1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thể hiện trang phục thời Lê – Trịnh trên sân khấu Việt Nam hiện nay

149 333 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu giải quyết được từng phần, hy vọng luận án có thể giúp các đơn vị biểu diễn sân khấu, các đơn vị đào tạo những chuyên ngành liên quan có thêm một số lý luận, phương pháp cơ bản trong

Trang 1

VIỆN VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

-

Nguyễn Thị Thu Hà

SỰ THỂ HIỆN TRANG PHỤC THỜI LÊ - TRỊNH TRÊN SÂN KHẤU VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

Hà Nội - 2016

Trang 2

VIỆN VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

-

Nguyễn Thị Thu Hà

SỰ THỂ HIỆN TRANG PHỤC THỜI LÊ - TRỊNH TRÊN SÂN KHẤU VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Sân khấu

Mã số: 62 21 02 21

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Lâm Biền

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ nghệ thuật Sự thể hiện trang phục thời Lê -

Trịnh trên sân khấu Việt Nam hiện nay là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, do nghiên cứu sinh thực hiện và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nghiên cứu sinh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

MỤC LỤC 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN 3

DANH MỤC CÁC BẢNG/BIỂU TRONG LUẬN ÁN 4

MỞ ĐẦU 5

NỘI DUNG 17

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 17

1.1 Cơ sở lý luận 17

1.2 Tình hình nghiên cứu về lịch sử trang phục Việt và trang phục các vở diễn về đề tài lịch sử 27

Tiểu kết 63

Chương 2 TRANG PHỤC THỜI LÊ - TRỊNH QUA DI SẢN VẬT THỂ VÀ TRANG PHỤC THỜI LÊ - TRỊNH TRONG MỘT SỐ VỞ DIỄN VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ 64

2.1 Trang phục thời Lê - Trịnh qua di sản vật thể 64

2.2 Trang phục thời Lê - Trịnh trong một số vở diễn về đề tài lịch sử 102

Tiểu kết 110

Chương 3 DI SẢN TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG VIỆTTRONG MỐI QUAN HỆ VỚI NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU 113

3.1 Di sản trang phục trong sự sáng tạo của nghệ thuật sân khấu 113

3.2 Những vấn đề đặt ra từ trang phục của vở diễn về đề tài lịch sử 117

3.3 Bảo tồn, kế thừa và phát huy di sản trang phục truyền thống Việttrong nghệ thuật sân khấu 121

Tiểu kết 133

KẾT LUẬN 134

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 138

TÀI LIỆU THAM KHẢO 139

PHỤ LỤC 148

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

1 ANCL: An Nam chí lược

2 CTQG: Chính trị quốc gia

3 BAVH: Bulletin des Amis du Vieux Hue(Những người bạn cố đô Huế)

4 ĐH: Đại học

5 ĐVSK tiền biên: Đại Việt sử ký tiền biên

6 ĐVSKTT: Đại Việt sử ký toàn thư

7 ĐVSK tục biên: Đại Việt sử ký tục biên

8 GS: Giáo sư

9 HN: Hà Nội

10 HLNTC: Hoàng Lê nhất thống chí

11 HVLL: Hoàng Việt luật lệ

12 KĐĐNHĐSL: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ

13 KHXH: Khoa học xã hội

14 KVTL: Kiến văn tiểu lục

15 LTHĐ: Lê triều hội điển

16 LTHCLC: Lịch triều hiến chương loại chí

17 NCS: Nghiên cứu sinh

18 NSND: Nghệ sĩ nhân dân

19 NSƯT: Nghệ sĩ ưu tú

20 Nxb: Nhà xuất bản

21 QTHL: Quốc triều hình luật

22 QTCLTC: Quốc triều chiếu lệnh thiện chính

23 SKĐA: Sân khấu, điện ảnh

29 VHDT: Văn hóa dân tộc

30 VHNT: Văn hóa nghệ thuật

31 VHTT: Văn hóa Thông tin

32 VHTTDL: Văn hóa, Thể thao và Du lịch

33 VTTB: Vũ trung tùy bút

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG/BIỂU TRONG LUẬN ÁN

1 Bảng 01 So sánh đặc trưng trang phục sân khấu truyền thống và hiện đại

2 Bảng 02 So sánh đặc trưng trang phục sân khấu tuồng, chèo, kịch

3 Bảng 03 Các đời vua Lê, chúa Trịnh và chúa Nguyễn, thế kỷ XVII

4 Bảng 04 Đặc trưng nghệ thuật hệ thống tượng thờ trong di tích

5 Bảng 05 So sánh hệ thống họa tiết trang trí trên bia tại lăng vua và Long bào Hoàng đế thời Nguyễn (thế kỷ XIX, XX)

6 Bảng 06 So sánh hệ thống họa tiết trang trí trên bia tại lăng vua thời Lê sơ và Hoàng bào vua Lê Dụ Tông (thế kỷ XVI, XVII)

7 Bảng 07 So sánh hệ thống họa tiết trang trí trên bia tại lăng công thần thời

Lê - Trịnh và bia Tiến sĩ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội (thế kỷ XVII)

Trang 7

sẽ phần nào làm hạn chế niềm tin, sức thuyết phục đối với công chúng, đồng thời đặt một câu hỏi về sự tiếp nhận, phát huy văn hoá truyền thống từ góc nhìn văn hoá đương đại Việc xây dựng trang phục sân khấu lịch sử đương đại theo sát với thực tế hay tinh thần thực tế mà vẫn thấm đậm bản sắc dân tộc Việt là việc cấp thiết đối với các đơn vị biểu diễn sân khấu, nhất là trong hoàn cảnh không có một đơn vị biểu diễn sân khấu nào có người nghiên cứu và sáng tạo trang phục biểu diễn riêng, đặc biệt là trang phục cho tác phẩm sân khấu có đề tài lịch sử Công việc này cần có những nhà nghiên cứu, những họa

sĩ thiết kế trang phục được đào tạo một cách cơ bản và chuyên nghiệp

Từ năm 2001, khoa Thiết kế Mỹ thuật của trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội đã mở chuyên ngành đào tạo Họa sĩ thiết kế trang phục nghệ thuật (trọng tâm là thiết kế trang phục sân khấu, điện ảnh), nhưng trong cơ cấu thành phần sáng tạo nghệ thuật một vở diễn vẫn thường xuyên thiếu vắng vai trò của Họa

sĩ thiết kế trang phục sân khấu, công việc này thường do Họa sĩ thiết kế mỹ thuật đảm nhận luôn Điều này có khác với Nghệ thuật Điện ảnh Việt Nam hiện nay, các

bộ phim truyện điện ảnh, phim truyện truyền hình đã có riêng chức danhHọa sĩ

phục trang hoạt động như một thành phần sáng tạo độc lập, nhưng luôn có sự phối

hợp với các thành phần sáng tạo chủ yếu khác của bộ phim Gần đây, với những vở diễn sân khấu lịch sử có quy mô lớn thì vai trò Họa sĩ thiết kế trang phục sân khấu mới được đề cập tới, và giải pháp thường được chọn là những nhà Thiết kế thời trang Tuy đã có nhiều dụng công, nhưng do bản chất sáng tạo của nghề thiết kế

Trang 8

thời trang có khác với nghề thiết kế trang phục sân khấu, nên sẽ có những khoảng cách giữa thời trang so với yêu cầu cụ thể của trang phục sân khấu có đề tài lịch sử, đặc biệt là trang phục cho nhân vật lịch sử

Có sự bất cập này bởi trong cơ cấu định biên của các đơn vị biểu diễn nghệ

thuật thường không có vị trí Họa sĩ phục trang Trên thực tế, vị trí Họa sĩ phục trang

sân khấu, điện ảnh mới được sự ghi nhận chính thức bắt đầu từ Nghị định số

42/2010/NĐ - CP ban hành ngày 15/10/2010, được tiếp tục khẳng định tại Nghị định

số 89/2014/NĐ - CP quy định về việc xét tặng Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú tại:

“Chương I, Điều 2 - Đối tượng áp dụng, e/ Họa sĩ: Tạo hình con rối, động tác phim hoạt hình, thiết kế trang trí sân khấu, hóa trang, phục trang sân khấu, điện ảnh, truyền hình” Sự ghi nhận muộn màng này lý giải phần nào cho sự thiếu hụt về một khâu sáng tạo rất quan trọng trong việc hình thành một vở diễn: nghệ thuật tạo hình nhân vật, trong đó trang phục cho nhân vật là một trong những công việc đầu tiên cần được xác định, đặc biệt đối với những vở diễn có đề tài lịch sử

Do đặc điểm riêng của nghệ thuật biểu diễn sân khấu mang tính tượng trưng, ước

lệ, khái quát cao nên trang phục nhân vật không nhất thiết phải mô phỏng tuyệt đối với trang phục cổ Nhưng từ những tinh hoa trang phục truyền thống Việt đến sự xuất hiện trên sàn diễn sân khấu có đề tài lịch sử, trang phục của cha ông xưa đã được bảo tồn, sáng tạo và phát huy như thế nào là một vấn đề cần được sự quan tâm nghiên cứu đúng với giá trị cần có

Luận án dựa trên cơ sở thực tế về lịch sử trang phục truyền thống Việt, cho dù đang được nghiên cứu từng bước, đối chiếu với những vở diễn có đề tài lịch sử tương ứng để khảo cứu tương quan của sự thể hiện trang phục sân khấu hiện nay với cái gốc lịch sử dưới góc độ trang phục

Nếu giải quyết được từng phần, hy vọng luận án có thể giúp các đơn vị biểu diễn sân khấu, các đơn vị đào tạo những chuyên ngành liên quan có thêm một số lý luận, phương pháp cơ bản trong việc hệ thống hóa từng bước trang phục truyền thống Việt từ trong quá khứ, giúp sức cho sự sáng tạo trang phục vở diễn về đề tài lịch sử của nghệ thuật sân khấu Việt Nam hiện nay đạt hiệu quả về nội dung và hình thức hơn

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Với tinh thần “Dĩ cổ vi kim”, lấy tinh hoa truyền thống làm nền tảng trên con đường bảo tồn, sáng tạo và phát triển cho văn hoá đương đại, nhằm góp một phần xây

Trang 9

dựng hình tượng con người Việt Nam trên sàn diễn sân khấu thật đẹp, thật hay, thật phù hợp với tầm vóc và ý nghĩa của nhân vật lịch sử; mục đích nghiên cứu của luận án nhằm tìm hiểumối quan hệ giữa hai đối tượng: trang phục thời Lê - Trịnh và sự thể hiện trên sân khấu Việt Nam hiện nay, đặc biệt đối với hình tượng những nhân vật lịch

sử cùng thời đã từng được tái hiện trên sàn diễn

Nghiên cứu trang phục thời Lê - Trịnh chính là nghiên cứu một khía cạnh văn hoá của kho tàng văn hoá truyền thống Xuất phát từ nhận thức đó, trên cơ sở coi trang phục truyền thống Việt làm nền tảng, từ đó luận án mô tả, đánh giá, phần nào từng bước giải mã và hệ thống những yếu tố lịch sử văn hoá, nghệ thuật của trang phục thời

Lê - Trịnh qua di sản vật thể trên các phương diện:

- Hình thức, kết cấu của trang phục

- Hệ thống họa tiết trang trí của trang phục

- Phong cách của trang phục

Từ những kết quả nghiên cứu ban đầu, đối chiếu với sự thể hiện trang phục sân khấu hiện nay, tập trung vào hình tượng nhân vật lịch sử thời Lê - Trịnh để rút ra những vấn đề để học tập, bảo tồn; những vấn đề để tiếp thu, sáng tạo và phát triển

Do hướng nghiên cứu của luận án là nghệ thuật tạo hình nhân vật lịch sử thông qua quá trình thiết kế trang phục, vì vậy đề tài nghiên cứu trên những di sản văn hóa vật thể của cha ông để lại,hiện còn lưu giữ được nhằm có cơ sở thực tế cho nghiên cứu mang nhiều tính thực tiễn này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Trang phục thời Lê - Trịnh qua di sản vật thể

