Luận án này tác giả tập chung nghiên cứu loại hình di sản văn hóa và thiên nhiên Thế giới ở Việt Nam, loại di sản chứa đựng những Giá trị Nổi bật Toàn cầu là những tài sản vô giá và khôn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lưu Tràn Tiêu
Phản biện 1: GS.TS Lê Hồng Lý
Viện Nghiên cứu Văn hóa
Phản biện 2: GS.TS Trương Quốc Bình
Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam Phản biện 3: TS Phan Thanh Hải
Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án, tại VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
32 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội
Vào hồi: giờ ngày tháng .năm 2016
Có thể tìm đọc luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam tự hào là đất nước có hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá, thể hiện bản sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đã được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, các di sản của Việt Nam được UNESCO ghi danh là di sản thể giới không chỉ là tài sản quý giá của dân tột Việt Nam mà nó còn là tài sản quý giá của cả nhân loại Luận án này tác giả tập chung nghiên cứu loại hình di sản văn hóa và thiên nhiên Thế giới ở Việt Nam, loại di sản chứa đựng những Giá trị Nổi bật Toàn cầu là những tài sản vô giá và không thể thay thế được không chỉ của một dân tộc mà là còn của nhân loại
Hiện nay công tác quản lý những di sản thế giới ở Việt Nam đang có nhiều vấn đề bất cập Cần nghiên cứu đánh giá toàn diện, đưa ra những giải pháp và mô hình quản lý phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của di sản thế giới ở Việt Nam một cách
có hiệu quả
Với những nguyên nhân trên, nghiên cứu sinh quyết định lựa
chọn đề tài Quản lý di sản thế giới ở Việt Nam (qua trường hợp Cố
đô Huế và Đô thị cổ Hội An) để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu công tác quản lý di sản thế giới hiện nay ở Việt Nam (qua trường hợp di tích Cố đô Huế và Khu phố cổ Hội An) để đánh giá, thực trạng và mô hình quản lý hiện nay đối với di sản thế giới ở Việt Nam hiện nay
Trang 4Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới và khu vực, quy định của UNESCO về quản lý di sản thế giới Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di sản thế giới hiện nay ở Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là công tác quản lý, cơ cấu tổ chức, bộ máy, chức năng nhiệm vụ và quá trình hoạt động của cơ quan quản lý di sản thế giới Cố đô Huế và Khu phố cổ Hội An
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, luận án nghiên cứu công tác quản lý di sản thế giới (qua trường hợp Cố đô Huế và Đô thị cổ Hội An)
Về thời gian, luận án nghiên cứu công tác quản lý di sản thế giới
từ năm 1993 (năm di sản đầu tiên của Việt Nam được UNESCO ghi danh là di sản thế giới)
4 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp tiếp cận
- Phương pháp tiếp cận lịch sử: Đòi hỏi việc xác định giá trị của
di sản gắn với điều kiện lịch sử cụ thể, là cơ sở quan trọng nhận diện truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc, những yếu tố đồng đại và lịch đại, nội sinh và tiếp biến, hình thành nên giá trị của di sản
- Phương pháp tiếp cận nghiên cứu trường hợp thông qua việc đi sâu nghiên cứu hai trường hợp điển hình đó là di tích Cố đô Huế và Khu phố cổ Hội An, từ đó đề xuất mô hình và các giải pháp quản lý
di sản thế giới ở Việt Nam hiện nay
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 5- Phương pháp phân tích-tổng hợp: Phân tích một cách hệ thống nhằm nhận biết rõ vai trò, ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến di sản
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn các nhà quản lý di sản
ở trung ương và địa phương có di sản thế giới, khai thác các khía cạnh khác nhau trong hoạt động quản lý, đặc biệt là mô hình quản lý
- Phương pháp khảo sát thực địa: Sử dụng trong việc đánh giá di sản, giúp tiếp cận thực tế bằng đo đạc, quan sát, quay phim, chụp ảnh, vẽ ghi chép
5 Đóng góp của luận án
Luận án là công trình trực tiếp nghiên cứu một cách toàn diện và
