối quan hệ gia đình trong điều kiện CNH, HĐH đất nước Ngoài ra còn có rất nhiều những nghiên cứu về sự tác động của quá trình đô thị hóa đến sự biến đổi của gia đình

Hoàng Bá Thịnh, Công nghiệp hóa nông thôn và những biến đổi trong

gia đình nông thôn hiện nay (Nghiên cứu trường hợp xã Ái Quốc, Nam Sách

- Hải Dương) Nghiên cứu phản ánh những biến đổi trong đời sống kinh tế -

xã hội của người nông dân khi bị thu hồi đất, ngoài những biến đổi trong đời sống kinh tế, thu nhập, vấn đề việc làm, nghề nghiệp của hộ gia đình Mặt khác đó là những biến đổi về gia đình ở nông thôn hiện nay, đó là sự biến đổi

về quy mô gia đình, nghề nghiệp, vai trò của giới trong gia đình, định hướng học tập của cha mẹ đối với con, sự biến đổi trong quan hệ gia đình do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mang lại Đánh giá những tác động tích cực

và những tác động tiêu cực của quá trình đó đối với gia đình ở nông thôn hiện nay [16]

Phan Mai Hương, Vấn đề việc làm trong chiến lược sống của người nông

dân vùng ven đô dưới tác động của đô thị hóa, Tạp chí Xã hội học số 1(101),

2008 Bài viết phản ánh những tác động của đô thị hóa không chỉ làm thay đổi

những yếu tố vật chất, mà còn làm chuyển biến những khuôn mẫu xã hội Quá

Trang 12

trình đó đã tác động mạnh mẽ tới nông thôn và tạo ra nhiều hệ quả xã hội như: thiếu việc làm, phân hóa giàu nghèo, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, biến đổi lối sống và phong tục tập quán, biến đổi trong quan hệ xã hội, nhận thức và thái độ đối với các giá trị truyền thống trong gia đình Từ sự biến đổi đó ảnh hưởng đến phương thức kiếm sống, và chiến lược sống của gia đình Mặt khác đó là những biến đổi liên quan đến giao tiếp, quan hệ xã hội, quan hệ gia đình, phản ánh những thay đổi về tâm lý liên quan đến động thái trong chiến lược sống của hộ gia đình vùng ven đô từ góc độ nghề nghiệp, việc làm dưới tác động của đô thị hóa [8, tr 21]

"Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị

hoá" (2010) - cuốn sách do tác giả Nguyễn Thị Thơm và Phí Thị Hằng làm

đồng chủ biên Cuốn sách đã được các tác giả đã bàn về những vấn đề nảy

sinh do quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp mọc lên khắp nơi đã làm cho đất đai sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, người nông dân mất tư liệu sản xuất chủ yếu đồng nghĩa

với việc mất hoặc thiếu việc làm, gây nên nhiều vấn đề xã hội khác nảy sinh

Từ việc chỉ ra thực trạng của Hải Dương - một tỉnh trọng điểm vùng đồng bằng sông Hồng, nhóm tác giả đã đưa ra một số dự báo và giải pháp trong việc giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá: Nâng cao hiệu quả quy hoạch, mở rộng cầu lao động, nâng cao chất lượng cung lao động, phát triển thị trường lao động và giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách đối với lao động nông nghiệp bị thu hồi đất [68]

"Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010" (2010) do tác giả Trần Thị Minh

Ngọc làm chủ biên Trên cơ sở phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn cũng như những thành tựu, hạn chế trong quá trình giải quyết việc làm cho

Trang 13

nông dân vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ đó nhóm tác giả đề ra phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm thực hiện có hiệu quả vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân: điều chỉnh cơ cấu đầu tư, phát riển các ngành kinh tế nhằm giải quyết việc làm; đồng thời tác giả cũng đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cho người lao động

để tăng cơ hội tìm kiếm được việc làm và các giải pháp hoàn thiện các chính sách của Nhà nước về việc làm cho người lao động [41]

Trong các công tŕnh nghiên cứu, còn có "Gia đình Việt Nam với chức

năng xã hội hóa" của PGS.TS Lê Ngọc Văn, Nhà xuất bản Giáo dục, 1996

Đặc biệt gần đây, có đề tài cấp Nhà nước KX - 07- 09: "Vai trò gia đình trong

sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam", của Trung tâm

Nghiên cứu về gia đình và phụ nữ, mà Giáo sư Lê Thi làm chủ biên, do Nhà xuất bản Phụ nữ phát hành năm 1997 Tập thể các tác giả cho rằng, những thành tựu to lớn của cách mạng khoa học và công nghệ trong những năm cuối thế kỷ XX đang đưa lại những khả năng sáng tạo, trí thông minh tuyệt vời cho con người và hứa hẹn đem lại những tiến bộ vượt bậc cho cuộc sống của cá nhân, gia đình, xã hội cả về vật chất và tinh thần Bên cạnh những tiến bộ vượt bậc do con người tạo ra, thì hàng loạt những sai lầm, hành vi lệch chuẩn, thiếu hụt, những tệ nạn xã hội, nguy hiểm đang tồn tại trên khắp thế giới cũng lại do con người gây ra Hậu quả đó đang làm cho những mối quan hệ trong gia đình bị dạn nứt, xấu đi Tác giả khẳng định, bàn về sự phát triển ổn định của xã hội, không thể tách rời sự phát triển của con người và vai trò của gia đình trong việc bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng nhân cách con người

Lê Thái Thị Băng Tâm, Một vài đặc điểm của hộ gia đình sau khi bị thu

hồi quyền sử dụng đất canh tác, Tạp chí Xã hội học số 3 (115), 2001 Nghiên

Trang 14

cứu này chỉ ra một số đặc điểm của hộ gia đình nông thôn bị thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp cũng như một số thay đổi của những gia đình này từ trước và sau khi bị thu hồi đất, một số khác biệt giữa các hộ gia đình bị thu hồi đất và không bị thu hồi đất Đồng thời phản ánh những tác động của đô thị hóa đến sự thay đổi chiến lược sinh kế của hộ gia đình, mặt khác cũng phản ánh sự thiếu bền vững, đe dọa đến sự phát triển kinh tế hộ gia đình trong những điều kiện cụ thể [21, tr 47]

Ngoài ra còn một số nghiên cứu về chức năng kinh tế của gia đình như Bài viết của Vũ Hào Quang trên tạp chí xã hội học Bài viết của Nguyễn Thị

Kim Hoa trên tạp chí xã hội học Vũ Hào Quang, “Biến đổi xã hội nông thôn

trong quá trình dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất và đô thị hóa” (Nghiên

cứu trường hợp Hải Dương)

Như vậy, những công trình nghiên cứu trên đã đánh giá về những tác động của đô thị hóa đến sự biến đổi các chức năng của gia đình như sự biến đổi về nghề nghiệp, việc làm, thu nhập của gia đình Cung cấp những luận cứ khoa học để đưa ra những chính sách phù hợp cho sự ổn định và phát triển của gia đình trong điều kiện mới Tuy nhiên vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu

về sự biến đổi các chức năng cơ bản của gia đình trước tác động của thu hồi đất

Đề tài nghiên cứu “Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến sự

biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại Xã Ái Quốc và Xã Đồng Lạc)

mong muốn đóng góp thêm một phần nhỏ vào xu hướng nghiên cứu sự biến đổi các chức năng cơ bản của hộ gia đình trong đó có chức năng kinh tế dưới tác động của quá trình thu hồi đất

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Trang 15

Qua nghiên cứu đề tài “Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến

biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại Xã Ái Quốc và Xã Đồng Lạc) qua

