Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định dân chủ là bản chất, là mục tiêu và là động lực của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn cách mạng nước ta qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã chứng minh rằng: Thực hiện và mở rộng dân chủ, tập hợp được sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân là yếu tố quyết định để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mục tiêu chiến lược của đất nước. Trong thời kỳ đổi mới, đất nước ta đứng trước những thời cơ và thách thức của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cũng hết sức khó khăn đặt ra đối với Đảng,
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luônkhẳng định dân chủ là bản chất, là mục tiêu và là động lực của cách mạng ViệtNam Thực tiễn cách mạng nước ta qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã chứng minh rằng: Thực hiện và mở rộng dânchủ, tập hợp được sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân là yếu tố quyếtđịnh để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mục tiêu chiến lược của đất nước.Trong thời kỳ đổi mới, đất nước ta đứng trước những thời cơ và thách thức củatoàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế lànhiệm vụ vô cùng quan trọng và cũng hết sức khó khăn đặt ra đối với Đảng,Nhà nước và nhân dân ta Cũng như bất kỳ một quốc gia nào khác, để thực hiệnthắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi chúng taphải có một hệ thống doanh nghiệp năng động, làm ăn có hiệu quả, có sức cạnhtranh cao và phát triển bền vững Ở nước ta, hệ thống doanh nghiệp nhà nước(DNNN) đã thực sự đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là nguồn lực quantrọng phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội (CNXH),
là công cụ quan trọng để nhà nước điều tiết vĩ mô, định hướng xã hội chủ nghĩa(XHCN) nền kinh tế Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, DNNN đã bộc lộnhững điểm yếu khá rõ ràng, đó là sự kém năng động trong sản xuất kinhdoanh, năng lực cạnh tranh yếu, hiệu quả kinh doanh thấp Nhiều doanh nghiệplàm ăn thua lỗ, không có lãi hoặc lãi ở mức độ không đáng kể vẫn đang tồn tạibởi cơ chế quản lý, cơ chế ưu đãi, bảo hộ, đang thực sự trở thành rào cản kìmhãm sức mạnh nội lực của nền kinh tế Chính vì vậy, sắp xếp, đổi mới để pháttriển, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN là một yêu cầu khách quan, mộtnhiệm vụ bức thiết của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta hiện nay
Một trong những giải pháp đổi mới DNNN đã được thực hiện và bướcđầu phát huy hiệu quả đó là cổ phần hóa (CPH) DNNN Tuy nhiên, do nhiều lý
Trang 2do khác nhau, trong thực tiễn thực hiện, CPH DNNN chưa thực sự đạt đượcnhững mục tiêu đã đề ra, chưa mang lại hiệu quả tương xứng với tiềm năng của
nó Một trong những nguyên nhân hạn chế tốc độ và hiệu quả của giải pháp CPHDNNN đó là, chúng ta chưa thực sự mở rộng và phát huy dân chủ trong CPHDNNN, CPH DNNN chưa thực sự thu hút được sự tham gia rộng rãi của cáctầng lớp nhân dân đóng góp "sức người sức của" với ý nghĩa trực tiếp là pháthuy sức mạnh nội lực của nền kinh tế, đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quảcủa giải pháp này Những biểu hiện thiếu dân chủ trong CPH DNNN là rất rõràng, đó là tình trạng CPH khép kín trong nội bộ doanh nghiệp, hạn chế sự thamgia của nhân dân, của các nhà đầu tư Đó là sự chạy trốn CPH, xuất phát từ động
cơ lợi ích cục bộ của doanh nghiệp, của địa phương, là tình trạng các tổ chức, cánhân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thao túng quá trình CPH DNNN, như hạ thấpgiá trị doanh nghiệp, gian lận trong bán đấu giá cổ phần nhằm trục lợi cho bảnthân, xâm phạm quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản trong doanh nghiệpCPH
Nguyên nhân của sự hạn chế dân chủ trong thực hiện CPH DNNN tiềm
ẩn trong bản thân các quy định của pháp luật, trong quá trình tổ chức thực hiện
và cả trong mức độ nhận thức của người dân về CPH Với mục tiêu đảm bảo hàihòa lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp, của nhà đầu tư và người lao động; huyđộng vốn của các cá nhân, tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội trong và ngoàinước, hoạt động CPH DNNN thực sự cần có được nội dung dân chủ sâu sắc tạonên động lực to lớn cho việc đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả của quá trìnhnày
Theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trungương Đảng (khóa IX), trong những năm tiếp theo, chúng ta cần phải đẩynhanh tiến độ CPH, mở rộng diện các DNNN cần CPH, kể cả một số tổngcông ty lớn trong các ngành như điện lực, luyện kim, ngân hàng Nhiệm vụCPH trước mắt là hết sức nặng nề, việc mở rộng và phát huy dân chủ trongCPH DNNN là yêu cầu có tính chất cấp bách trong thực tiễn, vì vậy việc triển
Trang 3khai nghiên cứu đề tài "Hoàn thiện pháp luật đảm bảo dân chủ trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay" là hết sức cần thiết,
đáp ứng yêu cầu dân chủ hóa trong lĩnh vực kinh tế, nâng cao chất lượng vàhiệu quả CPH DNNN ở nước ta hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cổ phần hóa DNNN là một đề tài được nhiều nhà khoa học nghiêncứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Dưới góc độ pháp lý có nhiều công trìnhnghiên cứu về CPH DNNN, tiêu biểu như:
- PGS.TS Lê Hồng Hạnh: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - những
vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Đây là công
trình có nội dung đề cập tương đối toàn diện những khía cạnh pháp lý về CPHDNNN, đánh giá thực trạng pháp luật về CPH DNNN, đưa ra những kiến nghị
có tính chất bao quát cao, góp phần hoàn thiện chính sách và pháp luật về CPHDNNN
- Nguyễn Thị Vân Anh: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - cơ sở
lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật Hà Nội,
1997
- Phan Vũ Anh: Hoàn thiện khung pháp luật về cổ phần hóa tổng công
ty nhà nước ở Việt Nam, Luật văn thạc sĩ luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
- Hoàng Thị Quỳnh Chi: Cơ sở pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
nước ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997.
- Võ Thị Thùy Dương: Cổ phần hóa hình thức chủ đạo trong việc sắp
xếp lại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật,
Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003
Trần Hồng Điệp: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
-Lý luận và thực tiễn, Luật văn thạc sĩ luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.
Trang 4- Hàn Mạch Thắng: Những vấn đề pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp
nhà nước (qua thực tiễn cổ phần hóa DNNN trong quân đội), Luật văn thạc sĩ
luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004
- Lê Văn Tâm: Cổ phần hóa và quản trị doanh nghiệp nhà nước sau cổ
phần hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004
Ngoài ra, còn rất nhiều công trình, bài viết về đề tài CPH DNNN khác
như: Cổ phần hóa đang bước vào giai đoạn tăng tốc của Lê Thị Băng Tâm, Tạp chí Tài chính, 3/2005; Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - kết quả, vướng
mắc và giải pháp của Hồ Xuân Hùng, Báo Nhân dân cuối tuần, ngày
13-11-2005
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều đi sâu làm rõ các khía cạnhpháp lý của CPH DNNN, phân tích những hạn chế tồn tại trong các quy định củapháp luật và trong thực tiễn thực hiện CPH DNNN, đề ra những giải pháp nhằmhoàn thiện khuôn khổ pháp luật, thúc đẩy tiến trình CPH DNNN Tuy nhiên,
cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về "hoàn thiện pháp luật đảm
bảo dân chủ trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay".
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật về CPH DNNN, trong
đó đi sâu nghiên cứu các quy định có vai trò đảm bảo dân chủ trong CPHDNNN, cụ thể là các quy định của Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16-11-
2004 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực hiện nghị định hiện cóhiệu lực thi hành từ thời điểm ban hành Nghị định 187/2004/NĐ-CP đến nay
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn:
Trang 5- Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về CPH DNNN,vấn đề dân chủ trong CPH DNNN và pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPHDNNN.
- Đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật đảm bảo dân chủtrong CPH DNNN, làm rõ nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại, kiến nghịmột số giải pháp pháp lý cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật đảm bảo dân chủtrong CPH DNNN ở nước ta hiện nay
* Nhiệm vụ của luận văn:
Từ mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ: Làm rõ nội dung dân chủtrong CPH DNNN, xác định khái niệm, nội dung pháp luật đảm bảo dân chủtrong CPH DNNN, đề ra các tiêu chí và các giải pháp nhằm hoàn thiện phápluật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN ở nước ta hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhànước về dân chủ và kinh tế trong giai đoạn hiện nay
-Trong quá trình nghiên cứu, viết luận văn, tác giả sử dụng tổng hợpcác phương pháp: Phân tích, tổng hợp; quy nạp, diễn giải; lịch sử cụ thể,thống kê, so sánh
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn làm rõ nội dung dân chủ trong CPH DNNN, đưa ra kháiniệm và tiêu chí hoàn thiện pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN
- Phân tích, đánh giá một cách hệ thống, toàn diện các quy định của phápluật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN, làm rõ thực trạng hạn chế, tồn tại
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp pháp lý cụ thể nhằm hoànthiện pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN ở nước ta hiện nay
Trang 67 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về dân chủ trongCPH DNNN, về pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN
- Các kiến nghị, giải pháp đưa ra trong luận văn có thể dùng làm tàiliệu tham khảo cho việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về CPH DNNN
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO DÂN CHỦ
TRONG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1 CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ DÂN CHỦ TRONG
CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1.1 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
1.1.1.1 Khái lược về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Doanh nghiệp nhà nước là một hiện tượng kinh tế xuất hiện và tồn tạiphổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Là một loại hình doanh nghiệp,DNNN mang đặc điểm chung của các doanh nghiệp: là một tổ chức kinh tế,thực hiện các hoạt động sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho xã hội vớimục đích thu lợi nhuận Trong pháp luật của các quốc gia, khái niệm DNNNđược xây dựng theo những tiêu chí khác nhau, các tiêu chí chung nhất đượcxem xét, căn cứ để xác định một doanh nghiệp là DNNN đó là vấn đề sở hữu
và quyền kiểm soát doanh nghiệp của Nhà nước
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO): Doanhnghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế thuộc sở hữu nhà nước hoặc do nhà nướckiểm soát, có thu nhập chủ yếu từ việc tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ
Ở nước ta, khái niệm DNNN được hình thành và thay đổi qua từngthời kỳ tương ứng với sự thay đổi về cơ chế quản lý kinh tế và đặc biệt là sựthay đổi nhận thức về vấn đề sở hữu Trước khi Luật DNNN năm 1995 đượcban hành, DNNN ở nước ta tồn tại dưới tên gọi xí nghiệp quốc doanh, nôngtrường quốc doanh và các công ty (thương mại) Khái niệm DNNN ở giaiđoạn này chủ yếu khẳng định vai trò chủ đạo, vị trí then chốt của DNNNtrong nền kinh tế, khẳng định quyền sở hữu tuyệt đối của Nhà nước đối vớidoanh nghiệp và xác định nhiệm vụ thực hiện hoạt động sản xuất và kinh
Trang 8doanh theo kế hoạch nhà nước của doanh nghiệp Khái niệm DNNN chỉ đượcchính thức ghi nhận trong các quy định của pháp luật ở nước ta khi LuậtDNNN năm 1995 được ban hành, theo quy định tại Điều 1: Doanh nghiệp nhànước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý,hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêukinh tế - xã hội do Nhà nước giao DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền
và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanhtrong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý, DNNN có tên gọi, có con dấuriêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam Theo định nghĩa này, các tiêuchí quyền sở hữu và quyền kiểm soát của Nhà nước đối với doanh nghiệp làtuyệt đối, điểm tiến bộ quan trọng ở đây là sự dỡ bỏ yếu tố kế hoạch áp đặtcủa Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đó là
sự dỡ bỏ cơ bản những trói buộc của cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung đối vớiDNNN, tạo cho DNNN quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh theo cơchế thị trường Tuy nhiên, trong thực tiễn vận dụng, Luật DNNN 1995 nóichung và khái niệm DNNN nêu trên chưa thực sự bao quát được sự đa dạngphong phú về hình thức pháp lý, chưa đáp ứng được các yêu cầu liên doanh,liên kết của DNNN trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường với cơcấu kinh tế nhiều thành phần Luật DNNN 2003 được ban hành thay thế LuậtDNNN 1995 là kết quả tất yếu của những yêu cầu đòi hỏi khách quan đó
Theo quy định tại Điều 1 Luật DNNN 2003: Doanh nghiệp nhà nước
là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần,vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổphần, công ty trách nhiệm hữu hạn
Như vậy, tiêu chí quyền sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp đãđược xem xét linh hoạt trong mối quan hệ với tiêu chí quyền kiểm soát doanhnghiệp của Nhà nước, theo quy định tại Điều 3, tỷ lệ này là từ 50% vốn điều
lệ của doanh nghiệp trở lên Tuy vẫn còn những quan điểm cho rằng có sự bất
Trang 9hợp lý trong khái niệm DNNN của pháp luật hiện hành, nhưng nhìn chungkhái niệm DNNN của chúng ta có nội dung cơ bản tương đồng với quan niệmDNNN của nhiều quốc gia và các tổ chức kinh tế quốc tế Quy định đó đã tạođiều kiện thuận lợi cho sự phát triển đa dạng các loại hình DNNN, cho côngtác quản lý đối với DNNN và phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, DNNN đã và đang thể hiện vai tròquan trọng ở các nội dung như sau:
Thứ nhất, DNNN đang nắm giữ những ngành, những lĩnh vực then
chốt có tính huyết mạch đối với sự phát triển của nền kinh tế như tài chínhtiền tệ, bưu chính viễn thông, năng lượng, dầu khí, công nghiệp quốc phòng,công nghiệp khai khoáng Hiệu quả hoạt động của DNNN có ý nghĩa quyếtđịnh đối với việc ổn định và phát triển kinh tế của đất nước, trực tiếp ảnhhưởng đến hiệu quả khai thác, sử dụng các nguồn lực về tài nguyên và cácnguồn lực quan trọng khác của nền kinh tế
Thứ hai, DNNN đang là một nguồn lực to lớn và quan trọng tạo ra sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hộinói chung và nhu cầu của sản xuất kinh doanh trong nước Trong suốt thập kỷ 90của thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, DNNN luôn đóng góp một tỷtrọng lớn vào tổng sản phẩm trong nước (chiếm từ 36% đến 40% GDP), đónggóp trong tổng thu ngân sách tới hơn 50% (2003: 60%) và chiếm đến hơn 50%kim ngạch xuất khẩu [35, tr 104]
Với tiềm lực vượt trội về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực, DNNNđang là lực lượng xung kích đảm đương nhiệm vụ thực hiện công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, là lực lượng đi đầu trong ứng dụng khoa học kỹ thuậttiên tiến, đổi mới công nghệ, đảm đương các nhiệm vụ nặng nề như xây dựng
cơ sở hạ tầng, phát triển các ngành sản xuất đòi hỏi có vốn đầu tư lớn, chu kỳthu hồi vốn dài mà với thực lực hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân khó cóthể đảm đương được
Trang 10Thứ ba, DNNN là một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước
thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế, khắc phục những khuyết tật của kinh tếthị trường, đảm bảo phát triển bền vững nền kinh tế theo định hướng XHCN,DNNN còn là công cụ quan trọng để Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hộinhư cung cấp dịch vụ công ích, giải quyết việc làm, hỗ trợ phát triển kinh tế
và đời sống của nhân dân các vùng, miền có điều kiện sản xuất và sinh hoạtkhó khăn, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền góp phần xóa đói giảmnghèo Ngoài ra, trong điều kiện một đất nước phải chịu những hậu quả nặng
nề của chiến tranh, nền kinh tế có xuất phát điểm thấp cả về cơ sở vật chất vànguồn nhân lực, phải đương đầu với những thách thức lớn của hội nhập kinh
tế quốc tế, DNNN đang đóng vai trò là đối tác chính trong các mối quan hệliên doanh, liên kết kinh tế quốc tế, gánh vác trách nhiệm nặng nề là góp phầnduy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Bên cạnh những thành tựu, những ưu điểm đó, DNNN của chúng tavẫn còn chứa đựng những tồn tại yếu kém, đó là:
Một là, về quy mô vốn
Vốn bình quân của một doanh nghiệp chỉ có 45 tỷ đồng,trong đó vốn lưu động chưa đầy 10 tỷ nhưng phần lớn lại tập trungvào các tổng công ty lớn như dầu khí, xi măng, xăng dầu, hàngkhông, hàng hải, đường sắt, điện lực Vì vậy còn tới 47% doanhnghiệp nhà nước có vốn dưới 5 tỷ đồng (VNĐ) trên một doanhnghiệp [41, tr 820]
Với nguồn lực về vốn như nêu trên, các doanh nghiệp không đủ khảnăng để thực hiện đổi mới công nghệ sản xuất - một yếu tố có tính chất quyếtđịnh đến vấn đề nâng cao năng suất lao động, đa dạng hóa sản phẩm
Hai là, về khoa học - công nghệ.
Hơn 50% số tài sản cố định của các doanh nghiệp nhà nước
đã sử dụng trên 20 năm Nhiều doanh nghiệp nhà nước còn sử
Trang 11dụng công nghệ sản xuất cũ từ những năm 1960 - 1970 Số muasắm sau năm 1990 chỉ chiếm 10%, chỉ có 3% số dây chuyền sảnxuất được hiện đại hóa, còn lại là ở trình độ thủ công và trình độ cơkhí, hiện tại có 38% tải sản cố định chờ thanh lý [35, tr 107].
Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên viên cao cấp của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư, có đến 47% trong tổng số hơn 160.000 doanh nghiệp đang hoạt động
ở Việt Nam không quan tâm đến đổi mới công nghệ, không hề có chiến lượcdài hạn, không phân tích thị trường, không hề biết đối thủ cạnh tranh (theoBáo Đầu tư, ngày 5, 7/1/2005) Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếudẫn tới tình trạng giá thành sản phẩm của DNNN thường cao hơn giá thành sảnphẩm của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, tỷ suất lợi nhuậntrên vốn của DNNN là rất thấp, hạn chế khả năng tích lũy cho việc tái đầu tư
Ba là, về vấn đề quản trị doanh nghiệp
Theo Giáo sư Nguyễn Văn Thường:
Chúng ta vẫn còn lúng túng trong việc xác định loại hìnhpháp lý phù hợp để "chứa đựng" doanh nghiệp 100% sở hữu nhànước bởi quản trị doanh nghiệp 100% vốn nhà nước không đượcthiết kế trên những nguyên tắc và thông lệ đã được quốc tế thừanhận Vừa thiếu giám sát đối với người quản lý, người thực hiệnquyền sở hữu và những người có liên quan của họ; vừa gò bó áp đặtkhông phù hợp đẩy họ vào thế "thủ thân" hơn là phát huy sáng tạo,sáng kiến và dám chấp nhận rủi ro trong kinh doanh [88, tr 217].Một điều dễ nhận thấy là chưa có sự tương thích giữa lợi ích cá nhânxuất phát từ vai trò quản lý điều hành doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động củadoanh nghiệp, do đó năng lực quản trị doanh nghiệp không được khuyếnkhích phát huy và kéo theo một tình trạng phổ biến ở các DNNN, đó là buônglỏng công tác quản lý lao động, sử dụng tuyển chọn lao động xuất phát từquan hệ tình cảm, nể nang mà không xuất phát từ yêu cầu của sản xuất, kinh
Trang 12doanh, dẫn đến tính kỷ luật, tính sáng tạo của người lao động trong cácDNNN là không cao, không được phát huy.
