1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu biểu tượng về gia đình của trẻ em làng SOS thành phố đồng hới quảng bình

107 648 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những trẻ sống tại các làng trẻ em S0S, hơn ai hết, các em là những người thiếu thốn về mặt tình cảm, thiếu thốn sự quan tâm chăm sóc của những người thân trong gia đình, điều đó ảnh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ DIỆU LINH

NGHIÊN CỨU BIỂU TƯỢNG VỀ GIA ĐÌNH CỦA TRẺ EM LÀNG SOS – THÀNH PHỐ

ĐỒNG HỚI – QUẢNG BÌNH

Chuyên ngành: Tâm lý học

Mã số: 60 31 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hằng

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn

thạc sĩ với đề tài: “Nghiên cứu biểu tượng về gia đình của trẻ em làng SOS

– Thành phố Đồng Hới, Quảng Bình”

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu là kết quả quá trình làm việc của tôi Những nội dung tham khảo được trích dẫn nguồn gốc tài liệu Kết quả nghiên cứu thực tiễn là do tôi trực tiếp tiến hành khảo sát và chưa được công

bố ở bất cứ công trình khoa học nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về mọi nội dung trong đề tài

Tác giả

Nguyễn Thị Diệu Linh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sĩ với đề tài “Nghiên cứu biểu tượng về gia đình của

trẻ em làng SOS – Thành phố Đồng Hới, Quảng Bình” đã được hoàn thành

với nỗ lực của bản thân tác giả và sự quan tâm, giúp đỡ từ nhiều phía

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới giáo viên hướng dẫn - PGS TS Nguyễn Thị Minh Hằng, người đã nhiệt tình chỉ dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin cảm ơn Ban quản lý Làng trẻ em SOS Thành phố Đồng Hới - Quảng Bình, Ban giám hiệu trường Tiểu học số 1 Bắc Lý, trường Trung học

cơ sở số 1 Nam Lý đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo thuộc Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã chia sẻ nhiều thông tin giúp tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu

Cảm ơn các trẻ em sống tại làng trẻ SOS Đồng Hới, các trẻ em sống tại gia đình đã trả lời các phiếu hỏi môt cách trung thực và nhiệt tình nhất

Luận văn khó tránh khỏi thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến phản hồi và góp ý

Tác giả

Nguyễn Thị Diệu Linh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CÁC BẢNG 5

MỞ ĐẦU 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 9

1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9

1.2.Các khái niệm công cụ của đề tài 15

1.2.1 Khái niệm biểu tượng 15

1.2.1.1 Thuật ngữ biểu tượng 15

1.2.1.2.Khái niệm biểu tượng trong tâm lý học 16

1.2.1.3 Cấu trúc của biểu tượng 20

1.2.1.4 Phân loại biểu tượng 20

1.2.1.5 Sự hình thành biểu tượng 22

1.2.1.6 Vai trò của biểu tượng trong hoạt động tâm lý 26

1.2.2 Gia đình 27

1.2.2.1 Khái niệm gia đình 27

1.2.2.2 Vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em 29 1.2.3 Khái niệm biểu tượng của trẻ em SOS về gia đình 33

1.2.3.1 Khái niệm trẻ em 33

1.2.3.2 Trẻ em làng SOS 35

1.2.3.3.Những yếu tố ảnh hưởng đến biểu tượng của trẻ em về gia đình 38

Tiểu kết chương 1 41

Chương 2: TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43 2.1 Tổ chức nghiên cứu 43

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 43

Trang 5

2.1.2 Khách thể nghiên cứu 45

2.1.3 Tiến trình nghiên cứu 45

2.2 Phương pháp nghiên cứu: 46

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

3.1 Biểu tượng chung của trẻ em về gia đình 48

3.2 Biểu tượng của trẻ về mối quan hệ cha – mẹ - con 53

3.3 Biểu tượng của trẻ về mối quan hệ cha – mẹ 58

3.4 Biểu tượng của trẻ về mối quan hệ cha mẹ - con 61

3.5 Biểu tượng của trẻ về mối quan hệ cha – con 64

3.6 Biểu tượng của trẻ về mối quan hệ mẹ - con 70

3.7 Biểu tượng của trẻ về mối quan hệ anh/chị - em 75

3.8 Biểu tượng của trẻ về vai trò của gia đình (chỗ dựa tinh thần) 79

3.9 Mơ ước của trẻ về mái ấm gia đình 81

Tiểu kết chương 3……… 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 94

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1 Biểu tượng chung về gia đình của trẻ em sống tại làng SOS và

trẻ sống tại gia đình

Bảng 3.2 Biểu tượng chung về gia đình của trẻ em sống tại làng SOS và trẻ

em sống ở gia đình (Theo phiếu hoàn thành câu)

Bảng 3.3 Biểu tượng của trẻ về mối quan hệ cha - mẹ - con (Theo phiếu hoàn

Bảng 3.7 Biểu tượng về người cha của trẻ em làng SOS và trẻ sống tại gia

đình (Theo phiếu hoàn thành câu)

Bảng 3.8 Biểu tượng về mối quan hệ mẹ – con của trẻ em làng SOS và trẻ

em sống tại gia đình

Bảng 3.9 Biểu tượng về người mẹ của trẻ em làng SOS và trẻ sống tại gia

đình (Theo phiếu hoàn thành câu)

Bảng 3.10 Biểu tượng về mối quan hệ anh/chị - em của trẻ em làng SOS và

Trang 7

Môi trường gia đình tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân Ở tuổi ấu thơ, ảnh hưởng của gia đình gần như tuyệt đối

dù trẻ có đến nhà trẻ hay mẫu giáo Ở tuổi thiếu nhi hay vị thành niên, quan hệ của trẻ không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ gia đình mà còn chịu nhiều ảnh hưởng của xã hội, bạn bè, thầy cô, nhà trường…Tuy nhiên, gia đình vẫn là yếu

tố tiên quyết đảm bảo sự tồn tại và phát triển bình thường về mặt tâm – sinh lý, định hướng sự phát triển nhân cách cho trẻ Cuộc sống gia đình đặt nền móng đầu tiên cho sự hình thành thế giới quan, những thói quen, hành vi văn hóa, đạo đức và phát triển trí tuệ Được sống cùng cha mẹ, anh chị em ruột thịt trong tình yêu thương và sự chăm sóc về vật chất cũng như tinh thần là niềm hạnh phúc, là quyền lợi chính đáng của trẻ nhỏ

Tuy nhiên, không phải bất kỳ đứa trẻ nào cũng may mắn được sinh ra

và lớn lên dưới một mái ấm gia đình Có rất nhiều lý do như: Những mâu thuẫn, những mất mát khiến tổ ấm gia đình không còn nguyên vẹn, khiến những đứa trẻ phải sống thiếu cha/mẹ hoặc sống thiếu cả sự chăm sóc của cả cha lẫn mẹ Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (tính đến tháng 1/2011), cả nước hiện có khoảng 1478567 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em mồ côi chiếm khoảng 160000 em, trong đó có 88000 em không có nơi nương tựa, hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn Nhà nước đã thực hiện nhiều

Trang 8

với bố mẹ nuôi mới (làng SOS, mô hình xã hội), nhận đỡ đầu, trợ cấp xã hội cho trẻ em sống tại cộng đồng và chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội Hàng tháng, trên 90500 trẻ em nhận được trợ cấp từ Nhà nước về kinh phí, y tế và giáo dục; 55,3% tổng số trẻ em mồ côi được cộng đồng và Nhà nước quan tâm, chăm sóc Tuy nhiên, với độ tuổi đang trong quá trình phát triển về thể chất cũng như tâm lý, các em dễ bị tác động từ môi trường bên ngoài và cần thiết có một mái ấm thực sự để bao bọc và định hướng nhân cách sống cho các em

Với những trẻ sống tại các làng trẻ em S0S, hơn ai hết, các em là những người thiếu thốn về mặt tình cảm, thiếu thốn sự quan tâm chăm sóc của những người thân trong gia đình, điều đó ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách cũng như đời sống tinh thần của các em Chính vì thế, ở mỗi em tự hình thành cho mình một hình ảnh riêng, một mong ước riêng về mái ấm gia đình Chính biểu tượng về gia đình là yếu tố thúc đẩy, định hướng giá trị sống để các em

có nền tảng cơ bản vững bước vào đời

Với mong muốn tìm hiểu xem khi được sống trong một môi trường gia đình mới – với những người mẹ mới, những anh chị em mới, các em ở làng trẻ SOS có biểu tượng như thế nào về một mái ấm gia đình thực sự, chúng tôi

tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu biểu tượng về gia đình của trẻ em

làng SOS – Thành phố Đồng Hới, Quảng Bình” nhằm góp phần nâng đỡ trợ

giúp tâm lý đối với trẻ mồ côi trên con đường các em đang tự hoàn thiện nhân cách của chính mình

2 Đối tượng nghiên cứu

Biểu tượng về gia đình của trẻ em làng SOS

3 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu biểu tượng về gia đình của trẻ em làng SOS nhằm đưa ra một số kiến nghị để hình thành biểu tượng tích cực về gia đình của các em, góp phần giúp các em có đời sống tâm lý cân bằng hơn

Trang 9

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng sở lý luận và thực tiễn về biểu tượng gia đình của trẻ em nói chung, của trẻ em làng SOS nói riêng

- Phân tích biểu tượng gia đình của trẻ em làng SOS và các yếu tố tác động tới sự hình thành biểu tượng về gia đình của trẻ em SOS

- Đề xuất một số kiến nghị giúp hình thành biểu tượng tích cực về gia đình cho các em làng SOS

- Địa bàn nghiên cứu: Làng trẻ em SOS – thành phố Đồng Hới - Quảng Bình

7 Giả thuyết nghiên cứu

Có sự khác nhau giữa biểu tượng về gia đình của những trẻ em mồ côi tại làng SOS và những trẻ được sống trong một gia đình có đầy đủ cả cha lẫn

mẹ Sự khác biệt này phụ thuộc vào các yếu tố: Hoàn cảnh gia đình, mối quan

hệ giữa các thành viên trong gia đình trước đây mà trẻ SOS sống và đặc điểm mối quan hệ giữa các thành viên trong mái ấm ở làng trẻ SOS – nơi các em đang sinh sống

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp phân tích tài liệu

8.2 Phương pháp vẽ tranh gia đình

8.3 Phương pháp viết đoạn văn về chủ đề gia đình

8.4 Phương pháp hoàn thành câu

8.5 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 10

Biểu tượng trước hết là đối tượng nghiên cứu của triết học Một số tác phẩm triết học tiêu biểu nghiên cứu về “biểu tượng” như: Ernst Cassirer (1874 - 1945) nhà triết học Đức với công trình “Triết học với các hình thái biểu tượng”, J.C Doubrovsky với tác phẩm “Triết học và nghiên cứu hiện tượng luận” L.A White, trong “Biểu tượng nguồn gốc và cơ sở của hành vi người” đã viết: “Văn hóa là cơ chế của các hiện tượng vật thể, hành động, tư tưởng, cảm xúc Cơ chế này được tạo ra nhờ việc sử dụng các biểu tượng, hoặc phụ thuộc vào các biểu tượng đó”[19; 49]

