Có thể kể tới một số công trình tiêu biểu trong các lĩnh vực khoa học của ông: - Về văn học: Có bộ sưu tầm: Toàn việt thi lục , lựa chọn và giới thiệu 2391 bài thơ của 175 tác giả từ thờ
Trang 1Cao Bá Quát Tiểu sử
Cao Bá Quát (1809? -1855) tự Chu Thần sinh tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, mất giữa trận tiền Quốc Oai trong cuộc khởi nghĩa chống triều đình thời Tự Đức Tự Đức tru di ba họ Cao Bá Quát, thu hồi tiêu hủy văn chương ông Nhưng ông được lòng dân bảo vệ: một rừng truyền thuyết ca ngợi tài thơ, lòng dũng cảm, trí thông minh và tinh thần
thương dân yêu nước của ông Tác phẩm của ông còn được lưu đến nay
là 1353 bài thơ, 21 bài văn xuôi, một số bài ca trù và khá nhiều câu đối.
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm (Mười năm giao thiệp tìm gươm báu) Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Một đời chỉ cúi trước hoa mai)
Đôi câu đối ấy đã thâu tóm khá đầy đủ hoài bão và phẩm chất Cao Bá Quát Lúc trẻ Cao Bá Quát cũng như trăm nghìn sỹ tử khác mong học giỏi đỗ cao để giúp đời Trong thơ thấy rõ cái hăng hái thường tình ấy Trên đường công danh đã mấy ai nhàn/ Mũ lọng nhộn nhịp ta cũng đi đây Nhưng cũng nhận ra ngay trong cơn hăng hái trên đường đi thi ấy cái khí phách khác thường của ông:
Sóng biển trào lên như đầu bạc lô nhô
Gió giận dữ đánh chìm cả những chiếc thuyền to
Chớp giật sấm ran ai nấy đều xanh mắt,
Giữa cảnh, con chim hải âu vẫn nhởn nhơ
Sau này trong truyền thuyết về Cao nhiều giai thoại cũng vẽ nên sự bình thản của ông giữa gian lao như hải âu giữa bão: Một chiếc cùm lim chân có đế/ Ba vòng xích sắt bước thì vương
Khí phách ấy bắt nguồn từ chất tâm hồn của Cao Bá Quát Tâm hồn ấy
Trang 2cao rộng Qua núi Dục Thúy: Ta muốn trèo lên đỉnh núi cao ngất kia/ Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước Tâm hồn ấy giàu năng lực bên trong, chấp nhận cái khó của đường đời:
Bãi cát dài, bãi cát dài!
Bước một bước lại như lùi một bước
Trong tình cảnh oan khốc bị giam cầm, tra tấn chỉ vì tội sửa vào bài thi cho một thí sinh có tài vô ý phạm trường quy, ông tỉnh táo và can đảm coi việc mình làm là việc thiện, mà việc thiện thì ở hoàn cảnh nào cũng nên làm Ông coi công lý thời ấy như cái máy làm nhục người (Bài thơ
tả cái cùm) Ông nhìn thẳng vào chiếc roi da đang quật nhoang nhoáng vào người mình, ông tả nó và tả chính tâm trạng mình, như một cuộc
đọ sức Cái việc tả chính xác với các chi tiết nghiêm lạnh cho thấy ai vững hơn ai:
Roi quất nhoang nhoáng bay đi liệng lại như ánh chớp
Lúc giơ lên như hai con thuồng luồng quật vào bờ ao lở
Lúc ngừng như nước lạnh đổ vào nồi nước sôi ( )
Ở nơi góc đài những giọt sương trong cũng vì ta mà bay lên
Roi song rủ xuống thôi không hăng như trước nữa
Chắp tay đứng, ruột mềm quặn lại như cuốn vào ngón tay được
Ông nhìn sông dài như lưỡi kiếm dựng giữa trời xanh Ông hỏi hoa sen ngươi có hồng bằng mặt rượu của ta không? Ông thấy núi như chiếc chén xà cừ của khách say Khí phách, tài tử như Cao Bá Quát lại là người thắm thiết tình cảm, đặc biệt tình cảm gia đình Ông có những câu thơ thương vợ thương con tình cảm chân thực, ngôn ngữ mộc mạc, hình như ông không muốn vẻ đẹp của tài thơ làm mờ đi nét thực của
Trang 3cảm xúc Một số truyền thuyết muốn nhấn mạnh khí phách Cao Bá Quát đã mô tả ông có tính cách ngang tàng khinh bạc, coi nhẹ tình cảm,
