1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về dân vận và sự vận dụng vào công tác dân vận ở huyện lạc sơn, tỉnh hòa bình trong giai đoạn hiện nay

69 431 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 751,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau đây là một số công trình tiêu biểu mà tôi đã tham khảo: Chủ tịch Hồ Chí Minh của Nguyễn Thị Cận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Quan hệ giữa chính quyền nhà nước và nhân dân t

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, em xin bày tỏ lòng cảm ơn tới: Ban giám hiệu Trường Đại học Tây Bắc, phòng Đào tạo, các thầy cô trong khoa Lý luận Chính trị cùng với các phòng ban chức năng Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin bày

tỏ lời cảm ơn chân thành tới cô giáo: Th.s Lại Trang Huyền đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo động viên em trong quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đúng thời gian và có chất lượng

Em xin chân thành cảm ơn, Huyện ủy huyện Lạc Sơn, phòng Dân vận huyện Lạc Sơn…cùng các cá nhân đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ em trong việc sưu tầm và sử lý tài liệu Em xin chân thành cảm ơn cô giáo chủ nhiệm cùng các bạn sinh viên lớp k52 Đại học Giáo dục chính trị Mặc dù em đã có nhiều cố gắng hoàn thành khóa luận bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của bản thân, tuy nhiên không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Em rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2015

Người thực hiện

Bùi Thị Thanh Nhàn

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu của đề tài 4

6 Đóng góp của đề tài 5

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 5

8 Kết cấu của đề tài 5

Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN 6

1.1 Cơ sở, quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và quan niệm về dân, dân chủ, dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh 6

1.1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận 6

1.1.1.1 Cơ sở lý luận 6

1.1.1.2 Cơ sở thực tiễn 9

1.1.2 Quá trình hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận 10

1.1.2.1 Thời kỳ thơ ấu đến năm 1920: tham gia hoạt động yêu nước và hình thành tư tưởng yêu nước, tư tưởng dân vận 10

1.1.2.2 Thời kỳ từ năm 1921 đến năm 1930: hình thành cơ bản tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam và tư tưởng dân vận 12

1.1.2.3 Từ năm 1930 đến năm 1945: tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh phát huy tác dụng tích cực đối với cách mạng Việt Nam 13

1.1.2.4 Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1969: phát triển toàn diện tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh 14

1.2 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận 17

1.2.1 Quan niệm về dân, dân chủ, dân vận của Hồ Chí Minh 17

1.2.1.1 Quan niệm về dân 17

1.2.1.2 Quan niệm về dân chủ 18

1.2.1.3 Quan niệm về dân vận 19

1.2.2 Vị trí, vai trò của công tác dân vận 20

Trang 3

1.2.3 Tư tưởng và phương thức cơ bản chỉ đạo công tác dân vận 21

1.2.3.1 Tư tưởng chỉ đạo công tác dân vận của Hồ Chí Minh 21

1.2.3.2 Phương thức cơ bản chỉ đạo công tác dân vận 26

1.2.4 Lực lượng làm công tác dân vận 29

1.2.5 Phong cách làm việc của người làm công tác dân vận 32

Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG DÂN VẬN CỦA HỒ CHÍ MINH VÀO CÔNG TÁC DÂN VẬN Ở HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HÒA BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 35

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở huyện Lạc Sơn 35

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 39

2.2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận vào công tác dân vận ở huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình 42

2.2.1 Quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trên địa bàn huyện 42 2.2.1.1 Chủ trương đảng bộ huyện Lạc Sơn về công tác dân vận 42

2.2.1.2 Kết quả; thành tựu và hạn chế 43

2.2.2 Những việc làm cụ thể của khối dân vận - mặt trận và các đoàn thể; 49

2.2.2.1 Mặt trận Tổ quốc huyện 49

2.2.2.2 Các tổ chức chính trị 50

Chương 3: NHIỆM VỤ, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC DÂN VẬN Ở HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HÒA BÌNH 57

3.1 Nhiệm vụ , phương hướng nâng cao hiệu quả công tác dân vận ở huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình 57

3.1.1 Nhiệm vụ 57

3.1.2 Phương hướng 58

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác dân vận ở huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình 59

3.2.1 Giải pháp chủ yếu 59

3.2.2 Giải pháp cụ thể 60

3.3 Kiến nghị đề xuất 61

KẾT LUẬN 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn luôn xác định rõ vai trò, vị trí quan trọng của công tác dân vận đối với sự nghiệp cách mạng Bước vào thế kỷ XXI, đất nước đứng trước nhiều thời cơ và thách thức lớn; trong đó thách thức nổi bật

là âm mưu của các thế lực thù địch hòng chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc Do đó, công tác dân vận lúc này cần phải được đẩy mạnh và tăng cường hơn nữa với những nội dung phù hợp với tình hình mới của đất nước và thế giới nhằm phát huy cao độ sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi mục tiêu của sự nghiệp đổi mới đất nước

Trong 30 năm đổi mới vừa qua, công tác dân vận do Đảng tổ chức, lãnh đạo

đã tạo ra động lực lớn cho các phong trào thi đua yêu nước, góp phần không nhỏ làm chuyển biến tình hình kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, chống lại có hiệu quả âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch, tạo thế và lực cho đất nước; đồng thời góp phần mở rộng quyền dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác dân vận vẫn còn một số yếu kém cần được khắc phục Việc triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước còn thiếu đồng bộ, nhiều nơi còn làm hình thức, chiếu lệ Đáng tiếc các cấp uỷ đảng, cấp chính quyền, cán bộ, đảng viên ở một số nơi vẫn chưa nhận thức đúng vị trí và tầm quan trọng của công tác dân vận, thậm chí còn xem nhẹ công tác này, không coi đó là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị Tình trạng một

số cán bộ, đảng viên quan liêu, ngại đi cơ sở nắm bắt nguyện vọng của nhân dân, thậm chí lợi dụng chức quyền, làm trái đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để tham nhũng, trục lợi, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân còn khá phổ biến Tình

Trang 5

trạng này là nguyên nhân chính gây ra các vụ khiếu kiện, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước

Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước, yêu cầu tập hợp, đoàn kết, vận động nhân dân tiếp tục được đặt ra một cách bức thiết Do vậy, công tác dân vận đã được đề cập trong nhiều nghị quyết của Đảng, đặc biệt Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 khoá IX, có ba Nghị quyết về công tác dân vận nhằm đáp ứng những yêu cầu bức thiết của nhân dân và huy động tối đa nội lực, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Vì vậy, nghiên cứu, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận và tích cực đưa đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công tác vận động nhân dân

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài "Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và

sự vận dụng vào công tác dân vận ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay" làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận là một công việc cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Do vậy, việc nghiên cứu này được nhiều cơ quan, tổ chức và nhiều nhà khoa học quan tâm thực hiện và đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố Sau đây là một số công trình tiêu biểu mà tôi đã tham khảo:

Chủ tịch Hồ Chí Minh của Nguyễn Thị Cận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Quan hệ giữa chính quyền nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của PGS.TS Trần Quang Nhiếp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động nông dân của Lê Hoàng Minh, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2005; GS Văn Tạo: Học tập tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh, Tạp chí Dân vận, số 5-2000; PGS.TS Nguy- Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận của TS Đỗ Quang Tuấn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Khái niệm, nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân vận của PGS.TS Nguyễn Bá Linh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh của TS Thanh Tuyền, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Cán bộ dân vận thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, của TS Trịnh Xuân Giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Tác phẩm dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi toả sáng, soi đường cho công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới của TS Nguyễn Văn Hùng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh với việc xây dựng kỹ năng,

Trang 6

nghiệp vụ công tác dân vận của Lương Ngọc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác dân vận của hệ thống chính trị của Đinh Hồng Vân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Quyền hạn và lợi Ých của dân trong bài báo dân vận của Nguyễn Tri Thư: Tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề trong công tác vận động quần chúng, Tạp chí Dân vận, số 1+2, 2000; PGS.TS Hoàng Chí Bảo:

Hồ Chí Minh với quan điểm thực tiễn và phương pháp khoa học về dân vận, Tạp chí Dân vận, số 10-2000; TS Phạm Văn Khánh: Tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh nhân dân và công tác dân vận, Tạp chí Dân vận, số 10-2003; PGS.PTS Đức Vượng: Đầu xuân suy ngẫm về dân vận trong sự nghiệp đổi mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Dân vận, số 1+2, 1999; PGS.TS Bùi Đình Phong: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận vào việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, Tạp chí Cộng sản, số 9-

2003; GS.TS Mạch Quang Thắng: Dân vận - vấn đề luôn luôn mới (qua nghiên cứu tác phẩm "Dân vận" của Hồ Chí Minh), Tạp chí Lý luận chính trị, 8-2006