Biểu tượng được nhìn nhận từ ngôn ngữ học như công trình “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” của nhà ngôn ngữ học người Thụy Sỹ F D Saussure

Ở công trình này, ông lấy biểu tượng làm đối tượng phân tích của ngôn ngữ học cấu trúc

Biểu tượng còn là đối tượng phân tích mỹ học, F.Heghen trong công trình “Mỹ học” (Tập 1 – NXBVH, 1999) đã khẳng định sự phức hợp của biểu tượng là do một nội dung có thể có nhiều hình thức biểu hiện và ngược lại một hình thức có thể được biểu hiện dưới nhiều nội dung khác nhau Mỗi ý nghĩa của biểu tượng lại nói lên một mặt của đời sống xã hội, có bao nhiêu biểu hiện của đời sống xã hội là có bấy nhiêu ý nghĩa tương ứng trong thế giới biểu tượng

Trang 11

Biểu tượng được nhìn nhận từ gốc độ văn hóa, tiêu biểu là công trình

“Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới” của hai tác giả Jean Chavelier và Alain Gheerbrant (NXB Đà Nẵng và trường viết văn Nguyễn Du ấn hành 1977) với phụ đề: huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc, con số” đã bao quát được nhiều khu vực văn hóa trên thế giới liên quan đến các phương diện xã hội học, tâm lý học, dân tộc học, thần thoại học…Mỗi vấn đề biểu tượng cụ thể lại được so sánh giữa các không gian văn hóa khác nhau, từ đó có cái nhìn nhiều chiều từ thế giới biểu tượng

Có lẽ chính vì sự đa dạng trong việc nghiên cứu “biểu tượng” dưới những gốc độ khác nhau, cho nên thoạt đầu, trong tâm lý học, khái niệm biểu tượng đã gây ra những tranh cãi về mặt lý thuyết Bởi đối với ngành khoa học này, biểu tượng xuất hiện ở hầu như tất cả các chuyên ngành như nhận thức,

xã hội, lâm sàng, hoặc đơn giản chỉ là một “quan điểm chung” (theo Denis và Dubois, 1976), hay một “quan điểm xã hội” (theo Moscovici, 1961/1992)

Trong đề tài này, chúng tôi xin giới hạn các công trình nghiên cứu

“biểu tượng” với tư cách là khái niệm của tâm lý học đại cương và tâm lý học phát triển, tức là nghiên cứu biểu tượng với tư cách là một cấu trúc tâm lý cá nhân và nghiên cứu biểu tượng trong quá trình phát triển tâm lý trẻ em

Trong Tâm lý học đại cương, biểu tượng được nghiên cứu với tư cách

là một thành tố của hoạt động nhận thức cá nhân Biểu tượng được đề cập ở nhiều công trình, theo nhiều góc độ và đã làm sáng tỏ về bản chất, chức năng

và vai trò của biểu tượng trong nhận thức và hành động của cá nhân Nó được khái quát thành 4 hướng lớn:

* Các công trình nghiên cứu biểu tượng với tư cách là sản phẩm của quá trình nhận thức của cá nhân, từ cảm tính lên lý tính, đặc biệt là trong hoạt động trí nhớ và tưởng tượng Hướng này quy tụ khá nhiều nhà nghiên cứu như

Trang 12

Hạc, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn…Các kết quả theo hướng nghiên cứu này đã làm sáng rõ: Biểu tượng là khâu trung gian, là giai đoạn quá độ chuyển từ hình ảnh cảm tính lên khái niệm khoa học: Hình ảnh tri giác - biểu tượng – khái niệm, là phương thức nhận thức và lưu giữ thông tin, là sản phẩm của một quá trình hoạt động nhận thức lý tính (các biểu tượng sáng tạo của quá trình tưởng tượng)

* Các công trình nghiên cứu biểu tượng với tư cách là một cấu trúc tâm

lý được hình thành do hoạt động tinh thần của cá nhân Đó là một hành động tâm lý – hành động biểu tượng (J.P.Sartre, P.A.Rudich); là quá trình xác lập các mối liên tưởng giữa vốn kinh nghiệm đã có với các hình ảnh mới (D.S Miller, H Spencer); là sự cấu trúc hóa thành cấu trúc tâm lý trọn vẹn trên cơ

sở tri giác tổng thể sự vật (V Kohler, C.Kofka, các nhà tâm lý học Gestal…)

* Các công trình nghiên cứu biểu tượng với tư cách là mô hình tâm lý chi phối hành vi cá nhân hay nhóm xã hội Hướng này quy tụ các nhà tâm lý thuộc nhiều trường phái tâm lý khác nhau: Các nhà tâm lý học hành vi coi biểu tượng là sơ đồ của nhận thức được hình thành do quá trình luyện tập các hành

vi và định hướng cho những hành vi tiếp theo của cá nhân Các nhà tập tính học như K.Lorenz, Eibl – Eibesldt… cho rằng biểu tượng đóng vai trò khởi phát và điều chỉnh hành vi của động vật và người Phân tâm học, đặc biệt là S.Freud đã chỉ ra vai trò của biểu tượng vô thức cá nhân và tập thể trong việc thúc đẩy hành vi cá nhân

* Các công trình nghiên cứu việc hình thành và khôi phục các hình ảnh

về sự vật hiện tượng đã được hình thành và lưu giữ trong trí nhớ và sự quên các hình ảnh đó dưới góc độ cơ sở sinh lý thần kinh của chúng (I.P Pavlov; A.R Luria; Pefin…)

Trong Tâm lý học phát triển, biểu tượng được nghiên cứu theo 2 hướng lớn:

Trang 13

* Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển biểu tượng qua các giai đoạn lứa tuổi Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của J.Piaget và cộng sự: Ông đã phân tích và mô tả quá trình hình thành các hành động biểu trưng, các hình ảnh tinh thần và các biểu tượng của trẻ em giai đoạn 3 – 6 tuổi, đặc biệt là thời kỳ trước tuổi đến trường (5-6 tuổi)

* Nghiên cứu quá trình hình thành biểu tượng theo cơ chế chuyển “cái tâm lý” từ bên ngoài vào bên trong Kết quả nghiên cứu theo hướng này quy

tụ nhiều nhà tâm lý học nổi tiếng như J.Piaget, V.X.Mukhina, A.A Liubliuxkaia, E.Tolman… Đáng chú ý là nghiên cứu của P.Ia Ganperin, Ông cho rằng quá trình hình thành hành động trí tuệ là quá trình chuyển hóa từ nghĩa khách quan thành ý chủ quan, từ hình ảnh cảm tính qua biểu tượng thành khái niệm về sự vật Tức là theo ông, bản chất thao tác và cơ chế hình thành biểu tượng bắt đầu từ hành động thực tiễn J.Piaget và các cộng sự đã chỉ ra cơ chế hình thành tri giác và kết quả của nó là hình ảnh tri giác, cơ chế hành động biểu trưng và sự hình thành các biểu tượng từ các sơ cấu giác – động đơn giản ban đầu

Một nghiên cứu của Ronald Rohner, Đại học Connecticut, khi nghiên cứu về sự vắng mặt của biểu tượng người cha đối với sự hình thành nhân

cách của trẻ Ông cho rằng: “Khi một người cha được coi là có nhiều quyền

lực hơn, ngay cả khi ông dành ít thời gian cho con hơn người mẹ, ông vẫn có thể có một tác động lớn Đó là bởi ý kiến hay hành động của ông ấy dường như nổi bật, đáng chú ý hơn trong gia đình” (Ronald Rohner, 1998)

Để đưa ra kết luận trên, nhóm của ông đã tiến hành phân tích 36 nghiên cứu trong giai đoạn từ 1975 - 2010, liên quan đến gần 1400 người lớn (18 –

89 tuổi) và 8600 trẻ em (9 – 18 tuổi) ở 18 quốc gia Người tham gia được hỏi

về mức độ quan tâm của cha mẹ đối với họ trong thời gian tuổi thơ và về đặc

Trang 14

Theo các nhà khoa học thì ông bố có thể đóng một vai trò thậm chí còn quan trọng hơn các bà mẹ rất nhiều trong sự phát triển của trẻ, giúp trẻ em hạnh phúc Ronald Rohner cho biết: “Nghiên cứu này cho thấy rằng xã hội có

xu hướng chú trọng quá nhiều vào các tác động của bà mẹ đối với trẻ em, thường đổ lỗi cho bà mẹ khi trẻ có các tính cách xấu, thậm chí là khi chúng đã trưởng thành Chúng ta phải bắt đầu nhìn nhận lại vai trò lớn hơn của các ông

bố trong việc nuôi dạy trẻ, đặt chúng trên cơ sở bình đẳng với các bà mẹ”

Thông thường trong một gia đình, ảnh hưởng của người mẹ đến với đứa con từ tình cảm dịu hiền, còn người cha ảnh hưởng đến con cái thông qua

uy quyền Và chính dựa vào uy quyền của người cha mà người mẹ đưa được những nguyên tắc, những luật lệ vào đời sống của đứa trẻ tạo nên sự cân bằng trong sự phát triển của chúng Michaux nghiên cứu trẻ và nhận xét: "Hầu hết trẻ em cảm thấy tự hào vì có cha, tức là có sự bảo vệ của một thứ uy quyền"

Uy quyền có mức độ của người cha là một trong những yếu tố đem lại sự hoà hợp trong gia đình Sự thiếu hụt của một trong hai cha mẹ đều ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển nhân cách trẻ

Có thể nói uy quyền của người cha được tạo dựng từ vai trò làm chủ kinh

tế trong gia đình Ai là người đem lại chỗ dựa cho người khác thì người đó có uy quyền, "Uy quyền của người cha là then chốt của sự hoà hợp trong gia đình" (G.Robin)

Người cha còn ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực phát triển của đứa con: cảm xúc, tình cảm nhận thức…Nếu như các nhà theo trường phái phân tâm học cho rằng người cha chỉ nên quan tâm nhiều tới trẻ ở tuổi từ 18 tháng tuổi trở đi, thì các nhà tâm lý học phát triển lại cho rằng tương tác sớm cha - con có ảnh hưởng rất tốt đến sự phát triển của đứa con Các nghiên cứu cũng khẳng định người cha tượng trưng và người cha cụ thể đều ảnh hưởng tới đứa con Mô hình "người cha nghiêm khắc" rất quý đối với các nhà phân tâm học, nhờ người

Trang 15

cha thông qua người mẹ mà đứa trẻ phát triển nhân cách, phát triển đúng đắn giới tính Bé gái nhìn vào tính cách của cha để cảm nhận vai trò là con gái của mình, trẻ trai nhận ra vai trò người đàn ông thông qua bố và đồng hoà với giá trị đó Các trẻ trai thiếu cha thích nghi kém hơn và gặp nhiều khó khăn hơn trong quan hệ tương tác với các trẻ khác cùng chơi