đây vận dụng một số lý luận, lý thuyết xã hội học để nghiên cứu về sự tác động của việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đối với sự biến đổi các chức năng trong gia đình nông thôn hiện nay, trong đó có chức năng kinh tế Đánh giá và phân tích để đưa ra những luận cứ khoa học nhằm phản ánh đúng thực tiễn vấn đề Qua nghiên cứu góp phần đem lại cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách của Đảng và nhà nước về gia đình Đồng thời vận dụng một

số lý thuyết của xã hội học để nghiên cứu làm rõ sự biến đổi chức năng của gia đình trước tác động của việc thu hồi đất

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trong thời gian qua, việc nghiên cứu những bất cập nảy sinh do việc thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng những KCN, KĐT và hệ thống hạ tầng cơ sở tại các vùng nông thôn được nhiều tác giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đặc biệt quan tâm thực hiện Kết quả của những công trình nghiên cứu này cho thấy, việc thu hồi đất nông nghiệp đã ảnh hưởng rất lớn đến việc làm, đời sống kinh tế - xã hội và môi trường sống của người dân bị thu hồi đất

Tuy nhiên, với đề tài này tác giả muốn đi sâu tìm hiểu, phân tích và nghiên cứu về khía cạnh tác động của việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến sự biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình bị thu hồi đất và làm sáng

tỏ những tác động việc thu hồi đất đến sự biến đổi chức năng của hộ gia đình

từ đó phát huy những tác động tích cực, khắc phục những tác động tiêu cực… nâng cao nhận thức của hộ gia đình, tạo môi trường thích ứng cho người dân khi họ mất đất

Trang 16

Đưa ra những đề xuất kiến nghị và những giải pháp nhằm xây dựng gia đình ổn định và bền vững trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu, phân tích, quá trình thu hồi đất sản xuất nông nghiệp và sự tác động của quá trình đó đến sự biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình bị thu hồi đất tại 2 xã Ái Quốc và xã Đồng Lạc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm ổn định và nâng cao chất lượng sống cho các hộ gia đình sau việc thu hồi đất

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khái quát về quá trình đô thị hóa tại Huyện Nam Sách và khái quát về địa

bàn nghiên cứu ở 2 xã Ái Quốc và xã Đồng Lạc

Tìm hiểu về thực trạng đời sống của hộ gia đình( hoạt động sản xuất, kinh

doanh, tiêu dùng, thu nhập, điều kiện sinh hoạt…)

Phân tích, đánh giá tác động của việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến sự biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình

Đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sự biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình

Biến đổi kinh tế: sự biến đổi về nghề nghiệp, thu nhập, việc làm, chiến lược sống, phương tiện sinh hoạt, quá trình sản xuất, tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở Huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương

Trang 17

5.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là những hộ gia đình bị thu hồi đất trên địa bàn xã

Ái Quốc và xã Đồng Lạc; Cán bộ địa phương(xã)

5.3 Phạm vi nghiên cứu

5.3.1 Phạm vi không gian

Đề tài tiến hành khảo sát tại địa bàn 2 xã Ái Quốc và xã Đồng Lạc, huyện

Nam Sách, tỉnh Hải Dương

5.3.2.Phạm vi thời gian

Đề tài tiến hành nghiên cứu từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2014

5.3.3 Phạm vi nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu về những tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của gia đình, đó là sự biến đổi về mức sống, thu

nhập, tiêu dùng và vấn đề lao động, việc làm của hộ gia đình

6 Câu hỏi nghiên cứu

Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp ở xã Ái Quốc và xã Đồng Lạc diễn ra

7 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết

7.1 Giả thuyết nghiên cứu

Việc thu hồi đất nông nghiệp ở xã Ái Quốc và xã Đồng Lạc đã diễn ra theo đúng quy định của luật đất đai và được người dân chấp nhận Chức năng kinh

tế đã thay đổi theo hướng tích cực hơn Đã có sự thay đổi rất lớn trong đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa của hộ gia đình

Trang 18

12

Việc thu hồi đất nông nghiệp đã làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, việc làm, thu nhập, đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, nhu cầu tiêu dùng, nội dung và định hướng nghề nghiệp tương lai cho con cái trong gia đình

Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự biến đổi chức năng kinh tế là do thiếu đất sản xuất, công cụ sản xuất thô sơ, cách thức tổ chức sản xuất, và quan hệ sản xuất sau đền bù đất đai chưa phù hợp

7.2 Khung lý thuyết

Điều kiện kinh tế - xã hội

Quá trình thu hồi đất sản xuất nông nghiệp

Thu hồi đất sản xuất nông

- Thu nhập của gia đình

- Biến đổi nghề nghiệp, việc làm của gia đình

- Biến đổi sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

- Biến đổi chi tiêu của hộ gia đình

Trang 19

có nghĩa là tất cả các vấn đề các hiện tượng đều phải xem xét trong mối liên

hệ biện chứng, phụ thuộc, tác động qua lại với nhau, chi phối ảnh hưởng lẫn nhau Đồng thời phải đứng trên quan điểm toàn diện Nghĩa là vấn đề này được đặt trong bối cảnh của sự phát triển, những biến đổi kinh tế - xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể Mà ở đây là quá trình đô thị hóa đã tác

động và dẫn đến những biến đổi nhanh chóng trong đời sống kinh tế - xã hội

Giải pháp cho sự biến đổi chức năng

kinh tế của gia đình

Trang 20

Vận dụng phương pháp luận để lý giải sự ảnh hưởng từ việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến chức năng kinh tế của hộ gia đình, như thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, việc làm, nguồn thu nhập, phương thức sản xuất kinh doanhmức sống và chiến lược sống của hộ gia đình khi bị mất đất canh tác

Nó có tác động tích cực hay không tích cực đến chức năng kinh tế hộ gia đình Ngược lại, sự biến đổi về chức năng kinh tế hộ gia đình phản ánh chính sách thu hồi đất nông nghiệp ra sao, có hợp lòng dân và được người nông dân đồng tình hay không

8.2 Phương pháp chọn mẫu

Đề tài thu thập thông tin định lượng bằng bảng hỏi với 300 phiếu hỏi, tiến hành ở 2 xã Ái Quốc và xã Đồng Lạc ở huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương Trong đó số phiếu dành cho mỗi xã là 150 phiếu và phiếu phỏng vấn dành cho đại diện chủ hộ bị thu hồi đất nông nghiệp

Đề tài áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống Đó là cách chọn sao cho mọi phần tử của tổng thể đều có cơ hội được lựa chọn như nhau Đây là phương pháp chọn mẫu bằng cách rút thăm lấy ngẫu nhiên một đơn vị đầu tiên sau đó các đơn vị tiếp theo được chọn theo hệ thống Áp dụng công thức chọn mẫu ngẫu nhiên K = N/n, trong đó k là khoảng cách trên danh sách các phần tử được chọn, N là kích thước của tổng thể, n là dung lượng mẫu Đối với xã Ái Quốc tiến hành khảo sát 150 hộ bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp trong tổng số 450 hộ Áp dụng công thức ta có: K=N/n= 450:150=3 Như vậy trung bình cứ 3 hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp ta chọn 1 hộ gia đình để khảo sát và thu thập thông tin

Đối với xã Đồng Lạc tiến hành khảo sát 150 hộ gia đình bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp trong tổng số 300 hộ Áp dụng công thức ta có: K=N/n=

Trang 21

300:150=2 Như vậy trung bình cứ 2 hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp ta chọn 1 hộ gia đình để khảo sát và thu thập thông tin