Ngoài ra, rất nhiều bài viết, luận văn, cuốn sách mà nội dung đề cập đến công

tác dân vận đã được công bố, như: Chính quyền và nhiệm vụ dân vận của Nguyễn Khánh, Tạp chí Cộng sản, số 1-1995; Lại bàn về dân vận của GS Đặng Nguyên Anh, Tạp chí Dân vận, số 1-2003; "Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công" của Phạm Thế Duyệt, Tạp chí Dân vận, số 10-2002; Công tác dân vận là một bộ phận quan trọng của công tác cách mạng của Phan Diễn, Tạp chí Dân vận, số 11-2000; Cơ quan nhà nước làm công tác dân vận như thế nào của Nguyễn Khánh, Tạp chí Dân vận, số 8-2000; Dân vận - một nhiệm vụ quan trọng của chính quyền của Nguyễn Khánh, Tạp chí Cộng sản, số 8-1996; Công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 1996), Luận văn thạc sĩ Lịch sử của Nguyễn Thị Ngọc Mai, 2002; Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và sự vận dụng vào công tác vận động nông dân ở tỉnh Quảng Bình trong những năm đầu thế kỉ XXI, Luận văn thạc

sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh

Nhìn chung các công trình nghiên cứu của tập thể và cá nhân nêu trên đã làm sáng tỏ lý luận và một số nội dung cụ thể của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận Song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận Tuy nhiên, những công trình này là những tài liệu quý báu để tôi tham khảo, kế thừa nhằm nghiên cứu, trình bày một cách tương đối hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và vận dụng tư tưởng đó vào việc đánh giá thực trạng công tác dân vận trong

Trang 7

giai đoạn hiện nay ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; trên cơ sở đó xác định phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác dân vận của huyện trong thời gian tới

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích

Làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng, nêu ra phương hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác dân vận hiện nay ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhằm đạt được mục đích nêu trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

- Phân tích cơ sở hình thành và nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận

- Phân tích thực trạng công tác dân vận ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn hiên nay, từ đó rút ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm

- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay ở huyện Lạc Sơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận

- Quá trình quán triệt, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận; nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng đó trong công tác dân vận ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Cơ sở lý luận của đề tài là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về công tác dân vận

- Cơ sở phương pháp luận của đề tài là phương pháp duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin

Trang 8

- Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc là chủ yếu, ngoài ra còn sử dụng nhiều phương pháp khác như thống kê, so sánh

- Đề tài mạnh dạn nêu ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay ở huyện Lạc Sơn

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài góp phần làm rõ tính cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh

về công tác dân vận Tính cách mạng và tính khoa học của tư tưởng này không chỉ có ý nghĩa và giá trị to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc, mà cả trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy công tác dân vận và làm công tác dân vận, nhất là làm công tác dân vận đối với nông dân

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, đề tài có 3 chương; Chương 1; Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận

Chương 2; Vận dụng tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh vào công tác dân vận

ở huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay

Chương 3; Nhiệm vụ, phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dân vận ở huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình

Trang 9

Chương 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN 1.1 Cơ sở, quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và quan niệm

về dân, dân chủ, dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh

1.1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận

1.1.1.1 Cơ sở lý luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận có nguồn gốc từ nhiều yếu tố, trên cơ sở kế thừa và phát triển biện chứng chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại, đặc biệt là chủ nghĩa Mác - Lênin

* Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy tinh thần

“trọng dân”, “yêu dân”, “dựa vào dân” của ông cha ta trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước

Bản “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt là lời hịch của non sông trong đấu tranh giữ nước và dựng nước, đã động viên toàn dân chống quân Tống xâm lược

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư" [3, tr.65]

Tổng kết các bài học lớn của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, Trần Quốc Tuấn nhận thấy rằng nguyên nhân lớn nhất của chiến thắng là “Vua tôi

đồng tâm, anh em hoà thuận, cả nước góp sức”, và ông căn dặn: "Phải khoan thử sức dân

để làm kế bền gốc sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước” Những lời tâm huyết đó đã thúc giục lòng người đứng lên giết giặc lập công

Lê Lợi, Nguyễn Trãi bằng chiến lược đánh vào lòng người đã động viên toàn quân, toàn dân trên tư tưởng "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân", "chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân"

Tổng kết chiến thắng quân Minh, Nguyễn Trãi nhấn mạnh nguyên nhân thắng lợi là gắn bó với nhân dân,và vận động, giáo dục, phát huy sức mạnh của nhân dân

Đến đầu thế kỷ XX, các nhà yêu nước tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh vượt qua hệ tư tưởng phong kiến, tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, thực hiện một bước tiến về chất trong lịch sử tư tưởng dân tộc nói chung và trong vấn đề

Trang 10

vận động quần chúng nói riêng Tuy nhiên, các nhà yêu nước nổi tiếng này chưa có

phương pháp đánh giá và công tác vận động nhân dân một cách khoa học, nên phải

chịu “trăm thất bại” mà không một thành công

*Chủ nghĩa Mác - Lênin

Hồ Chí Minh là nhà yêu nước Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 Người coi chủ nghĩa Mác - Lênin không những là cái “cẩm nang thần kỳ", mà còn là "kim chỉ nam" và "là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới mục đích cuối cùng", đó là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là đến với tri thức tiên tiến của thời đại, là tiếp thu sức mạnh và giá trị tinh thần của nhân loại

Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ các đảng cộng sản đều phải làm công tác vận động nhân dân Đó là một công tác lâu dài và phải kiên trì thực hiện Giai cấp công nhân phải làm công tác dân vận để giành lấy sự đồng tình, sự ủng hộ của đa số nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh cách mạng của mình; và phải nhận thức rằng, mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau phải có những hình thức, nội dung công tác dân vận khác nhau

Như vậy, theo C.Mác và Ph Ăngghen, muốn thắng lợi, các cuộc cách mạng

xã hội không phải do những cá nhân, những nhóm người nhỏ bé cầm đầu, những quần chúng không tự giác tiến hành, mà phải do các chính đảng có lý luận tiên phong của các giai cấp lãnh đạo; các đảng đó phải biết thuyết phục, giác ngộ và tập hợp đông đảo quần chúng, huấn luyện quần chúng dám xả thân đấu tranh

Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ rằng sức mạnh của quần chúng nhân dân là vô địch; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Tuy nhiên, quần chúng nhân dân chỉ có thể phát huy được sức mạnh của mình khi họ được tổ chức lại

Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền” [6, tr.615]

Phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin khẳng định rằng:

1) Không một phong trào cách mạng nào mà lại vững chắc được nếu không có một tổ chức ổn định và duy trì được tính liên tục gồm những người lãnh đạo; 2) Càng

có đông đảo quần chúng được thu hút tự phát vào cuộc đấu tranh, tạo thành cơ sở cho phong trào và tham gia phong trào, thì càng cấp thiết phải có một tổ chức như thế và tổ

Trang 11

chức ấy lại càng phải vững chắc (nếu không thì bọn mị dân sẽ dễ lôi cuốn được những tầng lớp lạc hậu trong quần chúng); một tổ chức như thế thì chủ yếu phải gồm những người lấy hoạt động cách mạng làm nghề nghiệp của mình [38 tr.158-159]

Vì vậy, V.I.Lênin nhấn mạnh "hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga lên!" [38, tr.162]

Muốn có sức mạnh phải thống nhất ý chí, phải đoàn kết, phải có tổ chức Về phương hướng công tác dân vận, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ cần phải dùng phương pháp nêu gương và giúp đỡ; trong công tác dân vận thì những tấm gương, những mô hình thực tiễn cụ thể có tác dụng cổ vũ, động viên, hướng dẫn quần chúng nhân dân rất

to lớn; đối với quần chúng nhân dân không được dùng mệnh lệnh áp đặt ý chí chủ quan của cá nhân lãnh đạo đối với họ

Để vận động quần chúng, V I Lênin khuyến khích mở rộng dân chủ, công khai làm cho mỗi người dân biết công việc của Đảng, của Nhà nước Đây là phương pháp vận động quần chúng có tác dụng nâng cao tính chủ động, tính tích cực sáng tạo, cách mạng của quần chúng V I Lênin viết: “Một nước mạnh là nhờ ở sự giác ngộ của quần chúng Nước mạnh là khi nào quần chúng biết rõ tất cả mọi cái quần chúng có thể phán đoán được về mọi cái, và đi vào hành động một cách có ý thức” [39, tr.23]

V I Lênin rất trân trọng ý kiến của quần chúng; xem tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân là những nguồn thông tin cực kỳ quý báu để hình thành chính sách Vì vậy, Người đề nghị tìm mọi cách để duy trì, phát triển và mở rộng hội nghị công nhân, nông dân ngoài Đảng, vì thông qua những hội nghị như thế, Đảng có thể

“nhận xét tâm trạng của quần chúng, gần gũi họ, giải quyết những nhu cầu của họ, giao cho những phần tử tốt nhất, trong số họ đảm nhiệm những chức vụ trong bộ máy nhà nước ” [38, tr.39]

Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin là thế giới quan khoa học, là cơ sở phương pháp luận giúp Hồ Chí Minh tổng kết, tiếp thu có chọn lọc các học thuyết tư tưởng của nhân loại Với ý nghĩa đó, chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở, là nguồn gốc lý luận chủ yếu nhất để Người nâng cao truyền thống yêu nước của dân tộc theo phương hướng

“Giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản”, hình thành và hoàn chỉnh tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam nói chung, về tư tưởng dân vận nói riêng để vận động, giáo dục, tổ chức nhân dân hành động dưới ngọn cờ của Đảng nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người

Trang 12

1.1.1.2 Cơ sở thực tiễn

* Thực tiễn Việt Nam

Lịch sử đã chứng minh truyền thống đoàn kết, ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc ta đã được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Hồ Chí Minh là người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, Khi đất nước bị giặc xâm lăng, “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức” và “Khoan thử sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc là thượng sách giữ nước” Hội nghị Diên Hồng đời Nhà Trần là một điển hình của truyền thống đoàn kết toàn dân tộc nhằm tập hợp mọi lực lượng, thu phục tướng sĩ, nhân tài, phát huy sức mạnh của cả dân tộc để đánh đuổi kẻ thù Truyền thống này được Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy lên một tầm cao mới, trong thời đại mới

Năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cuộc

vũ trang xâm lược và áp bức của chúng đối với dân tộc ta Chúng đã thi hành nhiều chính sách nguy hiểm và bằng mọi thủ đoạn độc ác, đê hèn để bóc lột nhân dân ta, đặc biệt là chính sách “chia để trị” Với chính sách đó kẻ thù hòng phân biệt, tách rời giữa đồng bào miền xuôi với đồng bào miền ngược, giữa đồng bào không theo đạo với đồng bào theo đạo… Nguy hiểm hơn, chúng đã chia đất nước ta thành ba miền: Bắc - Trung - Nam; mỗi miền có một chế độ cai trị khác nhau nhằm tập trung phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc

Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước Việt Nam

đã diễn ra rất mạnh mẽ Từ phong trào Cần Vương, Yên Thế cuối thế kỷ XXI, đến phong trào Đông Du, Duy Tân các thế hệ người Việt Nam yêu nước nối tiếp nhau chống giặc ngoại xâm, nhưng đều thất bại Hồ Chí Minh nhận thấy được những hạn chế của các nhà yêu nước trong chủ trương tập hợp lực lượng và trong việc nắm bắt những đòi hỏi khách quan của lịch sử dân tộc trong giai đoạn này Đây chính là lý do, điểm xuất phát để Hồ Chí Minh quyết tâm ra nước ngoài tìm chân lý cách mạng, rồi trở về nước cùng nhân dân cứu nước

*Thực tiễn thế giới

Trong hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh khảo sát nhiều nước tư bản chủ nghĩa và nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc ở hầu khắp các châu lục Cuộc khảo nghiệm đó đã giúp Người nhận ra một sự thật là: Giới cần lao ở các dân tộc thuộc địa tiềm ẩn một sức mạnh vĩ đại; song cuộc đấu tranh của họ chưa đi đến thắng lợi, bởi vì

Trang 13

các dân tộc bị áp bức chưa biết tập hợp lại, chưa biết đoàn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở “chính quốc”, chưa có tổ chức và chưa biết tổ chức Đối với phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý tới phong trào cách mạng ở Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước có thể đem lại cho Việt Nam nhiều bài học rất bổ ích về tập hợp các lực lượng yêu nước, tiến bộ

để tiến hành cách mạng, như kinh nghiệm tập hợp lực lượng của Tôn Dật Tiên trong cách mạng Tân Hợi (1919) Ở Trung Quốc và của lãnh tụ đấu tranh đòi độc lập Mahatma ganđi ở ấn Độ

Hồ Chí Minh nghiên cứu một cách thấu đáo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và những bài học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách mạng này đem lại cho phong trào cách mạng thế giới; đặc biệt là bài học về huy động, tập hợp lực lượng quần chúng công nông đông đảo để giành chính quyền cách mạng

1.1.2 Quá trình hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh rất quan tâm tới việc vận động, tổ chức và lãnh đạo quần chúng làm cách mạng Lý luận Dân vận của Hồ Chí Minh hoà làm một với thực hành công tác dân vận, một cuộc thực hành bền bỉ kéo dài trong suốt cuộc đời của Người Tư tưởng dân vận của Người được hình thành, phát triển và hoàn thiện gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng của Người; gắn liền với quá trình phát triển, thắng lợi của cách mạng Việt Nam

1.1.2.1 Thời kỳ thơ ấu đến năm 1920: tham gia hoạt động yêu nước và hình thành tư tưởng yêu nước, tư tưởng dân vận

Trong thời kỳ này, Nguyễn Tất Thành tiếp thu truyền thống yêu nước và lòng nhân ái từ gia đình và quê hương Tại quê hương, Hồ Chí Minh được khai tâm bằng chữ Hán, hấp thụ tinh thần yêu nước bất khuất của phong trào chống Pháp, cách đối nhân xử thế, nhân nghĩa thuỷ chung, khí khái của các nhà nho yêu nước

Thời kỳ này, Hồ Chí Minh cũng đã chứng kiến cảnh đàn áp dã man của thực dân Pháp đối với những người yêu nước Việt Nam; cảnh sống cơ cực, đói rách của nhân dân lao động; cuộc sống xa hoa của bọn thực dân Pháp và quan lại tay sai Hồ Chí Minh tham gia phong trào biểu tình chống thuế của nhân dân Trung Kỳ, thấy được thất bại của phong trào Đông Du (1906 - 1908) do Phan Bội Châu tổ chức, lãnh đạo và phong trào “Đông kinh Nghĩa thục”(1907)

Trang 14

Khi bị kỷ luật ở trường Quốc học Huế, người đã đi dần vào nam và dừng chân tại Phan Thiết, Nguyễn Tất Thành vào dạy học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết) (9/1910 - 2/1911) Trong thời gian này anh đã phổ biến cho học sinh những thơ ca yêu nước, những bài “Ca hớt tóc”:

Phen này cắt tóc đi tu,

Tông kinh độc lập ở chùa Duy Tân,

Đêm ngày khấn vái chuyên cần,

Cầu cho ích nước lợi dân mới là,

Quyết tu sao phỉ chí dân nhà,

Tu sao độ được nước ta phú cường,

Lòng thành thắp một tuần nhang,

Nam mô phật tổ hồng bàng chõng tri [2, tr.38]

Ngày 5/6/1911 anh thanh niên Nguyễn Tất Thành ra nước ngoài tìm đường cứu nước, cứu dân Khi rời bến Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành có một tâm nguyện rằng: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” [36, tr.13]

Trong thời gian làm việc trên tàu buôn của Pháp, Người gia nhập Hội viên Công hội, Hội những người thuỷ thủ Việt Nam ở nước ngoài Năm 1917, Hồ Chí Minh trở lại Pháp - một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá lớn ở Châu Âu lúc bấy giờ, sau đó tham gia Đảng Xã hội Pháp (1918) Năm 1919, Người thay mặt những người Việt

Nam yêu nước gửi đến Hội nghị Vecxây Bản Yêu sách của nhân dân An Nam, gồm 8

điểm đòi tự do dân chủ đơn sơ, đòi có tiếng nói riêng của người bản xứ trong Quốc hội Pháp, đòi thay thế chế độ sắc lệnh bằng các đạo luật Mặc dù không được Hội nghị Vecxây xem xét, song bản yêu sách đã có tiếng vang lớn

Trong thời gian này, Hồ Chí Minh qua nhiều nước ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ

và châu Âu, chú ý xem xét tình hình các nước, suy nghĩ về thực tế đang diễn ra ở các nước đó và nhận định rằng: trên thế giới này chỉ có hai giống người: bị bóc lột và bóc lột mà thôi Người kết luận giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn; chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù Từ đó đã làm nảy nở ở Người tình cảm và ý thức giai cấp cũng như tình đoàn kết quốc tế Người cũng đã tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới, khảo sát cuộc sống, tình cảnh của nhân dân bị áp bức và ảnh hưởng về con đường Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, một cuộc cách mạng đã

Trang 15

thành công đến nơi, vì “Cách mạng rồi quyền giao cho dân chúng số nhiều” Bằng những hoạt động tích cực ấy, Hồ Chí Minh đã đi trước một đoạn đường khá thành công của công tác dân vận

1.1.2.2 Thời kỳ từ năm 1921 đến năm 1930: hình thành cơ bản tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam và tư tưởng dân vận

Thời kỳ này Hồ Chí Minh vừa tiếp tục hoạt động cách mạng, vừa đi sâu nghiên cứu tư tưởng Mác-Lênin, từng bước xây dựng tư tưởng, chiến lược, sách lược, phương pháp và lực lượng cách mạng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam Năm 1921,

Hồ Chí Minh cùng một số chiến sỹ cách mạng ở nhiều nước lập ra tổ chức “Hội Liên hiệp thuộc địa” Tháng 12/1921, theo kiến nghị của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Pháp thành lập Ban Nghiên cứu thuộc địa Hồ Chí Minh được cử làm trưởng Tiểu ban nghiên cứu Đông Dương

Năm 1923, trong bức "Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp” trước khi rời nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc viết: “Chúng ta phải làm gì?