Ngoài các nguyên nhân nêu trên, trong quản lý nhà nước đối với DNNNchúng ta chưa có được cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp thực sự linh hoạt và khoa học Vẫn còn sự chi phối tác động mang tínhmệnh lệnh hành chính đối với hoạt động của doanh nghiệp, vấn đề ưu đãi, bảo
hộ, độc quyền trong kinh doanh dành cho các DNNN ở một mức độ nào đócũng là tác nhân hạn chế năng lực cạnh tranh thực sự của doanh nghiệp
Để xây dựng đất nước vững mạnh về mọi mặt thì nhiệm vụ phát triểnkinh tế phải đặt lên hàng đầu là yếu tố có tính chất quyết định Để giữ vữngđịnh hướng XHCN, việc duy trì phát triển khu vực kinh tế nhà nước trong đó
có hệ thống DNNN là yêu cầu có tính khách quan Với vai trò và thực trạngcủa DNNN trong những năm qua, việc sắp xếp đổi mới hệ thống DNNN trong
đó có giải pháp CPH DNNN là một nhiệm vụ, một đòi hỏi khách quan củacông cuộc đổi mới và xây dựng đất nước
1.1.1.2 Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Chúng ta rất dễ nhận thấy khái niệm CPH là một khái niệm phái sinh
từ khái niệm cổ phần - một khái niệm hình thành gắn liền với sự ra đời củamột loại hình doanh nghiệp, đó là công ty cổ phần
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có vốn do nhiều chủ sở hữugóp chung Các chủ sở hữu góp vốn vào công ty cổ phần gọi là cổ đông, vốncủa công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Phần vốngóp của một cổ phần - tương ứng với một lượng đơn vị tiền tệ nhất định -
được gọi là mệnh giá cổ phần Trong luận án tiến sĩ luật học về đề tài "Quản
lý nhà nước bằng pháp luật đối với công ty cổ phần ở Việt Nam", tác giả
Nguyễn Thanh Bình đã nêu khái niệm công ty cổ phần như sau:
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp thuộc công ty đốivốn Vốn của công ty cổ phần được chia thành những phần bằng
Trang 13nhau gọi là cổ phần và được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Việcgóp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu Các
cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trongphạm vi giá trị cổ phiếu mà họ sở hữu Công ty cổ phần có tư cáchpháp nhân độc lập, mang tính tổ chức cao, có cấu trúc vốn phức tạp.Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chứng đểhuy động vốn [5, tr 13-14]
So sánh với các loại hình doanh nghiệp khác như công ty hợp doanh,công ty trách nhiệm hữu hạn công ty cổ phần có những ưu điểm có tínhvượt trội đó là:
Thứ nhất, công ty cổ phần có khả năng huy động vốn, điều chỉnh cơ
cấu vốn - tài chính linh hoạt có được từ quyền phát hành chứng khoán huyđộng vốn của công ty và quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của các cổđông Đây là ưu điểm cho phép công ty cổ phần có thể huy động vốn ở mộtphạm vi chủ thể đầu tư rộng lớn và đa dạng, có thể huy động vốn từ nhữngnguồn nhỏ lẻ, thậm chí chỉ bằng mệnh giá cổ phần - rất phù hợp và thuận lợi chocác doanh nghiệp hoạt động trong các nền kinh tế có nhiều nguồn lực nhỏ lẻphân tán như ở nước ta Ưu điểm này cũng cho phép các công ty cổ phần cóthể điều chỉnh cơ cấu vốn, cơ cấu sở hữu vốn giữa các cổ đông một cách linhhoạt theo cơ chế thị trường mà không gây ảnh hưởng đến hoạt động bìnhthường của công ty
Thứ hai, công ty cổ phần có nguyên tắc tổ chức và hoạt động nội tại
theo cơ chế của "nền dân chủ cổ phần" Quyền biểu quyết, lợi ích vật chất vàtrách nhiệm của cổ đông được qui định bởi số cổ phần mà cổ đông đó sở hữutheo nguyên tắc mỗi cổ phần cùng loại có quyền biểu quyết, được hưởng lợitức cũng như chịu trách nhiệm rủi ro như nhau đối với các vấn đề về tổ chức
và hoạt động của công ty cổ phần Việc quyết định các vấn đề quan trọng đốivới sự tồn tại, phát triển của công ty, việc thiết lập cơ quan quản lý công ty
Trang 14(Hội đồng quản trị) và cơ quan giám sát của công ty (Ban kiểm soát), đều doĐại hội đồng cổ đông - cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty -quyết định trên cơ sở quyền tự do ý chí, tự do lựa chọn của các cổ đông thôngqua hình thức biểu quyết theo phiếu, tương ứng với số cổ phần mà họ sở hữu.
Trong công ty cổ phần, quyền điều hành công việc kinh doanh củacông ty được tập trung cao cho Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, do đó tính độclập tự chủ trong điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của họ là rất cao.Hoạt động quản lý điều hành công ty cũng được đặt trong cơ chế giám sátchặt chẽ của các cổ đông xuất phát từ động cơ bảo vệ lợi ích của họ, giám sátcủa Đại hội đồng cổ đông, của Hội đồng quản trị, của Ban kiểm soát theo quiđịnh của pháp luật và điều lệ của công ty Yêu cầu về sự công khai, minhbạch về tài chính của công ty cổ phần luôn được các cổ đông đòi hỏi ở mức
độ cao, do đó thường được thực hiện tốt Những ưu điểm nêu trên chính làtiền đề cho việc hình thành một giải pháp cải cách hệ thống DNNN được rấtnhiều quốc gia áp dụng đó là CPH DNNN
Quay trở lại vấn đề DNNN, trong quá trình tồn tại và phát triển, DNNN
ở các nước nói chung và ở nước ta đều bộc lộ những nhược điểm cơ bản, đó
là hiệu quả kinh doanh thấp, sản phẩm hàng hóa dịch vụ của DNNN thiếu sứccạnh tranh Trong nhiều trường hợp, DNNN trở thành phương tiện cho các cánhân thực hiện các hành vi tham nhũng, vi phạm pháp luật
Nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hạn chế yếu kém của DNNN là
do cơ chế quản lý nhà nước đối với hệ thống DNNN và cơ chế vận động nộitại của DNNN như đã nêu ở phần trên
Đứng trước thực trạng hạn chế yếu kém của các DNNN, cải cách, đổimới hệ thống DNNN là một yêu cầu, một xu thế tất yếu đặt ra đối với mỗiquốc gia Với những ưu điểm vốn có về khả năng điều chỉnh cơ cấu vốn, cơcấu sở hữu vốn và cơ chế giám sát của mình, công ty cổ phần là hình thứcpháp lý được lựa chọn để chuyển đổi hình thức pháp lý của DNNN nhằm hạn
Trang 15chế những yếu kém trong quản lý, điều hành hoạt động của DNNN và đặcbiệt là để khắc phục trạng thái "vô chủ" của DNNN Quá trình này được thựchiện bằng biện pháp DNNN phát hành cổ phần ra công chúng, bán một tỷ lệnhất định vốn Nhà nước tại DNNN cho các chủ đầu tư khác, đồng thời DNNN
đó được đăng ký thành lập và hoạt động dưới hình thức pháp lý mới đó làcông ty cổ phần, toàn bộ quá trình đó được gọi là cổ phần DNNN
Như vậy, CPH DNNN là giải pháp đổi mới DNNN được thực hiện
bằng hình thức DNNN phát hành cổ phần để bán một tỷ lệ vốn nhà nước tại DNNN cho các chủ đầu tư, nhằm chuyển đổi DNNN từ doanh nghiệp một chủ
sở hữu (sở hữu nhà nước) thành doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần.
Ở nước ta, cải cách DNNN luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, trởthành một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Trải quahơn 15 năm thực hiện, cơ sở pháp lý cho hoạt động CPH luôn được nghiêncứu, điều chỉnh và ngày càng được hoàn thiện Sau khi Luật DNNN 2003được ban hành qui định hình thức duy nhất của DNNN là các loại hình công tybao gồm: Công ty nhà nước; công ty cổ phần; công ty trách nhiệm hữu hạn.Chính phủ đã ban hành Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 vềviệc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần (thay thế Nghị định số64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 về việc chuyển DNNN thành công ty cổphần), đây là văn bản pháp luật qui định cụ thể trình tự thủ tục về CPHDNNN có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống các văn bản pháp luật vềCPH DNNN ở nước ta hiện nay
Theo qui định tại Điều 1 Nghị định 187/2004/NĐ-CP: CPH DNNN làviệc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần
- Đối tượng CPH là các DNNN không thuộc diện Nhà nước cần nắmgiữ 100% vốn
- Mục tiêu của việc CPH DNNN bao gồm:
Trang 16+ Chuyển DNNN sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu.+ Huy động vốn của cá nhân tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong vàngoài nước để tăng năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phươngthức quản lý, nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
+ Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc vừa bántoàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp vừa phát hành thêm cổ phiếu
để thu hút vốn
1.1.1.3 Đặc điểm của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Dưới góc độ kinh tế: CPH DNNN là giải pháp chuyển đổi sở hữu, đa
dạng hóa sở hữu đối với tài sản doanh nghiệp mà cụ thể hơn là tạo nên nhữngchủ sở hữu thực sự đối với tài sản đang thuộc sự quản lý của DNNN Sự thayđổi về cơ cấu sở hữu trong CPH DNNN là tiền đề cho những thay đổi về cơchế quản lý, giám sát, điều hành doanh nghiệp
Dưới góc độ pháp lý: CPH DNNN là việc thay đổi hình thức pháp lý
của doanh nghiệp từ công ty nhà nước, tổng công ty nhà nước chuyển thànhcông ty cổ phần, hệ quả tất yếu của sự thay đổi nay là sự thay thế cơ chế quản
Trang 17lý nhà nước đối với DNNN; cơ chế quản lý, điều hành, giám sát, nội tại củadoanh nghiệp theo Luật DNNN bằng các cơ chế tương ứng theo qui định củaLuật doanh nghiệp đối với công ty cổ phần.