Như vậy, sự vắng mặt của người cha sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của trẻ Trong các nghiên cứu của các tác giả đã khẳng định: ảnh hưởng tiêu cực này sẽ mạnh hơn ở trẻ trai so với trẻ gái Nếu người cha không thể hiện những đức tính tốt trong gia đình, cũng như vai trò xã hội gán cho giới đàn ông trong tương quan gia đình, thì trẻ lớn lên sẽ bị chao đảo trong quan hệ nam nữ sau này, đặc biệt là các bé gái, các bé gái không tạo dựng tốt quan hệ với bạn trai

Ở Việt Nam, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề biểu tượng

mà nó cũng chỉ được lồng ghép trong các hướng nghiên cứu tâm lý khác nhau, đặc biệt là trong mối quan hệ với sự phát triển tâm lý và nhân cách của trẻ Với sự tham gia của các nhà Tâm lý học đến từ Trường đại học Toulouse

II - Le Mirail (Pháp), Hội phát triển Tâm lý học Đông Nam Á (ADEPASE), Hội Tâm lý học - Giáo dục học Việt Nam và khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Hội thảo Việt - Pháp về Tâm lý học diễn ra tại Hà Nội (tháng 4 - 2000) đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Tâm lý học dành cho trẻ em Được thảo luận trong hội thảo, ngoài các vấn đề liên quan đến học tập, sức khoẻ, tâm bệnh lý, thực hành lâm sàng, giáo dục,

xã hội hoá và phát triển của trẻ thì biểu tượng cũng là một đề tài được nhắc đến Báo cáo biểu tượng của các bậc cha mẹ Việt Nam và Pháp về bệnh tật và khuyết tật của các tác giả Odette Lescarret, Văn Thị Kim Cúc, Trần Thị Minh Đức và Nguyễn Minh Đức là sự gặp gỡ giữa các nhà Tâm lý học Pháp và Việt

Trang 16

trong bài tham luận “Biểu tượng về nguồn gốc sự phát triển trí thông minh và cách thức giáo dục con cái ở một nhóm bố mẹ Hà Nội” (Văn Thị Kim Cúc, 2001) trình bày tại Đại hội lần thứ III của hội Tâm lý học - Giáo dục học Việt Nam (tháng 4-2001)

Tuy nhiên, chưa có một đề tài nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu biểu tượng của trẻ em về một đối tượng cụ thể, đặc biệt là nghiên cứu biểu tượng

về gia đình tại làng trẻ SOS Vì vậy, đây có thể được xem là một hướng nghiên cứu mới, đòi hỏi phải có thêm nhiều sự quan tâm và đầu tư của các nhà khoa học nhằm hiểu hơn về đời sống tâm lý của trẻ em, từ đó xây dựng

mô hình gia đình tại các làng trẻ SOS cho phù hợp

1.2 Các khái niệm công cụ của đề tài

1.2.1 Khái niệm biểu tượng

1.2.1.1 Thuật ngữ biểu tượng

Biểu tượng (symbol) bắt nguồn từ thuật ngữ Hy Lạp – “Symbolum” mang nghĩa là “dấu hiệu”

Từ biểu tượng trong nghĩa Hán – Việt: “Biểu” tức là “dấu hiệu”, “tỏ rõ”,

“bày ra”, …để người ta nhận biết một điều gì đó “Tượng” nghĩa là “hiện trạng”,

Trong tiếng Việt, theo “Từ điển tiếng Việt” do GS Hoàng Phê chủ biên [69; tr64], thuật ngữ “biểu tượng” có hai nghĩa Theo nghĩa thông dụng, “biểu tượng” là hình ảnh tượng trưng cho một cái khác (hoa sen là biểu tượng cho ngành du lịch Việt Nam, chim bồ câu là biểu tượng của hòa bình…) Theo

Trang 17

nghĩa chuyên môn: “Biểu tượng” là một hình thức của sự vật đã tác động vào giác quan, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu

óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt

Theo từ điển Tâm lý học – do Vũ Dũng chủ biên [9; tr21]: “Biểu tượng

là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng Khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính chất khái quát Nếu tri giác chỉ liên quan tới hiện tại thì biểu tượng liên quan tới quá khứ và tương lai”

Trong từ điển Tâm lý do Nguyễn Khắc Viện biên soạn [70; tr26], “biểu tượng” được hiểu là “một sự vật không được nhìn nhận qua những cảm giác

và hành động, mà vẫn gợi lên được sự tồn tại của nó, tức là hình thành biểu tượng về sự vật ấy Một thế giới thứ hai, thế giới biểu tượng xuất hiện đi đôi với thế giới của cảm giác và vận động”

Như vậy, trong Tiếng Việt nói chung và ngay trong Tâm lý học nói riêng, thuật ngữ “biểu tượng” cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Trong nghiên cứu này, biểu tượng được hiểu theo nghĩa chuyên môn tâm lý học, tức là một hiện tượng tâm lý liên quan chặt chẽ tới nhiều hoạt động tâm

lý của con người

1.2.1.2 Khái niệm biểu tượng

Trong tâm lý học, khái niệm biểu tượng được nghiên cứu và khai thác dưới nhiều gốc độ, có thể khái quát thành 3 hướng như sau:

* Thứ nhất: Biểu tượng được xem xét với tư cách là hành động tinh

thần, hành động của ý thức

Theo hướng này, biểu tượng được hiểu theo nghĩa là một hành động tâm lí thuần túy Quá trình hình thành biểu tượng là quá trình hoạt động của ý thức hướng đến đối tượng phản ánh và từ đó hình thành hình ảnh tinh thần về đối tượng đó (trường phái Vutxbua hay J.P.Sartre) Theo các nhà tâm lý học

Trang 18

Tri giác không đem lại một nhận thức toàn diện về đối tượng mà chỉ cho ta các hình ảnh phẳng về một mặt nào đó của sự vật, còn biểu tượng cho ta hình khối về vật đó Mặt khác, đối tượng của tri giác phải là sự vật có thật đang trực tiếp tác động vào giác quan, còn đối với quá trình biểu tượng, đối tượng

là cái không thật

Dễ dàng nhận thấy cách giải thích trên về biểu tượng là hoàn toàn không thỏa đáng, có tính chất tiên nghiệm, duy tâm Họ đã bỏ qua những tính chất quyết định trong việc hình thành tâm lý nói chung, biểu tượng nói riêng,

đó là: mọi hiện tượng tâm lý đều có nguồn gốc vật chất bên ngoài và đều được hình thành từ hoạt động thực tiễn Vì vậy, không thể coi biểu tượng là một hiện tượng tâm lý thuần túy tinh thần, do ý thức tạo ra

* Thứ hai: Biểu tượng được coi là sản phẩm của một quá trình nhận

thức của cá nhân, cụ thể là của tri giác, trí nhớ và tưởng tượng

Có nhiều nhà tâm lý học quan niệm như vậy Chẳng hạn A.V Daparozet coi biểu tượng là kết quả của quá trình tri giác – trí nhớ Ông cho rằng, những hình ảnh trực quan nảy sinh trong não người về những sự vật và hiện tượng đã tri giác trước đây gọi là biểu tượng A.A.Liublinxkaia cũng có quan điểm như vậy Theo bà, những hình ảnh đã được lưu giữ lại của những

sự vật đã được lĩnh hội trước đây tạo nên nội dung chủ yếu của trí nhớ, đó chính là các biểu tượng Các nhà tâm lý học theo thuyết xử lý thông tin như Wilson, Biley, R.C.Atkinson… quan niệm: các quá trình biểu tượng liên quan mật thiết với các quá trình trí nhớ ngắn hạn và dài hạn Theo họ, biểu tượng là một dạng tâm trí, trong đó các thông tin được bỏ vào đó Trẻ em lưu giữ biểu tượng về các vật thể cũng như trạng thái bên trong của bản thân và khôi phục

nó khi cần thiết Trong tác phẩm “Tâm lý học” của tác giả Phạm Minh Hạc chủ biên, có nói: Biểu tượng là hình ảnh của sự vật hiện tượng nảy sinh trong

óc chúng ta khi không có sự tác động trực tiếp của chúng vào giác quan ta Nó

Trang 19

là kết quả của sự chế biến và khái quát hóa các hình ảnh tri giác trước đây Điều đáng lưu ý là, các tác giả này, một mặt coi biểu tượng là sản phẩm của trí nhớ nhưng mặt khác, họ cũng cho rằng biểu tượng là sản phẩm của quá trình tưởng tượng sáng tạo

* Thứ 3: Biểu tượng được hiểu là mô hình tâm lý chi phối hành vi của

cá nhân hoặc của nhóm xã hội

Ở đây, biểu tượng được nhấn mạnh về phương diện chức năng định hướng của nó J.Piaget cho rằng biểu tượng là khả năng biểu đạt của trẻ Trong cái biểu tượng có cái được biểu đạt và cái biểu đạt Cái biểu đạt có thể

là ngôn ngữ, hình ảnh tinh thần hay cử chỉ tượng trưng Chúng đều là sản phẩm của quá trình cấu trúc hóa, quá trình hình thành các sơ đồ nhận thức của trẻ em, được hình thành trên cơ sở các sơ cấu giác động Phát triển quan niệm của Piaget, Maurice Reuchlin hiểu khái niệm biểu tượng theo hai nghĩa: Nghĩa hẹp: biểu tượng là cái có thể gợi lên một yếu tố lưu giữ dài hạn trong trí nhớ được thể gợi lên và dùng trong hoàn cảnh cần thiết Theo nghĩa rộng: Biểu tượng là quá trình mà qua đó các cá thể hiểu biết về thế giới, được hình thành trong các cấu trúc của tâm trí Nói cách khác, biểu tượng được xét theo hai phương diện – một là yếu tố được gợi lên và quá trình kiến tạo và gợi lên yếu tố đó Theo quan niệm này, nghiên cứu biểu tượng là xác định xem biểu tượng có được ở chủ thể là do hành động với đồ vật ở bình diện bên ngoài hay

đã ở mức độ ý tưởng bên trong

E.Tolman cho rằng việc học của trẻ em cũng là hình thành các biểu tượng về đối tượng – sơ đồ về đối tượng và chính các sơ đồ này chi phối các hành vi học tập tiếp theo của các em Trong nghiên cứu của A.Bandura, biểu tượng được coi là mô hình hành vi có tính khái quát của một mẫu người nào

đó và trẻ em hình thành các hành vi trên cơ sở các mô hình đó Những mô

Trang 20

lớn mà chúng quan sát được Như vậy, đối với Ông – biểu tượng vừa là sự khái quát hóa các hình ảnh về các hành vi riêng, tạo thành hình ảnh khái quát, vừa là sự định hướng tâm lý cho các hành vi bắt chước của trẻ em Đây có thể được coi là một góc độ nghiên cứu lý thú về biểu tượng trong tâm lý học