Chúng ta không thể đặt vấn đề ấy một cách máy móc

Điều đó tuỳ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi dân tộc chúng ta

Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” [11, tr.192] Những lời của Người trong bức thư ngắn gọn nêu trên cho thấy tư tưởng, quan điểm của Người với những nội dung hết sức rõ ràng cụ thể về cuộc vận động quần chúng làm cách mạng, từ giáo dục, tuyên truyền, tổ chức, tập hợp lực lượng và thực hành tranh đấu

Tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh ở thời kỳ này định hướng cho cách mạng thuộc địa Sự định hướng đó thể hiện ở chỗ: “Giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản”

Trong những năm 1925-1927, Hồ Chí Minh hoạt động Quảng Châu (Trung Quốc) Ở đây, Ngườivận động, tổ chức Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng, ra báo Thanh niên và viết tác phẩm “Đường Kách mệnh”, mở các lớp huấn luyện chính trị đào tạo cán bộ rồi đưa họ về nước hoạt động Trong “Đường Kách mệnh”, Hồ Chí Minh nói rõ mục đích “Vì sao phải viết sách này” Người viết:

5 Mục đích sách này là để nói cho đồng bào ta biết rõ: (1) Vì sao chúng ta muốn sống thì phải cách mệnh (2) Vì sao cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không

Trang 16

phải việc một hai người (3) Đem lịch sử cách mệnh các nước làm gương cho chúng ta soi (4) Đem phong trào thế giới nói cho đồng bào ta rõ (5) Ai là bạn ta? Ai là thù ta? Cách mệnh thì phải làm thế nào?

6 Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ Chắc có người chê rằng văn chương cụt quằn Vâng ! Đây nói việc gì thì nói rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như

2 lần hai là 4, không tô vẽ trang hoàng gì cả

Sách này chỉ ước ao sao đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh

Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ “Cách mệnh! Cách mệnh!! Cách mệnh !!! [12, tr.262]

Đây làcách đặt vấn đề xuất phát từ quan điểm thực tiễn rất tiêu biểu của Chủ tịch

Hồ Chí Minh Quan điểm này là nền tảng của dân vận, của khoa học chính trị vận động quần chúng Tác phẩm “Đường Kách mệnh” là ngọn cờ chỉ đạo; là bước chuẩn bị rất cơ bản về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, Hồ Chí Minh còn viết "Lời kêu gọi"; trong đó, Hồ Chí Minh phân tích tình hình thế giới, tình hình trong nước và nêu lên đường lối, mục tiêu trước mắt và lâu dài của cách mạng Việt Nam, cổ vũ các tầng lớp nhân dân đứng lên đấu tranh dưới ngọn cờ cứu nước của Đảng Cộng sản Việt Nam để giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc

1.1.2.3 Từ năm 1930 đến năm 1945: tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh phát huy tác dụng tích cực đối với cách mạng Việt Nam

Trong những năm 1930 - 1940, do điều kiện khách quan, Hồ Chí Minh tiếp tục hoạt động cách mạng ở nước ngoài Lúc này, toà án thực dân, phong kiến ở Việt Nam kết án tử hình vắng mặt Hồ Chí Minh Tháng 6/1931 đế quốc Anh bắt giam trái phép

Hồ Chí Minh tại Hương Cảng (Trung Quốc) Chúng bịa ra nhiều lý do để trao Người cho thực dân Pháp Nhờ sự giúp đỡ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của những nhân sĩ dân chủ và tiến bộ, nhất là của luật sư Lô - Dơ - By và kinh nghiệm hoạt động bí mật của mình, Hồ Chí Minh đã thoát khỏi nanh vuốt của kẻ thù

Mùa xuân năm 1934, Hồ Chí Minh sang Liên Xô Ở đây Người vào học tại trường Đại học Lênin và sau đó làm nghiên cứu sinh ở Ban sử của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản Người tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và kinh nghiệm phong trào

Trang 17

cách mạng thế giới Trong thời gian này, Người tiếp tục bảo vệ và phát triển những tư

tưởng, quan điểm đúng đắn của mình về cách mạng vô sản, chống lại những biểu hiện

tả khuynh và biệt phái trong phong trào cộng sản và phong trào công nhân quốc tế

Tháng 7/1935, Đại hội lần thứ 7 Quốc tế Cộng sản được tổ chức ở Mátxcơva,

Nguyễn Ái Quốc tham gia đoàn đại biểu Đảng ta với tư cách là đại biểu tư vấn Căn cứ

vào tình hình quốc tế lúc này, Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản đã thay đổi sự chỉ đạo chiến

lược và chủ trương mở rộng mặt trận thống nhất nhằm tập hợp đông đảo các tầng lớp

nhân dân, đấu tranh chống phát xít, bảo vệ tự do, dân chủ, hoà bình Đại hội 7 Quốc tế

Cộng sản đã khắc phục được một bước quan trọng xu hướng tả khuynh trong phong

trào cộng sản và phong trào quốc tế, tạo điều kiện để cách mạng nhiều nước có bước

tiến mới

Như vậy, thực tiễn cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam đã chứng minh

những quan điểm của Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải tổ chức mặt trận dân tộc thống

nhất rộng rãi, tập trung mũi nhọn chống đế quốc là đúng đắn và sáng tạo

Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Người chủ trì Hội nghị Trung ương VIII, cụ thể hoá đường lối do Người vạch ra

trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc cao hơn hết

Trong bài "Kính cáo đồng bào", Người chỉ rõ: "Trong lúc này quyền lợi dân tộc

giải phóng cao hơn hết thảy" [13, tr.198] Người chủ trương thành lập Việt Minh,

vận động toàn dân thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, tiến tới giành

chính quyền, giải phóng dân tộc Nhờ những chủ trương đúng đắn, sáng tạo đó của

Người, cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi Đó là thắng lợi đầu tiên của

tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng dân vận của người và tư tưởng đó có sức

sống mãnh liệt trong thực tiễn đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc

1.1.2.4 Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1969: phát triển toàn diện tư tưởng

dân vận Hồ Chí Minh

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa đến sự ra đời nước Việt

Nam Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước công nông đầu tiên ra đời từ hệ thống thuộc địa

của chủ nghĩa đế quốc Nhưng ngay từ khi mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng

hoà phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách hiểm nghèo Ở miền Bắc, 20 vạn

quân Tưởng và sau chúng là bè lũ Việt gian phản động chống phá cách mạng quyết

liệt, mưu toan bóp chết chính quyền cách mạng non trẻ Ở miền Nam, quân Anh giúp

Trang 18

Pháp quay trở lại nổ súng xâm lược nước ta lần thứ hai Trong khi đó tình hình kinh tế

- tài chính của Nhà nước mới cực kỳ khó khăn, kho bạc trống rỗng; hơn nữa, nạn đói

do hậu quả của chính sách vơ vét của Pháp và Nhật trước đó vẫn diễn ra gay gắt

Đứng trước tình thế vô cùng khó khăn, nguy hiểm đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh bình tĩnh, khôn khéo đề ra nhiều biện pháp linh hoạt, phát huy được sức mạnh của cả dân tộc để giải quyết những vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp thiết của cách mạng; nhờ đó từng bước đẩy lùi giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, bảo vệ được chính quyền cách mạng và chuẩn bị lực lượng kháng chiến

Trong lời kêu gọi lịch sử này, Hồ Chí Minh vạch ra đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn của đất nước; do đó đã vận động, tập hợp, đoàn kết và huy động cả dân tộc Việt Nam vào cuộc trường chinh vĩ đại, bảo vệ nền độc lập,

tự do của Tổ quốc và từng bước xây dựng chế độ dân chủ nhân dân

Năm 1947, Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Qua tác phẩm này, Người ý thức cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân sự cần thiết phải có phương pháp và cách thức làm việc, cách thức giải quyết các vấn đề trong điều kiện kháng chiến Hơn thế nữa, tác phẩm còn nêu lên những phẩm chất cần có của người cách mạng để tập hợp sức mạnh của quần chúng, đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công

Năm 1949, Hồ Chí Minh viết tác phẩm: “Dân vận” Ở tác phẩm này Người đã nêu lên những quan điểm và phương pháp chỉ đạo công tác dân vận với một tầm nhìn rộng lớn, khoáng đạt; với cách nghĩ, cách làm dân vận hết sức mới mẻ, hiện đại Đây là một trong những tác phẩm ít chữ mà nhiều ý nghĩa Với một lượng tối thiểu ngôn từ, Người chuyển tải và biểu cảm một cách tối đa tư tưởng và triết lý của Người về công tác dân vận

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Mặt trận Dân tộc thống nhất đòi hỏi phải được mở rộng để thu hút tối đa các thành phần dân tộc vì những lý do khác nhau không tham gia Việt Minh Vì vậy, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam ra đời Công tác dân vận trong thời kỳ Đảng cầm quyền không phải là nhiệm vụ riêng của Đảng như thời kỳ Đảng hoạt động bí mật, bất hợp pháp