Căn cứ vào tính chất, vai trò, cách thức của các chủ thể tham gia vàoquá trình CPH DNNN, CPH DNNN là một hiện tượng kinh tế pháp lý có cácđặc điểm chủ yếu như sau:
Thứ nhất, CPH DNNN là hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực
kinh tế
Nội dung quản lý nhà nước trong CPH bao gồm:
- Việc ban hành các văn bản qui phạm pháp luật qui định cơ chế,chính sách về CPH, trình tự thủ tục, nội dung CPH, tạo cơ sở pháp lý cho việcthực hiện CPH DNNN; xây dựng các chương trình kế hoạch CPH DNNN
- Tổ chức thực hiện các chương trình kế hoạch CPH DNNN, các quiđịnh của pháp luật về CPH đã được ban hành
- Kiểm tra, giám sát đối với hoạt động chấp hành pháp luật của các chủthể tham gia quá trình CPH và xử lý các vi phạm pháp luật về CPH DNNN
Thứ hai, CPH DNNN là hoạt động định đoạt tài sản thuộc sở hữu
toàn dân
Theo qui định tại Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10ngày 25/12/2001) "vốn, tài sản do Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp là tàisản thuộc sở hữu toàn dân" Chính phủ thực hiện chức năng chủ sở hữu phầnvốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo qui định của luật tổ chứcChính phủ Trong quá trình CPH DNNN, dù thực hiện theo hình thức bán mộtphần vốn nhà nước hay giữ nguyên vốn nhà nước phát hành cổ phiếu để thuhút vốn đầu tư, DNNN CPH đều phải phát hành cổ phiếu, bán cổ phần cho các
Trang 18chủ sở hữu khác, thông qua các giao dịch này tỷ trọng vốn thuộc sở hữu nhànước trong tổng số vốn và tài sản hiện có tại DNNN CPH giảm xuống, đồngthời xác lập quyền sở hữu đối với một tỷ lệ nhất định tiền vốn tài sản hiện cótại doanh nghiệp CPH cho người mua cổ phần, tương ứng với số cổ phần đãmua được.
Như vậy trong quá trình CPH DNNN, tài sản thuộc sở hữu toàn dântồn tại dưới hình thức vốn, tài sản do DNNN quản lý được định đoạt bằnghình thức bán cổ phần do doanh nghiệp phát hành ra công chúng
Thứ ba, CPH DNNN là hoạt động tham gia đầu tư của các chủ thể có
1.1.2.1 Khái quát về dân chủ
Dân chủ là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm, cùng với sựtồn tại và phát triển của đời sống xã hội, dân chủ được đặt ra như một nhu cầu
xã hội ngày càng cấp bách Trong xã hội hiện đại vấn đề dân chủ được đề cậpđến ở hầu hết các phạm vi, các lĩnh vực và đã trở thành vấn đề có tính chấttoàn cầu Dân chủ được xem như là cơ sở đánh giá bản chất của một Nhànước, của một chế độ xã hội, đánh giá sự lành mạnh của môi trường xã hội, làthước đo của tiến bộ xã hội, yêu cầu mở rộng thực thi dân chủ có lúc được đặt
ra như một áp lực có tính chất quốc tế trong quan hệ giữa các quốc gia
Trang 19Theo tiếng Hy Lạp cổ, "dân chủ" là Demoscratos - được lập thành bởihai từ: Demos (Dân chúng) và Cratos (quyền lực) Như vậy, theo nguyên nghĩacủa từ, dân chủ là quyền lực của nhân dân hay quyền lực thuộc về nhân dân
Với ý nghĩa là quyền lực của nhân dân, quyền lực trong nội dung dânchủ có các đặc điểm:
Thứ nhất, chủ thể của quyền lực là nhân dân.
Nhân dân ở đây, theo chúng tôi là khái niệm dùng để chỉ một tập hợpcác cá thể con người, tồn tại và hoạt động tạo thành một chỉnh thể thống nhấtvới những biểu hiện đa dạng về các mặt tự nhiên, xã hội vốn có của đời sống
xã hội loài người Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, không thểchấp nhận một khái niệm nhân dân nếu loại khỏi nội hàm của nó một bộ phận
đa số là những người lao động đang hằng ngày lao động sản xuất, trực tiếp tạo
ra của cải vật chất đảm bảo cho sự tồn tại của đời sống xã hội Cũng khôngthể gọi là nhân dân với một tập hợp cá thể hình thành bởi một lý do riêng biệt(thể thao, giải trí, ẩm thực ) hoặc ở một lĩnh vực hoạt động riêng biệt (nhưvăn học, nghiên cứu khoa học, kinh doanh ) mà biểu hiện của nó hoàn toànphiến diện so với tính đa dạng, toàn diện về các mặt của đời sống xã hội
Thứ hai, sức mạnh của quyền lực đó là sức mạnh của nhân dân.
Sức mạnh của nhân dân có thể được hiểu là sức mạnh có được từ khảnăng cùng tiến hành hoạt động của tất cả các cá thể nhân dân, là sức mạnh củacác thiết chế do nhân dân tổ chức nên hoặc sức mạnh từ các thiết chế hiện cóphù hợp với ý chí của nhân dân và nhân dân có thể điều chỉnh, quy định, địnhhướng được sự phát tác của nó
Thứ ba, ý chí quy định, điều khiển sức mạnh quyền lực đó là ý chí của
nhân dân
Ý chí của nhân dân ở đây không thể là gì khác hơn là nội dung có được
từ sự thống nhất nội dung ý chí của các cá thể nhân dân chiếm đa số hoặc
Trang 20tuyệt đại bộ phận nhân dân trong xã hội, ý chí đó được hình thành trong cáclĩnh vực, các phạm vi của đời sống xã hội với ý nghĩa là mong muốn, nguyệnvọng của nhân dân để giải quyết các vấn đề thực tiễn Ý chí của nhân dân với
ý nghĩa là một bộ phận của phạm trù ý thức luôn được quy định bởi các điềukiện kinh tế - xã hội cụ thể trong một xã hội cụ thể
Trong mỗi chế độ xã hội đã và đang tồn tại, sự thống nhất hay đối lập
về ý chí giữa các cá nhân, các nhóm, các tầng lớp, các giai cấp, giữa ý chí củamột bộ phận thiểu số nhân dân với ý chí của đa số nhân dân trong xã hội làmột thực tế khách quan Sự đối lập về ý chí đó và quá trình hiện thực hóa các
ý chí đối lập là nguyên nhân nội tại duy nhất dẫn đến những rối loạn trật tự xãhội Là quyền lực của nhân dân, quyền lực trong nội dung dân chủ phải làcông cụ hiện thực hóa ý chí của nhân dân, là công cụ đàn áp ý chí của các cánhân, các nhóm thiểu số là bộ phận trong nhân dân (với ý nghĩa là cái duynhất đối lập với ý chí của nhân dân)
Như vậy, quyền lực của nhân dân ở đây không phải là quyền lực tựnhiên hay bất kỳ một loại hình quyền lực nào khác tách rời khỏi yếu tố nhândân, quyền lực đó phải bao trùm toàn bộ xã hội với ý nghĩa là giới hạn thực tếcủa khái niệm nhân dân cụ thể Quyền lực đó phải bao quát được mọi mặt,mọi lĩnh vực, mọi phạm vi của đời sống xã hội mà ở đó có sự xuất hiện, sựđòi hỏi, một nội dung, một mục tiêu nào đó theo ý chí của nhân dân; quyềnlực đó được sử dụng để trực tiếp duy trì trật tự xã hội, quyền lực đó là quyềnlực công (quyền lực xã hội) trong xã hội chưa có nhà nước, là quyền lực nhànước trong xã hội có nhà nước
Trong quan điểm của các nhà sáng lập của chủ nghĩa Mác - Lênin, quyềnlực nhà nước, ý chí của nhân dân được xem xét, được xác định là những yếu
tố cấu thành cơ bản của dân chủ, quan điểm đó được biểu hiện ở các nội dungsau:
Trang 21Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, theo quan điểm của
C.Mác và Ph.Ăngghen: Để trở thành giai cấp thống trị với ý nghĩa trực tiếp làgiành lấy dân chủ, "giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chínhquyền, phải tự vươn lên trở thành giai cấp dân tộc" [66, tr 623]
Vị trí, vai trò quyết định của ý chí của nhân dân trong vấn đề dân chủcũng được V.I Lênin nhấn mạnh một cách đặc biệt khi Người bàn về vấn đềthiết lập chính quyền Xô viết:
Dân chủ là sự thống trị của đa số chừng nào mà ý chí của đa
số vẫn còn mờ tối, chừng nào mà vẫn có thể, dù chỉ là hơi giốngnhư thế thôi cho ý chí đó là còn mờ tối thì chừng đó người ta vẫncòn đưa ra cho nhân dân một chính phủ của bọn tư sản phản cáchmạng dưới chiêu bài chính phủ "dân chủ" Nhưng tình trạng đókhông thể kéo dài được Trong vài tháng đã trôi qua kể từ ngày 27/2trở đi, ý chí của đa số công nhân và nông dân, tức là của tuyệt đại
đa số dân cư trong nước, đã thể hiện ra rõ rệt, nhưng không phải chỉdưới một hình thức chung chung mà thôi, ý chí đó đã biểu hiệntrong các tổ chức có tính chất quần chúng - các Xô-viết đại biểu,công nhân binh sĩ và nông dân Vậy làm sao người ta lại có thể phảnđối việc chuyển toàn bộ chính quyền nhà nước về tay các xô viết ấyđược? Như thế không có nghĩa khác hơn là từ bỏ dân chủ [28, tr.515-516]
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân chủ chỉ cóthể có được khi quyền lực nhà nước được đặt vào các thiết chế đại diện cho ýchí của nhân dân, hay nói khác hơn, quyền lực nhà nước được thực hiện trên
cơ sở ý chí của nhân dân
Là quyền lực của nhân dân, quyền lực nhà nước phải phục tùng ý chícủa nhân dân, thực hiện nội dung ý chí của nhân dân Các nội dung, yêu cầu,
Trang 22mệnh lệnh của ý chí nhân dân có tính chất bắt buộc nhà nước phải chấp hành
và bằng quyền lực của mình buộc các chủ thể khác phải chấp hành Với ý
nghĩa đó, trong một chế độ dân chủ, ý chí của nhân dân là tối thượng Nội
dung ý chí của nhân dân chính là nội dung dân chủ và như vậy thực hiện dân chủ là thực hiện các nội dung dân chủ, thực hiện các nội dung ý chí nhân dân trong thực tiễn.