Từ các hướng nghiên cứu trên, có thể nhấn mạnh những khía cạnh chủ yếu của khái niệm biểu tượng

Về phương diện phản ánh: Biểu tượng cũng như các hiện tượng tâm lý

khác, là hình ảnh chủ quan của chủ thể phản ánh thế giới hiện thực khách quan Biểu tượng là hình ảnh của các sự vật và hiện tượng không còn hiện diện trước chủ thể Vì vậy, để có hình ảnh về chúng, chủ thể phải khôi phục lại các hình ảnh đã có về chúng và được lưu giữ lại trong trí nhớ, cấu trúc lại chúng, tạo thành hình ảnh mới trong ý thức Đó chính là biểu tượng

Về phương diện hình thành: Biểu tượng không đơn giản là sự cấu trúc

lại các hình ảnh sự vật đã được tri giác, mà đó là quá trình chuyển các sơ đồ hành động thực tiễn với sự vật bên ngoài vào bên trong trí óc Khi được hình thành, biểu tượng là sự kết hợp giữa sự phản ánh bản thân sự vật, hiện tượng với sự phản ánh các hành động của chủ thể trên sự vật, hiện tượng đó

Về phương diện chức năng: Cũng như các hiện tượng tâm lý khác, biểu

tượng có chức năng cơ bản là nhận thức thế giới và điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người

Như vậy, biểu tượng là hình ảnh những sự vật, hiện tượng của thế giới

xung quanh được hình thành trong ý thức của cá nhân trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra trước đó, đó là những hình ảnh mới được hình thành trên cơ sở những hình ảnh đã có từ trước hay là các sơ đồ hành động với đồ vật đã được khái quát hóa và nội tâm hóa Biểu tượng có chức năng nhận thức thế giới và điều chỉnh hành vi cá nhân của con người

Trang 21

1.2.1.3 Cấu trúc của biểu tượng

Theo luận điểm của I.M.Xetrenop: “ các biểu tượng là kết quả trung gian

từ các tri giác phân chia thành phần riêng lẻ của sự trừu tượng hóa một tổng số nhất định các vật thể cùng loài và thành phần trừu tượng hóa này bao gồm ngoài các dấu hiệu bề ngoài còn có các dấu hiệu không phơi bày ra một cách trục tiếp mà phải nhờ một sự phân tích chi tiết về mặt trí tuệ và thể chất các vật thể, cũng như quan hệ giữa chúng với nhau và giữa chúng với con người”

Như vậy, có thể chia cấu trúc của biểu tượng thành:

- Những biểu hiện bề ngoài vô cùng đa dạng của hiện thực

- Những dấu hiệu của sự vật, hiện tượng của hiện thực mà tự chúng không phơi bày ra

Khi có sự phân tích của trí tuệ về các sự vật, hiện tượng cũng như về các hành vi thì bộ phận riêng lẻ được tách ra của các biểu tượng sẽ được liên kết với các hình ảnh hoản chỉnh, cuối cùng sẽ dẫn đến những biểu tượng dầy

đủ và hoàn chỉnh hơn

Trong đề tài này, chúng tôi nghiên cứu biểu tượng với tư cách là một cấu trúc tâm lý bên trong bao gồm kết quả của hoạt động cảm giác và tri giác,

nó cũng vừa là sản phẩm của trí nhớ vừa là sản phẩm của tưởng tượng

1.2.1.4 Phân loại biểu tượng

Dựa vào tiêu chí: Hình tượng của sự vật và hiện tượng tri giác từ trước được sắp xếp lại trong ý thức con người đến mức độ nào, người ta phân biểu tượng thành 2 loại:

- Biểu tượng của trí nhớ: Là hình ảnh của tri giác lúc trước được tái

hiện lại trong một hoàn cảnh nhất định

Biểu tượng của trí nhớ giống với hình ảnh đang tri giác ở tính trục quan trong phản ánh Đó là sự phản ánh một cách trọn vẹn những sự vật – hiện

Trang 22

Biểu tượng của trí nhớ khác với hình ảnh của tri giác ở chỗ: Các biểu tượng chỉ phản ánh những dấu hiệu đặc trưng của sự vật, hiện tượng một cách khái quát Do đó, biểu tượng của trí nhớ thường không rõ nét, mơ hồ và kém đầy

đủ hơn so với hình ảnh đang tri giác trực tiếp Biểu tượng của trí nhớ là sự đan xen giữa tính trục quan và tính khái quát trong quá trình tái tạo sự vật, hiện tượng nhờ sự tác động lẫn nhau giữa hệ thống tín hiệu I và hệ thống tín hiệu II Đó là sự phản ánh liên kết giữa hình tượng và khái niệm, phản ánh tính chất quá độ từ sự nhận thức mang tính trực quan sinh động chuyển sang quá trình tư duy trừu tượng

- Biểu tượng của tượng tượng: Sản phẩm của quá trình tưởng tượng là

biểu tượng của tưởng tượng Biểu tượng của tưởng tượng là một hình ảnh mới mang tính khái quát hơn do con người tạo ra trên cơ sở những biểu tượng của của trí nhớ

Biểu tượng của trí nhớ khác về chất so với biểu tượng của tưởng tượng Trí nhớ và tưởng tượng đều sử dụng các hình ảnh, sự kiện của quá khứ Tuy nhiên, Biểu tượng của tưởng tượng là hình ảnh mới, được chế biến lại từ những biểu tượng của trí nhớ, “biểu tượng của tượng tượng”, thường được chủ thể sáng tạo dựa trên các cách thay đổi số lượng, kích thước, chắp ghép, liên hợp, nhấn mạnh, điển hình hóa Do vậy, sự phản ánh của biểu tượng tưởng tượng mang tính gián tiếp và khái quát cao hơn so với biểu tượng của trí nhớ

Như vậy, khi các hình ảnh trong trí nhớ là chân thực ta sẽ có một trí nhớ chính xác Còn tưởng tượng thường được coi là hoạt động tự do của trí óc – sang tạo ra hình ảnh (biểu tượng) mới trên cơ sở những kinh nghiệm đã tiếp thu được hoặc đã trải qua trước đây Xét cho đến cùng, biểu tượng của tưởng tượng dù có xa lạ, không tưởng bao nhiêu vẫn phụ thuộc vào trí nhớ Ngược lại, cái mà người ta gọi là biểu tượng của trí nhớ đôi khi lại là sản phẩm của

Trang 23

sự tưởng tượng hoặc của trí nhớ kết hợp với tưởng tượng do ta nhớ không chính xác, không trung thực của hiện thực

* Cơ sở sinh lý của biểu tượng

- Đối với biểu tượng của trí nhớ: Cơ sở sinh lý là các dấu vết được lưu lại trong bán cầu đại não sau khi có những hưng phấn thật sự của hệ thần kinh trung ương có tri giác tạo nên Các “dấu vết” được giữ lại là nhờ có tính kích thích đáng kể của hệ thần kinh trung ương Tính thích nghi này sẽ thay đổi cùng với sự thay đổi của lứa tuổi

- Đối với biểu tượng của tưởng tượng: Là sản phẩm của quá trình thần kinh phức tạp mà cơ sở là quá trình lưu lại dấu vết của sự hưng phấn và ức chế, lan tỏa và tập trung, cảm ứng âm và cảm ứng dương, phân tích và tổng hợp trong các bộ phận vỏ não của các cơ quan phân tích khác nhau Do kết quả của hoạt động thần kinh phức tạp đó mà xuất hiện những sự phối hợp mới của các mối liên hệ tạm thời được hình thành trên kinh nghiệm đã qua và tạo nên cơ sở sinh lý của biểu tượng của tưởng tượng

1.2.1.5 Sự hình thành biểu tượng

Trong tâm lý học, vấn đề hình thành biểu tượng được xét theo hai bình diện Thứ nhất: Sự hình thành biểu tượng trẻ em theo cơ chế từ ngoài vào trong Thứ hai, sự xuất hiện, hình thành biểu tượng theo lịch đại, tức là sự hình thành biểu tượng theo quá trình phát triển của trẻ em qua các lứa tuổi

* Sự hình thành biểu tượng của trẻ em từ hành động bên ngoài: Hình ảnh tri giác – biểu tượng – khái niệm

Theo quan điểm của các nhà duy cảm (những người theo quan điểm triết học duy vật Anh thế kỷ XVII – XVIII, đặc biệt là nhà triết học Ph Becon

và G.Locco) họ cho rằng biểu tượng là hình ảnh chung, phản ánh những đặc điểm giống nhau bên ngoài của các sự vật và hiện tượng do tri giác mang lại

Trang 24

và khái quát chúng thành hình ảnh chung, tức là khái niệm Theo đó, nhận thức của con người được tiến triển qua các bước: Hình ảnh tri giác → Biểu tượng → Khái niệm

Chẳng hạn, Ph.Becon (tr178, B.P Lomop, 2000) cho rằng quá trình hình thành biểu tượng được chia thành 3 bước như sau:

Bước 1: Hiểu biết thế giới tự nhiên thông qua các giác quan của con người với sự đa dạng và sinh động của nó

Bước 2: Lập bảng so sánh các dữ kiện, hệ thống lại và phân tích chúng Bước 3: Quy nạp, đây là bước quan trọng nhất, giúp ta khám phá hình dạng của sự vật Kết quả của quá trình quy nạp cho ta biểu tượng chung về các loại sự vật

G.Locco cũng cho rằng quá trình nhận thức trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1: Các sự vật tác động vào giác quan của chúng ta, nhờ đó con người có được các tư liệu về các đặc tính cá biệt ở bên ngoài của các sự vật dưới dạng đơn giản nhất

Giai đoạn 2: Trên cơ sở tư liệu cảm tính, lý tính bắt đầu quá trình phân tích, so sánh…tạo ra các phạm trù, các biểu tượng chung giống nhau của một nhóm vật thể

Như vậy, quá trình nhận thức, theo quan điểm của các nhà duy cảm, được diễn ra theo một logic xác định: quan sát trực tiếp đối tượng để tạo ra hình ảnh cảm tính về đối tượng đó → Khái quát hóa các hình ảnh đó để tạo ra biểu tượng riêng về nó → Khái quát hóa các biểu tượng riêng thành biểu tượng chung (tức

là khái niệm)

Thực ra, quan niệm về sự hình thành biểu tượng của các nhà duy cảm là không đúng Bởi lẽ, các hình ảnh tri giác chỉ mang đến cho chủ thể nhận thức các hình ảnh phẳng lì, từng mặt riêng biệt của một đối tượng nào đó Vì vậy, nếu

Trang 25

biểu tượng đơn thuần chỉ là khái quát các hình ảnh tĩnh đó thành hình ảnh chung thì nó không phản ánh được nội dung và trạng thái vận động của đối tượng