Từ sau tác phẩm “Dân vận” của Người, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân chú tâm vào công tác dân vận, động viên nhân dân thi đua ái quốc, giết giặc lập công, tăng gia sản xuất Tư tưởng dân vận của Người đã đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Trang 19

đến thắng lợi và cổ vũ nhân dân giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Năm 1954, cuộc kháng chiến của nhân dân ta giành được thắng lợi to lớn, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về lập lại hoà bình ở Đông Dương (20/7/1954) Theo hiệp định này đất nước ta tạm chia làm hai miền và sau hai năm sẽ tổng tuyển cử để thống nhất đất nước Song đế quốc Mỹ lợi dụng sự thất bại của Pháp, nhảy vào xâm lược miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta

Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã chỉ ra đường lối đúng đắn cho giai đoạn cách mạng mới Đó là Cách mạng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và Cách mạng Dân chủ nhân dân ở miền Nam Trong thời gian này Hồ Chí Minh có hàng trăm bài viết, bài nói chuyện để giải thích, tuyên truyền đường lối của Đảng, đồng thời

cổ vũ động viên cán bộ và nhân dân ta hăng hái xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Một trong những tác phẩm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn của Người trong giai đoạn này là tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” Bằng những lời lẽ sâu sắc và đầy sức thuyết phục, Hồ Chí Minh chỉ ra cho cán

bộ, đảng viên thấy sự cần thiết phải thường xuyên rèn luyện tu dưỡng, nâng cao đạo đức cách mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân Người coi chủ nghĩa cá nhân là

kẻ thù hung ác của chủ nghĩa xã hội, là nguồn gốc của mọi sự sai lầm khuyết điểm

Người viết: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ

hoá, lãng phí, xa hoa Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh” [29, tr.438-439] Theo Người, để chống chủ nghĩa cá nhân có hiệu quả mỗi người cần ra sức trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, gắn bó mật thiết với quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân

Lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng dân vận của Người nói riêng cho chúng ta thấy tư tưởng của Người là một hệ thống lý luận gắn chặt với thực tiễn, có tác động to lớn đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng như của nhân loại tiến bộ chống lại mọi hình thức áp bức, nô dịch để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người

Trang 20

1.2 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận

1.2.1 Quan niệm về dân, dân chủ, dân vận của Hồ Chí Minh

1.2.1.1 Quan niệm về dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người suốt đời đấu tranh đưa dân tộc Việt Nam từ dân tộc

nô lệ thành dân tộc tự do, đưa người dân Việt Nam từ thân phận người dân thuộc địa lên địa vị người làm chủ đất nước; đồng thời Người cũng suốt đời phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh

Khái niệm "Dân" trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự tiếp thu và phát triển những quan

điểm tiến bộ về dân trong lịch sử tư tưởng dân tộc Việt Nam, lịch sử tư tưởng phương Đông, phương Tây và khái niệm quần chúng của chủ nghĩa Mác - Lênin

Hồ Chí Minh đã rút ra một hệ thống các quan niệm về dân Cho dù xét theo cách tiếp cận nào thì quan niệm của Hồ Chí Minh về dân Việt Nam có thể khái quát trên các nội dung sau:

Dân là những người chung một nước, chung một cộng đồng, chung một lãnh thổ thống nhất, là đồng bào, là "con Rồng cháu Tiên", là "con Hồng cháu Lạc", là anh em ruột thịt, là các tầng lớp, các đoàn thể, là những người cùng giai cấp, là những người yêu nước, là lực lượng cách mạng…

Hồ Chí Minh mở rộng nội hàm khái niệm “dân” đến tất cả những ai thừa nhận

mình là “Con dân đất Việt” Người thường nói đến “Con Rồng cháu Tiên”, “đồng

bào”, gốc tích Việt Nam, “Hồng Bàng là tổ tiên ta”, “người chung một nước”, không

phân biệt dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, người có tín ngưỡng với người không có tín

ngưỡng, không phân biệt “Già, trẻ, trai, gái, giàu, nghèo, quý, tiện” Dân là toàn bộ

đồng bào trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài

Dân là “Toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu, nghèo, giai cấp, tôn giáo” (27, tr.8).

Dân ở đây trừ bọn phản bội, làm tay sai cho đế quốc thực dân đi ngược lại quyền lợi, nguyện vọng của toàn dân, dân tộc Nói đến dân cũng là nói đến tuyệt đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân, trí thức và những người lao động khác Với quan niệm đó, Người cho rằng giai cấp tư sản dân tộc - những người có lòng yêu nước, cũng

là dân; họ cũng có đóng góp nhất định trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc

Hồ Chí Minh phân tích một cách sâu sắc và khoa học lực lượng quần chúng ở nước ta

và chỉ rõ: “Nhân dân là: bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, và tư sản dân tộc Dưới sự

Trang 21

lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng, các giai cấp đoàn kết lại, bầu ra chính phủ của mình” (17, tr.214)

1.2.1.2 Quan niệm về dân chủ

Từ quan niệm về dân, Hồ Chí Minh đi đến quan niệm mới về dân chủ Bằng những mệnh đề giản dị, hàm súc, ngắn gọn mà đầy đủ ý nghĩa, Hồ Chí Minh khái quát bằng cách riêng của mình những giá trị văn hoá dân chủ nhân loại từ cổ đại đến hiện đại mà lại rất Việt Nam - cụ thể và thiết thực nên ai đọc cũng nhận thức được ngay

Người viết: “Chế độ của ta là chế độ dân chủ Nhân dân là chủ” (17, tr.368); “Nước

ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” (16, tr.515); “Bây giờ chúng

ta là dân chủ Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ” (18, tr.375); “ Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ ” (17, tr.452); “Chế độ ta là chế độ dân chủ Tức là nhân dân làm chủ” (20, tr.251)

Có thể coi quan niệm trên đây là quan niệm chính thức của Hồ Chí Minh về dân chủ và đó là quan niệm ngắn gọn nhất, phản ánh đúng thực chất và nội dung quan niệm của Người về dân chủ

Cũng có thể thấy quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ còn thể hiện nội dung căn bản nhất của loài người về khái niệm dân chủ Người viết:

NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân

Chính quyền xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [15, tr.698]

Như vậy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ, vấn đề nhất quán và sáng tỏ nhất là sự khẳng định ngay chế độ dân chủ của nước ta phải thể hiện “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”, “quyền hành”, “trách nhiệm, lực lượng” là “của dân”, “đều ở nơi dân” Quan niệm đó cũng chỉ ra phương thức tổ chức, vận hành của xã hội dân chủ

là chế độ đại diện, uỷ quyền, trong đó chính quyền và đoàn thể “do dân cử ra và do dân tổ chức nên”

Trang 22

Tóm lại, quan niệm dân chủ ở nước ta được Hồ Chí Minh chỉ ra là: dân là chủ và dân làm chủ; bản chất của vấn đề dân chủ là quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân, địa vị của dân là cao nhất, dân là chủ thể của mọi quyền lực Có thể nói toàn bộ tư tưởng chủ đạo về dân chủ của Hồ Chí Minh nằm trong chữ "Dân"

1.2.1.3 Quan niệm về dân vận

Dân vận là một hoạt động vận động, giác ngộ quần chúng nhân dân làm cho dân hiểu, dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân quyết định trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ cách mạng do Đảng ta lãnh đạo

Hồ Chí Minh thường dùng thuật ngữ “Công tác quần chúng” và “dân vận” để chỉ một lĩnh vực công tác của Đảng Vấn đề dân vận có nhiều khái niệm khác nhau và cho đến nay vẫn chưa có khái niệm nào xúc tích, dễ hiểu, lại độc đáo như khái niệm mà Chủ

tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Dân vận”

Người viết:

Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể giao cho

Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ

Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành

Như vậy, công tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải có đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời; phải làm cho người dân hiểu rõ chủ trương, chính sách và việc thực hiện chủ trương, chính sách sẽ đưa lại lợi ích cho nhân dân và

do nhân dân thực hiện, không ai làm thay dân được; phải sâu sát nhân dân, sâu sát cơ

sở, bàn bạc với dân, với cơ sở về kế hoạch thực hiện chủ trương, chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh của từng địa phương, từng cơ sở, phù hợp với khả năng của nhân dân và phải hướng dẫn nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách; trong và sau khi thực hiện cần phải theo dõi, đôn đốc kiểm tra, rút kinh nghiệm để kịp thời bổ sung,

Trang 23

uốn nắn những thiếu sót, lệch lạc, sai lầm trong chủ trương, chính sách, trong tổ chức thực hiện, đồng thời để khen thưởng và phê bình

1.2.2 Vị trí, vai trò của công tác dân vận

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, ông cha ta luôn biết dựa vào dân, phát huy lực lượng to lớn của toàn dân để tiến hành cuộc đấu tranh chống thiên tai và chống giặc ngoại xâm Bài học “Nước lấy dân làm gốc”