8.3 Các phương pháp thu thập thông tin

8.3.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Bảng hỏi được sử dụng trong quá trình thu thập thông tin gồm 27 câu hỏi dành cho đối tượng là đại diện chủ hộ Nội dung bảng hỏi hướng đến những thông tin về nghề nghiệp, việc làm, đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, mức sống, thu nhập, chiến lược sống của hộ gia đình Đánh giá của người dân về

sự biến đổi chức năng kinh tế trước và sau quá trình thu hồi đất nông nghiệp,

việc định hướng nghề nghiệp của cha mẹ đối với con

8.3.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 20 đối tượng tại 2 xã, mỗi xã phỏng vấn

10 đối tượng Trong đó tiến hành phỏng vấn 3 người là lãnh đạo của của thôn

và xã, phỏng vấn 7 người là chủ hộ gia đình để tìm hiểu thực trạng về sự biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình trước và sau quá trình thu hồi đất sản xuất nông nghiệp Mặt khác xem xét những đánh giá của họ về những nguyên nhân và những yếu tố tác động đến sự biến đổi các chức năng trong gia đình, trong đó nhấn mạnh đến chức năng kinh tế của hộ gia đình

8.3.3 Phương pháp quan sát

Đây là phương pháp được tiến hành trong quá trình phỏng vấn bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu, thông qua quan sát để xác định hành vi và thực tế cuộc sống gia đình có đúng với câu trả lời của họ hay không Quan sát về những thay đổi trong cơ cấu nghề nghiệp, chuyển đổi việc làm, thu nhập, mức sống, hoạt động sản xuất kinh doanh, đời sống sinh hoạt của hộ gia đình Những thông tin thu được từ quan sát sẽ bổ sung làm tăng thêm độ chính xác của

thông tin trong quá trình nghiên cứu

Trang 22

8.3.4 Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp này được sử dụng để phân tích các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực thu hồi đất mà tập trung chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp và chuyển giao quyền sử dụng đất, sự biến đổi cấu trúc chức năng trong gia đình, đó là các sách, báo, tạp chí chuyên ngành xã hội học Các báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội từ 2010 - 2013 của địa phương 2 xã Ái Quốc và xã Đồng Lạc, huyện Nam Sách

NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm công cụ

1.1.1.1 Khái niệm gia đình

Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình - nơi con người sinh ra, lớn lên, từ

lâu đã được nhiều nhà tư tưởng, nhà hoạt động thực tiễn quan tâm, nghiên cứu

Hướng tới việc xây dựng gia đình bền vững, tổ chức UNESCO của Liên

Hiệp Quốc đă quyết định lấy năm 1994 là năm Quốc tế gia đình và thống nhất khẳng định: gia đình là một yếu tố tự nhiên và cơ bản, một đơn vị kinh tế của

Trang 23

xã hội Gia đình được coi như một giá trị vô cùng quý báu của nhân loại, cần

được giữ giữ và phát huy Trên tinh thần đó, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về

gia đình: "Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống chung

và có ngân sách chung" [60, tr 269] Quan hệ họ hàng, trước hết là nói đến quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống Ngoài những thành viên tạo nên quan hệ họ hàng, gia đình còn bao gồm một số thành viên khác cùng chung sống Các thành viên gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi về mọi mặt

Đây là một khái niệm rộng, nội hàm của khái niệm phức tạp và đa dạng

Theo Giáo sư Lê Thi: Khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm

xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha, mẹ, con cái, ông bà, họ hàng, nội ngoại) Đồng thời, trong gia đình cũng có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống Các thành viên gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm), giữa họ có những điều ràng buộc có tính pháp lý, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong Luật hôn nhân và gia đình của nước ta) Đồng thời, gia đình cũng có những quyết định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên [60, tr 20-21]

Có thể còn nhiều vấn đề cần phải tìm hiểu và nghiên cứu thêm, nhưng căn

cứ vào tình hình chung của hôn nhân và gia đình ở nước ta, kế thừa những

cách tiếp cận hợp lý khác nhau như trên, theo chúng tôi, có thể đưa ra một khái niệm về gia đình như sau: Gia đình là một phạm trù dùng để chỉ một tập

hợp người, hình thành trên cơ sở các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng Các thành viên gia đình gắn bó với nhau bởi trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi về kinh tế, văn hóa, tình cảm và theo những chuẩn giá trị nhất định, được dư luận xã hội ủng hộ, được nhà nước thừa

Trang 24

nhận và bảo vệ

Rostow chia quá trình phát triển kinh tế thành năm giai đoạn, trong đó giai

đoạn đầu gọi là giai đoạn của xã hội truyền thống Giai đoạn 2 là tiền điều kiện để tạo bước nhảy trong kinh tế; giai đoạn 3 là thực hiện bước nhảy; giai đoạn 4 là trưởng thành; giai đoạn 5 là giai đoạn tiêu dùng đại chúng với chất

lượng cao

1.1.1.2 Khái niệm hộ gia đình

Hộ gia đình là tất cả những người sống chung dưới một mái nhà, trong một

sổ đăng ký hộ khẩu Họ có thể là một người sống một mình hoặc một số người sống cùng nhau, có thể cùng hoặc không cùng dòng máu hay họ hàng

(Theo Ahlburg DA & Devita C.J 1992) - [Trích GS.TS Lê Thị Qúy, Xã hội học gia đình, NXB Chính trị - Hành chính 2011, trang 39]

1.1.1.3 Khái niệm biến đổi xã hội

Mọi xã hội cũng giống như tự nhiên - không ngừng biến đổi Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định của bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân nó Do đó, bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù nó bảo thủ và truyền thống đến đâu chăng nữa cũng luôn luôn biến đổi

Sự biến đổi đó trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn, và điều này làm cho ta nhận thấy sự biến đổi đó không còn là điều mới mẻ, nó đã trở nên dường như chuyện thường này

Có nhiều cách quan niệm về sự biến đổi xã hội Một cách hiểu rộng nhất, cho đó là một sự thay đổi so sanh với một tình trạng xã hội hoặc một nếp sống trước đó Trong phạm vi hẹp hơn, người ta cho rằng sự biến đổi xã hội được

đề cập đến sự biến đổi về cấu trúc của xã hội mà sự biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các thành viên của một xã hội Còn những biến đổi chỉ tác động đến một số ít cá nhân thì ít được các nhà xã hội học quan tâm, chú ý

Trang 25

Đó chỉ là hai trong nhiều cách hiểu về sự biến đổi xã hội Như vậy, có thể hiểu “Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuân mẫu của các hành

vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng

xã hội được thay đổi qua thời gian” (Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng, Xã

hội học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2006, tr279)

1.1.1.4 Khái niệm chức năng của gia đình

Là một tập hợp người, được hình thành trên cơ sở hai mối quan hệ cơ bản: hôn nhân và huyết thống gia đình có sứ mệnh đảm đương những chức năng đặc biệt mà ngoài nó ra không có một thiết chế xã hội nào có thể thay thế được Gia đình có những chức năng cơ bản sau:

Chức năng sinh sản - tái sản xuất ra con người

Chức năng giáo dục, hình thành nhân cách con người

Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình

Chức năng thỏa mãn những nhu cầu tâm - sinh lý, tình cảm

1.1.1.5 Khái niệm chức năng kinh tế của gia đình

Theo quan điểm duy vật lịch sử, xã hội loài người tồn tại và phát triển là

do hai loại sản xuất quyết định: sản xuất ra con người và sản xuất ra của cải vật chất Bởi vậy, hoạt động kinh tế là chức năng tự nhiên của mọi gia đình,

trong mọi thời đại; tất nhiên với mức độ không giống nhau

Việc thực hiện chức năng kinh tế của gia đình nhằm tạo điều kiện vật chất, đảm bảo sự tồn tại và nâng cao chất lượng sống cho các thành viên trong gia đình, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Về vấn đề này, C.Mác viết:

“Tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử” Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa” [42, tr 39-40]

Trang 26

Trong tiến trình phát triển của xã hội, gia đình thường được xem là một đơn vị kinh tế, vừa với tư cách là đơn vị sản xuất, vừa với tư cách là đơn vị tiêu dùng

Trong xã hội Việt Nam truyền thống, các triều đại phong kiến chủ trương

“trọng nông, ức thương”, nên hầu như toàn bộ cư dân là nông dân (trên 90%) sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, với phương thức tự cung, tự cấp là chủ yếu “Trước khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, chưa có một triều đại nào cho phép thương nhân trong nước ra nước ngoài buôn bán, quá lắm là mở cửa biển cho tàu buôn nước ngoài đến” [9, tr.58]

Có thể nói, kinh tế của gia đình truyền thống lấy nông nghiệp làm chính, sức lao động chủ yếu là hai vợ chồng; các em gái cũng phải lao động từ rất sớm Với phương thức tự cung, tự cấp, kinh tế gia đình chỉ đủ bảo đảm cuộc sống tối thiểu để tồn tại, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển xã hội, chức năng kinh tế nếu có, cũng chỉ ở mức độ rất hạn chế

Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, gia đình không chỉ là đơn vị tự chủ trong sản xuất, mà còn là đơn vị dịch vụ, tiêu thụ, trong đó các thành viên gia đình có thể đảm đương nhiều vị trí sản xuất và kinh doanh khác nhau, với những phương thức hoạt động và quan hệ rộng mở, đa dạng và phong phú Hơn nữa, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến kinh tế hộ gia đình và khuyến khích mô hình kinh tế trang trại, coi đó là đơn vị kinh tế có vị trí quan trọng

và tồn tại lâu dài Với chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại của Nhà nước, nhiều gia đình đã hăng hái lao động sản xuất, kinh doanh

và vươn lên làm giàu chính đáng, theo quan điểm “dân giàu th́ nước mạnh” Chính nhờ vậy không chỉ đời sống gia đình được cải thiện, con người có điều kiện phát triển về trí tuệ, thể lực, nhân cách mà bộ mặt xã hội không ngừng được đổi thay

Trang 27

1.1.2 Những lý thuyết xã hội học được vận dụng

1.1.2.1 Lý thuyết cấu chúc - chức năng

Cho đến nay, thuyết cơ cấu chức năng vẫn có thể được coi là một trong những học thuyết lớn nhất trong xã hội học Nó được khơi nguồn từ cuối thế

kỷ XIX, thịnh hành trong suốt thế kỷ XX và có ảnh hưởng sâu sắc tới toàn bộ

xã hội học hiện đại Đại diện của thuyết chức năng là: Auguste Comte, Emile Durkheim, Talcott Parsons

Lý thuyết này nhìn xã hội như một hệ thống hoàn chỉnh các quan hệ qua lại giữa các bộ phận, mỗi bộ phận có thể liên quan tới bộ phận khác Luận điểm cơ bản của lý thuyết cấu trúc - chức năng là xem xã hội như một cơ thể sống của con người bao gồm quan hệ giữa các tổ chức khác nhau Mỗi một bộ phận, một tổ chức xã hội thực hiện một chức năng riêng, tuy nhiên đều hướng đến việc thực hiện chức năng chung của cả hệ thống

Để giải thích sự tồn tại và vận hành của xã hội cần phân tích cấu trúc - chức năng của nó tức là chỉ ra các thành phần cấu thành (cấu trúc) và các cơ chế hoạt động (chức năng) của chúng

Mọi cấu trúc về mặt văn hóa - xã hội đã được chuẩn hóa đều có những chức năng phù hợp

Lý thuyết chức năng hướng vào giải quyết vấn đề bản chất của cấu trúc

xã hội và hệ quả của cấu trúc xã hội

Lý thuyết cấu trúc - chức năng cho thấy những hành vi cá nhân luôn nằm trong cấu trúc nhất định, mặc dù các cá nhân luôn có sự lựa chọn những ứng

xử trong một tình huống cụ thể Những sự lựa chọn của họ được cơ cấu hoá thành mô hình hoặc được bỏ qua bởi xã hội

Lý thuyết cấu trúc chức năng đề cập tới toàn bộ những vấn đề xã hội, cơ cấu xã hội, tương tác xã hội, sự kiện xã hội… và mỗi một bộ phận đều đảm

Trang 28

nhận những chức năng khác nhau và có mối liên giữa các bộ phận đó trong việc thực hiện những mục đích chung

Quan điểm tiếp cận cấu trúc chức năng coi gia đình là một thành phần trong cấu trúc của xã hội, thực hiện những chức năng cơ bản của xã hội, đáp ứng nhu cầu của các thành viên trong gia đình và góp phần ổn định xã hội Quan điểm cấu trúc - chức năng nhấn mạnh sự ổn định và hài hòa của gia đình Và chính sự ổn định của gia đình góp phần vào sự ổn định và phát triển của xã hội [25, tr 159]

Khi vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng để nghiên cứu biến đổi chức năng kinh tế chúng ta có thể thấy được vị trí, vai trò của chức năng kinh tế đối với sự thay đổi chức năng của gia đình trong đó có sự thay đổi cơ cấu việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng trong đời sống gia đình Đồng thời cũng phản ánh những thay đổi về lối sống, ứng

xử, các hệ giá trị, chuẩn mực, trật tự gia đình

Tiếp cận lý thuyết cấu trúc chức năng có thể nghiên cứu biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình như thay đổi cơ cấu việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu dùng cùng với những thay đổi về giá trị văn hóa, ứng xử, định hướng nghề nghiệp cho con cái và vai trò của các thành viên trong gia đình

1.1.2.2 Lý thuyết biến đổi xã hội

Nguyên lý phát triển của xã hội học Mác xít chỉ ra rằng phát triển là quá trình trong đó sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ, là hiện tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy Nguyên lý này chỉ ra rằng, mọi

sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, nên trong

Trang 29

nhận thức và hoạt động của bản thân, chúng ta phải có quan điểm phát triển Điều đó có nghĩa là khi xem xét bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặt chúng trong sự vận động, sự phát triển, vạch ra xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng

Thuyết này chỉ ra rằng, cũng như thế giới tự nhiên, mọi xã hội, mọi nền văn hóa đều không ngừng biến đổi Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định tương đối Còn thực tế, nó không ngừng thay đổi từ bên trong bản thân nó Sự biến đổi trong xã hội hiện đại càng rõ ràng hơn Con người là một đơn vị cơ bản của xã hội, với tư cách là chủ thể hoạt động xã hội, bản thân nó cũng luôn biến đổi Biến đổi từ khi sinh ra đến khi trưởng thành rồi mất đi Con người trên khía cạnh sinh học, cũng tuân thủ những quy luật của tự nhiên, lớp người này mất đi, lớp người khác kế tiếp Các thế hệ thay thế nhau tạo ra những biến đổi không ngừng của lịch sử và xã hội

Thuyết biến đổi xã hội trong xã hội học ra đời coi xã hội là một sự vận động và tương tác không ngừng Chính sự vận động và tương tác này đã tạo

ra sự đa dạng và phong phú của xã hội A.Comte đã coi xã hội là một sự chuyển hóa giữa hai mặt là mặt tĩnh (mặt cơ cấu của xã hội) và mặt động (mặt biến đổi xã hội) Theo ông trong xã hội, mọi cái đều vận động và biến đổi Tuy nhiên, sự biến đổi này không diễn ra một cách đơn điệu Mỗi sự vật, hiện tượng và sự kiện xã hội lại có những cách thức và cường độ biến đổi khác nhau Sự biến đổi ít, sự biến đổi nhiều và sự tĩnh tại cùng tồn tại đan xen với nhau Tĩnh tại cũng là một trạng thái của sự biến đổi