hệ thống về thực trạng quản lý di sản thế giới ở Việt Nam trong thời điểm hiện tại, hình thành các luận cứ khoa học để bước đầu đưa ra
mô hình quản lý di sản thế giới, nâng cao hiệu quả các cơ quan quản
lý di sản thế giới trong thời gian tới
Những kết quả thu được của luận án là tài liệu tham khảo tốt đối với các nhà quản lý di sản ở các địa phương trên phạm vi cả nước, đặc biệt là các địa phương có di sản thế giới
6 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, công tác quản lý di sản ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản nói chung và di sản thế giới nói riêng, được quan tâm, đầu tư hơn
từ các cấp, các ngành Trong quá trình phát triển của đất nước, công tác quản lý di sản nói chung và di sản thế giới nói riêng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn
Trang 6Các công trình nghiên cứu, các đề tài có liên quan đến di sản thế giới trong thời gian qua, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về quản lý di sản thế giới ở Việt Nam hiện nay
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu (08 trang), Kết luận (04 trang), Tài liệu tham khảo (12 trang), Phụ lục (38 trang), nội dung luận án được cấu trúc thành 4 chương; Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về quản
lý di sản thế giới ở Việt Nam (41 trang); Chương 2: Quản lý di tích
Cố đô Huế (27 trang); Chương 3: Quản lý Khu phố cổ Hội An (23
trang); Chương 4: Bàn luận và kiến nghị (45 trang)
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DI
SẢN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di sản
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
- Di sản văn hoá vật thể: Tại Điều 1 của Công ước về bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới năm 1972 của UNESCO, di sản
văn hoá được hiểu là: các di tích, các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội hoạ, các yếu tố hoặc các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, các dấu khắc, nơi cư trú hang động và tổ hợp các đặc điểm có Giá trị Nổi bật Toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học [103]
- Di sản văn hoá phi vật thể: Theo Điều 2 Công ước về Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể năm 2003 của UNESCO: Di sản văn hoá phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt tri
Trang 7thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hoá có liên quan mà cộng đồng, nhóm người và cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hoá của họ [101]
- Khái niệm quản lý: Quản lý là một hoạt động nhằm đảm bảo
sự vận hành của một hệ thống, một tổ chức một cách liên tục, đúng chức năng Chúng ta cũng thường nói đến quản lý với tư cách là một khoa học, trong đó quản lý: [68, tr 28]
1.1.2 Cơ sở lý thuyết về quản lý di sản
Quan điểm bảo tồn nguyên gốc (theo Ashworth quan điểm này được đề xuất từ những năm 1850) cho rằng, các sản phẩm của quá khứ cần được bảo tồn nguyên vẹn như nó vốn có
Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa (theo Ashworth quan điểm này được đề xuất từ những năm 1960) là xu thế phổ biến trong giới học giả hiện nay trên cơ sở mỗi di sản cần phải đặt trong một không gian và thời gian cụ thể
Quan điểm quản lý di sản trong mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển được coi là quan điểm mới nhất hiện nay, hiện đang chiếm
vị trí chủ đạo trong giới học thuật cũng như giới quản lý văn hóa ở nhiều nước trên thế giới
1.2 Tổng quan về di sản thế giới ở Việt Nam
1.2.1 Tiêu chí cần đạt được của một di sản thế giới
Một di sản có giá trị nổi bật toàn cầu nếu di sản đó đáp ứng được ít nhất là một trong các tiêu chí do UNESCO quy định tại công ước năm 1972:
1.2.2 Di sản văn hoá thế giới: Quần thể di tích Cố đô Huế (1993); Khu phố cổ Hội An (1999); Khu di tích Mỹ Sơn (1999); Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội (2010); Thành nhà Hồ (2011)
Trang 81.2.3 Di sản thiên nhiên thế giới: Vịnh Hạ Long (1994),
(2000); Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (2003), (2015)
1.2.4 Di sản hỗn hợp: Quần thể danh thắng Tràng An (2014) 1.3 Chính sách và mô hình quản lý văn hóa của một số nước