Tìm hiểu trang phục xưa qua hình tượng con người trong di tích lịch sử - văn hoá (trong luận án xin gọi là di tích), đồng thời tham khảo một số di vật trang phục thời Lê - Trịnh (tập trung trong thế kỷ XVII) có sự so sánh đối chiếu với trang phục của nhà Nguyễn, hiện đang được bảo tồn

3.1.2 Trang phục thời Lê - Trịnh trong sự thể hiện trên sân khấu Việt Nam hiện nay

Tìm hiểu trang phục sân khấu có đề tài lịch sử hiện nay, tập trung vào trang phục hình tượng những nhân vật lịch sử trên sàn diễn của ba loại hình nghệ thuật biểu diễn sân khấu: chèo, tuồng và kịch nói có đề tài gắn với thời Lê - Trịnh, trọng tâm từ 1995

Trang 10

đến nay Đồng thời có sự tham khảo với trang phục nhân vật lịch sử trong các loại hình nghệ thuật khác…

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Các di tích được phân bố rộng rãi trên khắp các vùng, miền của Việt Nam Như vậy, phạm vi nghiên cứu sẽ trở nên rất rộng đối với NCS và nội dung bản luận án Do đó việc nghiên cứu trên hầu hết các di tích có chỉ dấu về trang phục Việt xưa là không thể đối với một cá nhân, cho dù đó cũng là điều lý tưởng có được cho đề tài Và, dù rằng rất mong muốn, nhưng người viết cũng chưa thể quay lại các thời kỳ trước Công nguyên, hay ngàn năm Bắc thuộc Những kết quả nghiên cứu đi trước đã chỉ cho NCS thấy sự tiếp cận với di sản văn hoá của thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê sơ, qua phần tạo hình tuy có nhưng không nhiều, thậm chí có những giai đoạn thật sự rất hiếm hoi

Chỉ từ thời Mạc trở đi, văn hoá dân gian có sự phát triển mạnh mẽ, hình tượng con người cùng với trang phục đương thời được xuất hiện phong phú tự nhiên và đa dạng hơn Theo khảo sát của NCS, từ thời Lê - Trịnh về sau có bảy nguồn tham khảo chính:

- Phù điêu đình làng

- Tượng thờ trong di tích

- Tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, Vũ Di, tranh thờ miền núi

- Một số ít trang phục thật qua công tác khai quật mộ cổ (mộ vua Lê Dụ Tông, mộ

bà Phạm Thị Nguyên Chân…)

- Tranh vẽ do các thương nhân nước ngoài đến Việt Nam (Pháp, Hà Lan )

- Ảnh do người Pháp chụp (từ cuối thế kỷ XIX)

- Những ghi chép, khảo tả khá tỉ mỉ của người nước ngoài khi tới Việt Nam

Về mặt tạo hình mỹ thuật truyền thống, chúng tôi thấy từ cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVII là một giai đoạn nghệ thuật tạo hình gắn với hình tượng con người cao nhất Trước thời Lê - Trịnh rất hiếm có tranh, tượng cổ còn đến ngày nay

Bẵng đi một thời kỳ, trong thế kỷ XVIII, ít thấy hình tượng con người trong di tích ngoài tượng mồ và tượng đền Đến thời Nguyễn, hình tượng con người mới quay trở lại mạnh mẽ, dưới một chiều hướng có phần khác

Trong khuôn khổ một luận án Tiến sĩ Lý luận và Lịch sử Sân khấu, với hướng nghiên cứu về trang phục truyền thống Việt trong sự thể hiện trên sân khấu hiện nay, thiên

về yếu tố tạo hình mỹ thuật trang phục, đề tài trình bày hệ thống tư liệu nghiên cứu với

trọng tâm là Sự thể hiện trang phục thời Lê - Trịnh trên sân khấu Việt Nam hiện nay qua

di sản vật thể và trang phục biểu diễn sân khấu, có sự đối chiếu với di sản văn bản

Trang 11

3.2.1 Trang phục thời Lê - Trịnh qua di sản vật thể

Trong phạm vi đề tài, NCS bước đầu khảo sát trước theo các nguồn di sản cụ thể sau:

3.2.1.1 Trang phục trên tượng người được thờ trong di tích

Chúng tôi tập trung vào một số mẫu vật được coi là tiêu biểu:

- Tượng thờ vua Lê Thần Tông và sáu bà hoàng, chùa Mật Sơn, Đông Vệ, Thanh Hóa (thế kỷ XVII)

- Tượng thờ hoàng tộc nhà Lê - Trịnh, chùa Bút Tháp, Thuận Thành, Bắc Ninh (thế kỷ XVII, XVIII)

- Tượng thờ tại chùa Sổ, chùa Bối Khê, chùa An Khoái (Hà Nội), chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX)

3.2.1.2 Trang phục trên tượng người hầu trong di tích

- Tượng người hầu tại lăng các vị vua thời Lê sơ, Lam Kinh, Thanh Hóa (thế kỷ

XV, XVI)

- Tượng lính hầu tại lăng Phúc Khê Tướng công Nguyễn Văn Nghi, lăng Đăng Quận công Nguyễn Khải, lăng Mãn Quận công Lê Trung Nghĩa, (Thanh Hóa), lăng Dĩnh Quận công Phạm Huy Đĩnh (Thái Bình), (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII)

- Tượng người hầu tại chùa Sổ, chùa Bối Khê, chùa An Khoái (Hà Nội), chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII)

- Tượng người hầu tại lăng Phương Quận công Ngọ Công Quế (lăng họ Ngọ, Bắc Giang), lăng Quận công La Quý Hầu (lăng Dinh Hương, Bắc Giang), lăng Quốc công Vũ Hồng Lượng (Hưng Yên), (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII)

- Tượng quan, lính hầu tại lăng các vị vua triều Nguyễn, Thừa Thiên - Huế (từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX)

3.2.1.3.Trang phục trên hình tượng con người qua các phù điêu trong di tích

- Phù điêu đình làng

3.2.1.4 Một số trang phục xưa đã được nghiên cứu và lưu giữ

- Trang phục thờ tại đền thờ Phúc Khê Tướng công Nguyễn Văn Nghi (1525 - 1595)

- Trang phục triều Nguyễn: nguyên bản và phục dựng (thế kỷ XIX, XX)

3.2.2 Trang phục thời Lê - Trịnh trong sự thể hiện trên sân khấu Việt Nam hiện nay

- Trang phục các nhân vật trong triều đình

Trang 12

- Trang phục người hầu, quân lính

- Trang phục các tầng lớp nhân dân

Hệ thống trang phục sân khấu tại các đơn vị biểu diễn cùng sự tham khảo, đối chiếu với phác thảo trang phục cho các vở diễn có đề tài lịch sử đã được dàn dựng

Lựa chọn những vở diễn có thời gian lịch sử tương ứng với đề tài, nghiên cứu trang phục sân khấu có đề tài lịch sử hiện nay, tập trung vào trang phục hình tượng những nhân vật lịch sử trên sàn diễn của ba loại hình nghệ thuật biểu diễn sân khấu: chèo, tuồng và kịch nói có đề tài thời Lê - Trịnh, trọng tâm từ 1995 đến nay Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc 1995 đã đánh dấu sự thành công sau 10 năm nghệ thuật

sân khấu Đổi mới cùng đất nước

Lập bảng so sánh về hình thức, kết cấu, họa tiết trang trí và phong cách nghệ thuật của trang phục sân khấu cùng đặc thù riêng của ba thể loại sân khấu đã được lựa chọn nghiên cứu Quá trình nghiên cứu trang phục sân khấu của các nhân vật lịch sử có sự đối chiếu, tham khảo trang phục điện ảnh, tranh truyện lịch sử, tượng đài danh nhân…

4 Cơ sở lý thuyết và giả thuyết khoa học

4.1 Cơ sở lý luận của đề tài luận án

Là một công trình nghiên cứu trang phục truyền thống Việt thời Lê - Trịnh dưới góc độ nghiên cứu về hình thức và nghệ thuật của trang phục; nghiên cứu so sánh về

sự tiếp nối di sản trang phục truyền thống trên sân khấu Việt Nam hiện nay trong một

số vở diễn có đề tài lịch sử, đặc biệt với hình tượng nhân vật lịch sử, nên NCS lựa chọn một số luận điểm, lý thuyết làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu, đó là:

- Luận điểm về sự Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể trong xã

hội Việt Nam đương đại qua nghiên cứu về sử học, nhân học, dân tộc học, văn hóa

học, xã hội học nghệ thuật, mỹ thuật Việt truyền thống… của những tác giả đi trước như Trần Quốc Vượng, Nguyễn Từ Chi, Nguyễn Du Chi, Chu Quang Trứ, Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh, Phan Hồng Giang, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Chí Bền, Trần Ngọc Thêm, Bùi Hoài Sơn, Lê Văn Tạo, Phan Cẩm Thượng, Phan Thanh Bình…

Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII)

về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nêu rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc,

là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng, bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị di

Trang 13

sản văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể.” [7, tr 62]

- Luận điểm về sự Sáng tạo nghệ thuật có tính khoa học, phát huy giá trị di sản

văn hóa truyền thống trong nghệ thuật sân khấu đương đạivới những sáng tạo và

nghiên cứu của các tác giả - nghệ sĩ như Đình Quang, Nguyễn Đình Nghi, Nguyễn Đình Hàm, Nguyễn Hồng, Hoàng Chương, Trần Trí Trắc, Trần Đình Ngôn, Dân Quốc, Đoàn Thị Tình, Trịnh Quang Vũ, Nguyễn Thị Minh Thái, Nguyễn Văn Thành, Đinh Quý Thêm, Trịnh Bách, Hoàng Song Hào, Trần Quang Đức…

Luật Di sản Văn hóa (năm 2001) cũng khẳng định: “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa là nhằm đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng tăng của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và góp phần vào kho tàng di sản văn hóa thế giới ” [7, tr 62]

Mục đích nghiên cứu của luận án này nhằm tìm hiểu mối quan hệ của hai đối tượng: trang phục truyền thống Việt và trang phục sân khấu có đề tài lịch sử, đặc biệt đối với hình tượng những nhân vật lịch sử đã từng được tái hiện trên sàn diễn

4.2 Câu hỏi nghiên cứu vàgiả thuyết khoa học của đề tài luận án

4.2.1 Câu hỏi nghiên cứu

Từ trong quá khứ cho tới nay, phần lớn các nghiên cứu về lịch sử trang phục Việt đều theo phương pháp khảo tả, các hình vẽ nếu có cũng chưa có sự sắp xếp theo một hệ thống (thời gian, không gian, đẳng cấp xã hội) cùng sự so sánh, phân tích đánh giá sự biến chuyển của trang phục Việt theo dòng chảy lịch sử

Theo sử sách và theo nghiên cứu của những người đi trước, NCS nhận thấy chúng ta hầu như mới chỉ bước đầu “dịch” từ “chữ” sang “hình”, hoặc “hình” sang

“hình” (nếu có), vậy khi trong tư liệu “chữ ” hay “hình” khuyết phần nào, dường như cũng khó để tạo hình trang phục còn thiếu tư liệu Mặt khác, những chỉ dấu dường như

ít liên quan trực tiếp tới trang phục như các yếu tố địa lý, văn hóa, các di sản vật thể về văn hóa, nghệ thuật cổ truyền được truyền giữ qua đời sống lao động, đời sống tâm linh của nhiều thế hệ người Việt còn ít được quan tâm đối chiếu Trong quá trình thực hiện đề tài, NCS đã luôn tự hỏi: đồ vải lưu giữ được là quá hiếm hoi, sử sách thi thoảng mới lưu lại vài dòng, các pho tượng thờ luôn tồn tại dấu hỏi dai dẳng về tính hiện thực của trang phục được thể hiện trên tượng (mang tính thờ cúng, lễ nghi, không