e không đúng Cao Bá Quát khí phách nhưng đa cảm, đó là sự phong phú của tâm hồn ông Thương xót người thân và thương xót mọi người nghèo khổ, bị ức hiếp Hãy nghe ông mời một người đói cùng ăn Than
ôi hãy ngừng lệ/ Một bữa ta tạm mời/ Đời người như quán trọ/ Ung dung nào mấy ai/ Thong thả đừng nuốt vội/ No ứ dễ hại người Cao Bá Quát đã thấy nguồn gốc nỗi khổ ấy, không dễ nói thẳng ra, nhưng ông
đã tìm cách nói:
Nghe nói xe Rồng vừa ngự tới
Cung vua sẵn đó lại cung vua
Tâm sự nhà nho Cao Bá Quát rối bời: Tâm sự và tóc có chi phải so sánh vắn dài/ Đến lúc đã rối bời thì cùng rối bời như nhau Rối bời vì ái quốc thì không thể trung quân
Cuối đời, những bài thơ Cao Bá Quát càng nặng trĩu nội tâm Không chỉ buồn thương, mà có buồn thương cũng không chỉ vì thân danh mình lận đận Hoài bão của con người một đời chỉ cúi trước hoa mai rộng xa hơn nhiều Trước cảnh đời ngang trái ấy ông không thể làm tấm bia không chữ, (Thế sự hà kham một tự bi) Ông phải có thái độ, nhưng thái độ ấy không thể nói trong thơ Ông như cái hạt sen ôm tấm lòng đắng ngắt chỉ mình mình biết (Liên tử hữu tâm tri độc khổ) Đêm xuân đọc sách mà như đối thoại với người xưa (Bùi ngùi xuân này ngồi đối diện với người xưa) mà như giao lưu với vũ trụ (Dưới có người không ngủ/ Trên có vì sao muốn rơi) Trong bài Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhận chức tại phủ Thường Tín, ý chí hành động của Cao Bá Quát đã rõ,
Trang 4sau khi nhắc đến Chu An, Nguyễn Trãi, ông viết:
Khách nam nhi chẳng vì thế thái
Đem thân ra đỡ lấy cương thường
Năm 1853 Cao Bá Quát đã trở thành một trong những người lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương Bối cảnh lịch sử chưa đủ chín để cuộc khởi nghĩa thành công Nhưng Cao Bá Quát đã trở thành hình tượng sáng chói của lớp nhà thơ hoạt động, từ thơ mà thành chiến sỹ, lấy máu
để diễn tả cao nhất cảm xúc của chính mình.
Hà Nội 1-11-2000
VŨ QUẦN PHƯƠNG
TIỂU SỬ NHÀ BÁC HỌC LÊ QUÝ ĐÔN
I SƠ LƯỢC VỀ TIỂU SỬ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NHÀ BÁC HỌC LÊ QUÝ ĐÔN:
1 Lê Quý Đôn sinh ngày 5/7/1726 mất ngày 14/4/1784 Ông là con tiến sĩ Lê Phú Thứ, quê ở huyện Diên Hà ( nay thuộc thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà) tỉnh Thái Bình, nổi tiếng thần đồng, có trí nhớ lạ lùng, tài ứng đối mau
lẹ, 14 tuổi đã học được hầu hết các bộ sách của Nho học Năm 18 tuổi đỗ giải Nguyên ( đứng đầu kỳ thi Hương) Sau đó đỗ đầu các kỳ thi Hội và thi Đình ( còn gọi là Hội nguyên và Đình nguyên).
Bước quan bộ của Lê Quý Đôn khá lận đận, nhưng cũng có nhiều lần giữ trọng trách: Khi làm việc ở Ban quản tu Quốc tử quán; Thị giảng viện Hàn lâm; khi nhận việc trong phủ chúa; khi được phái đi sứ sang Trung Quốc Khi mất ông được truy phong là thượng thư Bộ công Suốt đời ôm ấp hoài bão lớn.
a Về chính trị: Thi hành những cải cách, thiết định lại pháp chế,
Trang 5chăm lo đời sống kinh tế, làm cho dân giầu - nước mạnh, xã hội đạt đến mức thái bình - thịnh trị.
b Về văn hoá và văn học: Được đọc sách và chuyên tâm viết sách Trần Danh Lâm-bạn cùng thời đã nhận xét về ông: không sách gì không đọc, không vật gì không suy xét đến cùng, ngày thường ngẫm nghĩ được điều gì đều viết ngay thành sách, sách chất đầy bàn, đầy tủ,
kể ra không xiết Lê Quý Đôn đã từng nói: Đọc sách mà tìm được nghĩa cũng như tìm được một thuyền hạt ngọc Tài năng, đức độ, trí tuệ, phong cách của Lê Quý Đôn xứng danh là nhà Bác học lớn của Việt Nam.