Theo quan điểm của các nhà tâm lý học hoạt động, cả hình ảnh tri giác, biểu tượng và khái niệm đều có bản chất hoạt động Quá trình hình thành biểu tượng về sự vật phải được bắt đầu từ việc tổ chức cho trẻ em hành động thực tiễn trên sự vật, phân tích chúng hoặc tạo ra chúng Đây là khâu quyết định để hình thành hình ảnh trực quan về sự vật Từ các hình ảnh này sẽ tạo dựng thành các biểu tượng, nhưng không phải là sự khái quát đơn thuần những điểm giống nhau các hình ảnh riêng về các sự vật mà là một quá trình xây dựng lại sự vật đó trong đầu bằng các nguyên liệu là các hình ảnh, khái niệm, hành vi…đã có về đối tượng Vì vậy, biểu tượng không chỉ bao hàm những dấu hiệu giống nhau, mà phải chứa đựng sự khác nhau, mâu thuẫn và mối quan hệ giữa chúng Không chỉ bao hàm hình ảnh về sự vật mà còn bao hàm

cả các thao tác trên sự vật để tạo ra hình ảnh về chúng

* Sự hình thành biểu tượng trong tiến trình phát triển của trẻ em được nhiều nhà tâm lý học phát triển quan tâm và nghiên cứu Dưới đây xin dẫn ra quan điểm về sự hình thành biểu tượng trong các công trình nghiên cứu của J.Piaget

Theo J.Piaget [tr408, Phan Trọng Ngọ, 2003] ở thời kỳ giác động, trẻ

em chủ yếu hình thành và phát triển các hình ảnh tri giác, trẻ không có và không biết tới hình ảnh tinh thần và biểu tượng Sang 1 tuổi rưỡi đến 2 tuổi, trẻ bắt đầu xuất hiện khả năng bắt chước chậm (bắt chước khi không còn sự

có mặt của đối tượng), hiện tượng này chứng tỏ trẻ đã có khả năng lưu giữ và khôi phục hình ảnh tri giác trước đó Tuy nhiên, các hình ảnh này vẫn còn nguyên, chưa bị cấu trúc hóa Biểu tượng chỉ thực sự bắt đầu hình thành ở trẻ

từ 2 tuổi trở lên, cùng với sự xuất hiện của các chức năng ký hiệu, rồi sau đó

Trang 26

Giai đoạn tiền thao tác (2 – 7 tuổi), các sơ đồ hành động dần được nhập tâm để tiến tới hình thành biểu tượng Trước hết là khả năng bắt chước hành động Bước chuyển từ biểu tượng trên hành động (bắt chước hành động) sang biểu tượng trong ý nghĩ được thực hiện khi ở trẻ em xuất hiện hành động tượng trưng và hành động vẽ hình Sự phát triển của hành động vẽ tranh cũng trải qua nhiều giai đoạn, gắn liền với quá trình hình thành biểu tượng Thời kỳ đầu (3 tuổi), trẻ em vẽ bôi bác, nguệch ngoạc, chưa có ý đồ hiện thực, sau đó chuyển nhanh sang thời kỳ tổng hợp bất thành (4 tuổi), mà ở đó, các bức vẽ là các hình rời rạc được chồng lên nhau một cách vô lý Đây chính là dấu hiệu chứng tỏ trẻ đã có hình ảnh tinh thần về đối tượng định vẽ, nhưng chưa có cấu trúc thành hệ thống Tiếp đến là giai đoạn “tính hiện thực trí tuệ”, trong đó trẻ (5-6 tuổi) đã có hình ảnh tinh thần tương đối phù hợp với đối tượng, nhưng chưa phù hợp với điều kiện thể hiện đối tượng Giai đoạn cuối của hành động

vẽ hình là “hiện thực thị giác”, trẻ em (7-8 tuổi) có khả năng thể hiện hình vẽ theo một tọa độ quan sát trước đó và các bộ phận được bố cục hợp lý Sự bắt chước nhập tâm, trò chơi tượng trưng, hành động vẽ hình là những hành động nhập tâm và ngoại hiện để hình thành các hình ảnh tinh thần

Quá trình xuất hiện tiếng nói ở trẻ đi liền với sự hình thành chức năng biểu trưng hóa, tức là xây dựng các hình ảnh tinh thần trong ý thức theo các chủ đề khác nhau Sự hình thành và phát triển phong phú các biểu tượng tinh thần là đặc trưng của giai đoạn trước tuổi học: biểu tượng về sự vật, về quan

hệ không gian, thời gian, về số lượng các sự vật

J.Piaget cho rằng quá trình hình thành và phát triển biểu tượng ở trẻ em chịu sự tác động của hiện tượng duy kỷ (tính tự kỷ trung tâm), tức là đứa trẻ

tự tách mình ra khỏi thế giới và ý thức bản thân mình như một thực thể khách quan Ở đây, tư duy của trẻ lệ thuộc vào hình ảnh mà nó tri giác Piaget gọi đó

là hiện tượng “chủ nghĩa hiện thực” Chính chủ nghĩa hiện thực làm cho các

Trang 27

biểu tượng của trẻ có tính chất tuyệt đối, trẻ đồng nhất ý nghĩ của nó về vật với chính bản thân vật đó Dần dần, nhờ hoạt động của trí tuệ ký hiệu, trẻ nhận thấy các biểu tượng có tính tương đối, tùy thuộc vào góc nhìn Biểu tượng của trẻ đi từ chủ nghĩa hiện thực đến tính khách quan, theo sự giảm dần của tính tự kỷ trung tâm

Như vậy, theo J.Piaget, quá trình phát triển của trẻ em gắn liền với sự hình thành biểu tượng của trẻ Biểu tượng bắt đầu được hình thành khi trẻ chuyển từ giai đoạn sơ cấu giác – động (0-2 tuổi) sang giai đoạn trí tuệ tiền thao tác (2-7 tuổi) với sự xuất hiện chức năng biểu trưng và sự nội tâm hóa sơ

đồ hành động (2-4 tuổi), khả năng tư duy trực giác dựa vào tri giác (4-6 tuổi)

và tư duy trực giác dựa vào các biểu tượng (6-7,8 tuổi) Các thời kỳ tiếp theo

là sự hình thành và phát triển các thao tác trí tuệ cụ thể và thao tác trí tuệ hình thức ở trẻ

Có thể nói biểu tượng được hình thành từ các hình ảnh tri giác trước đó Biểu tượng được hình thành trên cơ sở cấu trúc hóa các hình ảnh cảm tính, đó không phải là những hình ảnh thu được nhờ quan sát thuần túy, mà là những hình ảnh thu được thông qua hành động trực tiếp với đồ vật Như vậy, biểu tượng có bản chất hoạt động Việc hình thành biểu tượng được bắt đầu từ hành động với vật thật ở bên ngoài và phải được định hướng một cách đúng đắn Quá trình hình thành biểu tượng không chỉ gắn với quá trình sàng lọc thông tin của trí nhớ, mà còn gắn với sự phát triển của các thao tác tư duy, đặc biệt là thao tác tư duy trực quan sinh động và tư duy trực quan hình tượng ở trẻ

1.2.1.6 Vai trò của biểu tượng trong hoạt động tâm lý

Biểu tượng là một trong những hình thức quan trọng của sự phản ánh chủ quan về thế giới khách quan Các biểu tượng có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động tâm lý người, không có biểu tượng thì không thể có ý thức

Trang 28

Các biểu tượng là hình thức tồn tại quan trọng của các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo có liên quan đến các loại hình hoạt động nghề nghiệp nhất định Các biểu tượng phong phú với các nét đặc thù là cách thể hiện tiêu biểu các đặc điểm cá biệt của cá nhân con người Do gắn với các yếu tố tổng hợp nên biểu tượng là bậc thang chuyển hóa từ hình ảnh cụ thể đến khái niệm trừu tượng, từ cảm giác và tri giác đến tư duy

Do biểu tượng mang tính chất biến đổi rộng rãi, cho phép xây dựng hình ảnh mới, nên chúng đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong hoạt động sáng tạo của con người

1.2.2 Gia đình

1.2.2.1 Khái niệm gia đình

Gia đình là môi trường xã hội đầu tiên của mỗi người và là tế bào hợp thành xã hội Tùy vào mỗi góc độ nghiên cứu, cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về gia đình

Từ góc độ xã hội học: Gia đình được xem là một nhóm nhỏ của xã hội, gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống Xã hội học chủ yếu nghiên cứu những vấn đề xã hội của gia đình như mối quan hê bên trong gia đình, các quan hệ tác động qua lại giữa gia đình và xã hội

Từ góc độ kinh tế học: Gia đình được coi là đơn vị kinh tế, đơn vị tiêu dùng nhằm thỏa mãn các nhu cầu ăn mặc, học hành, chăm sóc sức khỏe…các thành viên trong gia đình

Từ góc độ văn hóa học: Gia đình như một thiết chế xã hội mang màu sắc dân tộc và đánh dấu tiến trình phát triển về văn hóa

Từ góc độ tâm lý học xã hội: Gia đình được định nghĩa như sau:

“Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội, các thành viên trong nhóm có quan hệ gắn

bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm – sinh lý, cùng có chung các giá trị vật

Trang 29

chất, tinh thần, ổn định trong các thời điểm lịch sử nhất định” (Ngô Công Hoàn, 2008)

Từ khái niệm này, chúng ta có thể nêu lên những đặc điểm đặc trưng cơ bản của gia đình để xem xét các mối quan hệ của gia đình ở góc độ là một nhóm xã hội, nhóm tâm lý - tình cảm đặc thù, với các mối quan hệ bên trong, với sự tác động qua lại trong nội bộ của các thành viên để thỏa mãn những nhu cầu của mỗi người:

* Gia đình là một nhóm xã hội, một đơn vị kinh tế, là nơi tái sản xuất ra con người Các thành viên trong gia đình sống chung dưới một mái nhà

* Các thành viên trong gia đình có thể thuộc nhiều thế hệ khác nhau, gắn

bó với nhau bởi quan hệ tình cảm, huyết thống, chịu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp lẫn nhau về nếp sống, sinh hoạt, phong tục… tạo nên bản sắc văn hóa riêng của gia đình

* Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về đặc điểm tâm – sinh lý Cha mẹ truyền lại cho con cái những đặc điểm thể chất qua gen di truyền sinh học và giáo dục con cái hình thành nếp sống, theo văn hóa riêng của gia đình

* Các gia đình có quan hệ về kinh tế, sống và hoạt động bằng một ngân sách chung do các thành viên cùng lao động đem lại

Gia đình Việt Nam đang tồn tại với nhiều loại hình khác nhau:

- Nếu lấy hôn nhân làm chuẩn thì có 2 loại:

* Gia đình đơn hôn: Gia đình có một vợ một chồng

* Gia đình đa hôn: Gia đình một chồng nhiều vợ hoặc gia đình một

vợ nhiều chồng

- Nếu lấy số lượng thế hệ đang chung sống trong một gia đình thì có hai loại:

Trang 30

* Gia đình hạt nhân: Gia đình có hai thế hệ - Cha mẹ và các con chung sống dưới một mái nhà Trong xã hội hiện đại, gia đình hạt nhân là loại gia đình có điều kiện phát triển tốt nhất, là loại gia đình có nhiều ưu thế khi thực hiện các chức năng của gia đình