Các nhà xã hội học theo thuyết biến đổi xã hội coi hành vi con người thông qua các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa và giao tiếp là tác nhân của sự biến đổi Tuy nhiên, tác động của các tác nhân này không giống nhau

Nhà xã hội học người Mỹ - Wiliam Orburn đã đưa ra khái niệm “độ chậm văn

Trang 30

hóa” để chỉ sự biến đổi xã hội mà theo ông trong đó văn hóa vật chất thường

thay đổi nhanh hơn văn hóa phi vật chất

Việc nghiên cứu những tác nhân của sự biến đổi xã hội là yếu tố quan trọng để tìm ra các chiến lược phát triển tránh cho xã hội những biến đổi ngược chiều dẫn đến suy thoái Nghiên cứu hành vi con người thông qua các chuẩn mực và giá trị xã hội, coi mô hình hành vi là sản phẩm của một nền văn hóa và cho rằng nó cũng biến đổi theo thời gian và theo những điều kiện xã hội Sự biến đổi mô hình hành vi là kết quả thay đổi của hệ giá trị, chuẩn mực

Có nhiều quan điểm khác nhau về sự biến đổi xã hội thông qua biến đổi

hành vi Các nhà xã hội học theo thuyết biến đổi xã hội định nghĩa “Biến đổi

xã hội là một quá trình, qua đó những khuân mẫu của hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội thay đổi qua thời gian”

Hai nhà xã hội học nổi tiếng, Gerhard Lenski và Jean Lenski đã nhấn mạnh tới vai trò của sự phát triển công nghệ đối với sự thay đổi xã hội Phân tích quá trình biến đổi xã hội từ xã hội săn bắn, hái lượm tới xã hội nông nghiệp và xã hội công nghiệp, họ thấy rằng, sự phát triển của công nghệ luôn

đi trước và sau đó tạo cơ sở kinh tế, xã hội để cải thiện các khuôn khổ khác của đời sống xã hội Họ cũng nhấn mạnh rằng tiến bộ công nghệ cũng khiến cho sự bất bình đẳng xã hội diễn ra nhiều hơn [18, tr 119]

Vận dụng lý thuyết biến đổi xã hội vào việc nghiên cứu quá trình thu hồi đất nông nghiệp tác động đến sự biến đổi các chức năng cơ bản trong gia đình hiện nay để từ đó xem xét sự biến đổi trong xã hội, từ xã hội nông nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp hiện đại Nó có tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội làm biến đổi cơ cấu nghề nghiệp, việc làm, thu nhập, nhu cầu tiêu dùng, ứng xử, hệ các giá trị văn hóa tinh thần, định hướng nghề

Trang 31

nghiệp, phong tục tập quán và trực tiếp là làm biến đổi chức năng kinh tế trong gia đình

1.1.2.3 Lý thuyết xung đột

Karl Marx là nhà tư tưởng kinh điển của thuyết xung đột đều cho rằng, mâu thuẫn về quyền lợi là nguyên nhân tiềm ẩn gây ra xung đột giữa các cá nhân trong nhóm và giữa các nhóm xã hội với nhau, trong đó Marx đã nói đến những xung đột về quyền lợi giai cấp Ông cho rằng nguồn gốc của xung đột

là việc phân phối không đồng đều về phương tiện sản xuất xã hội Họ cho rằng, khi sự mâu thuẫn về lợi ích đã đến mức không thể dung hòa được sẽ làm

nổ ra một cuộc xung đột mới hoặc kết thúc cuộc xung đột cũ

Chúng ta đều biết rằng, mâu thuẫn là hiện tượng tồn tại trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo Cùng một lúc các mâu thuẫn trở nên sâu sắc sẽ tạo ra khu vực khủng hoảng Biểu hiện của cuộc khủng hoảng xã hội là cường độ căng thẳng xã hội đột ngột mạnh lên và thường trở nên xung đột [18, tr 122]

Lý thuyết xung đột của Dahrendorf cho rằng, chính cơ cấu của xã hội tạo

ra các xung đột xã hội; nguồn gốc của xung đột chính là sự phân phối không đồng đều về quyền lực và uy tín, nghĩa là cội nguồn của xung đột nằm trong mối quan hệ giữu những vai trò mà một xã hội cụ thể nào đó chấp nhận Dahrendorf nêu ra một loạt tác nhân có ảnh hưởng quan trọng đối với mức độ gay gắt của xung đột:

Thứ nhất, mức độ gay gắt của xung đột phụ thuộc vào khả năng biểu hiện của nó Ông khẳng định rằng xung đột xã hội càng được thể hiện ra thì mức

độ gay gắt càng giảm đi Vì “Nguy hiểm nhất là xung đột chưa được hiểu một cách thấu đáo, chỉ một phần của nó được biểu lộ ra dưới dạng những vụ bùng

nổ mang tính cách mạng hay giả cách mạng”

Trang 32

Thứ hai, mức độ gay gắt của xung đột phụ thuộc vào mức độ năng động của xã hội, có thể quan sát được một xã hội cụ thể Dahrendorf tin rằng mức

độ năng động càng cao thì nhanh chóng loại bỏ được hoàn cảnh gây ra xung đột Từ đó ông rút ra kết luận: “Các xung đột trên cơ sở khác biệt về tuổi tác

và giới tính bao giờ cũng gay gắt hơn là xung đột trên cơ sở khác biệt về nghề nghiệp hay là về nguyên tắc, xung đột về tín ngưỡng bao giờ cũng gay gắt hơn xung đột về khu vực”

Thứ ba, mức độ gay gắt của xung đột phụ thuộc vào mức độ đa nguyên trong một xã hội cụ thể Mức độ đa nguyên càng cao thì mức độ gay gắt của xung đột càng giảm Không thể nào khác được Lấy ví dụ như trong một xã hội cực kỳ độc đoán, nơi không tồn tại bất cứ lĩnh vực xã hội độc lập nào thì bất cứ xung đột nào cũng bao trùm lên toàn bộ các lĩnh vực trong xã hội đó Bất cứ sự thay đổi nào trong lĩnh vực kinh tế cũng dẫn đến những thay đổi trong lĩnh vực chính trị và ngược lại Nói cách khác, trong xã hội đó người ta không thể thua trong lĩnh vực nà mà lại thắng trong lĩnh vực khác được

“Được ăn cả ngã về không” Vì người ta mang cả mạng sống ra đánh cược cho nên cuộc đấu tranh sẽ cực kỳ tàn bạo và khốc liệt Nhưng Dahrendorf tin rằng không được đàn áp, dù xung đột có tàn bạo và khốc liệt đến đâu Vì đàn

áp sẽ chỉ làm cho xung đột trở thành bệnh di căn, ns sẽ đầu độc toàn bộ cơ thể

xã hội Ta cần phải điều khiển chứ không phải là đàn áp xung đột

Điều khiển cho phép, thứ nhất, kiểm soát ngay cả những xung đột nhạy cảm nhất và thứ hai, chuyển lực lượng phá hoại của xung đột thành lực lượng sáng tạo, biến xung đột thành lực lượng phục vụ xã hội Muốn cho chương trình điều khiển xung đột thành công thì cần phải thực hiện một loạt điều kiện:

“Tất cả mọi người tham gia đều phải công nhận rằng xung đột nói chung, cũng như những mâu thuẫn cụ thể nào đó, là những hiện tượng tất yếu, hơn