Trang 14

hẳn là trang phục trong đời sống) Vậy có con đường nào dẫn dắt người nghiên cứu tìm thấy trang phục truyền thống Việt đã từng tồn tại trong lịch sử

Trang phục truyền thống Việt ngoài cách bảo tồn tĩnh như hiện có (lưu giữ

trong các bảo tàng, các bộ sưu tập cá nhân, các công trình nghiên cứu), theo suy nghĩ

của người viết, còn có một cách bảo tồn động thông qua trang phục biểu diễn nghệ

thuật trong những vở diễn về đề tài lịch sử Hình tượng những nhân vật lịch sử, con người Việt Nam xưa được tái hiện trên sàn diễn, giúp cho những thế hệ khán giả mới cảm nhận văn hoá truyền thống một cách sống động thông qua nghệ thuật thị giác, nghệ thuật hình ảnh với sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ

Từ vốn cổ trong văn hoá trang phục Việt ngàn năm, qua sự sáng tạo của tác giả, nghệ sĩ biểu diễn sân khấu, trang phục truyền thống Việt được tái tạo lại có điều gì cần bảo tồn, có điều gì cần được kế thừa và phát huy? Từ bản sắc văn hoá truyền thống tới văn hoá đương đại, trong trang phục biểu diễn, có những vấn đề nào cần nghiên cứu, phân tích và đánh giá? Giải mã những chỉ dấu người xưa để lại qua các di sản văn hóa (không chỉ riêng trang phục) cũng là những câu hỏi dẫn dắt đề tài nghiên cứu này

4.2.2 Giả thuyết khoa học

Từ câu hỏi luôn đi theo NCS trong công tác giảng dạy, sáng tạo, đặc biệt trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, NCS mạnh dạn đưa vào trong luận án một giả

thuyết về sự sáng tạo phục trang sân khấu đương đại Giả thuyết Trang phục không chỉ

là tấm áo manh quần, trang phục là sự kết tinh văn hóa từ trong lao động, cuộc sống

xã hội đương thời Vậy ngoài vật liệu vải dễ bị hủy hoại bởi thời gian và khí hậu khắc

nghiệt có độ ẩm cao, còn rất nhiều di sản vật thể khác sẽ cho chúng ta những chỉ dấu quý giá, mang giá trị lịch sử, hiện thực và thẩm mỹ để dựng lại diện mạo trang phục Việt một thời đã lùi sâu vào quá khứ

Luận án bước đầu tìm hiểu và có sự so sánh đối chiếu với một số hình thức trang trí trên bia đá bởi tính bền vững của chất liệu tạo tác và niên đại tuyệt đối của các tấm bia, đã được sự công nhận rộng rãi của giới chuyên môn

Hệ thống bia khảo sát được lựa chọn phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài, bao gồm một số bia tại các di tích lịch sử, văn hóa: lăng mộ các vị vua thời Lê sơ, Lam Kinh, Thanh Hóa (thế kỷ XV), lăng mộ các vị công hầu thời Lê - Trịnh (thế kỷ XVII, XVIII), bia Tiến sĩ Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội (từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX), lăng mộ các vị vua thời Nguyễn, Thừa Thiên - Huế (thế kỷ XIX, XX)

Trang 15

Xuất phát từ công việc thực tiễn, luôn biết “cá tính sáng tạo” của người nghệ

sĩ trong nghệ thuật luôn mạnh mẽ Nhưng cũng chính từ thực tiễn nghề nghiệp, NCS nhận thấy một nhu cầu bức thiết: vốn trang phục Việt truyền thống cần được tập hợp, nghiên cứu, hệ thống hoá một cách khoa học bằng cả văn bản và hình ảnh với tất cả vẻ đẹp của văn hóa Việt cổ truyền, giúp cho di sản trang phục Việt hiện ra đầy đủ hơn, sắc nét hơn dưới góc độ khoa học và nghệ thuật, để công việc thiết kế trang phục nghệ thuật biểu diễn thực sự có cơ sở lý luận và phương pháp khoa học

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học theo nguyên tắc: đặt đối tượng nghiên cứu trong bối cảnh thời gian lịch sử và không gian sinh tồn của nó

Trên cơ sở quan điểm và phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, NCS xem xét, đánh giá các vấn đề trong phạm vi nghiên cứu của luận án

Quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, xem xét đối tượng nghiên cứu là sự tiếp nối di sản nghệ thuật trang phục truyền thống Việt trên sàn diễn sân khấu Việt Nam, NCS đặt đối tượng nghiên cứu trong tổng thể văn hóa với tư tưởng chính trị và đạo đức của thời đại, với hệ thống các khái niệm khoa học

và nhãn quan triết học ở từng thời kỳ để giải quyết vấn đề khoa học của luận án

5.2 Phương pháp nghiên cứu đề tài luận án

5.2.1 Phương pháp điền dã, khảo tả phục vụ nghiên cứu

Đối tượng được áp dụng trong phương pháp điền dã, khảo tả bao gồm:

* Đối tượng thứ nhất

Tìm hiểu trang phục xưa qua hình tượng con người trong di tích văn hoá, nghệ thuật, kiến trúc Đồng thời tham khảo một số di vật trang phục thời Lê - Trịnh, thế kỷ XVII, có sự so sánh đối chiếu với trang phục của nhà Nguyễn, hiện đang được bảo tồn

* Đối tượng thứ hai

Hệ thống tư liệu trang phục sân khấu lịch sử đương đại được tìm hiểu, ghi chép, khảo tả bao gồm trang phục tại các đơn vị biểu diễn sân khấu

Việc tìm hiểu trang phục sân khấu lịch sử đương đại đồng thời có sự tham khảo với trang phục nhân vật lịch sử trong nghệ thuật điện ảnh, hệ thống tranh truyện, hệ thống tượng đài danh nhân…

Trang 16

5.2.2 Phương pháp xử lý tư liệu

Các chức năng thể hiện của phần mềm là một công cụ hữu hiệu cho công tác sắp đặt, lưu trữ và quản lý tư liệu Hệ thống tư liệu hiện vật sẽ được sử dụng phần mềm Corel Draw đạc họa hiện trạng di vật hiện có về hình thức và các đồ án trang trí trên di vật, cung cấp dữ liệu nghiên cứu mới

Kết hợp cùng với những nghiên cứu, phân tích, so sánh, biện luận…chứng cứ trên các bản đạc họa đã góp phần quan trọng làm sáng rõ các luận điểm nghiên cứu

5.2.3 Phương pháp liên ngành văn hóa học

Đề tài của luận án chú trọng đặt đối tượng nghiên cứu vào bối cảnh xã hội, chính trị, lịch sử văn hóa, nghệ thuật…trong từng giai đoạn, do vậy việc sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành là một lựa chọn không thể bỏ qua đối với NCS và cũng là những điểm mới cho luận án khi được soi sáng bởi một phương pháp nghiên cứu đang phổ biến tại Việt Nam trong khoảng thời gian vài thập niên gần đây

Phương pháp nghiên cứu liên ngành là sự phát triển biện chứng trong tiến trình lịch

sử phát triển của tư duy khoa học Phương pháp liên ngành là sự kết hợp giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, giữa các ngành khoa học xã hội với nhau, sử dụng các phương pháp dân tộc học, xã hội học nghệ thuật, khảo cổ học, mỹ thuật học, sân khấu học

5.2.4 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Luận án nghiên cứu là một con đường tiếp cận lịch sử về nghệ thuật trang phục

truyền thống Việt được tái hiện trên sàn diễn sân khấu hôm nay tất yếu phải sử dụng tới phương pháp so sánh, đối chiếu

Khối tư liệu phù hợp với nội dung và phạm vi nghiên cứu phục vụ luận án được sắp xếp theo một hệ thống bảng biểu tương ứng thích hợp, đáp ứng tính khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các luận điểm của đề tài

5.2.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Sự vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp cũng giúp cho luận án từng bước

có thể hệ thống hoá tiến trình phát triển và định hình của trang phục thời Lê - Trịnh cũng như sự kế thừa, tiếp nối qua những thành tựu, tồn tại trong công tác sáng tạo

trang phục nhân vật lịch sử bằng cả hình ảnh và văn bản

5.2.6 Phương pháp đồng đại và lịch đại trong quá trình nghiên cứu

Phương pháp đồng đại và lịch đại là phương pháp cần thiết cho NCS khi tiến hành nghiên cứu đề tài vốn bao hàm một tiến trình lịch sử của đất nước, do vậy

Trang 17

phương pháp đồng đại và lịch đại đem lại cách nhìn khách quan, khoa học trong quy trình hoàn thiện luận án

Dựa trên những phương pháp lý thuyết nghiên cứu mang đậm tính chuyên ngành lịch sử văn hóa, nghệ thuật như lý thuyết tiếp nhận văn hóa, phương pháp liên ngành/xuyên cành, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp phân tích tổng hợp,

đồng đại và lịch đại… NCS hy vọng đề tài nghiên cứu về Sự thể hiện trang phục thời

Lê - Trịnh trên sân khấu Việt Nam hiện nay sẽ dẫn tới một kết quả khả quan (dù còn

nhiều điều chưa được như mong muốn), hỗ trợ một phần công tác sáng tác trang phục những vở diễn về đề tài lịch sử, giúp cho những thế hệ khán giả mới cảm nhận văn hoá truyền thống một cách sống động thông qua nghệ thuật thị giác, nghệ thuật hình ảnh từ một loại hình nghệ thuật tổng hợp như sân khấu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu về vấn đề trang phục Việt truyền thống là một vấn đề lớn, đòi hỏi tâm sức một đội ngũ chuyên gia đông đảo, chuyên biệt Đồng thời đề tài cũng cần có một thời gian tương ứng phù hợp với sự quan tâm dành cho vấn đề Hiện nay, ngành Thiết kế Mỹ thuật Sân khấu, Thiết kế Mỹ thuật Điện ảnh chưa có sự quan tâm đầy đủ về vấn đề này

Đáp ứng những quan tâm và nhu cầu từ thực tiễn, NCS xin chọn ra một phần nhỏ trong lịch sử trang phục Việt Nam, với mong muốn được đóng góp vào việc thể hiện trang phục truyền thống Việt trên sân khấu và điện ảnh hiện nay

Đề tài tập trung trong thế kỷ XVII là thời kỳ các tư liệu khảo sát trên di sản văn hóa vật thể với hệ thống tượng người, hình tượng con người trên các mảng chạm khắc trong di tích đã thể hiện khá đa dạng, phong phú về các tầng lớp trong xã hội phong kiến còn được lưu giữ Tuy nhiên, với năng lực của một NCS, luận ándừng lại với trang phục của tầng lớp trên vì ít nhiều dễ gần gũi với đề tài các tác phẩm sân khấu, điện ảnh liên quan tới thời kỳ có nhiều biến động cùng các nhân vật lịch sử, chủ yếu trong cung đình (theo chủ quan của người nghiên cứu) Bên cạnh đó, luận án vẫn quan tâm đến những tầng lớp khác trong xã hội để bổ sung và làm rõ hơn về giới hạn đề tài đã chọn

6.1 Đối với trang phục thời Lê - Trịnh

Nghiên cứu sinh mong muốn tiếp nối những người đi trước đã có những quan tâm và dày công nghiên cứu về lĩnh vực trang phục truyền thống Việt Từ lĩnh vực thực tiễn, NCS hy vọng sẽ từng bước hệ thống hoá tiến trình phát triển và định hình của trang phục truyền thống Việt bằng cả hình ảnh và văn bản, đóng góp vào công tác

Trang 18

đào tạo các chuyên ngành Thiết kế Mỹ thuật Sân khấu, Điện ảnh, Thiết kế Trang phục Nghệ thuật cùng các chuyên ngành mỹ thuật có liên quan Đồng thời người viết hy vọng luận án cũng góp phần giúp các đơn vị biểu diễn sân khấu một vài nét về lý luận cần thiết hỗ trợ công tác sáng tạo, thiết kế, thực hiện trang phục cho vở diễn về đề tài lịch sử, tạo dựng hình ảnh cụ thể xứng đáng với tầm vóc, giá trị và ý nghĩa của hình tượng nhân vật lịch sử khi được tái hiện