Để thực hiện dân chủ, nhân dân với ý nghĩa là các nhân tố hiện thựccấu thành nên nó, là tập hợp các cá thể công dân trong xã hội có thể cùngnhau bộc lộ ý kiến xác lập nội dung ý chí, xác lập nội dung dân chủ và thựchiện các nội dung đó Phương thức thực hiện dân chủ như trên được gọi làdân chủ trực tiếp
Trong xã hội có nhà nước, một trong những phương thức thực hiệndân chủ quan trọng là dân chủ đại diện, đó là phương thức xác lập ý chí củanhân dân, xác lập nội dung dân chủ bởi các đại biểu của nhân dân trong các
cơ quan dân cử "Ý chí của nhân dân" ở đây thực chất là ý chí của đa số đạibiểu của nhân dân trong cơ quan lập pháp, trong nhiều trường hợp được ủyquyền "ý chí của nhân dân" ở đây còn là ý chí của một cá nhân, hoặc một tậpthể, trong các cơ quan nhà nước mà chủ yếu là trong các cơ quan hành pháp.Các nội dung ý chí đó được thể chế hóa thành các quy định của pháp luật,các chính sách (kinh tế, xã hội, quốc phòng, đối ngoại ), các quyết định cụthể của nhà nước để điều chỉnh, tác động đến các hoạt động của các chủ thểtrong xã hội
Với đặc điểm của sự đại diện về ý chí, trong trường hợp các đại biểucủa nhân dân thực sự tôn trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến nhân dân, nắm bắtđược ý chí của nhân dân, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ họ thực sự đạidiện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân, ý chí của cơ quan đại diện nhândân hoặc của các cơ quan được ủy quyền thực sự thống nhất với ý chí của
Trang 23nhân dân, thực sự là nội dung dân chủ thì "dân chủ đại diện" mới thực sự làmột phương thức thực hiện dân chủ.
Với tư cách là chủ thể của quyền lực, nội dung ý chí nhân dân - nộidung dân chủ - là sự định hướng, quy định, yêu cầu đặt ra đối với hoạt độngcủa các chủ thể hiện đang tồn tại và hoạt động trong xã hội Đó là sự cho phéptiến hành các hoạt động (quyền), yêu cầu thực hiện hoặc cấm thực hiện cáchoạt động (nghĩa vụ, trách nhiệm), của các chủ thể, để đảm bảo cho sự vậnđộng có trật tự của xã hội, đảm bảo cho sự phát triển tốt nhất của mỗi côngdân và của toàn xã hội Chính vì vậy, theo tác giả có thể phân chia nội dungdân chủ theo các nhóm, gắn liền với tính tương đồng của nhóm chủ thể là đốitượng tác động bởi quyền lực của nhân dân cụ thể như sau:
Thứ nhất, các nội dung dân chủ đối với các chủ thể nhà nước
- Nội dung dân chủ ở đây là các cơ chế dân chủ trong việc thiết lập,thực thi quyền lực nhà nước, các nguyên tắc dân chủ trong tổ chức và hoạtđộng của bộ máy nhà nước như cơ chế bầu cử, cơ chế kiểm tra, giám sát hoạtđộng của các cơ quan nhà nước, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắcthiểu số phục tùng đa số, nguyên tắc công khai minh bạch
- Một nội dung dân chủ về vấn đề nhà nước có ý nghĩa thực tiễn hếtsức quan trọng đó là: nội dung, phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơquan nhà nước với tư cách là đại diện thực thi quyền lực của nhân dân và đạidiện ủy quyền của nhân dân tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốcphòng, đối ngoại, xuất phát từ đặc điểm đa dạng luôn chuyển biến, thay đổi,phát sinh của các vấn đề thực tiễn, nội dung dân chủ ở đây thường thể hiệndưới dạng cơ chế thực hiện, cơ chế kiểm tra giám sát; giới hạn nội dung,phạm vi quyền hạn, trách nhiệm và xác lập các mục tiêu tổng thể đối với các
cơ quan, tổ chức nhà nước thừa hành Như vậy yêu cầu của dân chủ ở đây là
Trang 24các chính sách, giải pháp, quyết định được ban hành cần có sự tham gia ýkiến của nhân dân, phải tính đến lợi ích của nhân dân Mọi chính sách giảipháp có nội dung chưa phù hợp, hoặc tạo sơ hở nhằm đem lại lợi ích cục bộcho ngành, cho địa phương, cho một nhóm cá nhân, gây thiệt hại đến lợi íchcủa nhân dân, đều là những chính sách, giải pháp vi phạm dân chủ.
Thứ hai, nội dung dân chủ đối với công dân
Cần phải khẳng định rằng, công dân với ý nghĩa là những nhân tố hiệnthực của chủ thể trừu tượng là nhân dân, là trung tâm của vấn đề dân chủ.Đem lại lợi ích tốt nhất cho mọi công dân, đem lại điều kiện sống hoạt động
và phát triển tốt nhất cho mọi công dân là mục tiêu của dân chủ, đồng thời khimỗi công dân có được những điều kiện sống, hoạt động và phát triển tốt nhất,
sẽ tạo ra động lực to lớn của dân chủ cho sự phát triển của xã hội
Nội dung dân chủ đối với công dân là toàn bộ nội dung ý chí của nhândân về việc xác lập địa vị chủ thể của mỗi người dân trong xã hội, nhằm tạocho mỗi người dân vị thế của người làm chủ xã hội, làm chủ đất nước
Thực hiện dân chủ ở nội dung này đòi hỏi Nhà nước bằng pháp luậtthể chế hóa các nội dung dân chủ, xác lập cho mỗi công dân hệ thống cácquyền năng như nhau (sự bình đẳng về quyền), đảm bảo cho mỗi công dânđều có thể tiến hành các hoạt động độc lập theo ý chí của mình, trên các lĩnhvực của đời sống xã hội, phù hợp với năng lực thực tế của họ, đồng thời tạođiều kiện để mỗi công dân phát huy tối đa khả năng về thể chất, trí tuệ và cáctiềm lực của họ trong hoạt động thực tiễn, đem lại lợi ích vật chất và tinh thầncho bản thân và cho toàn xã hội Đảm bảo cho mỗi công dân được bảo vệ, đượchưởng những thành quả, lợi ích, có được do hoạt động của bản thân hoặc doNhà nước, xã hội đem lại Cùng với việc xác lập các quyền, Nhà nước cũngxác lập cho mỗi công dân các nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền của các chủthể khác, nhằm đảm bảo cho mỗi công dân có thể thực hiện các quyền đó trên
Trang 25thực tế, mà không bị các chủ thể khác (kể cả Nhà nước) ngăn cản, cấm đoán.Các quyền đó là cơ sở pháp lý để mỗi công dân tham gia vào các quan hệ xãhội, là cơ sở pháp lý tạo lập vị thế làm chủ xã hội của mỗi công dân, cácquyền đó được gọi là quyền dân chủ.