Nhưng cuộc đời Lê quý Đôn, chưa bao giờ được chính quyền Lê - Trịnh tạo
đủ điều kiện để ông thi thố tài năng về chính trị Dù là có quyền chức, cơ bản Lê Quý Đôn vẫn là người bất đắc chí.
2 Lê Quý Đôn đã để lại khối lượng tác phẩm đồ sộ, bao quát hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế chính trị, văn hoá, địa lý, nông học Trong đó đặc biệt phải kể tới các công trình biên khảo về văn học và sử học ở lĩnh vực nào, Lê Quý Đôn cũng nêu cao tinh thần độc lập, sáng tạo và ý thức tự tôn - tự cường dân tộc Có thể kể tới một số công trình tiêu biểu trong các lĩnh vực khoa học của ông:
- Về văn học: Có bộ sưu tầm: Toàn việt thi lục , lựa chọn và giới thiệu 2391 bài thơ của 175 tác giả từ thời Lý Ông là tác giả của tập thơ: Quế đường thi tập - rất nổi tiếng.
- Về sử học: Có: “ Đại việt thông sử”, “ Phủ biên tạp lục”, “ Kiến văn tiểu lục”, “ Bắc sử thông lục”.
- Về triết học: Có: “ Thư kinh diễn nghĩa”, “ Dịch kinh phu thuyết”, “Xuân thu lược luận”, “ Quần thư khảo biện”
Trang 6- Về kinh tế và nông học: Có bộ: “Vân đài loại ngữ” rất đồ sộ khiến người đời sau muốn tra cứu nhiều lĩnh vực khoa học - đời sống
từ mấy trăm năm về trước nhất thiết phải tìm đọc.
3 Khẳng định tư tưởng, tấm lòng, phong cách làm việc và tài năng lỗi lạc của Lê Quý Đôn, nhà sử học Phan Huy Chú đã từng viết:
- Học vấn bao hàm, xem rộng khắp hết sách vở, nhờ thơ văn mà thi chiếm bảng đầu Ông là người có kiến thực mênh mông, đồ sộ, lại sở trường bậc nhất về trước thuật (viết sách), Không sách nào không soạn, sao lục, biện luận Thật sừng sững là danh nho của cả một đời
Tiểu sử
Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng
Vào nửa sau thế kỷ VIII, quyền thống trị của triều đình Trường An
đã bắt đầu suy yếu Chiến tranh giữa "phiên trấn" và "triều đình" - mà đỉnh cao là loạn An Sử - càng làm cho nhà Đường lụn bại Uy quyền của bọn tiết độ sứ và đô hộ ngày một tăng, chúng tự ý trưng thu thuế
má Cao Chính Bình, hiệu úy châu Vũ Định (miền Việt Bắc), năm 767 giúp kinh lược sứ An Nam Trương Bá Nghi đánh bại được cuộc xâm lược của quân Chà Và (Ja va) ở Chu Diên, sau đó y được cử làm đô hộ
An Nam Y ra sức bòn rút của cải của nhân dân ta, đánh thuế rất nặng.Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-779), chưa rõ đích xác vào năm nào, nhân lòng căm phẫn của nhân dân, lợi dụng khi quân lính ở Tống Bình nổi loạn, người hào trưởng đất Đường Lâm (nay là xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, Hà Nội) là Phùng Hưng đã phát động một cuộc khởi nghĩalớn chống chính quyền đô hộ
Sử liệu gốc ghi lại về Phùng Hưng không nhiều Chỉ biết, Phùng Hưng xuất thân từ dòng dõi cự tộc, hào trưởng đất Đường Lâm Đường Lâm xưa kia vốn là vùng đồi gò và rừng cây rậm rạp, thú vật dữ tợn thườnghay lui tới, nên nơi đây tục gọi là Đường Lâm hay Cam Lâm
Phùng Hưng có tên tự là Công Phấn, cháu 7 đời của Phùng Tói Cái - người đã từng vào trong cung nhà Đường Cao Tổ, đời Đường Vũ Đức (618-626) dự yến tiệc và làm quan lang ở đất Đường Lâm Bố của Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh - một người hiền tài đức độ Khoảng
Trang 7năm Nhâm Tuất (722) đời Đường Khai Nguyên, ông đã tham gia cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan Sau đó, ông trở về quê chăm chú công việc điền viên, trở nên giàu có, trong nhà nuôi nô tỳ có đến hàng nghìnngười (theo bia Quảng Bá)
Theo sự tích, Phùng Hạp Khanh có một người vợ họ Sử Ông bà sinh một lần được ba người con trai khôi ngô khác thường, lớn lên ai cũng
có sức khỏe, có thể kéo trâu, quật hổ Anh cả là Phùng Hưng, em thứ