6.2 Đối với sự thể hiện trang phục thời Lê - Trịnh trên sân khấu Việt Nam hiện nay

Kết quả nghiên cứu cũng cố gắng trình bày theo một hệ thống về những thành tựu và tồn tại trong công tác sáng tạo trang phục nhân vật lịch sử, phần nào giúp định hình hình tượng nhân vật lịch sử thông qua trang phục, hình thức nhân vật đã thực hiện được bao nhiêu tinh thần lịch sử đối với yêu cầu về nội dung và nghệ thuật của vở diễn,

và khả năng phục dựng trang phục đã đạt đến mức nào, hy vọng kết quả được coi như bài học trực quan sinh động cho những cá nhân muốn theo đuổi công việc sáng tạo đầy khó khăn nhưng rất hấp dẫn này

Nhưng những gì lịch sử để lại chưa bao giờ có thể đáp ứng được đầy đủ sự mong mỏi được nhìn thấy một bức tranh toàn cảnh về trang phục truyền thống Việt

Hy vọng, mỗi một tấm lòng, mỗi một nỗ lực nghiên cứu sẽ làm dày hơn vốn hiểu biết

về trang phục Việt truyền thống, đem tới cho cuộc sống nghệ thuật đương đại chiều sâu kiến thức văn hóa, là bệ đỡ cho đôi cánh sáng tạo được bay cao, bay xa

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu (tr.5 - tr.17), Kết luận (tr.134 - tr.137), Tài liệu tham khảo (tr.139 - tr.147), Phụ lục (tr.148 - tr.241), đề tài chia thành 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận và tình hình nghiên cứu (tr.17 - tr.63)

- Chương 2 Trang phục thời Lê - Trịnh qua di sản vật thể và trang phục thời Lê

- Trịnh trong một số vở diễn về đề tài lịch sử (tr.64 - tr.112)

- Chương 3 Di sản trang phục truyền thống Việt trong mối quan hệ với nghệ thuật sân khấu (tr.113 - tr.133)

Trang 19

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Nghệ thuật sân khấu với đề tài lịch sử

Nghệ thuật sân khấu truyền thống Việt Nam đã được hình thành và phát triển trong dòng chảy lịch sử của toàn dân tộc Từ trong lịch sử đầy đau thương mà quả cảm, bất khuất của con người Việt Nam đã hun đúc nên hình hài, sắc thái, kết tinh nên hồn Việt của sân khấu cổ truyền.Với một bề dày của quá trình hình thành và phát triển như vậy, sự gắn bó giữa sân khấu và lịch sử là một vấn đề mang tính quy luật biện chứng Lịch sử luôn là nguồn đề tài vô tận và mới mẻ của sự sáng tạo văn học nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật sân khấu Điều này không phải là đặc điểm riêng của sân khấu nước ta, nhưng do tính chất lịch sử của dân tộc, mà đề tài lịch sử trong nghệ thuật sân khấu có những nét đặc thù

Trong quá khứ, do sự hà khắc của chế độ phong kiến, với những luật lệ ngặt nghèo theo đạo đức Nho giáo, cùng những kỵ, huý riêng của từng triều đại nên sân khấu chèo thường “tránh né” chuyện cung đình, sân khấu tuồng lại nặng về “tuồng tích Tàu”, ít tích lịch sử dân tộc

Cách mạng Tháng Tám lịch sử đã tạo nên một bước ngoặt cho sự phát triển của nền sân khấu dân tộc: vừa bảo tồn, kế thừa những tinh hoa nghệ thuật của cha ông, vừa phát huy, sáng tạo những giá trị nghệ thuật mới Sân khấu nghệ thuật tuồng, chèo có một lợi thế rất lớn khi dàn dựng đề tài mang tính lịch sử bởi bề dày truyền thống cũng như hình thức nghệ thuật cổ truyền độc đáo, rất phù hợp Với vận hội mới của đất nước, sự ra đời của sân khấu cách mạng, các hình thức nghệ thuật truyền thống đã có thêm nội lực để chuyển tải những nội dung mới trong đó lịch sử là một nội dung quan trọng Sân khấu kịch nói theo chân người Pháp du nhập cũng đã hoà nhập với văn hoá Việt Nam, tạo nên một hình thức nghệ thuật sân khấu mới, có sức thu hút đông đảo người xem

Việt Nam là một dân tộc có bản sắc văn hoá lâu đời, nhưng không phải một nền văn hoá đóng kín, mà là một nền văn hoá mở Trong từng chặng đường lịch sử nhất

Trang 20

định, sân khấu Việt Nam lại tiếp nhận được những yếu tố mới để nâng cao và làm giàu cho bản sắc văn hoá nghệ thuật của dân tộc mình

Qua nhiều thập kỷ, kể từ mùa thu 1945, sân khấu Việt Nam hiện đại đã có một

hệ thống tác phẩm sân khấu về đề tài lịch sử, được dàn dựng trong hầu hết các thể loại như chèo, tuồng, cải lương, kịch nói, kịch dân ca…Các tác phẩm tái hiện lịch sử đất nước từ thời Hùng Vương dựng nước tới Hai Bà Trưng, Bà Triệu chống giặc ngoại xâm; Ngô Quyền khôi phục nền độc lập tự chủ của quốc gia, tới các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần; chiến thắng quân Minh lẫy lừng của Lê Lợi cùng Bình Ngô đại cáo bất hủ của Nguyễn Trãi; hình tượng người anh hùng áo vải Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến dịch thần tốc đại thắng quân Thanh; triều Nguyễn với sự thống nhất bờ cõi từ Bắc tới Nam của non sông Việt Nam, nỗi đau mất nước…Nhiều tác phẩm đã đạt những thành tựu xuất sắc, để lại những dấu ấn khó phai mờ qua nhiều thế hệ khán giả

Phần lớn những vở diễn có đề tài lịch sử đều mang tính chất sử thi, có sức hấp dẫn với người xem với sự tái hiện hình tượng các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hóa nhằm ca ngợi truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, ca ngợi tinh thần kiên cường bất khuất, tấm lòng yêu nước thương dân và tinh thần nhân đạo chủ nghĩa của các bậc tiền nhân

Tuy khai thác đề tài lịch sử, nhưng các vở diễn đều đưa ra những thông điệp tư tưởng mang tính thời sự Vì vậy, nó đã có tác động tích cực, hiệu quả trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, thống nhất đất nước và công cuộc đổi mới, xây dựng thành công đất nước trong thời đại mới Những đóng góp của nghệ thuật sân khấu qua các vở diễn mang đề tài lịch sử đã được Đảng, Nhà nước và công chúng ghi nhận

Sân khấu là nghệ thuật tổng hợp Mỗi vở diễn mang đề tài lịch sử được dàn dựng nghiêm túc về nội dung, hấp dẫn về hình thức biểu hiện sẽ là một bài học sống động về văn chương, phong tục, ngôn ngữ, thẩm mỹ… qua từng chặng đường lịch sử Các vở

diễn về đề tài lịch sử được tạo điều kiện đến với khán giả rộng rãi, sẽ góp phần:

- Giáo dục tri thức lịch sử

- Giáo dục văn hoá truyền thống

- Rút ra những bài học cho thời hiện tại

Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, luận án đề cập tới vấn đề trang phục một

số nhân vật trong các vở diễn về đề tài lịch sử trong thời gian qua, tập trung vào những

vở diễn tái hiện lại bối cảnh xã hội thời Lê - Trịnh

Trang 21

1 1.2 Trang phục truyền thống Việt trong sự thể hiện trên sân khấu Việt Nam

1.1.2.1 Trang phục sân khấu truyền thống

Dưới thời phong kiến, do ít có điều kiện để lưu giữ những hình ảnh cụ thể về một vở diễn, dù là dân gian hay cung đình Do vậy, ngày nay, chúng ta chỉ còn nhìn thấy được những hình ảnh quý giá ấy qua một số ảnh chụp hiếm hoi hay bản vẽ, tranh khắc gỗ ít ỏi có được từ thế kỷ XVII Thời gian trước đó nữa ta chỉ được biết qua vài dòng văn bản cổ có đề cập tới nghệ thuật sân khấu Qua những hình vẽ cảnh diễn tuồng dân gian những năm cuối thế kỷ XVIII , hầu hết các loại trang phục đều đơn sơ,

kể cả võ phục, ngay những bộ xiêm y của ba nữ diễn viên đang múa cũng giản đơn Trong bức ảnh chụp, các diễn viên cung đình cuối thế kỷ XIX cũng cho thấy hình thức trang trí rất giản dị, các diễn viên đều đi chân đất

Trang phục sân khấu chèo cổ có nhiều nét gần gũi, gắn bó với trang phục đời thường, ít cách điệu, tuy đã được ước lệ, mỹ lệ hoá để phù hợp với vai diễn và yêu cầu hấp dẫn của sân khấu nên đã đẹp hơn nhiều so với trang phục lao động thường ngày của người nông dân châu thổ Bắc bộ Màu sắc của trang phục trong chèo cổ là những gam màu đồng quê của bức tranh dân gian nông thôn, với những sắc hồng hoa đào, sắc nâu gần gũi quen thuộc, ấm áp, hồn nhiên xanh hoa lý v.v…

Trang phục sân khấu tuồng truyền thống giàu tính tượng trưng, biểu tượng thông qua những hình thức, màu sắc có ý nghĩa rõ ràng với những gam màu rực rỡ, đối lập nhau: đen - đỏ; trắng - đen, v.v… Nhưng do sử dụng “tuồng tích Tàu”, lịch sử không cụ thể, nên trang phục thiên về hướng định hình khuôn mẫu, thiếu đi tính chân thực lịch sử Chuyện Cung đình triều Nguyễn đã truyền lại: Thái hậu Từ Dũ, mẹ vua

Tự Đức là người có học vấn, đọc nhiều, biết rộng, đã từng nói về trang phục cho đoàn tuồng Cung đình rằng: “… Cứ triều ta ta làm” từ đó, trang phục sân khấu tuồng cung đình Việt Nam đã sử dụng nguyên mẫu trang phục cung đình Huế (đặc biệt là của vua, hoàng hậu) Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân (yêu cầu nghệ thuật hoá, kinh phí ngặt nghèo, thuận tiện cho diễn xuất, do phải kiêng kỵ…) nên trang phục tuồng truyền thống cũng không rập khuôn theo đúng nguyên mẫu, dầu vậy vẫn giữ được những đường nét, màu sắc cốt lõi, cơ bản… của những quy định nghiêm ngặt về hình dáng, chất liệu, màu sắc cho từng loại mũ, áo, xiêm, hia, đai v.v… theo lễ chế, phẩm trật của

hệ thống quan lại văn, võ mà triều đình đã quy định

Trang 22

1.1.2.2 Một số đặc trưng của trang phục sân khấu truyền thống và trang phục sân khấu hiện đại

Trang phục sân khấu là toàn bộ những yếu tố nhìn thấy được trên người diễn viên trong một vở diễn, cho phép phân biệt ở những mức độ khác nhau, những nhân vật mà diễn viên diễn tả: quần áo, mái tóc, trang phục như đồ trang sức; các bộ phận giả như: tóc giả… và cả mặt nạ Từ nhu cầu phát triển của trang phục sân khấu, hình thành nên một đội ngũ sáng tạo và chế tác trang phục cho vai diễn trên sân khấu Trang phục trên sân khấu, không chỉ như một tín hiệu của nghệ thuật sân khấu, mà nó cũng tạo nên một sự giao tiếp giữa diễn viên và công chúng Hình thức (trang phục, hoá trang) luôn thể hiện nội dung (nội tâm, tính cách) một cách thống nhất, hài hòa