* Gia đình mở rộng: Gia đình có từ ba thế hệ trở lên đang chung sống với nhau dưới một mái nhà (Ông, bà, cha, mẹ, con cái, cháu…) Do sự phát triển của đời sống xã hội, gia đình mở rộng ngày càng thu hẹp trong xã hội hiện đại

- Nếu lấy quan hệ giữa các thành viên trong gia đình thì các nhà khoa học chia gia đình thành các loại sau:

Theo A.E.Litrco có 4 loại gia đình sau:

* Gia đình đầy đủ (Gia đình có cả cha lẫn mẹ)

* Gia đình không đầy đủ (Thiếu cha hoặc mẹ)

* Gia đình mở rộng (Có những người họ hàng ruột thịt khác hoặc con nuôi, cha mẹ nuôi…)

* Gia đình biến dạng (có bố mẹ dượng, mẹ kế)

1.2.2.2 Vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em

Bất cứ ai cũng được sinh ra và lớn lên trong một gia đình Gia đình bao gồm những người sống chung dưới một mái nhà, ăn chung một bếp, có lợi ích kinh tế chung và có trách nhiệm với nhau trong cuộc sống Gia đình vừa là nơi đáp ứng nhu cầu riêng tư vừa thực hiện chức năng phát triển nòi giống và

là trường học đầu tiên hình thành, phát triển nhân cách con người Tuy vậy, quá trình trưởng thành và hình thành nhân cách của mỗi người là khác nhau, ngay cả với anh em trong một nhà

Giáo dục và nuôi dưỡng là hai yếu tố then chốt quyết định tạo nên tài năng và tính cách của mỗi con người Sự nuôi dạy con trẻ sát nhất là gia đình,

Trang 31

tiếp đến là xóm giềng và xã hội Nhân cách con người bắt đầu hình thành từ lúc còn nằm trong bụng mẹ cho đến khi trưởng thành vẫn chưa dừng lại Lứa tuổi ấu thơ là giai đoạn quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách của trẻ Nhân cách mặc dù chưa được thể hiện rõ ràng nhưng thông qua hành vi bắt chước hành động của người lớn, trẻ em bắt đầu thâu nhận tất cả các tương tác nhân – sinh – quan để hình thành nhân cách của mình

Trong mỗi gia đình vai trò của bố mẹ có vị trí quan trọng Theo truyền thống Việt Nam, đàn ông thường là chủ của gia đình Người cha là trụ cột, là biểu hiện của nhân cách văn hóa cao đẹp nhất để con cái học tập và noi theo Còn người mẹ là chỗ dựa, là hạt nhân tâm lý chủ đạo, nguồn lửa sưởi ấm yêu thương trong gia đình, nguồn tình cảm vô tận cho các con Cho nên gia đình

là cái nôi văn hóa đầu tiên hình thành nhân cách cho trẻ em

Mẹ là người đầu tiên trẻ được tiếp xúc khi cất tiếng khóc chào đời, là người dạy trẻ từ lời ăn tiếng nói, hướng dẫn trẻ những bước đi đầu tiên Bên cạnh quan hệ cha mẹ - con cái còn có quan hệ vợ chồng Đây là quan hệ cơ bản, đan xen giữa khía cạnh tự nhiên – sinh học, kinh tế và tâm lý đạo đức Văn hóa trong gia đình nói chung, quan hệ vợ chồng nói riêng đều có sự ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của các thành viên trong gia đình Bầu không khí tâm lý – đạo đức của gia đình tác động trực tiếp đến nếp nghĩ, lối sống của trẻ Mọi xung khắc của các cá nhân trong gia đình, nhất là giữa bố và mẹ, đều ảnh hưởng đến con cái Trong nếp nghĩ của trẻ nhỏ luôn lưu giữ hình dáng, lời ăn tiếng nói của cha mẹ

Trong gia đình, ngoài các mối quan hệ nói trên còn có mối quan hệ giữa ông bà và các cháu, anh chị và các em Mối quan hệ này càng bền chặt thì càng làm phong phú thêm đời sống tinh thần của các cá nhân trong gia đình Các bậc lớn tuổi phải làm gương, tự điều chỉnh hành vi của mình thì mới đáp ứng được

Trang 32

Giáo dục con cái không thể chỉ bằng lời nói mà phải bằng những công việc cụ thể, mọi hành vi, thái độ, lối sống của người lớn có có tác động trực tiếp tới việc hình thành, phát triển nhân cách của trẻ Trẻ em sẽ không tôn trọng người lớn nếu như chúng thấy cha mẹ mình thể hiện sự thiếu tôn trọng lẫn nhau

Khi cha mẹ dạy con phải lễ phép với bố, mẹ nhưng chính họ lại không tôn trọng cha, mẹ của mình (ông bà của trẻ) thì chắc chắn trẻ sẽ chẳng bao giờ

lễ phép với cha, mẹ và cả ông, bà Những bậc cha mẹ luôn quan tâm đến con cái sẽ chú trọng đến việc giáo dục hình thành nhân cách cho trẻ, dạy con không được nói dối người lớn, phải thật thà và biết nhìn nhận khuyết điểm, biết cám ơn khi được cho quà Nhưng cũng có nhiều gia đình thiếu quan tâm đến việc giáo dục con cái, người lớn đối xử với nhau bằng lời nói, cử chỉ, hành động thiếu văn hóa…, những hành động xấu đó đã phản chiếu vào tâm hồn của trẻ, làm cho các em trở lên cộc cằn, thô lỗ Những mâu thuẫn, lục đục trong gia đình hay gia đình tan vỡ đã đẩy nhiều trẻ em rơi vào tình trạng hụt hẫng về mọi phương diện, nhiều em không đủ ý chí để vượt qua khó khăn này

đã rơi vào những bệnh như trầm cảm, rối loạn tâm lý hoặc bỏ nhà đi lang thang, phạm tội

Gia đình chịu trách nhiệm đối với quá trình xã hội hóa ban đầu của cá nhân, ảnh hưởng đến việc hình thành phẩm chất, nhân cách gốc của trẻ Nếu ngay từ đầu các phẩm chất đó bị sai lệch, trẻ sẽ dễ sinh hư Sống trong các gia đình có bố mẹ hoặc người lớn khác có hành vi thiếu văn hóa, đạo đức thậm chí có cả những hành vi phạm tội, như bố mẹ bất hòa hay đánh chửi nhau, nghiện rượu, nghiện ma túy, trộm cắp, tham ô…thì những gương xấu này làm cho trẻ em dần dần coi thường pháp luật, nhiễm các thói hư tật xấu và dễ bị lôi kéo rồi dần dần vi phạm pháp luật Chỉ có những trẻ có ý chí kiên cường,

có lòng tự trọng cao, sớm đánh giá được đúng sai mới tránh được những ảnh hưởng xấu đó Cũng có nhiều trường hợp bố mẹ là người tốt, có đủ kiến thức

Trang 33

nhưng không chú ý đúng mức đến việc giáo dục con cái hoặc không có điều kiện gần gũi trẻ, có người ỷ lại cho nhà trường, một số mải làm ăn, kiếm sống hoặc phải đi công tác trong thời gian dài

Có gia đình bố mẹ ly hôn, có con ngoài giá thú, một trong hai người chết…dẫn đến việc con cái bị bỏ rơi, thiếu sự dạy dỗ và tình thương của cha

mẹ, không được dạy dỗ và chăm sóc chu đáo trẻ sẽ có tâm lý lệch lạc, tự do ngang bướng, bất cần Chúng dễ dàng phạm tội khi bị rủ rê, lôi kéo… Có những gia đình bố mẹ thiếu hiểu biết hoặc không kiềm chế được nên đã coi việc đánh đập hoặc dùng nhục hình với trẻ như là quyền của họ Khi trẻ có lỗi, cha mẹ đã buồn bực, lo lắng và trút đòn roi lên đầu con cái

Nhiều đứa trẻ bị bạo hành đã nghĩ gia đình không còn yêu thương, che chắn và bảo vệ mình nữa Chính cách xử sự này của bố mẹ đã khiến trẻ bị khủng hoảng về tâm lý, tự ti, khó hòa nhập, trẻ trở lên hung hãn, lì lợm, xa lánh mọi người và căm ghét gia đình Trong hoàn cảnh đó trẻ dễ bị kẻ xấu lôi kéo, lợi dụng, khống chế thực hiện những hành vi trái pháp luật Con hư còn bởi cách dạy Sự quá nuông chiều, thỏa mãn mọi nhu cầu của con cái, thói quen đòi gì được nấy

Bên cạnh sự nuông chiều, cha mẹ bao bọc mọi việc khiến trẻ hình thành tính ỷ lại, dựa dẫm, sống ích kỷ, lười nhác, không ý thức về trách nhiệm, quen được phục vụ, hưởng thụ Đến một lúc nào đó, khi gia đình không thỏa mãn được hoặc không có điều kiện phục vụ thì con cái trở nên bất mãn, thậm chí thù ghét bố mẹ, chúng thường bỏ nhà đi bụi, tụ tập với bạn bè hư Nhiều trẻ trộm cắp tài sản của chính bố mẹ mình hoặc của người khác để thỏa mãn những nhu cầu không chính đáng như đua đòi ăn diện, đánh bạc, hút chích…

Giáo dục gia đình có tác động hình thành nhân cách cho trẻ Đó là kinh nghiệm sống của cha mẹ truyền dạy cho con cháu qua hành vi ứng xử trong

Trang 34

ăn nói lễ phép, tôn kính người trên, tôn sư trọng đạo, nhường nhịn lẫn nhau để khi trưởng thành con cái biết ơn sinh thành, nuôi dưỡng, chăm sóc ông bà, cha mẹ

Cha mẹ sẽ là người uốn nắn, phê phán, ngăn chặn thái độ, cử chỉ bất nhã, bất hiếu của con cái, rèn cho con nề nếp học tập và đức tính tốt, như tự suy nghĩ, tìm tòi, sinh hoạt đúng giờ, gọn gàng ngăn nắp Các nội dung văn hóa khác cho trẻ như văn hóa lao động, văn hóa sinh hoạt, văn hóa tiêu dùng, văn hóa giao tiếp…tập luyện cho trẻ ý thức, thói quen lao động chân tay hàng ngày để nâng cao sức khỏe, loại trừ thói xấu lười nhác, ỷ lại, dựa dẫm, cẩu thả…cũng sẽ được cha mẹ chú ý nhằm giúp con hình thành nhân cách, sớm ý thức được mình vì mọi người và mọi người vì mình trong gia đình

Gia đình có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi con người Nếu nhân cách của con người bao gồm hai mặt đức và tài, thì gia đình là nơi nuôi dưỡng đạo đức và gieo mầm tài năng Các bậc cha

mẹ cần nhận thức đúng trách nhiệm của mình để giữ gìn hạnh phúc gia đình, xây dựng gia đình văn hóa