Trang 33

thế, còn là những hiện tượng có thể biện minh được và hữu ích nữa Những người không chấp nhận xung đột, coi xung đột là những lệch lạc bệnh hoạn,

sẽ không thể nào điều khiển được xung đột Chấp nhận tính tất yếu của xung đột không thôi chưa đủ Cần phải nhận được nguyên lý sáng tạo, hữu ích của xung đột Nghĩa là khi can thiệp, ta chỉ được quyền điều khiển những biểu hiện của xung đột chứ không được tìm cách loại bỏ các nguyên nhân đưa tới xung đột Nguyên nhân của xung đột - khác với những biểu hiện cụ thể của nó

- không thể nào loại trừ được Cho nên điều khiển xung đột là tìm ra những hình thức biểu hiện của nó và chuyển nó sang những hình thức biểu hiện khác Kết quả là xung đột đã được chuyển sang những kênh khác”

Quan điểm tiếp cận lý thuyết xung đột không coi gia đình là nhân tố đóng góp cho sự ổn định của xã hội mà là tấm gương phản chiếu sự bất bình đẳng

về của cải và quyền lực của một xã hội rộng lớn Khi vận dụng lý thuyết xung đột trong nghiên cứu về sự biến đổi chức năng kinh tế dưới tác động của quá trình thu hồi đất chúng ta có thể xem xét những mâu thuẫn xung đột giữa những người bị thu hồi đất với các doanh nghiệp ở địa phương; mâu thuẫn xã hội giữa các nhóm lợi ích trong nông thôn; mâu thuẫn trong mối quan hệ gia đình do những mâu thuẫn về vấn đề thiếu việc làm, thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái, mâu thuẫn giữa việc thu hồi đất với việc người dân không thích ứng được nó sẽ là hệ lụy xã hội và gia đình không ổn định

Những người theo quan điểm xung đột cho rằng, mâu thuẫn trong các mối quan hệ tương tác giữa những con người với nhau là một điều tự nhiên, rất khó tránh khỏi Mâu thuẫn vốn có trong tất cả các hệ thống tương tác của con người, không loại trừ quan hệ hôn nhân và gia đình Trong đời sống gia đình có rất nhiều lý do dẫn đến mâu thuẫn xung đột do gia đình là tập hợp

Trang 34

những cá nhân khác nhau về giới tính, tuổi tác, sở thích, lợi ích, lối sống, v.v

Vì vậy vận dụng lý thuyết này để nghiên cứu biến đổi chức năng kinh tế

chúng ta có thể tìm hiểu về nguồn gốc của những mâu thuẫn trong gia đình,

cách kiểm soát và giải quyết các xung đột gia đình, làm cho đời sống gia đình

cũng như mối quan hệ trong gia đình ngày càng ổn định, tốt đẹp hơn

1.1.3 Quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước về gia đình và

ruộng đất

1.1.3.1 Quan điểm của Nhà nước về gia đình

Cùng với công nghiệp hóa và toàn cầu hóa, Nhà nước là một nguồn tác

động rất quan trọng đến biến đổi gia đình Trong thời điểm xã hội có những

biến động lớn về chính trị hoặc kinh tế - xã hội, Nhà nước thường ban hành

những chính sách và pháp luật mới nhằm điều chỉnh và hỗ trợ sự phát triển

của gia đình Điều này thể hiện rõ trong quan điểm của Nhà nước về gia đình Trong nhiều văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước, gia đình được đề

cập tới như một điều kiện đảm bảo sự thành công của các nhiệm vụ cách

mạng: “Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp

xây dựng chế độ xã hội mới, nền kinh tế mới Đảng, Nhà nước và các đoàn

thể quần chúng cần đề ra phương hướng và chính sách, có biện pháp tổ chức

thực hiện về xây dựng gia đình văn hóa mới, bảo đảm hạnh phúc gia đình, bảo

đảm sinh đẻ có kế hoạch và nuôi dạy con ngoan, tổ chức tốt cuộc sống vật

chất, văn hóa gia đình” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản

Việt Nam lần thứ VI Nxb Sự thật, Hà Nội,1987:95)

“Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi

trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào xây dựng

và bảo vệ tổ quốc” (Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000)

Trang 35

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1991, văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ VIII, năm 1996 và văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ IX, năm 2001 đều đã nêu rõ về trách nhiệm gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên trong gia đình có lối sống văn hóa, làm cho gia đình thực sự là tổ

ấm của mỗi người, và là tế bào lành mạnh của xã hội Chính sách xã hội phải bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người; điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ dân tộc

Gần đây nhất, trong chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn

2005 - 2010, Nhà nước cũng nêu rõ vai trò của gia đình trong việc bảo đảm thành công của cách mạng trong giai đoạn mới: “Gia đình là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững của xã hội, sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Xây dựng gia đình Việt Nam ít con (mỗi cặp vợ chồng chỉ có một hoặc hai con), no ấm, tiến

bộ, bình đẳng, hạnh phúc là động lực của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Để đạt được mục tiêu của mình, Nhà nước có thể trực tiếp hoặc gián tiếp chủ động tạo ra sự biến đổi của gia đình Chính vì thế tác động của Nhà nước đến biến đổi gia đình luôn chứa đựng cả những mặt tích cực và những mặt tiêu cực, cả những may mắn và rủi ro

Trong vai trò là một bộ phận của xã hội chịu sự quản lý của Nhà nước, thì

cơ cấu, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và việc thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình chịu ảnh hưởng và bị chi phối rất mạnh mẽ bởi đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước Sự tác động của Nhà nước đến gia đình có thể tạo nên sự ổn định và phát triển của gia đình nói chung và của từng thành viên nói riêng, song cũng có thể là một rào cản, kìm hãm sự phát triển của gia đình kể cả khía cạnh kinh tế và xã hội

Trang 36

Theo Viện khoa học xã hội Việt Nam, trong gia đình thường có các chức

năng: Thứ nhất, chức năng tái sản xuất ra con người Việc thực hiện chức

năng này không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu, mong ước của người vợ, người chồng mà còn là vấn đề xã hội, vấn đề duy trì tính liên tục của xã hội

Thứ hai, chức năng xã hội hoá, giáo dục con cái Có thể nói, giáo dục gia

đình có ý nghĩa to lớn để giúp trẻ thành người Ngôn ngữ mẹ đẻ, thói quen sinh hoạt gia đình, cách ăn mặc, giao tiếp, cách quan sát, các nhu cầu và phương thức thoả mãn nhu cầu đều được gia đình hướng dẫn, hướng trẻ theo một nếp sống, truyền thống ổn định Đây là cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất

để hình thành nên nhân cách đứa trẻ sau này

Thứ ba, chức năng kinh tế Chức năng kinh tế biểu hiện trên cả hai

phương diện: sản xuất và tiêu dùng Trong điều kiện hiện nay, nhiều gia đình đều có những thành viên làm ở các công ty, nhà nước chính vì vậy, chức năng kinh tế của gia đình được giảm nhẹ ở khâu tổ chức, sản xuất, nhưng với

tư cách là đơn vị tiêu dùng thì việc tính toán thu chi hàng tháng, hàng năm vẫn là nỗi lo của chủ gia đình

Thứ tư, chức năng thoả mãn các nhu cầu tâm lý của các thành viên trong

gia đình Đây là chức năng đặc biệt quan trọng trong việc chia sẻ trách nhiệm,

tình yêu thương gắn bó giữa các thành viên trong gia đình Gia đình là một cộng đồng đặc biệt, không một cộng đồng hay tổ chức nào có thể đem lại tình cảm ấm áp, sâu sắc và thiêng liêng như gia đình Gia đình vừa là nơi nuôi dưỡng cho con người trưởng thành vừa là nơi sẻ chia cho mỗi cá nhân trước những rủi ro của cuộc đời