đã được áp dụng trong nhiều thời kỳ, tạo nên sức mạnh để dân ta trường tồn, chấn hưng nền văn hoá dân tộc và chiến thắng kẻ thù mạnh hơn ta gấp bội

Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rất rõ sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân khi được tổ chức, lãnh đạo; vì vậy, luôn coi công tác vận động nhân dân là công tác hết sức quan trọng, có tính chiến lược quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt chân lý ấy bằng những lời giản dị Bác nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [18, tr.276];

"Nước lấy dân làm gốc

Gốc có vững cây mới bền,

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" [15, tr.409-410]

Người coi dân là chủ xã hội, là gốc của nước, mọi quyền hành và lực lượng đều phải ở nơi dân Người luôn luôn tin ở nhân dân, và đánh giá đúng vai trò của nhân dân Người nói: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải là sự nghiệp của

cá nhân anh hùng nào Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân” [20, tr.197]; “Kinh nghiệm trong nước và các nước cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được Không có, thì việc gì làm cũng không xong” [15, tr.295] Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn xem công tác dân vận là nhiệm vụ cốt yếu của Đảng và của cả hệ thống chính trị Theo Người, muốn làm cách mạng thành công thì phải làm tốt công tác dân vận

Trong bài “Dân vận” đăng trên báo Sự thật ngày 15 tháng 10 năm 1949 thể hiện rất

rõ nét sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác vận động nhân dân trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong bài viết này Hồ Chí Minh nêu lên những quan điểm, tư tưởng, phương châm, nội dung và mục tiêu công tác vận động nhân dân rất sâu sắc, có tính chỉ đạo chiến lược và có thể xem đây là một cương lĩnh trong công tác dân vận Trước hết, Người khẳng định vai trò cực kỳ to lớn,

Trang 24

quan trọng của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng nước ta Người viết: “quyền hành và lực lượng đều nơi dân” [15, tr.698] Sau đó, Người chỉ rõ thế nào là công tác dân vận và chỉ rõ tầm quan trọng của công tác này Người viết: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân ” [15, tr.698] là làm cho dân được làm chủ, được hưởng quyền dân chủ Người còn khẳng định: “Lực lượng của dân rất to Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” [15, tr.700]

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, công tác dân vận có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong cách mạng; quyết định thành công hay thất bại của cách mạng

1.2.3 Tư tưởng và phương thức cơ bản chỉ đạo công tác dân vận

1.2.3.1 Tư tưởng chỉ đạo công tác dân vận của Hồ Chí Minh

Tất cả vì lợi ích của nhân dân

Lợi ích của nhân dân là một vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh Tư tưởng này đã trở thành mục tiêu duy nhất của Đảng do Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, ngay từ đầu Người đã đặt vấn đề vận động quần chúng vì ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, trước hết là cho nhân dân lao động Sau khi nước nhà độc lập, Người chỉ rõ rằng: “Non nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [14, tr.56] "Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm

gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ" [14,

tr.152] Từ đó, Người dạy rằng:

Chúng ta phải thực hiện ngay:

1 Làm cho dân có ăn

2 Làm cho dân có mặc

3 Làm cho dân có chỗ ở

4 Làm cho dân có học hành

Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó [14, tr.152]

Đườnglối dân vận của Hồ Chí Minh đã cổ vũ, động viên toàn dân tiến lên đánh thắng các đế quốc , thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội

Theo Hồ Chí Minh, muốn vận động quần chúng thì mọi chủ trương, chính sách, mọi quy định của luật pháp đều phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân, lợi ích trước mắt cũng như lâu dài, lợi ích cá nhân cũng như của xã hội; cóvậy, nhân dân mới sẵn sàng

Trang 25

hưởng ứng và tham gia tích cực; mới tập hợp được quần chúng và tạo được phong trào quần chúng; ngược lại, sẽ không tập hợp được quần chúng và không có phong trào quần chúng Trong bài “Rút kinh nghiệm, trao đổi kinh nghiệm”, Người viết:

“Việc Hồ Chủ tịch mua gạo khao quân vừa rồi là một kinh nghiệm rất thiết thực, rất quý báu

Việc ấy hợp thời: khao quân vào ngày kỷ niệm độc lập

Rất hợp lòng dân: đồng bào ta luôn luôn sẵn sàng hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ bộ đội” [15, tr.703]

Trong bài viết nhan đề “Sao cho được lòng dân? ”, Người phê bình những ông chủ tịch, các ông uỷ viên “ngông nghênh cậy thế cậy quyền” để dân khinh, dân ghét và Người chỉ thị cán bộ chính quyền các cấp:

Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dẫu khó khăn đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân Phải chấp đơn, phải

xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới Phải chăm lo việc cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được đặc biệt chú ý Nói tóm lại, muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư [14, tr.47-48]

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, muốn được dân yêu, cán bộ, đảng viên phải thể hiện

rõ trách nhiệm của mình đối với dân Người còn căn dặn: “Dân không đủ muối Đảng phải lo Dân không có gạo ăn đủ no, dân không có vải mặc đủ ấm, Đảng phải lo Các cháu bé không có trường học, Đảng phải lo Tất cả mọi việc, Đảng phải lo” [20, tr.463-464]

Hồ Chí Minh chỉ rõ làm công tác dân vận là lãnh đạo nhân dân thực hiện lợi ích

và quyền hành của dân; xây dựng Đảng xứng đáng với sứ mệnh lịch sử của mình là lãnh đạo, xây dựng chính quyền của dân, do dân vì dân, thu hút được lực lượng đông đảo các tầng lớp, các giai cấp và cả dân tộc để thực hiện tốt lợi ích, trách nhiệm và quyền hạn của từng người và của cả cộng đồng dân tộc Về phương thức lãnh đạo phải giữ gìn tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân; coi trọng tác phong sâu sát thực tế, gần dân, nghe dân, hiểu dân và có trách nhiệm với dân Người chỉ rõ, Đảng phải:

Trang 26

Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân

phê bình mình;

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo [16 tr.293].

Đồng thời, Người cũng cảnh tỉnh cho tất cả cán bộ, đảng viên về nguy cơ thoát ly lợi ích của nhân dân, làm biến chất và mất nguồn sức mạnh của Đảng Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công chưa được bao lâu, ngày 17/10/1945 Hồ Chí Minh gửi thư phê bình cán bộ trong cơ quan chính quyền của “các kỳ, tỉnh, huyện,

làng” về các lỗi lầm mà họ phạm phải như: “Trái phép”, “Cậy thế”, “Hủ hoá”, “Tù túng”, “Chia sẻ”, “Kiêu ngạo” Người căn dặn: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật” [14, tr.56] Đây thực sự là một vấn đề lớn mà Bác đã đặt ra trong

một nước dân chủ mới; và cho thấy rằng, Đảng phải coi công tác dân vận là một nhiệm

vụ chiến lược của mình

Hồ Chí Minh dạy cán bộ, đảng viên, công chức và các tổ chức cơ quan của Đảng, chính quyền Nhà nước phải vì lợi ích của nhân dân, vì cần cho nhân dân mà tìm ra những cách tổ chức, cách làm việc cho thiết thực, bổ ích, sinh động và vừa tầm Những hình thức, cách tổ chức và cách làm việc nào không xuất phát từ lợi ích của quần chúng nhân dân, không cần thiết đối với nhân dân, hình thức chủ nghĩa, “ba hoa”, “hẹp hòi”, quan liêu, mệnh lệnh hành chính đều bị dân từ chối, xa lánh, phản đối, thậm chí nổi giận

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng dân vận của Người nói riêng, việc quan tâm đến lợi ích của nhân dân còn có nghĩa là phải luôn luôn chăm lo hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân về mọi mặt để nhân dân đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, văn hoá nhằm cải thiện và nâng cao đời sống Người viết:

Lâu nay, chúng ta đòi hỏi nhân dân đóng góp Từ đây, chúng ta phải ra sức hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân hơn nữa trong việc sản xuất và tiết kiệm, để cải thiện đời sống của bộ đội và nhân dân, để làm cho dân giàu, nước mạnh Có như thế nhân dân mới càng

Trang 27

thấy Chính phủ hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, Chính phủ là Chính phủ của nhân dân Như thế, nhân dân sẽ càng hăng hái đoàn kết và kháng chiến [16, tr.441]

Dân chủ là tư tưởng cơ bản, xuyên suốt của công tác dân vận:

Theo Hồ Chí Minh, muốn phát huy vai trò to lớn của các tầng lớp nhân dân, đoàn kết được mọi lực lượng của dân thì phải phát huy dân chủ, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong tất cả các lĩnh vực, bởi vì, “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân làm chủ" [16, tr.515]

Đây là một vấn đề thuộc bản chất của chế độ ta Vận động nhân dân thực hành dân chủ và tạo điều kiện cần thiết để bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân

là mục đích cao nhất và cũng là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của công tác dân vận Thực tiễn cách mạng Việt Nam cũng cho thấy ở đâu việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được tiến hành theo quy trình dân chủ "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", thì ở đó công tác dân vận có hiệu quả rõ rệt; ở đâu phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, thì ở đó Đảng tin dân, dân tin Đảng, mối quan hệ Đảng - dân được củng cố vững vàng