1.2.3 Khái niệm biểu tượng của trẻ em SOS về gia đình

1.2.3.1 Khái niệm trẻ em

Theo các ngành khoa học, trẻ em được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào gốc độ tiếp cận của từng khoa học cụ thể

Theo khoa học Triết học:

Dựa trên những quan niệm triết học khác nhau, người ta hiểu trẻ em theo nhiều cách khác nhau Trước thế kỷ XVIII, có quan niệm cho rằng: “Trẻ em là người lớn thu nhỏ lại’ (Quan niệm triết học siêu hình) Đây là cách nhìn nhận không đúng đắn dẫn đến các cách cư xử sai lầm đối với trẻ em Nhưng đến sau thế kỷ XVIII – J.J Rousseau đã khẳng định: Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại và người lớn không phải lúc nào cũng hiểu được tình cảm, trí tuệ,

Trang 35

nguyện vọng của trẻ em vì trẻ em có những cách nhìn, suy nghĩ, cảm nhận của riêng nó Các nhà triết học hiện đại xem xét trẻ em trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển của xã hội, họ cho rằng trẻ em là con đẻ của thời đại

Từ góc độ xã hội hoc:

Trẻ em được hiểu là nhóm ở giai đoạn đầu tiên của quá trình xã hội hóa Xã hội học ngày nay khẳng định: Trẻ em là người có vị thế, vai trò xã hội khác người lớn Chính quá trình xã hội hóa sẽ giúp trẻ trưởng thành về mọi mặt và trở thành một người lớn thực thụ Trẻ em chỉ là người chưa đạt tới

sự trưởng thành để có thể được coi là người lớn

Dưới góc độ tâm lý học:

Dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng, tâm lý học hiện đại quan niệm: Trẻ em là giai đoạn phát triển đầu đời của mỗi người, nó vận động và phát triển theo quy luật riêng của trẻ Đây là giai đoạn con người đang dần hình thành về thể chất, nhân cách và đạo đức, là những công dân đặc biệt còn non nớt về cả thể chất và tinh thần, chưa có đủ khả năng để tự bảo vệ bản thân nên dễ bị xâm hại, lừa gạt, lợi dụng

Xét về độ tuổi, các tổ chức Liên Hợp Quốc cũng như Quỹ dân số thế giới (UNFPA ), Tổ chức lao động Quốc Tế ( ILO), Tổ chức giáo dục – khoa học và văn hóa thế giới ( UNESSCO) xác định trẻ em là những người dưới 16 tuổi Theo công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1990 quy định trẻ em là những người dưới 18 tuổi

Trong luận văn này, chúng tôi dựa vào công ước quốc tế về quyền trẻ

em quy định về độ tuổi của trẻ em là những người dưới 18 tuổi và xem xét các đặc điểm tâm – sinh lý trẻ em dưới góc độ của tâm lý học

Trang 36

1.2.3.2 Trẻ em làng SOS

1.2.3.2.1 Làng trẻ em SOS

Làng trẻ em SOS là một tổ chức phi chính phủ nhằm giúp đỡ và bảo

vệ trẻ mồ côi, lang thang, cơ nhỡ Tổ chức được thành lập năm 1949 bởi Hermann Gmeiner ở Imst, Áo

Hiện nay làng trẻ em SOS có mặt ở 132 quốc gia và vùng lãnh thổ 438 làng trẻ em SOS và 346 nhà thiếu nhi SOS mang đến ngôi nhà mới cho hơn

60000 trẻ em Hơn 131000 trẻ em tham gia các trường mẫu giáo SOS, các trường Hermann Gmeiner và các trung tâm đào tào nghề SOS Khoảng

397000 người được hưởng lợi từ các chương trình của trung tâm y tế SOS và

115000 người được hỗ trợ bởi các trung tâm xã hội SOS.

Mục đích của Làng trẻ em SOS nhằm mang lại "sự quan tâm chăm sóc

như trong một gia đình" cho trẻ nghèo đói, lang thang và trẻ mồ côi Hàng triệu

trẻ em đang sống mà không có một mái ấm gia đình với muôn vàn lý do như:

* Bố mẹ li hôn

* Bạo lực gia đình

* Thiếu sự quan tâm của bố mẹ

* Không còn bố mẹ do chiến tranh, thiên tai hoặc tai nạn giao thông

* Bệnh tật – bao gồm cả sự tăng lên của AIDS

Những đứa trẻ có hoàn cảnh như vậy được giúp đỡ để trở lại cuộc sống sau những tổn thương tâm lý và ngăn chặn những mối nguy hiểm như bị bỏ rơi, đối xử bất công, ngược đãi

Các làng SOS hoạt động theo 4 nguyên tắc chung trên toàn thế giới,

gồm: “Bà mẹ, các anh chị em, ngôi nhà gia đình và cộng đồng làng” Trong

đó, nhân tố chính là các “bà mẹ” - là những phụ nữ từ 25 đến 40 tuổi, không

có ý định lấy chồng, không có con riêng, cũng không có nặng gánh gia đình, tình nguyện tuyên thệ đảm nhận thiên chức làm mẹ, nuôi dưỡng những trẻ mồ

Trang 37

côi (có hoàn cảnh đặc biệt) như những đứa con riêng của mình theo đúng

nghĩa xã hội học Mỗi “bà mẹ” làm chủ một “ngôi nhà gia đình”, có toàn quyền định đoạt trong việc nuôi dưỡng từ 8 đến 10 “đứa con” (từ sơ sinh đến

18 tuổi) như những người mẹ khác trong xã hội Khoảng 10 đến 40 ngôi nhà

hợp thành một “làng” SOS

1.2.3.2.2 Khái niệm trẻ em SOS

Trẻ em SOS là những trẻ không còn cha mẹ, hoặc chỉ có cha hoặc chỉ

có mẹ nhưng không có khả năng nuôi dạy, hoặc bị cha mẹ bỏ rơi, không người thân thích chăm nom, nuôi dưỡng, được sống tập trung cùng nhau tại làng SOS

1.2.3.2.3 Đặc điểm tâm lý của trẻ SOS

Ngoài những đặc điểm chung về lứa tuổi, trẻ em làng SOS còn mang những đặc điểm tâm lý riêng biệt:

Ngay từ nhỏ, các em đã không nhận được sự chăm sóc đầy đủ của bố

mẹ, thậm chí có những em còn chưa được nhìn thấy mặt bố mẹ ngay từ khi chào đời, nên các em là những người thiếu thốn về mặt tình cảm và nhu cầu cần được quan tâm, nhu cầu về tình thương của các em là rất lớn Chính điều này đã ảnh hưởng đến đời sống tâm lý, đặc biệt ảnh hưởng đến sự hình thành

và phát triển nhân cách của các em

Thiếu bố mẹ và cuộc sống gia đình, trẻ em tại các làng SOS thường có mặc cảm tự ti, thiếu chuẩn mực trong hành vi giao tiếp, thậm chí có những em còn chán ghét cuộc sống của chính bản thân mình Với những em trước khi vào làng đã được hưởng tình yêu thương, sự chăm sóc của người thân, khi sống ở môi trường mới, các em thường kỳ vọng rất nhiều vào sự quan tâm của người

mẹ mới sẽ giống như sự quan tâm mà mình được đã từng biết trước đây Do vậy, khi thực tại không giống như sự mong đợi, các em dễ rơi vào tình trạng

Trang 38

được đưa vào sống tập trung tại các làng trẻ SOS thường là những trẻ ban đầu

có biểu hiện rối loạn tâm lý, dễ bị kích động hoặc lãnh cảm, thờ ơ với cuộc sống Các em e dè khi nói với người khác về hoàn cảnh của bản thân mình

Ngoài những thiếu thốn về mặt tinh thần, các em còn phải chịu nhiều thiếu thốn về mặt vật chất Các em hiện đang sống trong làng thường dậy thì muộn hơn so với các bạn cùng trang lứa Do trước khi vào làng các em có cuộc sống khá vất vả, gia đình nghèo khó, nhu cầu dinh dưỡng được đáp ứng

ở mức hạn chế nên cơ thể các em gầy gò, nhỏ bé Có những em 13 - 14 tuổi nhưng vẫn chưa phát triển về cơ thể, chậm lớn và chậm phát triển trí tuệ so với những trẻ khác cùng lứa tuổi

1.2.3.2.4 Biểu tượng về gia đình của trẻ em ở làng trẻ SOS

Với hoàn cảnh sống và đặc điểm tâm lý khác biệt như vậy nên biểu tượng về gia đình của trẻ em ở làng trẻ SOS rất khác nhau

Có thể, ở một số em đã từng sống trong các gia đình có bạo lực thì biểu tượng về gia đình là nơi diễn ra bạo lực, là những trận cãi vã và đánh đòn, là

sự thù hận giữa các thành viên trong gia đình, là nơi các em phải chịu nhiều đau đớn cả về thể chất và tinh thần

Với những em sống trong gia đình ly tán/ly hôn thì biểu tượng gia đình

có phần phức tạp hơn Nhiều em vẫn thương yêu cả cha lẫn mẹ và có hình ảnh tương đối đẹp về gia đình Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những em lưu giữ biểu tượng không mấy đẹp đẽ về mối quan hệ giữa cha và mẹ Thêm vào đó,

ở một số gia đình ly tán/ly hôn cũng có bạo lực giữa cha mẹ Vì vậy, sự hình thành biểu tượng về gia đình của những trẻ này phụ thuộc rất nhiều vào tính chất cụ thể của các mối quan hệ từng gia đình

Với những trẻ mồ côi do cha mẹ mất bởi tai nạn giao thông hay thiên tai,hay bệnh tật các em đã phải trải qua một thời kỳ khủng hoảng tâm lý trước sự ra đi đột ngột của cha mẹ Nhiều em không chấp nhận sự thật cha mẹ

Trang 39

các em đã qua đời nên các em luôn lưu giữ biểu tượng về gia đình cũ, nơi các

em được sống hạnh phúc cùng cha/mẹ mình

Đối với những trẻ đã từng là nạn nhân của bạo lực trong chính gia đình mình, gia đình đối với các em là nơi các em phải chịu nhiều đau đớn về mặt thể chất lẫn tinh thần Các em cảm thấy căm ghét cha mẹ, và không muốn nhắc đến gia đình cũ Với những trẻ em này, các em luôn coi gia đình ở làng trẻ SOS là gia đình thân yêu của mình, bởi ở đây, các em nhận được sự thương yêu, quan tâm của mẹ, của các anh chị em trong gia đình

Biểu tượng của trẻ em làng SOS về gia đình là cấu trúc tâm lý phức hợp, bao gồm kết quả hoạt động của cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng tạo thành hình ảnh vừa khái quát vừa cụ thể về các thành viên trong gia đình, về các mối quan hệ trong gia đình, về chức năng của gia đình Biểu tượng trẻ em SOS về gia đình có chức năng quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách các em