Trong mỗi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, mỗi công dân cócác quyền dân chủ cụ thể Có thể nêu một số quyền dân chủ cơ bản của nhândân ta trong một số lĩnh vực chủ yếu sau đây:
- Các quyền dân chủ trong lĩnh vực chính trị
Đó là các quyền cho phép công dân tham gia trực tiếp hoặc gián tiếpvào các hoạt động thiết lập quyền lực nhà nước, thực thi quyền lực nhà nước,kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và các quyền khác củacông dân liên quan trực tiếp đến vấn đề quyền lực nhà nước Cụ thể như: quyềnbầu cử, quyền ứng cử, quyền có quốc tịch, quyền thông tin, quyền khiếu nại
tố cáo, quyền chất vấn đối với đại biểu của cơ quan dân cử
- Các quyền dân chủ trong lĩnh vực kinh tế
Đó là các quyền cho phép công dân được trực tiếp tiến hành các hoạtđộng sản xuất kinh doanh, các hoạt động thương mại, nhằm mục đích thu lợinhuận cụ thể như: quyền kinh doanh, quyền sở hữu tư liệu sản xuất, quyềnđược lao động, quyền sử dụng lao động, quyền được hưởng thu nhập, các lợiích có được từ hoạt động sản xuất kinh doanh
- Quyền dân chủ trong lĩnh vực văn hóa xã hội
Đó là các quyền cho phép nhân dân được tham gia vào các lĩnh vựcvăn hóa - xã hội như: quyền học tập, quyền sáng tác văn học, nghệ thuật;quyền thưởng thức, phổ biến các giá trị văn hóa, quyền tham gia các hoạtđộng từ thiện xã hội, cứu trợ xã hội, quyền được đảm bảo các điều kiện vật
Trang 26chất, thu nhập thiết yếu cho cuộc sống, quyền được hưởng lợi ích vật chất từcác nguồn phúc lợi xã hội
Thứ ba, nội dung dân chủ đối với các chủ thể khác
Ngoài hai chủ thể cơ bản trong xã hội và là Nhà nước và công dân, cácchủ thể còn lại chủ yếu là chủ thể phái sinh từ hai chủ thể trên Đó là các phápnhân, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, các tổchức xã hội nghề nghiệp, các hội, hiệp hội do Nhà nước thành lập hoặc thừanhận hoặc do công dân tổ chức nên
Nội dung dân chủ chỉ đặt ra với các tổ chức này khi hoạt động của nóảnh hưởng đáng kể đến quyền làm chủ của nhân dân, ảnh hưởng đến lợi íchcủa nhân dân và trật tự của đời sống xã hội như: các doanh nghiệp; tổ chứccông đoàn; các pháp nhân sự nghiệp Nội dung dân chủ ở đây là các quyền
và nghĩa vụ trong tổ chức và hoạt động của các chủ thể này do pháp luật quiđịnh trên cơ sở ý chí của nhân dân, nhằm đảm bảo cho hoạt động của các chủthể này đem lại lợi ích cho nhân dân, hoặc không xâm phạm các quyền và lợiích hợp pháp của công dân và các chủ thể khác
1.1.2.2 Nội dung và yêu cầu dân chủ trong cổ phần hóa DNNN
Trong mỗi một lĩnh vực, một phạm vi cụ thể của đời sống xã hội đều
có những nội dung dân chủ và những yêu cầu dân chủ cụ thể, nội dung dânchủ ở đó bao gồm những nội dung ý chí của nhân dân đã được Nhà nước thểchế hóa thành pháp luật, thành các chính sách, biện pháp cụ thể để giải quyếtcác vấn đề thực tiễn, để điều chỉnh hoạt động của các chủ thể tham gia vàocác lĩnh vực các phạm vi hoạt động đó, nội dung dân chủ ở đó còn là các nộidung ý chí nhân dân mới hình thành, nhằm định hướng, chỉ đạo hoạt động củacác chủ thể đó theo những cách thức nhất định, để đạt được các mục tiêu cụthể Như vậy trong mỗi một lĩnh vực hoạt động, yêu cầu dân chủ là việc Nhànước phải kịp thời thể chế hóa các nội dung ý chí của nhân dân phát sinh
Trang 27trong thực tiễn thành các qui định của pháp luật, để điều chỉnh hoạt động củacác chủ thể theo ý chí, nguyện vọng của nhân dân, phục vụ cho các mụcđích, yêu cầu của nhân dân, yêu cầu của dân chủ là việc Nhà nước phải kịpthời sửa đổi, loại bỏ các qui định của pháp luật, các chính sách quyết định đãban hành không còn phù hợp với ý chí của nhân dân không còn là sự chứađựng các nội dung dân chủ, yêu cầu của dân chủ còn là việc các chủ thểtham gia các hoạt động cụ thể trong một lĩnh vực phải chấp hành đầy đủ cácqui định của pháp luật đã ban hành.
Trong mỗi lĩnh vực, mỗi hoạt động cụ thể, nội dung và yêu cầu dânchủ luôn gắn liền với các mặt, các phương diện hoạt động của các chủ thể,gắn liền với tính chất, đặc điểm mục đích của các hoạt động cụ thể đó Đó lànhững nội dung, yêu cầu của nhân dân đặt ra trong việc xác lập nguyên tắc tổchức hoạt động, quyền hạn, trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của các chủthể tham gia vào hoạt động đó, xác lập các mục tiêu, các định hướng cho việctiến hành các hoạt động đó CPH DNNN là hoạt động kinh tế có sự tham giacủa chủ thể nhà nước và các chủ thể xã hội khác Dân chủ trong CPH DNNNtrước hết là dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, nội dung dân chủ trong CPH DNNNbao hàm cả vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước, thực thi quyền lực nhà nước
và thực hiện quyền dân chủ của công dân Nội dung và yêu cầu dân chủ trongCPH DNNN có thể được xem xét dưới các góc độ biểu hiện sau đây
- Nội dung và yêu cầu dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhà nước thực hiện nhiệm vụ cổ phần hóa DNNN
Nội dung dân chủ ở đây là các nguyên tắc, cơ chế dân chủ trong tổchức và hoạt động của các cơ quan tổ chức Nhà nước đã được thể chế hóatrong Hiến pháp và pháp luật, và là các nội dung yêu cầu của nhân dân đặt rađối với việc thành lập, tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhànước thực hiện nhiệm vụ CPH DNNN
Trang 28Các yêu cầu dân chủ đòi hỏi việc thành lập, tổ chức và hoạt động củacác cơ quan tổ chức Nhà nước phải phù hợp với các qui định của pháp luật,đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ CPH DNNN Các qui định về nhiệm vụ quyềnhạn của các cơ quan tổ chức này phải rõ ràng, cụ thể gắn quyền hạn với tráchnhiệm và được đặt trong sự kiểm tra giám sát có hiệu lực, hiệu quả, đảm bảocho quá trình thực hiện CPH DNNN đạt được các mục tiêu đã đề ra.
- Nội dung và yêu cầu dân chủ đối với việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân
Tiền vốn, tài sản Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp là tài sản thuộc
sở hữu toàn dân, đó là một nội dung dân chủ hết sức quan trọng, được Hiếnpháp, pháp luật ghi nhận và bảo vệ Yêu cầu dân chủ ở đây đòi hỏi các hoạt động
xử lý tài chính, kiểm kê, phân loại tài sản, xác định giá trị doanh nghiệp và bán
cổ phần phải được thực hiện chính xác, khách quan, công khai minh bạch theocác căn cứ và nguyên tắc của thị trường, phù hợp với các qui định của pháp luật,tránh tình trạng tiền vốn tài sản của Nhà nước bị thất thoát, bị thao túng giá bán,hoặc bị chiếm đoạt, nhằm đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu là nhân dân
- Các nội dung và yêu cầu dân chủ đối với các nhà đầu tư
Nội dung dân chủ ở đây là quyền tự do kinh doanh, tự do tham gia đầu
tư vốn mua cổ phần, quyền được đối xử bình đẳng giữa các chủ đầu tư, quyềnđược tiếp nhận thông tin về doanh nghiệp về bán cổ phần của các nhà đầu tưtham gia mua cổ phần của doanh nghiệp CPH, theo qui định của pháp luật
Yêu cầu dân chủ ở nội dung này đòi hỏi các tiêu chí xác định nhà đầu
tư chiến lược, các quy định về quyền được mua cổ phần ưu đãi phải kháchquan, công bằng và bình đẳng Các qui định về điều kiện, trình tự thủ tục mua
cổ phần phải nhanh gọn hợp lý, tránh gây phiền hà cản trở việc mua cổ phần củanhân dân Nội dung công khai thông tin về doanh nghiệp về bán cổ phần phảiđầy đủ, chính xác và trung thực để các nhà đầu tư có đủ cơ sở phân tích, lựachọn, quyết việc mua cổ phần
Trang 29- Nội dung và yêu cầu dân chủ đối với người lao động
Đó là yêu cầu đảm bảo một cách tốt nhất vấn đề việc làm cho ngườilao động Có chính sách phù hợp giải quyết thỏa đáng quyền lợi của người laođộng bị mất việc, thôi việc trong quá trình CPH Nội dung và yêu cầu dân chủđối với người lao động còn là việc thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn,dân làm, dân kiểm tra" trong CPH DNNN, đảm bảo cho người lao động cóthể tham gia bàn bạc, góp ý kiến, quyết định các vấn đề CPH DNNN và thựchiện quyền giám sát đối với các chủ thể nhà nước trong quá trình CPHDNNN
1.2 PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO DÂN CHỦ TRONG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.2.1 Khái niệm pháp luật đảm bảo dân chủ trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hóa DNNN là hoạt động thực hiện chức năng kinh tế của Nhànước, dân chủ trong CPH DNNN trước hết là dân chủ trong lĩnh vực kinh tế
"Trong những yếu tố hợp thành nội dung của dân chủ và dân chủ hóa thì dânchủ trong lĩnh vực kinh tế chiếm vị trí hàng đầu, có vai trò quyết định Khôngthực hiện được dân chủ trong kinh tế thì không thể giải quyết về thực chất dânchủ trong các lĩnh vực khác " [2, tr 8] Như vậy, đảm bảo dân chủ trongCPH DNNN là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình dân chủhóa ở nước ta hiện nay
Đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN là đảm bảo thực hiện các nộidung, các yêu cầu dân chủ trong CPH DNNN, cụ thể là: đảm bảo cho các cơquan, tổ chức nhà nước thực hiện CPH được tổ chức và hoạt động theo các cơchế, các nguyên tắc dân chủ, quyền hạn, nhiệm vụ được giao của các cơ quan,
tổ chức này phải phù hợp với các qui định của pháp luật phù hợp với ý chínguyện vọng của nhân dân, phục vụ cho lợi ích của nhân dân, đáp ứng yêu
Trang 30cầu, mục tiêu của quá trình cổ phân hóa DNNN Đảm bảo dân chủ trong CPHDNNN còn là đảm bảo lợi ích của chủ sở hữu toàn dân trong việc định đoạttài sản doanh nghiệp CPH, đảm bảo quyền dân chủ của các nhà đầu tư, củangười lao động trong quá trình thực hiện CPH đồng thời phải kịp thời pháthiện xử lý các vi phạm pháp luật xảy ra trong quá trình CPH với ý nghĩa làcác hành vi vi phạm dân chủ.