2 là Phùng Hải (tự là Tư Hào) và em út là Phùng Dĩnh (tự là Danh Đạt) Đến năm ba anh em 18 tuổi thì bố mẹ đều mất
Cho tới nay về ngày sinh và ngày mất của Phùng Hưng vẫn chưa rõ Một nguồn dã sử cho biết Phùng Hưng sinh ngày 25 tháng 11 năm Canh Tý (760) (tức 5-1-761) và chết ngày 13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (tức 13-9-802), thọ 41 tuổi Trong ba anh em, anh cả Phùng Hưng là người có sức khỏe và khí phách đặc biệt Ông được sử sách và truyền thuyết dân gian lưu truyền về tài đánh trâu, quật hổ ở đất Đường Lâm
Có lần ông đánh được 2 con trâu mộng đang húc nhau, dân làng ai cũng thán phục Lần khác lại trừ được hổ dữ, bằng mưu kế, đem lại bình yên cho làng xóm mà cho tới giờ nhân dân Đường Lâm còn lưu truyền về câu chuyện đó
Phùng Hưng còn là vị anh hùng đầu tiên trong những người con ưu tú của đất Đường Lâm Và Phùng Hưng cũng là người anh hùng đầu tiên
đã đánh chiếm lại thành Tống Bình (Hà Nội), trị sở của chính quyền đô
hộ lúc đó và xây dựng nền tự chủ trong khoảng gần chục năm
Thoạt kỳ thủy, anh em họ Phùng nổi dậy làm chủ Đường Lâm rồi nghĩaquân tiến lên đánh chiếm được cả một miền rộng lớn quanh vùng thuộc Phong Châu, xây dựng thành căn cứ chống giặc Phùng Hưng xưng là: Đô Quân; Phùng Hải xưng là Đô Bảo và Phùng Dĩnh xưng là
Đô Tổng, chia quân đi trấn giữ những nơi hiểm yếu Cao Chính Bình đem quân đi đàn áp nhưng chưa phân thắng bại Tình hình diễn ra nhưvậy hơn 20 năm
Năm Tân Mùi 791, mùa hạ, tháng 4, Phùng Hưng cùng các tướng lĩnh đem quân vây đánh thành Tống Bình Quân của Phùng Hưng chia làm
5 đạo do các tướng Phùng Hải, Phùng Dĩnh, Đỗ Anh Hàn, Bồ Phá Cần
và chủ tướng Phùng Hưng tiến công vây thành Quân của Cao Chính Bình (khoảng hơn 4 vạn bia Quảng Bá) đem ra chống cự Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt trong khoảng 7 ngày, quân địch chết nhiều, Cao Chính Bình phải vào cố thủ trong thành, lo sợ cuối cùng bị ốm rồi chết.Phùng Hưng chiếm lĩnh thành trì và vào phủ Đô hộ, coi chính sự đất nước được 7 năm thì mất Rất tiếc trong 7 năm ấy, sử sách không để
Trang 8lại một nguồn tài liệu nào về ông Sau khi mất, con trai ông là Phùng
An lên nối ngôi, dâng tôn hiệu cha là Bố Cái Đại Vương An nối nghiệp được hai năm thì chính quyền lại rơi vào tay giặc Nền tự chủ vừa mới xây dựng, chỉ tồn tại vẻn vẹn trên dưới 9 năm
Sử liệu và truyền thuyết dân gian ở vùng Đường Lâm kể lại rằng: Phùng Hưng chết rồi rất hiển linh, thường hiện hình trong dân gian, giúp dân trong lúc hoạn nạn Dân làng cho là linh ứng, lập miếu để thờ
tự tại Đường Lâm Tương truyền sau này, Phùng Hưng còn hiển linh giúp Ngô Quyền đánh thắng giặc ở sông Bạch Đằng Thấy vậy, Ngô Quyền cho lập đền thờ quy mô to lớn hơn trước Sự ngưỡng mộ đối vớingười anh hùng dân tộc họ Phùng còn thể hiện ở việc lập đền thờ phụng của nhân dân như ở đình Quảng Bá (Hà Nội), đình Triều Khúc (Hà Tây), thờ ở lăng Đại áng, Phương Trung, Hoạch An, phủ Thanh Oai(Hà Tây),v.v
Hiện nay dấu vết lăng mộ của Phùng Hưng còn lại ở đầu phố Giảng Võ (gần bến xe Kim Mã), vì khi chết, ông được mai táng ở cạnh phủ Tống Bình, sau đó mới đưa thi hài về quê hương Để tưởng nhớ người anh hùng dân tộc, Nhà nước ta đã đặt tên phố Phùng Hưng tại phía cửa Đông của thủ đô Hà Nội
Phó tiến sĩ sử học Trần Thị Vinh
Tiểu sử vị anh hùng dân tộc Ngô Quyền
Tóm tắt tiểu sử cụ Ngô Quyền
Ngô Quyền, vị anh hùng dân tộc sinh ngày 12 tháng 03 năm Đinh Tỵ (897) ở ấp Đường Lâm (nay là thôn Cam Lâm xã Đường Lâm thuộc thị xã Sơn Tây tỉnh Hà Tây)
là con cụ Ngô Mân lúc đó làm Châu Mục ở quận Châu Phong, cụ bà là người hiền đức được mọi người kính nể.