Trang phục sân khấu là một trong những nhân tố sáng tạo của ngôn ngữ sân khấu, góp phần nâng cao chất lượng nghệ thuật và tính hấp dẫn của nó Nghệ thuật sân khấu là một loại hình nghệ thuật mang tính ước lệ và tượng trưng cao, các thành tố nghệ thuật tạo nên vở diễn đều có sự phối hợp hài hoà trong tổng thể mang tính đặc trưng này Trang phục sân khấu về cơ bản bắt nguồn từ đời sống sinh hoạt của con người, nhưng là trang phục đã cách điệu và ước lệ, giàu tính biểu tượng

Trong thời gian qua, tuy sân khấu hiện đại đã xây dựng thành công nhiều hình tượng nhân vật lịch sử, nhưng đáng tiếc là trang phục và nghi lễ của vua chúa, quan lại, tướng lĩnh, hoàng hậu… các thời đại thiếu sự khác nhau Về nhân vật nam có thể thấy, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Thủ Độ ăn vận tương tự nhau Về nhân vật

nữ, chiếc khăn vành dây to bản, nhiều lớp (chỉ mới có từ thời Hoàng hậu Nam Phương, nhưng độ lớn phụ thuộc phép tắc nghiêm ngặt của triều đình),lóng lánh kim

sa, kim tuyến đã uy nghi trên mái tóc của các bậc vương hậu từ Thái hậu Dương Vân Nga tới Lý Chiêu Hoàng, từ Nguyên phi Ỷ Lan tới Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung

Riêng với bản thân NCS, năm lên 9 tuổi (1978) sau khi được xem vở cải lương

Thái hậu Dương Vân Nga, với lòng yêu thích và ấn tượng từ đêm diễn đã vẽ lại một

bức tranh nhân vật Thái hậu Dương Vân Nga và Hiệu uý Kỳ Hoa trong trang phục sân khấu hoàn toàn xa lạ với lịch sử cùng chiếc khăn đóng trang trí cầu kỳ trên đầu

Kỷ niệm nhỏ này đã luôn nhắc nhở NCS nhận thức rõ vấn đề ấn tượng thị giác khi thưởng thức nghệ thuật là vô cùng quan trọng, giá trị hơn nữa nếu đó là những ký

Trang 23

ức về lịch sử dân tộc Đây là một vấn đề có ý nghĩa lớn về giá trị giáo dục và giá trị thẩm mỹ đối với các thế hệ khán giả Việt Nam

Với vở diễn mang đề tài lịch sử, người xem thường đặt ra vấn đề chân thực Vậy chân thực với lịch sử nghĩa là gì? Quần áo phải đúng nguyên như trong sử sách đã ghi?

Có còn không sự sáng tạo nghệ thuật cho những bộ trang phục mang tính lịch sử? Lịch

sử được tái hiện trên sân khấu phải chăng vừa là sử, vừa là nghệ thuật, vừa là cuộc đời? Nhưng giữa sân khấu truyền thống và sân khấu hiện đại có một nét khác biệt rất lớn: đó

là trên sân khấu tuồng, chèo cổ vẫn hiếm bóng những nhân vật lịch sử Việt Nam cụ thể

Nhân vật trong sân khấu kịch hát truyền thống thường có tính khái quát, không mang đặc điểm lịch sử cụ thể nên thường có tính cách định hình, do đó, trang phục thường theo một mô hình, khuôn mẫu nhất định

Sân khấu cách mạng đã thổi một luồng gió mới vào nội dung của sân khấu kịch hát truyền thống Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc đã từng bước được tái hiện Những nhân vật lịch sử vốn chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của mỗi người nay hiện diện ngay trước mắt khán giả dưới ánh đèn sân khấu Sự khác biệt này đòi hỏi rất nhiều công phu tìm tòi của đội ngũ sáng tạo nghệ thuật trong đó có công tác thiết kế trang phục

Trong sân khấu truyền thống, việc xử lý không gian ước lệ rất phát triển Chính

vì diễn trên một sân khấu ba chiều (chợ, sân đình), nền phông trơn nên sân khấu truyền thống tập trung mọi môtíp trang trí vào trang phục (đi liền với nghệ thuật biểu diễn)và đạo cụ diễn xuất

Khi xem mỗi vở tuồng, chèo cổ, chúng ta như được sống trong một thời đại xa xưa với những vấn đề con người, xã hội, những phong tục tập quán đã cách chúng ta nhiều thế kỷ Tuồng, chèo cổ dường như đã đạt tới sự hài hoà, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nội dung và hình thức

Tính cách nhân vật trên sân khấu truyền thống đã định hình nên trang phục thường dùng màu mạnh, hay gọi là màu gốc để gây ấn tượng với khán giả từ phút đầu tiên

Nghiên cứu sinh đã có những tìm hiểuvề một số điểm khác nhau cơ bản giữa trang phục sân khấu kịch hát truyền thống và trang phục sân khấu kịch hát hiện đại mang đề tài lịch sử

Trang 24

Bảng 01 So sánh đặc trưng trang phục sân khấu truyền thống và hiện đại

Trang phục sân khấu

- Phục vụ cho một xã hội mang nặng tính

truyền thống nên chú trọng tới tính trang

trí có tính cổ truyền dân tộc theo những

quy ước, lề luật nhất định

- Chú trọng nghệ thuật biểu diễn với những

động tác, vũ điệu đã được cách điệu hoá cao

- Nhân vật có tính cách định hình, có

khuôn mẫu, có tính hình thức nhất định

nên quy định nguyên tắc chặt chẽ trong

hình thức trang phục

- Chất liệu truyền thống: vải mộc, lụa, vân, sa,

đũi… Màu sắc dân gian, tuân theo những

phong tục, luật lệ thời phong kiến Tính cách

nhân vật là định hình nên trang phục thường

dùng màu mạnh, màu gốc để gây ấn tượng

- Cụ thể hoá

- Coi trọng tính chân thực lịch sử

- Phục vụ cho nhiều tầng lớp khán giả trong một xã hội hiện đại, coi trọng tính sáng tạo cá nhân và những thay đổi, thể nghiệm

- Chú trọng phần xem, ấn tượng thị giác

là chính Bởi lớp khán giả nay ít hiểu

về các quy tắc biểu diễn truyền thống

- Nhân vật có cá tính riêng, ít theo khuôn mẫu nên trang phục phải sáng tạo phù hợp với tính cách nhân vật

- Phối hợp các chất liệu truyền thống và hiện đại Màu sắc kế thừa truyền thống, nhưng mang dấu ấn sáng tạo riêng của họa sĩ thiết kế trang phục

Riêng trang phục dành cho sân khấu kịch nói thiên về khuynh hướng chân thực lịch sử Bản thân kịch nói là một thể loại nghệ thuật sân khấu mới được du nhập vào Việt Nam theo chân người Pháp, được tầng lớp nhân sĩ trí thức thời đó tiếp nhận và phát triển, có một sinh khí mới mẻ Trang phục sân khấu kịch nói gần gũi với đời sống, mang nhiều thông tin; tính cách điệu, ước lệ không hẳn là thủ pháp chính bao trùm toàn bộ phong cách thiết kế sân khấu và trang phục

Ngoài những đặc điểm chung của trang phục sân khấu: đó là sự thống nhất với đặc trưng cơ bản của nghệ thuật sân khấu: cách điệu và ước lệ, thì trang phục sân khấu của mỗi thể loại khác nhau vẫn có những đặc điểm riêng biệt, vốn được hình thành và

Trang 25

phát triển cùng lịch sử của thể loại đó, tạo nên những hình thức biểu hiện đặc thù cho nghệ thuật tuồng, chèo và kịch nói cũng như các thể loại khác

Đề tài đã bước đầu lập bảng so sánh các cấp độ khác nhau trong hình thức trang phục của ba thể loại nghệ thuật biểu diễn sân khấu: tuồng, chèo, kịch nói

Bảng 02 So sánh đặc trưng trang phục trong ba thể loại sân khấu

TUỒNG CHÈO KỊCH

Hình thức - Khái quát hoá

- Chắc, khoẻ, vững chãi, cô đọng

- Khoa trương, cách điệu mạnh mẽ

- Mô phỏng hình thức trang phục của tầng lớp cao nhất trong xã hội phong kiến: vua, quan

- Khái quát hoá

dáng, gần với đời sống

- Tính cách điệu và ước lệ không mạnh mẽ như nghệ thuật tuồng

- Mô phỏng tầng lớp trung lưu và bình dân trong xã hội phong kiến

- Cụ thể hoá

- Gần với hiện thực

- Tính cách điệu và ước lệ không mạnh

mẽ như nghệ thuật tuồng, xen lẫn với tính chân thực

- Thể hiện hầu hết các tầng lớp trong xã hội

Màu sắc - Tương phản mạnh

mẽ, thường dùng gam màu nóng, chắc, khoẻ (bởi tính bạo liệt trong ngôn ngữ biểu diễn: ca

từ, vũ đạo, diễn xuất)

xanh, đỏ, vàng, đen, trắng và một số màu phụ, ít màu dân gian

- Tươi sáng, rực rỡ nhưng hồn nhiên, mộc mạc, giản dị

- Gam màu ngũ sắc của hệ thống tranh dân gian truyền thống: cánh sen, vàng chanh, hồ thuỷ, hoa lý, đen hạt

na, nâu sồng, gụ…

- Cụ thể hoá, điển hình hoá hiện thực

- Kế thừa các màu sắc trong nghệ thuật sân khấu truyền thống nhưng đã chuyển sang cách biểu đạt hiện thực, độ rực rỡ tương phản không mạnh như tuồng, chèo

Họa tiết

trang trí

- Các loại hoa, linh vật quý, biểu tượng của triều đình và sự sang trọng: long-ly-quy - phượng, hoa mẫu đơn, lan, cúc… các loại mây,

- Sử dụng các mẫu hoa

lá, linh vật trong dân gian, đã được ước lệ để tạo sựđơn giản, dễ nhận biết, bút pháp nhẹ nhàng, mềm mại

- Vận dụng các môtip trang trí dân gian quen thuộc, nhưng thường chắt lọc, điển hình hoá

- Cách thể hiện chân thực

Trang 26

TUỒNG CHÈO KỊCH

sóng nước được cách điệu cao với bút pháp dứt khoát, mạnh mẽ

- Cách thể hiện cầu kỳ

Toàn bộ hệ thống họa tiết mang tính biểu tượng cao

- Cách thể hiện đơn giản, hài hoà

Chất liệu - Cứng, khoẻ, dày dặn,

cốt tạo hình thức sang

vóc… giả đồng, giả vàng, giả bạc…

- Ấn tượng mộc mạc, tươi sáng, trong trẻo; cuộc đời được mỹ lệ hoá ở cấp độ gần gũi với hiện thực, tạo

ra mối giao cảm hài hoà giữa người xem và người diễn Nhưng vẫn có một khoảng cách nhất định

- Ấn tượng chân thực, gần sát với cuộc sống hơn cả Khán giả dễ

có sự đồng cảm

- Chân thực, tạo mối đồng cảm với người xem

Dựa trên những cứ liệu, qua sự nghiên cứu và phân tích trang phục tại các đơn vị biểu diễn, đề tài có một số nhận định về màu sắc trong trang phục sân khấu về đề tài lịch sử

Màu sắc của trang phục

Có một điều chắc chắn là màu sắc trên sân khấu khác với màu sắc trong cuộc sống thực tế Bản thân khán giả đi xem một vở diễn thường có tâm lý thưởng thức cái đẹp ở mức độ cao hơn so với thực tế, hoặc ngược lại, được nhìn thấy cái xấu, cái ác ở mức độ xấu xa, ác độc hơn vốn có ở thực tế Màu sắc của trang phục sân khấu còn tượng trưng cho hình tượng của nhân vật và tính chất của vở diễn

Hơn nữa, màu sắc trang phục cũng phải biến hóa theo hoàn cảnh, số phận, tư tưởng, tình cảm, tính cách… của nhân vật cũng như bối cảnh, không khí, tiết tấu của toàn bộ vở diễn Như vậy, sự vận dụng màu sắc cho trang phục phải có sự phối hợp khéo léo, hài hoà với nội dung vở diễn và sự riêng biệt của từng nhân vật