Dân vận và dân chủ là hai phạm trù khác nhau, nhưng luôn luôn gắn bó mật thiết với nhau và người ta sử dụng chúng bên nhau như một nguyên lý: Dân vận luôn gắn

bó với dân chủ và thực hành dân chủ; cả dân chủ và thực hành dân chủ thật tốt mới dân vận tốt được, ngược lại dân vận không thành công nếu không thực hành dân chủ; dân vận phải đạt tới dân chủ và thực hiện dân chủ là kết quả của dân vận

Cũng theo Hồ Chí Minh, dân chủ và dân vận quan hệ chặt chẽ với nhau, cụ thể: dân vận phải được đặt trên cơ sở một chế độ dân chủ thực sự, mục tiêu dân vận là thực

sự vì dân và do dân, ngoài ra không có mục tiêu nào khác Dân vận là vì lợi ích, quyền hạn, trách nhiệm của nhân dân và phải do nhân dân thực hiện

Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh, cần phát huy mạnh mẽ động lực dân chủ để động viên mọi sáng kiến của nhân dân và cán bộ, đưa sự nghiệp cách mạng của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng đến thắng lợi hoàn toàn Hồ Chí Minh viết: “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên” [21, tr.592]; “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến” [15, tr.244] “Thực hành dân chủ là chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” [22, tr.249]

Trang 28

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất dân chủ của Nhà nước ta không chỉ thể hiện ở việc nhân dân tổ chức nên bộ máy nhà nước, mà còn thể hiện đậm nét, đa dạng

ở việc huy động được sự tham gia đông đảo của nhân dân vào quản lý các công việc của Nhà nước Trong bài “Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại Kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”, trong phần “Tổ chức Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:

Để thực hiện tốt nhiệm vụ cách mạng, Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ

và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà nước, ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà [19, tr.590]

Khi phát huy quyền dân chủ, huy động sự tham gia của nhân dân vào công việc quản lý nhà nước thì vấn đề niềm tin của dân đối với chính quyền và niềm tin của chính quyền đối với dân là vô cùng cần thiết Tuy nhiên, trong thực tế vấn đề hoàn toàn không đơn giản, ngoài những lý do nhận thức sai lệch, còn có tình trạng như Hồ Chí Minh đã chỉ ra:

Đối với cơ quan lãnh đạo, đối với những người lãnh đạo, các đảng viên và các cán bộ

dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình

Thành thử cấp trên với cấp dưới cách biệt nhau Quần chúng với Đảng xa rời nhau Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp Dưới thì có gì không dám nói ra

Họ không nói, không phải vì họ không có ý kiến, nhưng vì họ nghĩ nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị “trù” là khác

Họ không dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, nói dân chủ thì phải làm dân chủ, phải lắng nghe ý kiến của người dân Đó là một tiêu chuẩn quan trọng trong công tác vận động quần chúng Chính Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương sáng ngời về phong cách lãnh đạo

dân chủ, tập thể, đi đúng đường lối quần chúng, đi tận nơi, xem tận chốn, "làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm" [22, tr.223]

Đoàn kết, tập hợp lực lượng là nhiệm vụ cơ bản của công tác dân vận:

Hồ Chí Minh là nhà chiến lược thiên tài, một nhà tổ chức vĩ đại, đặc biệt trong

đó, Người kết nối khối đại đoàn kết toàn dân, hình thành sức mạnh toàn dân tộc Trong

Trang 29

vận động cách mạng, Người coi đoàn kết, đại đoàn kết như một mục tiêu, một nhiệm

vụ hàng đầu Vận động quần chúng để thu hút quần chúng thực hiện nguyên tắc: "trên

vì nước, dưới vì nhà, một là ích nước, hai là lợi dân", để đoàn kết mọi người, tạo ra động lực phát triển kinh tế - xã hội và văn hoá

Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về vận động quần chúng, đại đoàn kết dân tộc được nêu trong Chính cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng đến năm

1941 mới thực sự trở thành hiện thực Mặt trận Việt Minh đã làm được công việc giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập hợp mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân; không chỉ tập hợp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc mà cả địa chủ yêu nước, nhân sĩ dân chủ, thân hào tiến bộ Trong thư "kính cáo đồng bào", Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ tư tưởng trên Người kêu gọi: Hỡi đồng bào! Hỡi các các bậc phụ huynh! Hỡi các bậc hiền huynh chí sĩ! Hỡi các bậc phú hào yêu nước, thương nòi! Hỡi các bạn công, nông, binh, thanh niên, phụ nữ, công chức tiểu thương!" [13, tr.198] hãy tham gia Việt Minh cứu nước

Qua các đối tượng mà Người kêu gọi, cho thấy không phải chỉ gồm công, nông

mà là mọi tầng lớp nhân dân Hơn nữa, tổ chức, đoàn thể thành viên của Mặt trận Việt Minh đều mang cái tên chung cứu quốc: Hội Nông dân cứu quốc, Hội Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc Cái tên cứu quốc đó có sức lay động mạnh mẽ tình cảm yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, tạo thành sức mạnh to lớn Như vậy nhiệm vụ cơ bản của công tác dân vận, theo Hồ Chí Minh là "vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân" [15, tr.698]

1.2.3.2 Phương thức cơ bản chỉ đạo công tác dân vận

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc dân là chủ, do đó phương thức cơ bản của công tác dân vận phải là phương thức dân chủ, không phải là những thủ thuật chính trị Dân chủ

và dân vận là không tách rời nhau, dân chủ tất yếu đòi hỏi công tác dân vận phải đi vào chiều sâu, dân vận tốt thì dân chủ càng thuận lợi, càng được nâng cao một cách có ý thức Dân chủ là cơ sở và bản chất của dân vận Vì vậy phương thức cơ bản của công tác dân vận là "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"

Sinh thời, Hồ Chí Minh không nói "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", nhưng cách nói của Người trong bài báo "Dân vận" (15-10-1949) cũng đầy đủ những nội dung như vậy:

Trang 30

Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một

người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân

Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ

Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng:

việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được

Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành

Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân

Như vậy, từ quan niệm tất cả "lực lượng đều ở nơi dân", nhìn thấy và tin tưởng ở sức mạnh của dân và để nhân dân có điều kiện tham gia trực tiếp vào việc thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh đã đưa ra một quy trình rất khoa học của công tác dân vận Quy trình đó như sau:

Trước hết phải làm cho dân biết: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để phát huy đầy

đủ vai trò, trí tuệ, khả năng to lớn của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước cũng như mọi cán bộ, đảng viên phải biết làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, hướng dẫn, giúp

đỡ và vận động quần chúng nhân dân thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; phải giúp nhân dân hiểu đầy đủ, sâu sắc về quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của người công dân đối với Đảng, với Tổ quốc và với dân tộc, từ đó họ tích cực, chủ động, tự giác phấn đấu và cống hiến cho sự nghiệp cách mạng

Khi dân được biết, được hiểu thì phải tạo mọi điều kiện cho dân được bàn, được bàn thật sự, bàn tất cả mọi công việc và mọi người đều được tham gia bàn bạc Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương" [48, tr.698-699]; cần hiểu rõ nguyện vọng của dân; họ muốn được tôn trọng, được bày tỏ ý kiến; họ rất tốt, rất khôn khéo; họ biết rất nhiều điều mà chúng ta không biết, phải bàn với dân để giải quyết mọi việc Vì rằng: "dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên" [15, tr.293]; "Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc Giải thích cho dân chúng hiểu rõ Được dân chúng đồng ý Do dân chúng vui lòng ra sức làm" [15, tr.294],

Trang 31

"Kinh nghiệm các địa phương cho biết: nơi nào công việc kém, là vì cán bộ xa dân chúng, không cùng dân chúng bàn bạc, không giải thích Nơi nào kha khá, là vì cán bộ biết giải thích, biết cùng dân chúng bàn bạc, nhưng chưa hoàn toàn Nơi nào khá lắm là việc gì to nhỏ, cán bộ cũng biết giải thích, biết cùng dân chúng bàn bạc đến nơi đến chốn, dựa vào dân chúng" [15, tr.295]

Phải chăng để phát huy sức mạnh của nhân dân, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của mọi công việc đều có nguồn gốc từ đây; bởi ở đây, nhân dân đã phát huy được quyền làm chủ bằng năng lực và sức sáng tạo của mình

Khi dân được biết, được hiểu, được bàn bạc công việc chung, họ sẽ tự giác tham gia thực hiện Lúc này nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo là "động viên và tổ chức toàn dân

ra thi hành Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân" [15, tr.699]; phải biết "đem hết sức dân, tài dân, của dân làm cho dân" [15, tr.61]; có như vậy mới động viên được đông đảo nhân dân tích cực tham gia thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước

"Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng" [15, tr.699] Đây là công đoạn cuối cùng của quy trình tiến hành công tác dân vận Hồ Chí Minh cho rằng việc kiểm tra, rút kinh nghiệm là vô cùng quan trọng và cần thiết, giúp chúng ta tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ khác Dân kiểm tra cán bộ, cán bộ kiểm tra dân, dân và cán bộ cùng kiểm tra mọi hoạt động

và lề lối làm việc phải dân chủ

Những lời dạy trên đây của Bác là bài học kinh nghiệm quý báu cho cán bộ, đảng viên của Đảng, Nhà nước trong công tác dân vận, một công tác quan trọng của cách mạng Cách tổ chức, cách làm việc phải phù hợp với quần chúng: Theo Hồ Chí Minh mọi phương pháp tiếp cận và vận động quần chúng đều phải phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của quần chúng; đồng thời phải xuất phát từ thực tế trình độ dân trí và văn hoá, theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, bao gồm cả phong tục, tập quán và cụ thể đối với từng địa phương, từng đối tượng của nhân dân Thực chất của dân vận là như vậy Muốn vận động nhân dân, thì đừng quên rằng chính mình là người dân, chứ không phải là người đứng trên nhân dân để dìu dắt hay để chỉ huy nhân dân Dân vận không phải là bảo ban cho dân làm theo ý mình, mà phải thực sự là dân để cùng hiểu, rồi cùng làm với dân

Trang 32

Trong kháng chiến, kiến quốc chúng ta có Phong trào ba cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân Thực ra đây là công việc của công tác dân vận Phải về với dân, phải biết dân ăn ở thế nào, gặp những khó khăn gì và có những sáng kiến gì để vượt qua Cán bộ lãnh đạo nhân dân phải biết rõ như thế Cán bộ cũng là người dân, không khác gì quần chúng cả Ngay trong cuộc sống dân dã, ta phát hiện được tài năng, thu góp được kinh nghiệm, để biến thành chủ trương, kế hoạch làm cho công tác cách mạng được tiến bộ, có kết quả tốt đẹp Vậy là phải thành dân, phải là dân mới làm dân vận được Từ những phong trào thực tế, chúng ta nắm được tình hình, thu được nhiều kinh nghiệm và có những sáng kiến mới Phải làm sao, để cho những người dân hào hứng, phấn khởi, thực hiện những nhiệm vụ cách mạng một cách nhiệt tình, tự giác Người dân thấy mình có thành tích, không phải bị lãnh đạo, mà được cùng với lãnh đạo làm nên những thành quả cách mạng lớn lao Hồ Chí Minh nói:

"cách làm việc, cách tổ chức, nói chuyện, tuyên truyền, khẩu hiệu, viết báo v.v của chúng ta, đều phải lấy câu này làm khuôn phép: "Từ trong quần chúng ra Về sâu trong quần chúng" [15, tr.248]

Như vậy, trong phương thức chỉ đạo công tác dân vận, ngoài phương thức "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh: cách tổ chức, cách làm việc cũng phải phù hợp với quần chúng; có vậy mới tập hợp được sức mạnh, tính sáng tạo, tự giác của quần chúng cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng

1.2.4 Lực lượng làm công tác dân vận

Công tác dân vận có tầm quan trọng chiến lược trong các thời kỳ cách mạng, là một trong những nhân tố góp phần quyết định thắng lợi của dân tộc Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của công tác này, trong bài "Dân vận", Người chỉ rõ: "Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên

Việt, Việt Minh, v.v ) đều phải phụ trách dân vận" [15, tr.699] Có lẽ không cần giải

thích gì thêm chúng ta cũng hiểu rõ rằng: công tác dân vận là trách nhiệm của tất cả cán bộ Đảng, cán bộ chính quyền, cán bộ Mặt trận, đoàn thể nhân dân và của tất cả hội viên, đoàn viên của các tổ chức nhân dân Theo chức năng, nhiệm vụ của mình, mỗi thành viên trong hệ thống chính trị phải làm công tác dân vận theo những phương thức khác nhau, và phải luôn luôn phối hợp chặt chẽ với nhau trong công tác này

Đảng phải có đường lối, chính sách và phương thức lãnh đạo các giai cấp, tầng lớp nhân dân một cách phù hợp để đường lối, chính sách của Đảng đi vào được từng

Trang 33

người, khơi dậy và phát huy tính tích cực, sáng tạo của họ để mỗi người có thể đem tài, đem sức, đem của thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Muốn vậy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trước khi thông qua, ban hành, cần trưng cầu dân ý; nghĩa là thực hiện đúng lời dạy của Bác là:

- Luôn luôn gần gũi nhân dân

- Ra sức lắng nghe và hiểu biết nhân dân

- Học hỏi nhân dân

- Lãnh đạo nhân dân bằng cách tuyên truyền, giải thích, cổ động, giáo dục, tổ chức nhân dân, dựa vào nhân dân để thực hiện nguyện vọng chính đáng của nhân dân Bốn điều ấy cần phải đi song song với nhau Vì không gần gũi dân thì không hiểu biết dân Không hiểu biết dân thì không học hỏi được những kinh nghiệm và sáng kiến của dân

- Dân vận không chỉ là việc riêng của Đảng, mà còn là việc của chính quyền Nhà nước, nhân viên Nhà nước phải coi trọng và tham gia công tác dân vận

Sức mạnh của Đảng, của Nhà nước là ở sự gắn bó máu thịt với nhân dân Trách nhiệm dân vận của cơ quan chính quyền xuất phát từ bản chất của Nhà nước

ta - nhà nước của dân, do dân, vì dân Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân chủ yếu thông qua mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân Chính quyền làm tốt thì Đảng có uy tín, ngược lại, chính quyền phục vụ nhân dân không chu đáo, cán bộ cửa quyền, hách dịch thì uy tín của Đảng sẽ giảm Với chức năng và nhiệm vụ quản lý nhà nước, quản lý xã hội, hầu hết các hoạt động của cơ quan chính quyền đều có quan hệ với đông đảo nhân dân, nhiều khi quan hệ một cách trực tiếp, tác động trực tiếp đến đời sống vật chất và văn hoá, đến tư tưởng

và tình cảm của nhân dân, đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân Cho nên cơ quan chính quyền, cán bộ chính quyền phải làm công tác dân vận; cấp uỷ đảng phải lãnh đạo cơ quan chính quyền để tiến hành một cách thường xuyên và có hiệu quả công tác dân vận theo chức trách và khả năng của chính quyền

Chính quyền làm dân vận bằng các chính sách đúng đắn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội ; bằng việc tổ chức điều hành để giải quyết đúng các vấn đề liên quan đến dân, và bằng phối hợp cùng Mặt trận, đoàn thể nhân dân động viên nhân dân tham gia các phong trào hành động cách mạng và xây dựng chính quyền Chính sách và cơ chế tác động trực tiếp đến đời sống của nhân dân, đến tư tưởng và hành

Trang 34

động của nhân dân Chính sách đúng, cơ chế không tốt hoặc ngược lại thì không có phương pháp vận động nào có thể làm cho nhân dân tin tưởng, phấn khởi và hành động có kết quả

Do đó, cơ quan chính quyền và cán bộ chính quyền phải hiểu rằng chính sách đúng, cơ chế tốt là yếu tố cơ bản và quan trọng của Nhà nước

Mặt trận và các đoàn thể nhân dân là người đại diện cho lợi ích chung và lợi ích riêng của từng giai cấp, từng tầng lớp nhân dân, đồng thời là cầu nối Đảng, Nhà nước với nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với Chính phủ" [15, tr.520] Như vậy, bản chất của đoàn thể nhân dân là tổ chức của dân, do đó vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân là phải vận động quần chúng bao gồm các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội tham gia vào các tổ chức của mình Công tác vận động quần chúng phải dựa trên chiến lược:

"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,

Thành công, thành công, đại thành công!" [20, tr.607]

Đối với Mặt trận Tổ quốc, Hồ Chí Minh căn dặn:

Chính sách Mặt trận là một chính sách quan trọng Công tác mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam

Đối với các đoàn thể, hội quần chúng, Hồ Chí Minh đều có sự chỉ đạo trong công tác vận động, thu hút, tập hợp quần chúng tham gia sinh hoạt trong tổ chức của mình Người luôn luôn nhắc nhở Đoàn Thanh niên rằng: "nhiệm vụ của các bạn là phải tìm đủ mọi cách để gây một phong trào thanh niên to lớn và mạnh mẽ" [15, tr.185]; đoàn viên, thanh niên luôn phải đi đầu trong các phong trào cách mạng Tổ chức

"Đoàn Thanh niên Lao động phải là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức và

giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với

sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản" [20, tr.21] Để thu hút, tập hợp lực lượng đông đảo của đoàn viên, thanh niên cho sự nghiệp cách mạng, Người còn căn dặn: "Về phần mình, thì Đoàn phải nghiên cứu tìm ra những hình thức

và phương pháp thích hợp để đoàn kết và tổ chức thanh niên một cách rộng rãi và

Ngày đăng: 26/10/2016, 18:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w