Với tư cách là đại diện ủy quyền thực hiện quyền lực của nhân dân,thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với DNNN, Nhà nước có vai trò hết sứcquan trọng trong việc thực hiện dân chủ, đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN
Để đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN, yêu cầu đặt ra đối với Nhà nước làphải thể chế hóa kịp thời và đầy đủ các nội dung dân chủ trong CPH DNNNthành các qui phạm pháp luật, làm cho cơ sở pháp lý cho hoạt động của chínhchủ thể nhà nước và các chủ thể khác tham gia vào quá trình CPH Các quyphạm pháp luật được ban hành đến lượt mình nó trực tiếp tác động, điềuchỉnh hành vi của các chủ thể tham gia vào quá trình CPH DNNN, nó có giátrị bắt buộc chính chủ thể nhà nước và các chủ thể khác phải tôn trọng, bảo
vệ, thực hiện các nội dung dân chủ, các giá trị dân chủ trên thực tế Nó trởthành đại lượng xác định mức độ dân chủ, trở thành phương tiện, công cụđảm bảo dân chủ trong CPH DNNN Hệ thống các quy phạm pháp luật đóđược gọi là pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN
Như vậy, pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN là hệ thống
các qui phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình CPH DNNN nhằm đảm bảo thực hiện các nội dung dân chủ trong CPH DNNN.
1.2.2 Nội dung pháp luật đảm bảo dân chủ trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Trang 31Là hệ thống quy phạm pháp luật thể chế hóa các nội dung dân chủ, cácgiá trị dân chủ trong CPH DNNN, pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPHDNNN tác động một cách toàn diện đến hoạt động của các chủ thể tham gia vàoquá trình CPH DNNN, qui định quyền hạn, xác lập nghĩa vụ, bảo vệ quyền lợicủa các chủ thể phù hợp với qui định của Hiến pháp và pháp luật, đáp ứng cácyêu cầu dân chủ trong CPH DNNN Căn cứ vào các nội dung dân chủ trongCPH DNNN và đặc điểm của các chủ thể tham gia vào quá trình CPH, nội dungchủ yếu của pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN có thể được phânchia thành các nhóm qui định sau đây:
Thứ nhất, các qui định về tổ chức, hoạt động của các chủ thể nhà nước
thực hiện CPH DNNN
Các qui định của nhóm này bao gồm: qui định về nhiệm vụ, quyềnhạn của các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan thực hiện quyền chủ sởhữu nhà nước, của DNNN và các cơ quan nhà nước chuyên trách trong quátrình thực hiện nhiệm vụ CPH DNNN Đây là những quy định có vai trò đảmbảo cho việc thực hiện quyền lực nhà nước trong CPH DNNN phù hợp vớicác cơ chế, nguyên tắc dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhànước theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, đảm bảo quy định đầy đủ,phân định rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chứcnhà nước trong thực hiện CPH DNNN
Thứ hai, các qui định đảm bảo quyền sở hữu toàn dân đối với DNNN.
Các qui định cụ thể ở nội dung này bao gồm: các qui định về xử lý tàichính, kiểm kê, phân loại tài sản của doanh nghiệp CPH, các qui định về xácđịnh giá trị doanh nghiệp và bán cổ phần, các qui định về quản lý sử dụng tiềnthu được từ việc bán cổ phần Đây là những qui định có ảnh hưởng trực tiếpđến quyền và lợi ích của nhân dân với tư cách là chủ sở hữu tài sản tiền vốnnhà nước đầu tư trong doanh nghiệp CPH
Trang 32Thứ ba, các qui định đảm bảo quyền dân chủ của các chủ thể tham gia
đầu tư
Các qui định cụ thể ở nội dung này bao gồm: các qui định về đốitượng và điều kiện tham gia mua cổ phần, trình tự thủ tục đăng ký mua cổ phần,các qui định về nhà đầu tư chiến lược, bán cổ phần ưu đãi và các qui định vềquyền được thông tin về doanh nghiệp CPH và bán cổ phần doanh nghiệp.Đây là những qui định nhằm đảm bảo quyền tự do đầu tư, quyền bình đẳngcủa công dân khi tham gia vào quá trình CPH với tư cách là các nhà đầu tư,đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân với tư cách là bên mua tronggiao dịch mua bán cổ phần
Thứ tư, các qui định đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động.
Các qui định cụ thể ở nội dung này bao gồm: các qui định về đánh giáphân loại lao động, sắp xếp việc làm, giải quyết chế độ đối với người lao độngthôi việc, mất việc làm trong quá trình CPH DNNN, các qui định về đảm bảothực hiện phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đối vớiquá trình CPH doanh nghiệp Các qui định này nhằm đảm bảo quyền dân chủcủa công dân trong lĩnh vực lao động trong vấn đề việc làm, đồng thời đảmbảo mở rộng và phát huy dân chủ ở cơ sở theo quan điểm của Đảng và phápluật của Nhà nước
Thứ năm, các qui định về đảm bảo cơ chế thiết chế kiểm tra giám sát
đối với các chủ thể Nhà nước thực hiện CPH DNNN
Đảm bảo sự kiểm tra, giám sát có hiệu quả của Nhà nước và của nhândân đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhà nước thực hiện CPH DNNN
là một yêu cầu hết sức quan trọng để đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN.Trong pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN, các qui định cụ thể ởnội dung này bao gồm các qui định về trách nhiệm kiểm tra, giám sát của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các chủ thể nhà nước trực tiếp thựchiện việc CPH DNNN như doanh nghiệp CPH, cơ quan đại diện thực hiện
Trang 33quyền sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp CPH; các qui định về tráchnhiệm kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt độngCPH DNNN Các qui định này có ý nghĩa quan trọng góp phần ngăn chặnloại bỏ các vi phạm, tội phạm diễn ra trong quá trình CPH DNNN, đảm bảoquyền giám sát của nhân dân đối với việc thực hiện quyền lực được nhân dân
ủy quyền của Nhà nước trong quá trình CPH DNNN
1.2.3 Các tiêu chí hoàn thiện pháp luật đảm bảo dân chủ trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN là công cụ để đảm bảoquyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế nói chung và trong CPHDNNN nói riêng Là hệ thống các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ
xã hội có tính chất năng động và phức tạp, pháp luật đảm bảo dân chủ trongCPH DNNN luôn được Nhà nước quan tâm sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện
và đã góp phần quan trọng vào việc huy động các tiềm lực về vốn, về trí tuệtrong nhân dân tham gia vào quá trình CPH DNNN, góp phần đẩy nhanh tiếntrình CPH Song, trước sự phát triển không ngừng của trình độ kinh tế, trướcnhững diễn biến ngày càng phức tạp của CPH, khi quy mô, tốc độ và đốitượng doanh nghiệp CPH ngày càng được mở rộng, các quy định hiện hành
đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, do vậy việc hoàn thiện pháp luật đảm bảodân chủ trong CPH DNNN trở thành một yêu cầu có tính chất khách quan và
có ý nghĩa thực tiễn hết sức to lớn
Hoàn thiện pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN là việc sửađổi, bổ sung để nâng cao chất lượng, tính khoa học, tính khả thi của các quiphạm pháp luật, nâng cao hiệu lực điều chỉnh của pháp luật này Trên cơ sởnghiên cứu những tiêu chí cơ bản của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật vàđặc điểm của hoạt động CPH DNNN, chúng tôi đề xuất tiêu chí hoàn thiệnpháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN với nội dung cụ thể sau đây
Trang 341.2.3.1 Tiêu chí về hình thức
Tiêu chí về hình thức là tiêu chí đảm bảo cho văn bản qui phạm phápluật có tính chất khuôn mẫu, chứa đựng và biểu đạt một cách khoa học cácnội dung qui định của pháp luật, đảm bảo tính pháp lý và tính thuận lợi choviệc áp dụng các qui phạm pháp luật trong thực tiễn Cơ cấu văn bản quiphạm pháp luật, ngôn ngữ pháp lý biểu đạt nội dung các qui phạm pháp luật,
là những nội dung cơ bản đặt ra theo tiêu chí này
Về cơ cấu văn bản: Cần xác định một cơ cấu sắp xếp khoa học các nộidung, các qui phạm pháp luật phù hợp với diễn biến của CPH DNNN, đảmbảo thể hiện có hệ thống và rõ ràng các nội dung cơ bản như các nguyên tắc
và mục tiêu của CPH, quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, nhànước thực hiện nhiệm vụ trong quá trình CPH, trình tự thủ tục tiến hành CPH
Về ngôn ngữ pháp lý: Ngôn ngữ pháp lý được sử dụng phải đảm bảotính chính xác, lôgíc, cô đọng và một nghĩa, tránh tình trạng sử dụng các từngữ ít thông dụng, dẫn đến gây khó hiểu cho quần chúng nhân dân khi thamgia vào quá trình CPH
1.2.3.2 Tiêu chí về nội dung
Đây là tiêu chí được đặt ra đối với việc hoàn thiện các nội dung quiđịnh cụ thể của pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN
Thứ nhất, pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN phải được xây
dựng với đầy đủ các qui phạm pháp luật điều chỉnh toàn diện các quan hệ xã hộiphát sinh trong quá trình CPH DNNN, đáp ứng được các nhu cầu khách quan của
sự phát triển các quan hệ này trong thực tiễn CPH, đồng thời định hướng pháttriển của các quan hệ này đảm bảo các yêu cầu sau đây:
- Qui định cụ thể rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chứcnhà nước đảm bảo cho quyền lực nhà nước được thực hiện theo các nguyên
Trang 35tắc và cơ chế dân chủ, phục vụ cho lợi ích toàn dân, ngăn chặn sự xâm hại từphía các chủ thể tham gia vào quá trình CPH DNNN đối với tài sản thuộc sởhữu toàn dân trong các doanh nghiệp CPH.