Trang 27

Với các vở diễn mang đề tài lịch sử (đặc biệt đối với sân khấu kịch hát truyền thống) màu sắc trang phục mang ý nghĩa tượng trưng rất cao, màu sắc góp phần xác định đẳng cấp, tính cách, hoàn cảnh cũng như loại vai diễn của nhân vật; qua đó nghệ thuật sử dụng màu sắc trong quan niệm truyền thống và hiện đại đã được phát huy một cách rõ nét

Dưới đây là một số màu sắc cơ bản vàmang tính chất tượng trưng, biểu cảm thường được thể hiện trên trang phục:

- Đỏ: ấm áp, vui tính, kích thích, khơi động, tráng liệt, giàu tính cách mạng, chiến đấu

- Da cam: ấm áp, tiên tiến, hoạt bát, phóng khoáng

- Vàng: nghiêm trang, cao quý, quang minh, tràn ngập hy vọng, hoạt động

- Vàng tươi: giàu có, đẹp đẽ, hoạt bát, khoái lạc, hăng hái, mới mẻ, nhiều tiền đồ

- Xanh lá mạ: yên ổn, vui hoà, bình tĩnh, nhàn hạ, khoáng đạt

- Xanh lục: sảng khoái, điểm tĩnh, êm ả, hoà bình, hạnh phúc

- Xanh lam: trịnh trọng, tĩnh mịch, thâm trầm, sang trọng, già dặn, bình tĩnh siêu thoát, thê lương, lãnh đạm

- Tím: u uất, buồn phiền, nghiêm trọng, thất thường, đố kỵ, kiêu ngạo, ấm ức

- Tím lam: trang trọng, an tĩnh, uất ức, u sầu

- Tím hồng: uy nghiêm, kiêu ngạo, trịnh trọng, duyên dáng

- Trắng: thuần khiết, sáng sủa, tự do

- Xám: ảm đạm, lạnh nhạt, không sáng sủa, không vừa ý

- Đen: hà khắc, nặng nề, nguy hiểm, áp chế, sắt đá, lạnh lẽo, âm thầm, không tình cảm, tử vong

Với một số tinh thần màu sắc cơ bản trên, nhưng với cách hòa sắc, sử dụng màu tương tác nhau lại có thể diễn đạt thành vô vàn những tinh thần, sắc thái biểu cảm khác Thông thường, các họa sĩ thường sử dụng theo ba nguyên tắc chính:

- Tương phản: màu nóng đối lập với màu lạnh, sắc độ đậm đối lập với sắc độ nhạt

- Tương đồng: các màu hài hoà trong một gam nóng hoặc lạnh, (thường gọi

là ton sur ton) phối hợp trên cơ sở một màu gốc

- Hài hòa: phối hợp hài hoà giữa sắc nóng và lạnh, cân đối độ đậm nhạt

sao cho thuận mắt

Nếu so sánh với nghệ thuật điện ảnh, chúng ta thấy trang phục trong phim có đề tài lịch sử thường chú ý coi trọng yếu tố chân thực từ những chi tiết nhỏ nhất Màu sắc, chất liệu cũng được tìm tòi, sử dụng sao cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử Bởi điện ảnh có

Trang 28

một ngôn ngữ đặc trưng riêng: ngôn ngữ hình ảnh, cùng các thủ pháp đặc thù của từng cỡ cảnh: viễn cảnh, toàn cảnh, trung cảnh, cận cảnh, đặc tả .nên đòi hỏi nghệ thuật hóa

trang và trang phục cũng như các yếu tố khác trong phim đều phải đáp ứng tính hiện thực nhằm đem lại cảm giác chân thực nhất Còn sân khấu, với góc nhìn từ phía khán giả là

một toàn cảnh rộng, không thể có những thủ pháp đặc thù như điện ảnh nên cách thể hiện

trang phục sân khấu, màu sắc, chất liệu cũng như họa tiết trang trí dù theo phong cách chân thực lịch sử thì cũng mang tính cách điệu và ước lệ hơn so với điện ảnh Do đó, màu sắc trang phục sân khấu so với thực tế phải tươi tắn hơn, độ tương phản rõ ràng hơn, các màu phải dễ nhận biết nếu nhìn từ hàng ghế xa nhất trong khán phòng

Một vở diễn sân khấu không chỉ cần nội dung hay mà còn phải có một hình thức nghệ thuật đẹp Sân khấu là một nghệ thuật tổng hợp, mỗi bộ môn đều có những sáng tạo riêng để đóng góp cho sự thành công của vở diễn Hình tượng nhân vật trên sân khấu không chỉ do một mình người diễn viên sáng tạo ra Đó là kết quả tổng hợp của nhiều bộ môn nghệ thuật: văn học, đạo diễn, diễn xuất, mỹ thuật, hoá trang, trang phục, ánh sáng,

âm thanh… Đặc điểm quan trọng nhất của nghệ thuật chính là thông qua hình tượng nghệ thuật để truyền ấn tượng, cảm xúc tới người xem Về mặt ngôn ngữ tạo hình, có thể nói trang phục sân khấu là một tác phẩm tạo hình với toàn bộ những phương tiện và thủ pháp nghệ thuật mà người họa sĩ thiết kế dùng để biểu hiện nội dung của nhân vật (đặc điểm, tính cách, dáng vẻ) thông qua hình thức của nhân vật, do vậy trang phục biểu diễn góp phần tạo nên một hình tượng nhân vật sống động thành công trên sàn diễn

Ngôn ngữ nghệ thuật càng có tính ước lệ cao (múa, hát…) thì hình thức trang phục, hóa trang càng cần tính ước lệ tương ứng Giữa tuồng, chèo và kịch nói ta thấy rất rõ những minh chứng cụ thể về mối tương quan giữa đặc thù của từng loại hình nghệ thuật biểu diễn với nghệ thuật thiết kế trang phục nhân vật Tuy nhiên, tính ước

lệ của vở diễn còn phụ thuộc vào tính chất của vở diễn là đề tài truyền thống, lịch sử hay hiện đại

Nhưng dù là vở diễn truyền thống hay vở diễn lịch sử (trên sân khấu hiện nay), tính cách điệu và ước lệ được biểu hiện trên hình thức trang phục dù ở các cấp độ khác nhau, nhưng đều phải đáp ứng tính chân thực nghệ thuật và tính thẩm mỹ vốn có gốc

rễ sâu xa từ văn hoá truyền thống:

- Trang phục tuồng, chèo cổ: chân thực có tính khái quát lịch sử

- Trang phục tuồng, chèo hiện đại, kịch nói: chân thực có tính lịch sử cụ thể

Trang 29

Trang phục sân khấu, đặc biệt là trang phục sân khấu kịch hát truyền thống đã góp phần tạo nên hình thức đặc trưng cho mỗi thể loại tuồng, chèo hay cải lương…

Trang phục sân khấu phải tuân theo nhiều đòi hỏi, quan trọng nhất là phải chứa đựng những yếu tố đặc trưng để người xem dễ nhận biết nhân vật Khán giả ngày nay rất chú trọng đến hiệu quả của trang phục Trang phục đóng góp một phần quan trọng

sự tiếp nhận, thưởng thức nghệ thuật và của người xem Người diễn viên nhập vai thoải mái, tự tin hơn rất nhiều trong bộ trang phục phù hợp với tính cách nhân vật và

vẻ đẹp hình thể của diễn viên Giữa con người cụ thể của diễn viên và nghệ thuật tạo hình đã có được một mối liên hệ duyên dáng Trang phục sân khấu với sức biểu hiện riêng biệt của mình, linh hoạt thích ứng, phối hợp hài hoà với ý đồ và phong cách nghệ thuật chung của vở diễn, tạo nên hiệu quả nghệ thuật cao nhất cho tác phẩm sân khấu

1.2 Tình hình nghiên cứu về lịch sử trang phục Việt và trang phục các vở diễn về đề tài lịch sử

1.2.1 Những vấn đề từ lịch sử

Năm 1995, trong tổng kết Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc tại Hà Nội, vấn đề trang phục lịch sử đã được NSND Dương Ngọc Đức, Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ Sân khấu, Chủ tịch Hội đồng giám khảo hội diễn nhấn mạnh: “Sự giống nhau của các bộ y phục ở các triều đại khác nhau, sự tùy tiện trong việc sử dụng màu sắc, họa tiết hoặc sự mô phỏng, bắt chước phục trang trong các phim lịch sử của nước ngoài là hiện tượng khá phổ biến”

Cuối tháng 9/1996, tại Hà Nội trong Hội nghị chuyên đề Sân khấu với đề tài

lịch sử lại thêm nhiều ý kiến đề cập đến những hiện tượng đáng tiếc kéo dài trong lĩnh

vực này và kêu gọi có sự giải quyết

Trong chương trình quốc gia kỷ niệm trọng thể 1000 năm Thăng Long - Hà Nội với những dự án sản xuất phim điện ảnh, phim hoạt hình, phim truyền hình, vở diễn sân khấu, tác phẩm hội hoạ, tượng đài danh nhân… mang đề tài lịch sử, đều rất cần sự nghiên cứu có hệ thống và cụ thể vấn đề trang phục lịch sử Việt Nam, đề xuất những kiến giải khả thi, đây là một yêu cầu bức thiết cho sự sáng tạo các giá trị nghệ thuật đương đại Sự ra mắt thành công của các công trình nghiên cứu, những tác phẩm văn hóa nghệ thuật về đề tài lịch sử trong dịp Đại lễ là một minh chứng cho kết quả của sự sáng tạo nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn với quá trình nghiên cứu công phu, khoa học

Trang 30

Dẫu vậy, vẫn có những sơ xuất đáng tiếc, ảnh hưởng tới lòng tin của công chúng về hình ảnh lịch sử đất nước và con người Việt Nam được tái hiện trong nghệ thuật

Bộ phim truyền hình 19 tập Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long do

Công ty Cổ phần truyền thông Trường Thành sản xuất đã được Hội đồng Duyệt phim quốc gia thẩm định ba lần, góp ý chỉnh sửa nhưng vẫn chưa đáp ứng được những dấu hỏi về chuyên môn và kỳ vọng của dư luận xã hội Bộ phim với tâm huyết và kinh phí đầu tư không nhỏ của đơn vị sản xuất đã có những thiếu sót cơ bản về bối cảnh, đạo

cụ, trang phục, ít giữ được bản sắc văn hóa Việt Nam trong công tác thiết kế mỹ thuật Đặc biệt tạo hình nhân vật (qua hóa trang, phục trang) của vua Lý Công Uẩn cùng các nhân vật lịch sử đương thời có phần còn xa lạ với nhận thức tâm tưởng của người xem, hiệu quả nghệ thuật chưa được như mong muốn của nhóm tác giả “Tuy nhiên vì phần lớn phim được quay ở Trung Quốc nên việc khắc phục tuyệt đối các bối cảnh, đạo cụ…là không thể thực hiện được, dù đây chỉ là những chi tiết hoặc nghiệp vụ làm phim để các tác giả rút kinh nghiệm” [91, tr.637] Bối cảnh và hình ảnh con người Việt Nam đã phần nào “làm nhạt bản sắc văn hóa Việt, dẫn tới chạnh lòng người xem yêu quý và tự hào về văn hóa dân tộc” [91, tr 640].Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền và dư luận xã hội, Đài truyền hình Việt Nam (VTV) đã quyết định dừng lịch phát sóng bộ phim trên kênh truyền hình quốc gia

Qua thực tế từ bộ phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long, cho thấy

vấn đề trang phục truyền thống Việt dù đã có sự nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo, nhưng kết quả chưa thật sự thỏa đáng Trang phục Việt Nam qua hình tượng nhân vật lịch sử phần nào xa lạ, chưa xứng với tầm vóc, những giá trị lịch sử và văn hoá của thời đại đó

Tháng 12/ 2012, Hội thảo khoa học Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch

sử do Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ chức tại Hà Nội đã

đáp ứng phần nào những yêu cầu bức thiết về lý luận và thực tiễn của sáng tạo văn học

về đề tài lịch sử.Bên cạnh những thành công, đóng góp tích cực, văn học nghệ thuật về