Thứ năm, chức năng chăm sóc sức khỏe Mặc dù hiện nay các dịch vụ y

tế công cộng đã phát triển tốt, nhưng việc gia đình có trách nhiệm chăm sóc sức khoẻ cho các thành viên trong gia đình vẫn hết sức quan trọng, nhất là với

Trang 37

người ốm, người già Chăm sóc sức khoẻ ở đây không chỉ đơn thuần sức khoẻ

về thể chất mà còn cả sức khoẻ tinh thần

1.1.3.2 Chính sách của Đảng và Nhà nước về ruộng đất

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng tháng 2/1930, do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo Trong Cương lĩnh thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố sẽ làm cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất, vấn đề ruộng đất

được Cương lĩnh đưa ra như sau: "Xây dựng chính phủ công nông binh, thành

lập quân đội của giai cấp công nhân và nông dân, tịch thu sản nghiệp của tư bản thực dân Pháp, lấy ruộng đất của đế quốc chia cho dân cày nghèo "

Luận cương tháng 10/1930 của Tổng Bí thư Trần phú cũng nêu khá rõ về quan điểm và nhiệm vụ của Đảng trong việc thực hiện cách mạng ruộng đất:

"Coi vấn đề ruộng đất là cốt yếu " Có thể thấy 2 cương lĩnh cả Đảng tuy

đưa ra vào 2 thời điểm khác nhau song đều đề cao vấn đề ruộng đất, do nước

ta là một nước nông nghiệp vì vậy quan điểm của Đảng đưa ra rất sáng suốt, coi vấn đề ruộng đất là nhiệm vụ cần quan tâm hàng đầu trong làm cách mạng trước khi làm cách mạng dân tộc dân chủ

Tháng 8/1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ lần thứ V Từ những đánh giá rất xác đáng về dân cày và địa chủ phong kiến, về bối cảnh và tính chất của cuộc cách mạng dân chủ mới ở Việt Nam, Hội nghị đã đi đến kết

luận:“Muốn xoá bỏ những tàn tích phong kiến, phát triển nông nghiệp, phải

cải cách ruộng đất”

Ngày 20-11-1945 Bộ Nội vụ của Chính phủ lâm thời đã ra Thông tư quy

định: "chủ ruộng phải giảm 25% địa tô và giảm 20% thuế điền thổ; đề ra một

số nguyên tắc chia lại ruộng đất công cho cả nam và nữ, tạm giao ruộng đất vắng chủ cho một bộ phận nông dân thiếu ruộng"

Trang 38

Ngày 15/1/1948, Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng lần thứ II đã quyết

định “đem ruộng đất và tài sản của bọn phản quốc tạm cấp cho dân cày

nghèo, hoặc giao cho bộ đội cày cấy để tự cấp phần nào Chia lại công điền cho hợp lí và công bằng hơn Đem ruộng đất đồn điền của địch cấp cho dân nghèo, chấn chỉnh các đồn điền do chính phủ quản lí"

Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ IV (5/1948) Theo đó, nội dung căn

bản là: "Tịch thu ruộng đất và tài sản của Việt gian (đưa ra toà án tuyên bố

rõ ràng), ruộng đất thì chia cho dân cày cấy, còn tài sản thì tuỳ từng trường hợp cấp cho dân cày; những đồn điền tịch thu của Pháp giao cho Chính phủ tạm thời quản lý; thành lập ở mỗi đồn điền một Ban quản trị có trách nhiệm phân phối ruộng cho dân, giúp đỡ kế hoạch cho dân cày cấy…"

Ngày 14-7-1949, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 78/SL quy định: giảm

25% mức địa tô đã thu trước Cách mạng tháng Tám Sắc lệnh số 87/SL về

giảm tức và Sắc lệnh số 88/SL ngày 22-5-1950 quy định thể lệ lĩnh canh Đồng thời, Chính phủ cũng ban hành Sắc lệnh số 75/SL, ngày1-7-1949 tạm cấp ruộng đất của Việt gian cho nông dân nghèo; Sắc lệnh số 90/SL, ngày 22-5-1950 về quyền lợi khi sử dụng ruộng đất bỏ hoang

Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951), nhận thức về tiến trình cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nói chung và đường lối cách mạng ruộng đất đã phát triển hoàn thiện Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam khẳng định nhiệm vụ xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng không được tiến hành ở giai đoạn hiện tại, tức giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc, mà được thực thi ở giai đoạn thứ hai, giai đoạn cách mạng ruộng đất, trong tiến trình ba giai đoạn của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam

Trang 39

Sang năm 1952, Đảng lại một lần nữa khẳng định: “chính sách ruộng đất

của ta là chính sách ruộng đất của mặt trận dân tộc thống nhất kháng chiến,

cụ thể là chính sách một mặt địa chủ giảm tô, giảm tức và một mặt tá điền phải trả tô, trả tức"

Hội nghị Trung ương Đảng họp lần thứ IV (1/1953) đã kiểm điểm chính sách ruộng đất của Đảng trong những năm kháng chiến và nhận định rằng chúng ta chưa kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ phản đế và nhiệm vụ phản phong, chính sách ruộng đất chưa được thi hành đầy đủ và kịp thời Hội nghị đi đến kết luận “Việc giảm tô, giảm tức dù có làm triệt để đi nữa cũng không thể bồi dưỡng nông dân đúng mức, không thoả mãn được yêu cầu của nông dân, làm cho nông dân quyết tâm hy sinh cho sự nghiệp kháng chiến Vậy đã đến lúc, vấn đề cải cách ruộng đất phải được đề ra và giải quyết kịp thời, đặng đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi Không thể bỏ trễ trong khuôn khổ chính sách giảm tô, giảm tức”

Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khoá II và Hội nghị toàn quốc lần thứ I của Đảng họp từ ngày 14 đến ngày 23/11/1953 một lần nữa khẳng định sự cần thiết tiến hành cải cách ruộng đất, thực hiện triệt để khẩu

hiệu “người cày có ruộng” và thông qua Cương lĩnh ruộng đất của Đảng Tháng 12/1953, Luật Cải cách ruộng đất đã được Quốc hội chính thức thông

qua Cải cách ruộng đất được tiến hành từ 1953 đến 1956 với 8 đợt giảm tô và

5 đợt cải cách ruộng đất trên 3.314 xã (sau chia nhỏ thành 3.653 xã) thuộc 22 tỉnh, thành phố Qua đó, 810.000 ha ruộng đất của thực dân, địa chủ phong kiến, ruộng đất tôn giáo, ruộng đất công và nửa công nửa tư ở miền Bắc đã bị tịch thu, trưng thu, trưng mua và đã được chia cho hơn 8 triệu nhân khẩu tức 72,8% số nông hộ Ngoài ra còn 1,8 triệu nông cụ, hơn 10 vạn trâu bò, hàng vạn nhà cửa cũng được đem chia cho nông dân Sau cải cách ruộng đất, giai

Trang 40

cấp địa chủ đã bị xóa bỏ hoàn toàn, ruộng đất đã thuộc về tay nông dân Nhiệm vụ “người cày có ruộng” đã hoàn thành ở miền Bắc

Hiến pháp ngày 31 tháng 12 năm 1959 , tại Điều 9 cũng quy định khá rõ:

"Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân "

Hiến pháp ngày 18 tháng 12 năm 1980, Điều 20 quy định: "Đất dành

cho nông nghiệp và lâm nghiệp không được dùng vào việc khác, nếu không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép "

Nghị định ngày 27tháng 09năm 1993, Ban hành bản quy định: "về việc

giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sử dụng đất Nông nghiệp"