Biểu tượng của trẻ em làng SOS về gia đình chịu ảnh hưởng sâu sắc của các hiện tượng tâm lý khác như cảm xúc, thái độ của chính các em về gia đình cũng như cảm xúc và thái độ của các thành viên trong gia đình trước đây

mà trẻ sinh sống và cả gia đình SOS hiện tại

1.2.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến biểu tượng của trẻ em về gia đình

Kể từ khi trẻ ra đời, môi trường văn hoá - xã hội đầu tiên mà trẻ tiếp xúc chính là gia đình Gia đình cũng chính là yếu tố cơ bản đầu tiên cho sự phát triển bình thường về nhân cách của trẻ; Gia đình ảnh hưởng đến sự hình thành hệ thống giá trị và biểu tượng của trẻ Vì vậy, có thể nói, gia đình giữ vai trò quyết định trong sự thích nghi, gia nhập xã hội của trẻ sau này, khi trẻ

đã trưởng thành

Trong gia đình, các quan niệm, giá trị, niềm tin của các thành viên cũng

Trang 40

quan niệm, giá trị của riêng đứa trẻ Trong đó, một số quan niệm, niềm tin trở nên mạnh mẽ, rõ ràng và tự nhiên, được trẻ coi như biểu tượng về hiện thực nói chung, hay về một sự vật, hiện tượng nào đó

Mặt khác, các kiểu ứng xử khác nhau, các mối quan hệ trong gia đình của trẻ cũng ảnh hưởng đến biểu tượng của trẻ về gia đình Những ảnh hưởng này được chia thành hai loại, tương ứng với hai loại hình gia đình mà trẻ sinh sống :

* Gia đình đầy đủ (có cả cha lẫn mẹ) : Gia đình có đầy đủ cả cha lẫn

mẹ nằm trong loại gia đình mở rộng (Có thêm ông, bà, hoặc cô, gì, chú, bác…những người ruột thịt) Loại gia đình này còn đang phổ biến ở nông thôn Việt Nam Theo nghiên cứu của Đặng Nguyên Anh về “Cấu trúc hộ gia đình và sức khỏe trẻ em: Những phát hiện qua khảo sát nhân khẩu học và sức khỏe năm 1997” cho thấy: Loại gia đình mở rộng có đầy đủ cha mẹ, có thêm ông bà là một thuận lợi đối với việc nuôi dạy, chăm sóc trẻ em

+ Gia đình hạnh phúc : Trẻ khi được sống trong một gia đình với bầu không khí tâm lý hài hòa, bố mẹ yêu thương nhau và luôn dành mọi tình yêu thương cho con cái, anh chị em trong nhà hòa thuận, đùm bọc lẫn nhau, trẻ cũng sẽ dễ dàng bộc lộ tình yêu thương của bản thân đối với bố, mẹ và các thành viên khác trong gia đình Chính cảm nhận mà trẻ nhận biết được khi được sống trong gia đình sẽ là những tiền đề có ảnh hưởng đến hình ảnh về gia đình của trẻ

+ Gia đình có bạo hành : Với những trẻ em được sống trong các gia đình có đầy đủ cha, mẹ và các anh chị em nhưng thường xuyên chứng kiện sự bạo hành trong gia đình: cha mẹ mắng chửi, đánh nhau hoặc chính bản thân các em bị hành hạ, đánh đập bởi cha và mẹ….Chính những đau khổ mà các

đã chịu đựng sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của trẻ và những tình cảm của trẻ dành cho các thành viên trong gia đình

* Gia đình không đầy đủ (Thiếu cha hoặc mẹ, hoặc thiếu cả cha lẫn mẹ)

Ngày đăng: 27/10/2016, 09:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Ngọc Bình (2002), Những điều cần biết về quyền trẻ em, NXB Chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về quyền trẻ em
Tác giả: Vũ Ngọc Bình
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2002
2. Phạm Văn Đồng (2004), Tâm lý học phát triển, NXB Chính trị Quốc Gia 3. E. Cassier (1997), Triết học của các hình thái biểu tượng, Đoàn Văn Chúcdịch, NXB Văn hóa thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2004
4. J. Chavalier và A.Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng và trường viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: J. Chavalier, A.Gheerbrant
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1997
5. Văn Thị Kim Cúc (1999), “Biểu tượng xã hội nhìn từ góc độ tâm lý học”, Tạp chí Tâm lý học (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng xã hội nhìn từ góc độ tâm lý học
Tác giả: Văn Thị Kim Cúc
Nhà XB: Tạp chí Tâm lý học
Năm: 1999
6. Văn Thị Kim Cúc (2000), “Biểu tượng của một nhóm bố mẹ về sự phát triển trí thông minh”, Báo cáo khoa học tại Hội thảo tâm lý học Việt Pháp, trẻ em, văn hóa, giáo dục (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng của một nhóm bố mẹ về sự phát triển trí thông minh
Tác giả: Văn Thị Kim Cúc
Nhà XB: Báo cáo khoa học tại Hội thảo tâm lý học Việt Pháp
Năm: 2000
7. Vũ Dũng (2000), Từ điển tâm lý học, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
8. Trần Thị Minh Đức (2009), Nhận biết tâm lý trẻ em qua tranh vẽ - Kỹ thuật phân tích tranh, NXB Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận biết tâm lý trẻ em qua tranh vẽ - Kỹ thuật phân tích tranh
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 2009
9. Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy (1988), Tâm lý học đại cương, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1988
10. Nguyễn Thị Minh Hằng (2007), “Nghiên cứu Tâm lý trẻ em có bố mẹ ly hôn bằng trắc nghiệm Vẽ tranh gia đình”, Tạp chí tâm lý học (11), Tr22-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Tâm lý trẻ em có bố mẹ ly hôn bằng trắc nghiệm Vẽ tranh gia đình
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hằng
Nhà XB: Tạp chí tâm lý học
Năm: 2007
11. Ngô Công Hoàn (2008), Giáo dục gia đình, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục gia đình
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
12. Ngô Công Hoàn (2008), Tâm lý học gia đình, Giáo trình dành cho học viên cao học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học gia đình
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: Giáo trình dành cho học viên cao học
Năm: 2008
13. Lê Khanh (2007), Khám phá trẻ em qua nét vẽ, NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám phá trẻ em qua nét vẽ
Tác giả: Lê Khanh
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2007
14. Phạm Minh Lăng (2002), Tâm lý trẻ thơ, NXB Văn hóa & Thông tin 15. Nguyễn Duy Lẫm (1997), Biểu trưng, NXB Mỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý trẻ thơ
Tác giả: Phạm Minh Lăng
Nhà XB: NXB Văn hóa & Thông tin
Năm: 2002
16. B.P. Lomop (2000), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận tâm lý học, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và phương pháp luận tâm lý học
Tác giả: B.P. Lomop
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2000
17. Moscovici (1961), Phân tâm học – Hình ảnh và tác giả của nó, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học – Hình ảnh và tác giả của nó
Tác giả: Moscovici
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1961
18. Vũ Thị Nho (1999), Tâm lý học phát triển, NXB Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Tác giả: Vũ Thị Nho
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1999
19. Phan Trọng Ngọ (2003), Các lý thuyết phát triển tâm lý người, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết phát triển tâm lý người
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2003
20. TS. Lê Minh Nguyệt (2011), “Một số biểu hiện tâm lý trong tranh vẽ gia đình”, Tạp chí tâm lý học, (11), tr53-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biểu hiện tâm lý trong tranh vẽ gia đình
Tác giả: TS. Lê Minh Nguyệt
Nhà XB: Tạp chí tâm lý học
Năm: 2011
21. J.Piaget (1998), Tuyển tập tâm lý học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tâm lý học
Tác giả: J. Piaget
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
22. Lê Thị Quý, Đặng Vũ Cảnh Linh (2007), Bạo lực gia đình – Một sự sai lệch giá trị, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo lực gia đình – Một sự sai lệch giá trị
Tác giả: Lê Thị Quý, Đặng Vũ Cảnh Linh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Biểu tượng chung về gia đình của trẻ em sống tại làng SOS và - Nghiên cứu biểu tượng về gia đình của trẻ em làng SOS   thành phố đồng hới   quảng bình
Bảng 3.1. Biểu tượng chung về gia đình của trẻ em sống tại làng SOS và (Trang 49)
Bảng 3.3. Biểu tượng của trẻ về mối quan hệ cha – mẹ - con (Theo - Nghiên cứu biểu tượng về gia đình của trẻ em làng SOS   thành phố đồng hới   quảng bình
Bảng 3.3. Biểu tượng của trẻ về mối quan hệ cha – mẹ - con (Theo (Trang 57)
Bảng 3.4. Biểu tượng về mối quan hệ cha – mẹ của trẻ em Làng SOS và - Nghiên cứu biểu tượng về gia đình của trẻ em làng SOS   thành phố đồng hới   quảng bình
Bảng 3.4. Biểu tượng về mối quan hệ cha – mẹ của trẻ em Làng SOS và (Trang 60)
Bảng 3.5. Biểu tượng về mối quan hệ cha mẹ – con của trẻ em làng SOS - Nghiên cứu biểu tượng về gia đình của trẻ em làng SOS   thành phố đồng hới   quảng bình
Bảng 3.5. Biểu tượng về mối quan hệ cha mẹ – con của trẻ em làng SOS (Trang 63)
Hình ảnh của trẻ về gia - Nghiên cứu biểu tượng về gia đình của trẻ em làng SOS   thành phố đồng hới   quảng bình
nh ảnh của trẻ về gia (Trang 68)
Bảng 3.7. Biểu tượng về người cha của trẻ em làng SOS và trẻ sống tại - Nghiên cứu biểu tượng về gia đình của trẻ em làng SOS   thành phố đồng hới   quảng bình
Bảng 3.7. Biểu tượng về người cha của trẻ em làng SOS và trẻ sống tại (Trang 69)
Hình ảnh của trẻ về gia - Nghiên cứu biểu tượng về gia đình của trẻ em làng SOS   thành phố đồng hới   quảng bình
nh ảnh của trẻ về gia (Trang 73)
Bảng 3.10. Biểu tượng về mối quan hệ anh/chị - em của trẻ em làng SOS - Nghiên cứu biểu tượng về gia đình của trẻ em làng SOS   thành phố đồng hới   quảng bình
Bảng 3.10. Biểu tượng về mối quan hệ anh/chị - em của trẻ em làng SOS (Trang 77)
Bảng 3.12. Biểu tượng về vai trò gia đình của trẻ em làng SOS và trẻ sống - Nghiên cứu biểu tượng về gia đình của trẻ em làng SOS   thành phố đồng hới   quảng bình
Bảng 3.12. Biểu tượng về vai trò gia đình của trẻ em làng SOS và trẻ sống (Trang 80)
Bảng 3.13. Mơ ước về mái ấm gia đình của trẻ em làng SOS và trẻ em - Nghiên cứu biểu tượng về gia đình của trẻ em làng SOS   thành phố đồng hới   quảng bình
Bảng 3.13. Mơ ước về mái ấm gia đình của trẻ em làng SOS và trẻ em (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w