đề tài lịch sử vẫn còn những hạn chế nhất định, với không ít vấn đề cần quan tâm, luận

bàn Tại Hội thảo, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thành khi bày tỏ quan tâm “về mối

quan hệ giữa chân thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật”, ông đã thẳng thắn góp ý: “Sự vi phạm tính chân thực lịch sử không chỉ ở phương diện biên kịch mà đặc biệt tập trung một cách đậm nét ở khâu trang trí mỹ thuật cho bối cảnh và khâu trang phục, hóa trang ở các vở diễn đề tài lịch sử - điều đã được dư luận báo chí lên tiếng nhiều” [91, tr 550]

Trang 31

Sự kế thừa, tiếp nối văn hóa truyền thống trong quá trình sáng tạo của nghệ thuật sân khấu Việt Nam là điều mà tất cả các nhà nghiên cứu, hoạt động sân khấu đều thừa nhận Tuy nhiên, quá trình thẩm thấu của văn hóa nghệ thuật truyền thống, đặc biệt là văn hóa mặc của sân khấu chúng ta hiện nay đã xứng đáng với di sản cha ông

để lại như thế nào, vấn đề này đang rất cần những nghiên cứu cụ thể có tính hệ thống, chuyên sâu Những nghệ sĩ sân khấu Việt Nam đã từng đi trên con đường đầy tính bản năng nghệ thuật tự thân để tái hiện những hình tượng nhân vật lịch sử gần gũi với ý niệm vọng tưởng của người dân, được nhiều thế hệ khán giả đón nhận, ngày nay có thể nâng tầm sáng tạo hình tượng nghệ thuật với sự bổ trợ của hệ thống lý luận dựa trên bệ

đỡ của văn hóa truyền thống dân tộc

Hoàn cảnh lịch sử với bao thăng trầm của đất nước, cũng như những lề luật, lễ giáo phong kiến xưa khiến cho vấn đề trang phục dù là dân gian hay cung đình cũng hầu như được lưu tâm không nhiều trong những cứ liệu thành văn của nền học vấn chính thống nước Việt Nam thời phong kiến, theo chúng tôicó một số nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong phần di sản văn bản ghi chép về trang phục truyền thống Việt

1.2.1.1 Nguyên nhân thứ nhất: nguồn sử liệu sơ sài

Bản thân các nhà chép sử thời phong kiến không chú trọng, do đó ít khảo cứu, biên chép thành một hệ thống về trang phục dân tộc Vấn đề này chỉ được đề cập ở mức

ngắn gọn, phần nào sơ lược trong chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến

chương loại chí, hoặc rải rác trong những tác phẩm hiếm hoi như Kiến văn tiểu lục, Vân Đài loại ngữ, Hoàng Lê nhất thống chí hay ghi chép về một số thể lệ, phong tục và

trang phục nhưng quá đỗi sơ sài, không mô tả về hình dáng, cấu trúc cụ thể nên rất khó

khăn khi khảo cứu như Vũ trung tuỳ bút, Tang thương ngẫu lục, Thượng Kinh ký sự

Trong bộ chính sử đầu tiên của nước ta là Đại Việt sử ký toàn thư, một bộ sử lớn,

có giá trị chính thống của triều đình đương thời, được biên soạn từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII phần ghi chép về trang phục đã ít ỏi, lại hầu như không mô tả cụ thể Theo quan niệm của các nhà viết sử phong kiến xưa: “Vì sao mà làm quốc sử? Vì sử chủ yếu là để

ghi chép sự việc Có chính trị của một đời tất phải có sử của một đời” [47, tr.26]

Còn trong Lịch triều hiến chương loại chí do nhà bác học Phan Huy Chú soạn,

chính ông cũng thừa nhận khó khăn khi đề cập tới vấn đề triều phục

Lê Đại Hành lên ngôi mặc áo long cổn, về sau mặc áo phần nhiều dùng vóc

đỏ, mũ sức trân châu Lý Thái Tông mới chế thử mũ gọi là bát giác tiêu dao

Trang 32

bằng vàng, lối mũ, tên mũ ấy nay không khảo được Xét: từ đời Lý, đời Trần trở về trước, mũ áo của vua không thể khảo được, xem trong sử duy có hai thứ kể trên, tạm chép ra đây để biết đại khái [19, tr 15]

Rõ ràng, chúng ta có thể thấy sách sử thời phong kiến xưa chỉ chú trọng ghi chép các sự kiện và công đức của nhà vua, ít có sự chú tâm vào phong tục, nền nếp sinh hoạt Do vậy, về mặt văn bản xưa để lại còn lưu giữ được tới ngày nay hầu hết khá sơ lược, không được chú trọng về mặt trang phục cung đình cũng như dân gian nói chung và trang phục phụ nữ nói riêng (theo quan niệm phong kiến xưa)

1.2.1.2 Nguyên nhân thứ hai: hoàn cảnh lịch sử

Đất nước Việt Nam với lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, trải qua bao cơn binh lửa, khi thì các triều đại hưng vong, phế truất lẫn nhau, khi thì chịu ách

đô hộ của giặc ngoại xâm nên không tránh khỏi sự huỷ diệt về văn hoá

Các triều đại phong kiến Việt Nam xưa mỗi khi lên thay thế một triều đại cũ, thường không quan tâm mà có khi còn hạn chế các dấu tích của thời trước để xây dựng, khẳng định triều đại mới

Dưới thời Bắc thuộc, ách thống trị của ngoại bang rất hà khắc, biểu hiện trên hai mặt: sự bóc lột và mức độ đồng hoá… Nhưng thâm hiểm nhất là mưu đồ tiêu diệt văn hoá Trong vòng hai mươi năm xâm lược và đô hộ nước ta, quân Minh đã ra sức tiêu huỷ nền văn hoá dân tộc Việt Nam

Ngày 8 tháng 7 nhuận năm Vĩnh Lạc 4 (1406), hoàng đế Trung Hoa Minh Thành tổ gửi sắc chỉ cho Chu Năng, Tổng binh chinh di tướng quân thành quốc công: “Một khi binh lính vào trong nước, trừ các sách kinh và bản in

về đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy, ngoài ra nhất thiết các thứ sách vở chữ viết, cho đến các câu ca lý dân gian, sách dạy trẻ như loại sách có câu

“Thượng đại nhân, khưu ất dĩ” thì một mảnh, một chữ chớ để còn” 1407 bình định xong nhà Hồ, vua Minh lại sắc cho Trương Phụ: “Từ nay ngươi phải làm đúng lời sắc trước, truyền cho quân lính hễ bất cứ ở nơi nào, nếu thấy sách vở chữ viết, phải đốt ngay lập tức, không được lưu lại” (Việt Kiệu thư - Lý Văn Phượng - quyển 2) [102, tr 118]

Sự thực đau xót đó đã khiến cho chính nhà sử học Ngô Sĩ Liên trong Biểu dâng

sáchĐại Việt sử ký toàn thư lên vua Lê Thánh Tông đã phải viết: “Giáo mác đầy

đường, đâu chẳng bọn cuồng bạo giặc Minh, sách vở cả nước đều thành tro tàn tai họa

Trang 33

Muốn tìm sự tích trong dấu than tro, khó tránh phân biệt “hợi - thỉ” đúng sai.” [47, tr 97], (hai chữ này tự dạng gần giống nhau, tác giả muốn nói tư liệu không chính xác, khó tránh khỏi nhầm lẫn)

Hơn nữa, khi quân Pháp xâm lược và đô hộ nước ta, quân đội thực dân đã vơ vét tiền, vàng bạc, châu báu, cùng các đồ quốc bảo của một nhà nước phong kiến thua trận chất lên 5 tàu lớn để chở về Pháp (năm 1885), trong đó có 1 tàu bị chìm trên biển,

4 tàu còn lại đã cập bến nước Pháp Số di sản quốc gia quý báu ấy ngày nay ít người

có cơ hội tiếp cận

Cũng bởi những nguyên nhân khách quan và chủ quan từ các triều đại phong kiến đương thời, người đời sau chỉ còn có thể khảo cứu về trang phục Việt truyền thống qua những di vật may mắn còn lưu giữ và tiếp cận được

1.2.1.3 Nguyên nhân thứ ba: điều kiện tiếp cận nguồn tư liệu nước ngoài còn nhiều hạn chế

Một nguồn tư liệu quan trọng khác là những ghi chép, tranh vẽ của các giáo sĩ, nhà buôn, họa sĩ… người nước ngoài trong quá trình giao lưu buôn bán với các triều đại phong kiến Việt Nam xưa, hoặc những ghi chép, bản vẽ về đất nước, con người Việt trong sách sử Trung Quốc nhưng trong việc tiếp cận, tham khảo nguồn tư liệu này còn gặp nhiều khó khăn Các tranh vẽ của người phương Tây chỉ chủ yếu mô tả về phong tục, tập quán trong dân gian Do lễ giáo phong kiến nên hầu như họ không thể tiếp kiến các bậc hoàng hậu, vương phi, các bậc mệnh phụ trong triều bởi “nam nữ thụ thụ bất thân” Chỉ đến cuối thời Nguyễn, chúng ta mới có được những tư liệu, hình ảnh rõ ràng

về các bà nơi hậu cung, trong đó hình ảnh Hoàng hậu Nam Phương là phổ biến nhất

Do những nguyên nhân sâu xa từ trong lịch sử, công tác nghiên cứu về trang phục Việt truyền thống luôn đứng trước những thách thức đòi hỏi sự nghiên cứu mang tính toàn diện về lịch sử trang phục Việt Nam, nên khó đề xuất được những giải pháp trong công tác bảo tồn và phát huy những giá trị quý báu về văn hóa trang phục Việt truyền thống

Những năm đầu thế kỷ XXI, vấn đề nghiên cứu lịch sử trang phục Việt Nam đã được quan tâm một cách chuyên biệt hơn và đem lại những kết quả xứng đáng với giá trị văn hóa, tinh thần về di sản trang phục truyền thống mà cha ông đã truyền lại tới ngày nay Nhưng sự kết nối từ lịch sử của hệ thống trang phục xa xưa với những bộ trang phục được tái hiện lại trên sàn diễn sân khấu đương đại về đề tài lịch sử vẫn rất cần những nghiên cứu riêng, đóng góp cho sự hoàn thiện vẻ đẹp hình tượng lịch sử

Trang 34

trong nghệ thuật biểu diễn Trong phần Tình hình nghiên cứu về lịch sử trang phục

Việt và trang phục các vở diễn về đề tài lịch sử,NCS trình bày theo hai giai đoạn:

nghiên cứu về trang phục truyền thống Việt (trước, sau năm 1945) và nghiên cứu về trang phục biểu diễn sân khấu Việt Nam(trước, sau năm 1945) để có thể thấy mối liên

hệ, tương quan của trang phục thời Lê - Trịnh trong dòng chảy lịch sử văn hóa mặc

dân tộc Việt cùng với sự thể hiện trên sân khấu Việt Nam hiện nay

1.2.2 Nghiên cứu về trang phục truyền thống Việt

1.2.2.1 Trang phục truyền thống Việt trong văn bản thời phong kiến (trước năm 1945)

Dưới thời nhà nước phong kiến Việt Nam, việc nghiên cứu chuyên biệt về trang phục có thể coi như chưa có Đó là do nhiều hạn chế từ lịch sử cũng như hệ quả của những lề luật, lễ giáo phong kiến Do vậy, luận án trình bày những ghi chép cụ thể về trang phục Việt nằm trong những trang sử chính thống của triều đại đương thời, cũng như những trang viết của các danh sĩ, học giả sống cùng thời đại Giá trị từ di sản văn bản có thể coi như những nghiên cứu sớm về trang phục Việt cổ