Từ thửa nhỏ, ông được nuôi dưỡng trên quê hương truyền thống anh hùng, lớn lên được luyện tập cung, kiếm, võ nghệ tinh thông, đèn sách văn thơ đều tỏ ra thông minh có sức khỏe, sức mạnh nổi ngàn cân, văn võ kiêm toàn, tiếng tăm lẫy lừng khắp nơi.
Năm 20 tuổi cha mẹ đều mất (917), ba năm sau (920) ông kết duyên cùng bà Dương Phương Lan, người con gái có tài sắc lại tinh thông võ nghệ ở miền Thượng Phúc (huyện Chương Mỹ) thuộc tỉnh Hà Tây Từ nơi quê hương ông đem ra đình vào đất Ái Châu (Thanh Hóa) theo ông Dương Đình Nghệ là tiết độ sứ Ngô Quyền được Dương Đình Nghệ tin yêu, nhận làm con nuôi và gả con gái cho ông là Dương Thị Như Ngọc và giao cho ông coi giữ vùng đất Ái Châu – Thanh Hóa.
Trước cảnh đất nước bị quân thù xâm lấn, nhân dân đã bao đời bị thống trị, lầm than cực khổ Ngô Quyền luôn luôn suy tính để tìm cách đánh đuổi bọn xâm lược cứu nhân dân thoát khỏi cảnh lầm than Rồi từ đó ông dốc lòng dựng cờ cứu nước, xây thành đắp lũy, tích trữ lương thảo, chiêu mộ anh tài Chẳng bao lâu các anh hùng
Trang 9nghĩ sĩ khắp nơi kéo về tụ nghĩa ngày một đông, tiếng tăm lẫy lừng khắp nơi.
Tháng 03 năm Đinh Dậu (937) sau khi Kiều Công Tiễn đem lòng phản nghịch giết chết ông Dương Đình Nghệ để đoạt chức tiết độ sứ, nên khắp nơi lòng người đều oán ghét Ngô Quyền vô cùng căm giận, liền bí mật kéo quân từ Ái Châu ra đóng ở vùng Hải Phòng chiêu một thêm binh lực, lập đại bản danh ở vùng Lương Sâm, ra công bố trí thành lũy luyện tập binh sĩ chờ ngày ra quân diệt trừ quân tham bạo.
Mùa thu năm Mậu Tuất (938), trước khí thế của ba quân và lòng mong đợi của nhân dân, Ngô Quyền cùng người em vợ là Dương Tam Kha đem 5 vạn quân đi đánh Kiều Công Tiễn ở Giao Châu Trước nguy cơ bị tiêu diệt, Kiều Công Tiễn đã bí mật hèn nhát cho tay sai đem vàng bạc châu báu sang đút lót vua Nam Hán xin cứu viện Vua Nam Hán lúc đó là Lưu Yểm muốn nhân cơ hội này sang cướp nước ta, bèn sai con trai là Vạn Vương Hoàng Thao chuẩn bị binh lực sang xâm lược nước ta và phong sẵn chức cho con là Giao Vương.
Cuối năm 938, Hoàng Thao thống lĩnh đội thủy quân gồm 20 vạn quân và hàng ngàn chiến thuyền theo bờ biển vùng đông bắc ồ ạt tiến vào nước ta Còn Lưu Yểm mang quân đóng giữ Hải Môn (thuộc tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc) để sẵn sàng tiếp ứng cho Hoàng Thao.