- Đảm bảo quyền tự do, bình đẳng và quyền lợi hợp pháp khác củacông dân khi tham gia vào quá trình CPH
- Đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động trong doanh nghiệpCPH, đảm bảo cho nguời lao động trong doanh nghiệp CPH thực hiện quyềndân chủ trong CPH DNNN theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dânkiểm tra" với những nội dung và hình thức phù hợp
- Đảm bảo quyền kiểm tra giám sát đối với việc thực hiện quyền lực nhànước trong quá trình CPH DNNN từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
và nhân dân theo quy định của pháp luật
Thứ hai, việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đảm bảo dân chủ trong
CPH DNNN phải căn cứ vào các quy định của Hiến pháp và pháp luật, căn cứvào quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế và truyền thống văn hóa,đạo đức của dân tộc Hoàn thiện pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNNphải được thực hiện trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng thực trạngthực hiện CPH; nhận thức đầy đủ, sâu sắc những khó khăn, vướng mắc trongthực tiễn thực hiện; dự kiến một cách khoa học những diễn biến phức tạp củaquá trình CPH để các quy phạm pháp luật được ban hành phản ánh đúng thựctiễn CPH, các giải pháp điều chỉnh được đưa ra đảm bảo tính khoa học và tínhkhả thi, thực sự góp phần đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng CPHDNNN
Thứ ba, pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN có đối tượng điều
chỉnh liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, hoàn thiện pháp luậtđảm bảo dân chủ trong CPH DNNN phải đáp ứng yêu cầu đảm bảo tính đồng
bộ của hệ thống pháp luật, tránh tình trạng qui định chồng chéo, mâu thuẫn
Trang 36với các ngành luật, các chế định pháp luật có lên quan, tránh tình trạng chồngchéo mâu thuẫn giữa các qui định của bản thân pháp luật này.
Cổ phần hóa DNNN là một giải pháp đổi mới DNNN nhằm đa dạng hóahình thức sở hữu DNNN, chuyển DNNN sang hoạt động với hình thức công ty
cổ phần Đây là một giải pháp đã thực sự đem lại những chuyển biến tích cựccho hệ thống DNNN, cần phải được thực hiện có chất lượng và hiệu quả caohơn
Trong quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng HồChí Minh, dân chủ là quyền lực của nhân dân Phân tích khái niệm dân chủtruyền thống trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh, tác giả nhấn mạnh nội dung dân chủ là quyền lực nhà nước thuộc vềnhân dân, nêu khái lược các nội dung dân chủ, làm cơ sở cho việc nghiên cứulàm rõ nội dung dân chủ trong CPH DNNN
Nội dung dân chủ trong CPH DNNN là các nguyên tắc, cơ chế dânchủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đã được thể chế hóatrong Hiến pháp, pháp luật cần được vận dụng trong việc thành lập quy địnhquyền hạn, nhiệm vụ của các chủ thể nhà nước thực hiện CPH DNNN, là quyềnđược kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân phù
Trang 37hợp với các quy định của Hiến pháp và pháp luật Nội dung dân chủ trongCPH DNNN còn là quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản, tiền vốn nhà nướcđầu tư vào doanh nghiệp CPH, là quyền dân chủ của các chủ thể tham gia đầu
tư, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong doanh nghiệp CPH
Pháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN là hệ thống các qui phạmpháp luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình CPH DNNN,nhằm đảm bảo thực hiện các nội dung dân chủ trong CPH DNNN Hoàn thiệnpháp luật đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN là sửa đổi, bổ sung, xây dựnghoàn chỉnh, đồng bộ, nâng cao chất lượng nội dung các qui định cụ thể, đảmbảo tính khoa học, tính thực tiễn và hiệu lực điều chỉnh của pháp luật, gópphần thúc đầy dân chủ hóa nền kinh tế đất nước
Đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN là đảm bảo thực hiện các nội dungdân chủ trong CPH DNNN, đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN góp phầnphát huy sức mạnh nội lực của nền kinh tế, huy động các tiềm năng vật chất,trí tuệ trong nhân dân vào việc thực hiện thắng lợi chương trình CPH DNNN
Trang 38Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO DÂN CHỦ
TRONG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Pháp luật bảo đảm bảo dân chủ trong CPH DNNN là hệ thống các quyphạm pháp luật được chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật vềCPH DNNN Là công cụ pháp lý quan trọng để đảm bảo dân chủ, điều chỉnh,định hướng tiến trình CPH, pháp luật về CPH DNNN nói chung và pháp luậtđảm bảo dân chủ trong CPH DNNN nói riêng luôn được Nhà nước quan tâmxây dựng, sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện
Để thực hiện thí điểm CPH DNNN, ngày 10-5-1990, Hội đồng Bộtrưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định 143/HĐBT về việc thí điểmthực hiện CPH DNNN Ngoài việc quy định điều kiện lựa chọn thực hiện thí điểmCPH đối với DNNN, trong văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên về CPH DNNNnày, vấn đề đảm bảo quyền sở hữu nhà nước, tạo điều kiện cho người laođộng làm chủ doanh nghiệp đã được xác định là mục tiêu của CPH DNNN.Nhằm đẩy mạnh việc thí điểm thực hiện CPH DNNN, Chính phủ đã ban hànhChỉ thị số 202/TTg ngày 6-8-1992 và Chỉ thị số 84/TTg ngày 4-3-1993 để xúctiến thực hiện thí điểm CPH DNNN
Từ thực tiễn thí điểm CPH DNNN, ngày 7-5-1996, Chính phủ đã banhành Nghị định số 28/CP về chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần,quy định trình tự thủ tục thực hiện CPH, điều kiện, mục tiêu, thẩm quyền quyếtđịnh CPH DNNN, quyền lợi của người lao động trong doanh nghiệp CPH.Tuy nhiên, sự chuyển biến toàn diện của đất nước trong thời kỳ đổi mới, đặcbiệt là sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế với những chuyển biến nhanhchóng về cơ cấu sở hữu, sự xuất hiện và phát triển đa dạng của các thành phần
Trang 39kinh tế đã làm nảy sinh nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong thực tiễn CPHDNNN Chính vì vậy, pháp luật về CPH DNNN đã được sửa đổi, bổ sungnhiều lần Cụ thể như sau:
- Ngày 26-3-1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/CP sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định 28/CP ngày 7-5-1996
- Ngày 26-6-1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 44/CP về việcchuyển DNNN thành công ty cổ phần thay thế Nghị định 28/CP ngày 7-5-1996
- Ngày 19-6-2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2002/NĐ-CPthay thế Nghị định 44/CP ngày 26-6-1998
- Ngày 16-11-2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 187/2004/NĐ-CP
về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần thay thế Nghị định64/2002/NĐ-CP ngày 19-6-2002 Đây là văn bản quy phạm pháp luật có hiệulực cao nhất trong pháp luật về CPH DNNN ở nước ta hiện nay
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CPH DNNN, cácquy định nhằm đảm bảo dân chủ ngày càng được bổ sung đầy đủ và toàn diệnhơn Vấn đề đảm bảo quyền sở hữu nhà nước, đảm bảo quyền làm chủ củangười lao động luôn được xác định là mục tiêu của CPH DNNN Quyền tự dotham gia đầu tư của nhân dân ngày càng được mở rộng, tình trạng CPH khépkín trong nội bộ doanh nghiệp đã dần được khắc phục sau khi Nghị định64/2002/NĐ-CP và Nghị định 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ được banhành Mức độ được nắm giữ cổ phần của các cổ đông ngày càng được mởrộng, từ 2% (Quyết định 143/HĐBT) đến 5% đối với cá nhân, 10% đối vớipháp nhân (Nghị định 28/CP) và không hạn chế đối với các nhà đầu tư trongnước như hiện nay Quy định về quyền được thông tin của các nhà đầu tưđược cải thiện đáng kể khi Thông tư 126/2004/TT-BTC ngày 24-12-2004 của
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 187/2004/NĐ-CP của Chínhphủ được ban hành Quy định về quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan thựchiện quyền sở hữu nhà nước, DNNN trong quá trình CPH DNNN ngày càng
Trang 40được cụ thể với sự phân công, phân cấp rõ ràng hơn Vấn đề đào tạo lại laođộng, sắp xếp, bố trí việc làm và giải quyết chế độ chính sách đối với ngườilao động bị mất việc, thôi việc cũng được quy định cụ thể hơn với những ưuđãi thiết thực, góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động.
Tuy nhiên, trong các quy định của pháp luật đảm bảo dân chủ trongCPH DNNN hiện hành còn có những hạn chế bất cập cần tiếp tục sửa đổi,
- Thực hiện quyền chủ sở hữu đối với các DNNN
- Thực hiện quyền quản lý nhà nước đối với hoạt động CPH DNNN
Theo quy định của Luật DNNN năm 2003 (khoản 5 điều 68) và khoản 3Điều 5 Nghị định 132/2005/NĐ-CP ngày 20-10-2005 của Chính phủ (về thựchiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhànước) Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,Chủ tịch UBND cấp tỉnh thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối vớiDNNN, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi
sở hữu DNNN theo phương án và kế hoạch do Chính phủ phê duyệt Theoquy định tại khoản 1 Điều 40 Nghị quyết 187/2004/NĐCP ngày 16/11/2004, Bộtrưởng Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền quyết định CPH các doanh nghiệpthuộc phạm vi quản lý; quyết định giá trị doanh nghiệp; phê duyệt phương ánCPH để chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần Như vậy, các chức