trên thế giới
1.3.1 Một số mô hình quản lý văn hóa tiêu biểu trên thế giới
- Mô hình “Phúc lợi nhà nước”: Mô hình “Phúc lợi nhà nước”
còn được gọi là mô hình “Kiến trúc sư” (Architect) Để đạt được các mục tiêu phúc lợi xã hội và tạo cơ hội để mọi công dân phát triển khả năng và tính sáng tạo của họ
- Mô hình “Kế hoạch hóa tập trung”: Theo các nhà nghiên cứu
văn hóa phương Tây, đây là mô hình quản lý văn hóa của Liên Xô cũ
và các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa trước đây (hay còn được gọi
là mô hình “Kỹ sư” (Engineer)
- Mô hình quản lý văn hóa gián tiếp: Có thể nói đây là mô hình
được các nhà nghiên cứu văn hóa và các nhà hoạch định chính sách chú ý nhiều hơn cả, vì nó có sự kết hợp giữa nhà nước và xã hội trong việc hoạch định và thực hiện quản lý văn hóa quốc gia
- Mô hình của Trung Quốc: Khá tương đồng với mô hình quản
lý văn hóa và di sản văn hóa ở Việt Nam Thể chế tổ chức quản lý sự
nghiệp văn hóa đó là Nhà nước là chủ thể
1.3.2 Kinh nghiệp quản lý di sản thế giới của các nước trong khu vực
- Luông Phabang của Lào: Đây là một quần thể di sản rộng lớn,
bao gồm cung điện, chùa chiền, những ngôi nhà sàn đặc trưng, làng mạc truyền thống với rừng cây và sự hài hòa giữa phong cách kiến trúc Lào với phong cách kiến trúc Pháp
Trang 9- Quần thể di tích Angkor của Campuchia: Được UNESCO ghi
danh là di sản thế giới năm 1992, đồng thời cũng bị đưa vào danh sách di sản bị đe dọa, năm 2004 được đưa ra khỏi danh sách này
- Di sản thế giới Lahore của Pakistan: Gồm pháo đài Lahore và
khoảng 30 di tích khép kín bên trong hệ thống tường thành được xây dựng năm 1641
- Thành phố cổ Kandy của Sri Lanka: Là kinh đô cuối cùng của
các hoàng đế Sri Lanka, kéo dài từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, sau
đó là thuộc địa của Anh
- Thương cảng cổ Georgetow tỉnh Penang của Malaysia: Là di
sản pha trộn nhiều tôn giáo, truyền thống văn hoá và kiến trúc
- Vigan của Philippine: Là thành phố thương mại, là thuộc địa
của Tây Ban Nha thế kỷ XVI còn lại tương đối nguyên vẹn gần như duy nhất ở Châu Á
1.3.3 Bài học kinh nghiệm
- Bảo vệ, gìn giữ Giá trị Nổi bật Toàn cầu, tính xác thực, tính toàn vẹn của di sản và để thực hiện những cam kết của quốc gia thành viên đối với UNESCO
- Bảo tồn và phát huy giá trị di sản nói chung, di sản văn hóa và thiên nhiên Thế giới nói riêng, phải hướng tới cộng đồng Cần nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về Giá trị Nổi bật Toàn cầu của Di sản Thế giới cho cộng đồng sở tại nơi có di sản
- Xác định tính chất của di sản trong bối cảnh đương đại để có chiến lược quy hoạch bảo tồn cho phù hợp Các quốc gia khi tiến hành bảo tồn di sản đều đặt tính lịch sử và văn hóa, Giá trị Nổi bật Toàn cầu lên hàng đầu
Trang 10Chương 2 QUẢN LÝ DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ 2.1 Quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế
Di sản văn hóa Huế bao gồm quần thể di tích Cố đô, với thành quách, cung điện, lăng tẩm, đàn miếu, chùa quán, cầu cống, phủ đệ,
hệ thống kiến trúc cộng đồng, tôn giáo và kiến trúc dân gian; các di sản văn hóa phi vật thể liên quan
Năm 1981, Tổng giám đốc UNESCO lúc bấy giờ đã cho rằng,
di sản Huế đang ở tình trạng lâm nguy, đứng bên bờ vực của sự diệt vong và sự quên lãng, với nỗ lực của Chính phủ cùng cộng đồng quốc tế di sản Huế đã thoát ra khỏi tình trạng trên Năm 1991, các di tích quan trọng của Huế đã được lập hồ sơ khoanh vùng bảo vệ Trên bình diện quốc tế, Huế được UNESCO chính thức ghi nhận đã vượt qua “giai đoạn cứu nguy khẩn cấp” để bước vào “thời
kỳ ổn định và phát triển" Năm 2003, UNESCO ghi danh Nhã nhạc cung đình Huế là “Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại” [86, tr 11-15]
2.2 Khái lược về Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế
Ngày 30 tháng 5 năm 1992, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế đã ra Quyết định số 443/QĐ-UBND đổi tên Công ty Quản lý di tích và văn hóa Huế thành Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế Năm 2010 UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã ban hành Quyết định số 2062/QĐ-UBND ngày 29/10/2010 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Bảo tồn