Nắm vững âm mưu của quân giặc, Ngô Quyền bí mật sai người đi giết Kiều Công Tiễn, một mặt ông bí mật hạ lệnh cho quân sĩ cùng với nhân dân địa phương vùng Thủy Nguyên – Yên Hưng chặt gỗ đẽo nhọn rồi đóng vào nơi cửa song Bạch Đằng hiểm yếu chảy ra biển Đây là một trận địa hết sức hiểm trở, một mặt ông sai các tướng lĩnh đem quân bố trí trận địa ở hai bên bờ song, còn mặt khác ông cho chuẩn
bị 200 chiến thuyền nhẹ tới chỗ giặc đóng quân để khiêu chiến rồi giả vờ thua chạy lừa chiến thuyền của giặc lọt vào trận địa mai phục để phản công.
Tháng 10 năm đó (938) lợi dụng nước thủy triều dâng lên, lại có gió mùa đông bắc, đoàn chiến thuyền của giặc do tướng Hoàng Thao chỉ huy ồ ạt tiến vào vịnh Hạ Long, vào sông Bạch Đằng gặp đoàn thuyền chiến nhẹ của ta ra khiêu chiến, đoàn thuyền giặc đốc thúc đuổi theo Chờ cho nước thủy triều rút, Ngô Quyền hạ lệnh phản công
từ các mũi Bị đánh bất ngờ quân giặc vô cùng kinh hoàng hạ lệnh cho quân quay mũi thuyền định tháo chạy, vừa lúc thủy triều rút, thuyền giặc càng lao nhanh càng đam vào mũi cọc Thuyền bị tan vỡ, toàn bộ quân sĩ của giặc phần thì bị giết, phần thì bị chìm, xác chật cả một khúc song, máu loang đỏ dòng nước Tên tướng giặc Hoàng Thao bị giết trong đám loạn quân Âm mưu xâm lược của Nam Hán bị đại bại Lưu Yểm sợ hãi rút quân về Phiên Ngưng.
Sau đại thắng trận Bạch Đằng năm 938 Ngô Quyền bãi bỏ chức tiết độ sứ tự xưng vương lấy hiệu là Tiền Ngô Vương, xây dựng nhà nước độc lập, tự chủ, đóng đô ở Cổ Loa nay thuộc huyện Đông Anh – Hà Nội là kinh đô cũ của nước Âu Lạc thời An Dương Vương Chấm dứt trên 1000 năm nước ta bị đô hộ, mở đầu cho thời kỳ phục hưng đất nước Năm Giáp Thân (944) ông lâm bệnh rồi mất, làm vua được 6 năm hưởng thọ 47 tuổi.
Sau khi ông mất, bản ấp lập miếu để hàng ngày thờ phụng và ghi nhớ công ơn của Người Ngày nay, cứ đến ngày 14/08 âm lịch Đảng bộ, chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân trong xã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm để tưởng nhớ công lao của vị anh hùng dân tộc đã có công với dân với nước và ôn lại truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.
Trang 10Để tưởng niệm Người, xin đề nghị chúng ta để một phút mặc niệm!
(Theo tờ tin từ ban quản lý di tích đền thờ Ngô Quyền, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây)
Tiểu sử Nguyễn Văn Trỗi
Nguyễn Văn Trỗi là con thứ ba (do đó ông còn có tên là Tư Trỗi) trong một gia đình
nghèo tại làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, Quảng Nam, Việt Nam
Sau Hiệp định Genève, gia đình ông vào Sài Gòn sinh sống Lớn lên, ông làm thợ điện ở nhà máy điện Chợ Quán và tham gia tổ chức Biệt động thành, Đại đội quyết tử cánh Tây Nam Sài Gòn
Năm 1964, ông được tập huấn cách đánh biệt động nội thành ở căn cứ Rừng Thơm, Đức Hòa (Long An)
Ngày 2 tháng 5 năm 1964, ông nhận nhiệm vụ đặt mìn ở cầu Công Lý (nay là cầu
Nguyễn Văn Trỗi), để ám sát phái đoàn quân sự chính trị cao cấp của Chính phủ Mỹ do
Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu Công việc bại lộ, ông bị bắt lúc 22 giờ ngày 9 tháng 5 năm 1964
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đưa ông ra tòa án quân sự kết án tử hình Để cứu ông, một tổ chức du kích Venezuela tuyên bố trao đổi anh với một con tin là trung tá không quân Mỹ là Michael Smolen mà họ vừa bắt giữ Tuy nhiên, sau khi viên sĩ quan Mỹ vừa đuợc trả tự do thì ông bị đưa đi xử bắn[1]
Nguyễn Văn Trỗi bị xử bắn tại sân sau nhà lao Chí Hòa lúc 9 giờ 45 phút ngày 15 tháng
10 năm 1964, trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên nước ngoài Những phút cuối cùng, ông tỏ ra rất can đảm, không đồng ý bịt mắt và xưng tội và hô lên những lời cuối cùng được các phóng viên ghi lại[1]:
"Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo Đế quốc Mỹ!"
"Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm!"
Sau khi chết, Nguyễn Văn Trỗi được truy nhận Đảng viên Nhân dân Cách mạng miền Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Thànhđồng hạng nhất
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa bí mật cho chôn xác Nguyễn Văn Trỗi tại nghĩa trang Văn Giáp ở Giồng Ông Tố (nay thuộc phường Bình Trưng Đông, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh) Sau nhiều ngày tìm kiếm, cha đẻ và vợ anh mới tìm thấy mộ
Trang 11Ðậu Tiến sĩ nhưng không ra làm quan Ông mở trường dạy học ở quê nhà Ông có nhiều học trò nổi tiếng như: Lê Qúat, Phạm Sư Mạnh
Ðời Trần Minh Tông, ông được mời đến Thăng long giữ chức Tư nghiệp Trường Quốc tửgiám Ðến đời Trần Dụ Tông, chính trị đổ nát, ông viết Thất trảm sớ dâng Vua xin chém
7 gian thần Không được chấp thuận, ông từ chức, về ở ẩn ở núi Phượng Hòang, làng KiệtÐặc, huyện Chí Linh (nay thuộc tỉnh Hải Dương), lấy biệt hiệu Tiều ẩn, làm thơ viết văn Khi Trần Nghệ Tông lên ngôi, ông có ra kinh đô bệ kiến vua mới, nhưng không nhận chức tước gì, rồi trở về núi cũ
Ông mất năm 1370 Ðược thờ ở Văn miếu, được truy tặng tước Văn trinh công và ban tênthụy là Khang Tiết
Nhìn chung, với tư cách một nhà nho, ở Chu Văn An nổi bật phong cách cứng cỏi, thẳng thắn, tiết tháo của một người sống vào buổi thóai triều; và với tư cách một thi sĩ, ở ông vừa có cái buồn man mác của một con người hoài cổ và bất lực, cũng vừa có cái nhẹ nhàng thanh thản của một người sớm tìm đường ở ẩn Thơ ông "rất trong sáng u nhàn" (Phan Huy Chú), dùng nhiều hình ảnh sáng tạo, nhất là trong thơ tả cảnh
Tác phẩm chính:
"Tiều ẩn thi tập" (chữ Hán)
"Tiều ẩn quốc ngữ thi tập" (chữ Nôm)
Hầu hết tác phẩm của ông không còn nữa Một số bài thơ chữ Hán còn lại được tập hợp trong "Toàn Việt thi lục" và "Phượng Sơn từ chí lược"
Bà Huyện Thanh Quan
Tiểu sử
Trang 12Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người làng Nghi Tàm, huyện Hoàn long, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội)
Bà là vợ ông Lưu Nghi, người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông Lưu Nghi đỗ cử nhân năm 1821 (Minh Mệnh thứ 2), làm tri huyện Thanh Quan (nay là huyện Thái Ninh, tỉnh Thái Bình), vì vậy người ta thường gọi bà là "bà huyện Thanh Quan" Dưới triều Tự đức, bà được mời về kinh nhậm chức Cung trung giáo tập để dạy các công chúa, cung phi Như vậy, bà sống vào khoảng giữa hai triều Minh Mệnh-Tự Ðức
Bà còn để lại 6 bài thơ Nôm Ðường luật, mô tả phong cảnh đất nước như Ðèo Ngang, thành Thăng Long, chùa Trấn Bắc biểu thị lòng yêu mến phong cảnh thiên nhiên và tâmtrạng ai hoài trước sự đổi thay của thế sự
VÕ THỊ SÁU:
(tên thật: Nguyễn Thị Sáu; 1933 - 52), Anh hùng Lực lượng vũ trang (truy tặng 1993), khi hi sinh là đội viên Công an Xung phong quận Đất Đỏ Quê: xã Phước Long Thọ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Tham gia cách mạng năm 1948 Sớm có ý thức căm thù thực dân Pháp, dũng cảm, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao như giao liên, mua hàng tiếp tế cho các tổ chức cách mạng Tháng 5.1948, tham gia phá tề, trừ gian, giết cai tổng Tòng Ngày 14.7.1949, cùng đồng đội phá cuộc mít tinh kỉ niệm quốc khánh Pháp do ngụy quyền tổ chức Đã trực tiếp diệt nhiều lính Pháp ở Vũng Tàu Tháng 5.1950, bị địch bắt giam ở Bà Rịa, sau chuyển đến Khám Chí Hoà , Sài Gòn Mặc dù bị địch tra tấn dã man vẫn giữ vững khí tiết người công an cách mạng Bị thực dân Pháp kết án tử hình - vụ án đã gây chấn động dư luận xã hội lúc đó Sau hai năm bị giam ở Khám Chí Hoà, ngày 21.1.1952, bị đưa ra Côn Đảo với số tù 6267 và bị giam riêng ở Sở Cò Đêm 22.1.1952, được chi bộ nhà tù kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam Khi bị dẫn đi làm thủ tục trước khi hành quyết đã khước từ rửa tội, từ chối bịt mắt khi ở pháp trường, giữ vững khí tiết người chiến sĩ cách mạng đến phút cuối cùng Võ Thị Sáu hi sinh anh dũng hồi 7 giờ ngày 23.1.1952 Truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tiểu sử