Luật đất đai ngày 29tháng 11năm 2013 tại Điều 3 quy định: "Hộ gia

Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp; nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó"; Điều27 Quy định: "Trách nhiệm của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số Có chính sách tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nông thôn có đất để sản xuất nông nghiệp"

Nhìn chung, từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đến khi Nhà nước

Việt Nam ra đời cho đến nay trải qua bao biến cố, thăng trầm của hoàn cảnh lịch

sử, kinh tế - xã hội, song trong giai đoạn nào Đảng và Nhà nước ta cũng đưa vấn

đề ruộng đất lên vấn đề quan tâm hàng đầu Sản xuất nông nghiệp có đóng góp rất quan trọng vào GDP, mà nước ta chủ yếu là nước sản xuất nông nghiệp, dân

số sống tập trung ở nông thôn và làm ngề nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao Vì vậy,

Ngày đăng: 27/10/2016, 10:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Trịnh Duy Luân. “Tác động xã hội của Đổi mới ở các thành phố Việt Nam”, Tạp chí Xã hội học, số 1/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động xã hội của Đổi mới ở các thành phố Việt Nam”, Tạp chí "Xã hội học
14. Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường , Nguyễn Quang Vinh (Đồng chủ biên), “Vấn đề giảm nghèo trong quá trình đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh”, NXB Khoa học Xã hội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề giảm nghèo trong quá trình đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh”
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
15. Trần Thị Minh Ngọc (chủ biên), "Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010"(2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010
16. Vũ Hào Quang, “Biến đổi xã hội nông thôn trong quá trình dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất và đô thị hóa”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi xã hội nông thôn trong quá trình dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất và đô thị hóa
Tác giả: Vũ Hào Quang
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
17. Lê Thanh Sang, Đô thị hóa và cấu trúc đô thị Việt Nam trước và sau Đổi mới, NXB Khoa học Xã hội 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa và cấu trúc đô thị Việt Nam trước và sau Đổi mới
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội 2008
18. Đặng Kim Sơn: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau; Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
19. Lê Hải Thanh, “Cộng đồng cư dân ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình đô thị hóa”, Luận án Tiến sĩ Xã hội học, Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội,2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng cư dân ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình đô thị hóa
20. Hoàng Bá Thịnh, Công nghiệp hóa và những biến đổi đời sống gia đình nông thôn Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa và những biến đổi đời sống gia đình nông thôn Việt Nam
22. Hoàng Bá Thịnh: Gia đình Việt Nam trong chuyển đổi, trong sách: Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trên thềm thế kỷ XXI (Lê Thị Nhâm Tuyết, chủ biên); Nxb Thế Giới, Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam trong chuyển đổi, trong sách: Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trên thềm thế kỷ XXI
Nhà XB: Nxb Thế Giới
23. Hoàng Bá Thịnh (2000): Vai trò của phụ nữ trong đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá; Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 11/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của phụ nữ trong đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá
Tác giả: Hoàng Bá Thịnh
Năm: 2000
24. Lê Thái Thị Băng Tâm, Một vài đặc điểm của hộ gia đình sau khi bị thu hồi quyền sử dụng đất canh tác, Tạp chí Xã hội học số 3 (115), 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đặc điểm của hộ gia đình sau khi bị thu hồi quyền sử dụng đất canh tác
Tác giả: Lê Thái Thị Băng Tâm
Nhà XB: Tạp chí Xã hội học
Năm: 2001
25. Lê Ngọc Văn, "Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa", NXB Giáo dục, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa
Nhà XB: NXB Giáo dục
26. Tạp chí Cộng sản điện tử: Tình hình thu hồi đất của nông dân để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và các giải pháp phát triển; Số 12 (132) năm 2007 Khác
27. Tổng cục Thống kê; Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;Viện Gia đình và Giới; UNICEF: Kết quả điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006; Hà Nội 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  3.2  cho  thấy,  hai  lĩnh  vực  sản  xuất  thu  hẹp  phạm  vi  nhiều  nhất  là  canh tác lúa và hoa màu - Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện nam sách tỉnh hải dương hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã ái quốc và xã đồng lạc)
ng 3.2 cho thấy, hai lĩnh vực sản xuất thu hẹp phạm vi nhiều nhất là canh tác lúa và hoa màu (Trang 73)
Bảng 3.3. Tương quan về tuổi theo địa bàn khảo sát - Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện nam sách tỉnh hải dương hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã ái quốc và xã đồng lạc)
Bảng 3.3. Tương quan về tuổi theo địa bàn khảo sát (Trang 75)
Bảng 3.4. Tương quan mức độ thu hồi đất nông nghiệp khi xây dựng khu - Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện nam sách tỉnh hải dương hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã ái quốc và xã đồng lạc)
Bảng 3.4. Tương quan mức độ thu hồi đất nông nghiệp khi xây dựng khu (Trang 76)
Bảng 3.6.Tương quan tình trạng việc làm của người lao động sau khi bị - Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện nam sách tỉnh hải dương hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã ái quốc và xã đồng lạc)
Bảng 3.6. Tương quan tình trạng việc làm của người lao động sau khi bị (Trang 85)
Bảng 3.7: Tương quan lý do người lao động không được nhận vào xí - Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện nam sách tỉnh hải dương hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã ái quốc và xã đồng lạc)
Bảng 3.7 Tương quan lý do người lao động không được nhận vào xí (Trang 86)
Bảng 3.8. Sự chuyển đổi đất nông nghiệp theo địa bàn nghiên cứu                                                                                       Đơn vị:% (N=300) - Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện nam sách tỉnh hải dương hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã ái quốc và xã đồng lạc)
Bảng 3.8. Sự chuyển đổi đất nông nghiệp theo địa bàn nghiên cứu Đơn vị:% (N=300) (Trang 88)
Bảng 3.10. Mục đích sử dụng tiền đền bù theo địa bàn nghiên cứu - Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện nam sách tỉnh hải dương hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã ái quốc và xã đồng lạc)
Bảng 3.10. Mục đích sử dụng tiền đền bù theo địa bàn nghiên cứu (Trang 90)
Bảng 3.11: Tương quan mục đích sử dụng tiền đền bù từ đất nông nghiệp - Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện nam sách tỉnh hải dương hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã ái quốc và xã đồng lạc)
Bảng 3.11 Tương quan mục đích sử dụng tiền đền bù từ đất nông nghiệp (Trang 92)
Bảng 3.12. Thu nhập từ các nguồn khác nhau theo địa bàn nghiên cứu - Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện nam sách tỉnh hải dương hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã ái quốc và xã đồng lạc)
Bảng 3.12. Thu nhập từ các nguồn khác nhau theo địa bàn nghiên cứu (Trang 94)
Bảng 3.13. Các khoản chi tiêu hiện nay so với trước đây theo địa bàn - Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện nam sách tỉnh hải dương hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã ái quốc và xã đồng lạc)
Bảng 3.13. Các khoản chi tiêu hiện nay so với trước đây theo địa bàn (Trang 96)
Bảng 3.14: Chi tiêu bình quân theo đầu người/ tháng của các hộ gia đình - Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện nam sách tỉnh hải dương hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã ái quốc và xã đồng lạc)
Bảng 3.14 Chi tiêu bình quân theo đầu người/ tháng của các hộ gia đình (Trang 98)
Bảng 3.15. Đồ dùng trong gia đình theo địa bàn nghiên cứu - Tác động của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến biến đổi chức năng kinh tế của hộ gia đình ở huyện nam sách tỉnh hải dương hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã ái quốc và xã đồng lạc)
Bảng 3.15. Đồ dùng trong gia đình theo địa bàn nghiên cứu (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w