di tích Cố đô Huế theo đó Trung tâm có 17 nhiệm vụ chính
Trang 11Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Bảo tồn di tích
Cố đô Huế được quy định tại Quyết định số 2062/QĐ-UBND ngày 29/11/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế
2.3 Hệ thống các văn bản quản lý di tích Cố đô Huế
Luật Di sản văn hóa cùng các Nghị định, Thông tư hướng dẫn
thi hành Luật Di sản văn hóa, là cơ sở pháp lý quan trọng nhất có tác động tích cực tới các hoạt động bảo vệ di sản Huế Ngoài ra Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế cũng đã ban hành nhiều văn bản nhằm quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của di tích
Cố đô Huế
Có thể khẳng định những văn bản nói trên đã góp phần quan trong vào việc quản lý, bảo tồn và phát huy Di sản thế giới Cố đô Huế trong thời gian qua cũng như sau này
2.4 Hoạt động quản lý di sản tại di tích Cố đô Huế
2.4.1 Những kết quả đạt được
- Nguồn nhân lực và phát triển Trung tâm di tích Cố đô Huế
Kể từ khi được thành lập năm 1982, trải qua 30 năm thành lập
và phát triển, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần bảo tồn, phát huy gía trị của Quần thể di tích Cố đô Huế
Những năm qua, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã gặt hái được nhiều thành tích đáng kể Hầu hết các di tích dưới sự quản lý trực tiếp của Trung tâm đều được bảo quản cấp thiết bằng các biện pháp chống dột, chống sập, chống mối mọt, chống cây cỏ xâm thực, gia cố và thay thế các bộ phận bị lão hóa, nhờ vậy mà trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, các di tích vẫn được bảo tồn và kéo dài tuổi thọ
Trang 122.4.2 Những thách thức phát triển bền vững
Thực tiễn hiện nay đang tồn tại những “điểm chênh” giữa quy định trong Công ước của UNESCO về bảo vệ di sản Văn hóa và
thiên nhiên thế giới và quy định trong Luật Di sản văn hóa; đặc biệt
là vấn đề mở rộng ranh giới khu vực di sản Thế giới (vùng lõi) và
vùng đệm của di sản (hay vùng bảo vệ I và vùng bảo vệ II theo Luật
cơ chế chính sách, về kinh phí
2.5 Xây dựng Huế thành trung tâm Văn hoá, Du lịch đặc sắc
Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV đã xác định xây dựng Thừa Thiên Huế xứng tầm là trung tâm văn hóa, du lịch đặc sắc của cả nước giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn
đến năm 2010
Thừa Thiên - Huế là thành phố văn hóa, di sản và thân thiện với môi trường, các ngành, địa phương trong tỉnh đã đề ra nhiều giải
Trang 13pháp tập trung đẩy mạnh công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể
2.6 Đánh giá chung
Hơn 20 năm kể từ khi được ghi danh là Di sản văn hóa thế giới,
Cố đô Huế đã được các chuyên gia UNESCO và các tổ chức quốc tế đánh giá là “điểm sáng” trong công cuộc bảo tồn di sản Để phát huy những thành tích đáng ghi nhận đó, trong thời gian tới, tỉnh Thừa Thiên Huế cần có những cơ chế chính sách phù hợp, kịp thời để tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển bền vững giá trị di sản
Mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn về mọi mặt, nhưng Đảng, Nhà nước và chình quyền địa phương đã rất quan tâm tới công tác bảo tồn và phát huy di tích Cố đô Huế
Chương 3 QUẢN LÝ ĐÔ THỊ CỔ HỘI AN 3.1 Quá trình bảo tồn và phát huy giá trị Đô thị cổ Hội An
- Giai đoạn trước năm 1985: Từ đầu thế kỷ XIX, Đô thị -
Thương cảng quốc tế Hội An hầu như chỉ còn là ký ức, chìm sâu vào quên lãng Thậm chí, sự tồn tại của Khu phố cổ với những bức tường xiêu vẹo, loang lổ màu thời gian, lắm kèo nhiều cột, mái thấp còn bị xem là chướng ngại của sự phát triển trong một xã hội hiện đại
- Giai đoàn từ 1985 đến nay: Chỉ 4 tháng sau, tính từ sự kiện
trọng đại nêu trên, tháng 7/1985, UBND tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng phối hợp với Bộ Văn hóa (nay là Bộ VHTTDL) và các cơ quan, các nhà khoa học ở Trung ương và các tỉnh, thành phố khác, đã tổ chức nhiều Hội thảo khoa học quốc gia về phố cổ Hội An