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, mất năm 1585, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (nay là xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng) Sinh trưởng trong một gia đình vọng tộc (cháu ngoại quan thượng thư Nhữ Văn Lan) có học vấn, cả hai thân
Trang 13mẫu đều là những người có văn tài học hạnh nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã hấp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương Nhất là phụ mẫu của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tương truyền
bà là người giỏi giang văn tài và tinh thông địa lý, tướng số Ngay từ khi Nguyễn Bỉnh Khiêm cất tiếng khóc chào đời, thấy con mình có tướng mạo khác thường, bà đã dốc lòngđào tạo con trai thành một tài năng giúp nước, cứu đời Niềm thôi thúc đó khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm tìm được thầy học có đạo cao đức cả là cụ bảng nhãn Lương Đắc Bằng Với trí tuệ mẫn tiệp, thông minh từ nhỏ, lại gặp thầy giỏi khác nào như rồng gặp mây Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm thành tài năng kiệt xuất nổi tiếng Và sau này, tài học vấn uyên thâm của ông đã vượt xa thầy Tương truyền Lương Đắc Bằng là người giỏi lý học, đã đem sách Thái ất thần kinh ra dạy cho học trò, nhưng có những điều trong sách ấy LươngĐắc Bằng cũng không hiểu được mà chỉ có Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này mới tinh thông.Lớn lên trong một giai đoạn lịch sử nhà Lê suy thoái, các phe phái trong triều đố kỵ, chém giết lẫn nhau Năm 1572, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lập ra một triều đại mới Thế là suốt cuộc đời thanh niên trai trẻ, Nguyễn Bỉnh Khiêm phải sống trong ẩn dật,không thi thố được tài năng Mãi tới năm 1535 Lúc này đã 45 tuổi, ông mới đi thi Ba lầnthi Hương, thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu và đỗ Trạng nguyên Từ đấy, ông làm quan với tân triều, nhà Mạc phong chức Tả thị lang (chức đứng hàng thứ ba trong bộ Hình) Triều đình nhà Mạc rất trân trọng Nguyễn Bỉnh Khiêm Ông hy vọng triều đại nhà Mạc
có thể xây dựng lại đất nước Lúc này, Mạc Đăng Dung đã nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh và rút về làm Thái thượng hoàng Doanh là người tỏ ra có chí khí đảm lược Nguyễn Bỉnh Khiêm, một nhà học giả uyên thâm, một trí thức dân tộc đã nhìn thấy điều
đó Và ông hy vọng: với nhân vật này, triều đại mới có thể đưa đất nước thoát khỏi tình trạng rối ren mà vua tôi nhà Lê và các tập đoàn phong kiến trước đó gây ra
Nhưng niềm tin đó bị thất vọng Là một học giả, học rộng biết nhiều, trong thơ ông hay nhắc tới sự thăng trầm "thương hải biến vi tang điền" (biển xanh biến thành nương dâu) của trời đất, tạo vật và cuộc đời trôi nổi như "phù vân" Ông thương xót cho "vận mệnh" quốc gia và cảm thông sâu sắc tình cảnh của "dân đen", "con đỏ" Ông thật sự mong muốn đất nước thịnh vượng, thái bình Tương truyền, hình như để tránh những cuộc binh đao khói lửa, tương tàn cho chúng dân và nhìn thấy trước thời cuộc, "vận mệnh" của đất nước trong hoàn cảnh ấy chưa thể có những lực lượng đảm đương được việc thống nhất, nên khi các tập đoàn phong kiến đến hỏi kế sách, ông đều bày cho họ những phương sách