Trong bộ chính sử đầu tiên của nước ta: Đại Việt sử ký toàn thư , một văn bản

chính thống do những sử gia của triều đình đương thời biên soạn như Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hy (từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII) dẫu phần ghi chép về trang phục thật vắn tắt, sơ lược nhưng vẫn có thể thấy được dòng chảy của trang phục Việt qua những trang viết ít ỏi đó Đây cũng là điểm chung trong các văn bản được soạn thảo của nhà nước phong kiến Theo dòng sử liệu,

có thể thấy trang phục được chép trong sử chủ yếu là các chế định về triều nghi, phẩm

phục của triều đình, trang phục dân gian nếu có được nhắc tới thường là những cấm

đoán nghiêm ngặt tránh sự tiếm phục, phạm vào những phân biệt nghiêm ngặt về đẳng

cấp trong một xã hội quân chủ, hầu như thiếu vắng việc trang phục được nhắc tới một cách riêng biệt Theo các văn bản còn được lưu giữ, trang phục đương thời được đề cập tới thường nằm trong những vấn đề liên quan về:

- Trang phục trong các quy chế về phẩm phục của triều đình

- Trang phục trong các ghi chép của một số tác giả thời phong kiến

- Trang phục trong các cấm đoán nghiêm ngặt dành cho dân gian

Trang 35

Ngoài ra, các chi tiết liên quan tới vải lụa, trang phục còn rải rác trong các ghi chép sự kiện về thuế khóa, quân sự, hình pháp, khoa cử…

NCS đã tập hợp và lập hệ thống bảng các dữ liệu có được để phục vụ quá trình nghiên cứu, đồng thời giúp cho việc lưu trữ, tra cứu và quản lý dữ liệu một cách hiệu quả

1.2.2.1/1 Trang phục trong các quy chế về phẩm phục của triều đình

Từ năm 939 thời Ngô Vương đến năm 1661 (Vĩnh Thọ 4) thời Lê Thần Tông trong suốt 722 năm đã có 20 lần triều đình ra các quy chế về chế độ phẩm phục cho các quan Năm 939, sau đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chấm dứt cả nghìn năm Bắc thuộc, Ngô Quyền xưng Vương, mở ra một thời kỳ độc lập lâu dài, sử sách

thường gọi Tiền Ngô Vương ĐVSKTT đã ghi nhận việc chế định triều nghi phẩm

phục đầu tiên của chế độ quân chủ tự chủ Việt Nam:

Kỷ Hợi, năm thứ 1 [939], (Tấn Thiên Phúc năm thứ 4) Mùa xuân, vua bắt đầu xưng vương, lập Dương thị làm hoàng hậu, đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Tiền Ngô [Vương] nổi lên không chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của bậc đế vương [47, tr 206]

Khi Lý Thái Tổ lên ngôi (1009), mở đầu nhà Lý, (1010, ĐVSKTT cũng chỉ ghi

chép được một quy định về trang phục vào năm 1010 (Thuận Thiên 1): “Lập sáu hoàng hậu, duy có đích phu nhân gọi là Lập Giáo Hoàng Hậu, quy chế xe kiệu khác hẳn với các cung khác” [47, tr 246]

Trong 216 năm nhà Lý với chín triều vua (1009 - 1225), ĐVSKTT ghi nhận

được một lần định kiểu mũ áo của các công hầu văn võvào thời vua Lý Thái Tông (1030, Thiên Thành 3)

Trong đời vua Trần Thánh Tông (1272, Thiệu Long 15) bộ chính sử đầu tiên

của nước ta là Đại Việt sử ký do Lê Văn Hưu soạn đã hoàn tất, Đại Việt sử ký toàn thư

đã chép về việc này như sau: “Nhâm Thân, Thiệu Long thứ 15 (1272), mùa xuân, tháng giêng, Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc Sử viện giám tu vâng sắc soạn xong bộ Đại việt sử ký từ Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng, gồm 30 quyển, dâng lên Vua xuống chiếu khen ngợi” [47, tr.15]

Trang 36

Nhưng cũng ngay tại thời Trần, trải mười hai đời vua trong 175 năm (1225 -

1400), ĐVSKTT cũng ghi nhận ba lần quy định kiểu mũ áo cho các quan văn võ Lần

cuối cùng vào thời Trần Thuận Tông (1396, Quang Thái 9) sử ghi được kỹ hơn cả

Lê Lợi với khởi nghĩa Lam Sơn lịch sử chiến thắng quân Minh, chấm dứt 20 năm (1407 -1427) ách đô hộ tàn bạo của giặc ngoại xâm, mở ra một triều đại dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, 356 năm với 27 đời vua (thời Lê sơ: 1428 - 1527, thời Lê trung hưng: 1533 -1788) Nhưng vua Lê Thái Tổ có thời gian trị vì ngắn ngủi

(1428 -1433) chỉ kịp để lại trong sử một lệnh chỉ được ghi chép ngắn gọn về chế định

triều nghi của triều đại mình (1429, Thuận Thiên 2): “Ra lệnh chỉ rằng: Các quan chức văn võ, quan võ từ Thượng tướng tước Trí tự Trước Phục hầu trở lên đều cho mặc áo

đỏ tía; quan văn từ Nhập nội Đại hành khiển Quan phục hầu trở lên cũng cho mặc áo

đỏ tía” [48, tr 320]

Cũng bởi “Trước kia Thái Tổ sai Nguyễn Trãi định ra quy chế mũ áo, chưa kịp thi hành”[54, tr 362], nên tới đời vua Lê Thái Tông, vào năm 1437 (Thiệu Bình 4), vua sai Lương Đăng định ra các quy chế về mũ áo và nhạc khí: “Trước kia, vua sai Lương Đăng định các nghi thức đại triều, đến đây hoàn thành dâng lên Vua bái yết Thái miếu, các quan mặc triều phục làm lễ theo nghi thức mới bắt đầu từ đây” [48, tr 370]

Và ĐVSKTTđã ghi chép lại định chế mới một cách ngắn gọn: “Lễ thường triều

thì Hoàng đế mặc áo bào vàng, đội mũ xung thiên, ngồi sập vàng, trăm quan mặc thường phục cổ tròn, đội mũ sa đen” [48, tr 362]

Thời vua Lê Thánh Tông với hàng loạt cải cách về quân sự, hành chính, kinh tế, giáo dục và luật pháp, mở mang bờ cõi về phía Nam đã đưa Đại Việt bước vào thời kỳ phát triển thịnh trị, được coi như một thời đại vàng son của chế độ phong kiến Việt Nam Trong

37 năm trị vì, nhà vua đã nhiều lần ra các quy chế về mũ áo, màu sắc y phục các quan văn

võ Đặc biệt lần đầu tiên trong sử đã ghi lại quy chế một cách cụ thể về bổ tử trên phẩm phục của quan văn võ:“Tháng 9 nhuận, định chế độ y phục và bổ tử của vua quan…Mùa đông, tháng 10, ban ra bản vẽ các kiểu bổ tử, đều là các loài cầm thú” [48, tr 483]

Thời vua Lê Hiến Tông, năm 1500 (Cảnh Thống 3) cũng đã ban định quy chế mũ

áo (theo chú thích trong bản dịch của ĐVSKTT thì Quy chế được ghi rất rõ trong Hội điển

triều Lê Cương mục chính biên 6 đã chép rõ nội dung, quy chế này): “Định quy chế mũ

áo.Sai Lễ bộ yết bảng để các vương công, hầu, bá, phò mã, các quan văn võ trong ngoài

và dân chúng chiểu theo kiểu mũ áo mình được dùng mà tuân hành” [49, tr 26]

Trang 37

Trong giới thiệu của Viện nghiên cứu Hán Nôm, văn bản Lê triều hội điển dùng để

chuyển dịch sang Quốc ngữ mang ký hiệu A.52, hiện lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, sách dày hơn 400 trang, là văn bản được Viện Viễn Đông Bác cổ sao lại ở Huế năm 1904 Về sách này không rõ ai biên soạn, còn theo Trần Văn Giáp thì đây là sách

LTHĐ do Phạm Đình Hổ dâng lên vua Minh Mạng khi nhà vua Bắc tuần vào năm 1821

Sách chép về các chế độ, luật lệnh của sáu thuộc, theo thứ tự từ Hộ thuộc, Công thuộc, Lễ thuộc Nội dung sách khá phong phú, tư liệu được tổng hợp, phân loại, sắp xếp theo cách thức của một bộ hội điển

Trong LTHĐ, phần Lệ khoa Đông các quy định về mũ áo Tam khôi đã chép như sau:

Có ban cho đai, mũ, triều phục Bộ Công căn cứ tờ tư của Bộ Lễ, tư cho Bộ

Hộ lĩnh tiền giao cho các cục thợ làm mũ, làm đai, làm hoa, cắt may nhuộm vải để làm các thứ sau

Màu nhuộm áo chầu: Hàng đệ nhất dùng màu quan lục Hàng đệ nhị, đệ tam đều dùng đoạn huyền [62, tr 153]

Thời Lê trung hưng với 255 năm tồn tại, ĐVSKTT cũng chỉ ghi rất sơ lược về

ba lần định chế độ hành nghi, phẩm phục đều trong đời vua Lê Thần Tông May mắn thay văn bản ban bố lệnh về phẩm phục hành nghi vào năm Tân Sửu, niên hiệu Vĩnh

Thọ thứ 4 (1661) đã được lưu chép lại trong Quốc triều chiếu lệnh thiện chính vẫn còn

được lưu truyền tới ngày nay

Theo Viện nghiên cứu Hán Nôm, về văn bản QTCLTC, hiện tại chỉ có một văn

bản duy nhất được lưu trữ tại thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm mang ký hiệu A.257, dày hơn 400 trang Đây là văn bản do Viện Viễn Đông Bác cổ cho sao chép vào đầu thế kỷ XX Nội dung chép các chiếu lệnh được ban hành trong thời gian từ niên đại Vĩnh Tộ thứ 7 (1625) đến niên đại Chính Hòa thứ 8 (1687), tức là gần suốt thế

kỷ XVII, qua các triều vua Thần Tông, Chân Tông, Huyền Tông, Gia Tông, Hy Tông

và các đời chúa Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Căn, nhằm củng cố bộ máy cai trị, điều chỉnh nhiều chủ trương chính sách của nhà nước và uốn nắn những hành vi đi chệch chủ trương cũng như các quy phạm xã hội đương thời Qua toàn bộ nội dung có thể thấy, pháp lệnh thế kỷ XVII nhiều hơn hẳn các thời trước với nội dung đa dạng, phong phú, từ các phương diện hành nghi y phục, quan viên chức chế, duyệt tuyển, cấm đoán, tài dụng, thuế khóa cho đến chính trị, kinh tế, khoa cử, hình pháp, sinh hoạt

Trang 38

thường nhật, v.v…đều có các quy định tường tận Những nội dung này đều mang theo đặc điểm của thời đại, hết sức sát hợp với thực tiễn xã hội đương thời

Trong QTCLTC có quy định rõ ràng phẩm phục quan văn võ khi dự Nghi lễ thị

triều (vào chầu cung vua) và khi vào chầu phủ chúa khác hẳn nhau về quy cách, màu

sắc mũ áo Điều này mang một giá trị hiện thực lịch sử, bởi vào thế kỷ XVII nhà Lê đã hoàn toàn mất thực quyền vào tay họ Trịnh Sau cái chết của vua cha Lê Kính Tông (1619) do chính ông ngoại là chúa Trịnh Tùng ép, vua Lê Thần Tông đã buộc lòng chắp tay rủ áo, chế độ vua Lê chúa Trịnh đã đạt đến đỉnh cao của một hệ thống quyền lực đặc biệt trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam

Lệnh về phẩm phục hành nghi được ban bố năm Vĩnh Thọ thứ 4 (1661) thời vua Lê Thần Tông đã có những ghi chép cụ thể:

Ban võ:

Hàng công tước

- Phẩm phục: Nghi lễ thị triều dùng mũ Dương đường, phía sau có hai cánh cong mạ vàng Triều phục dùng sắc tía, bổ tử dùng kỳ lân dệt chỉ vàng Đai dùng đá quý bịt vàng Đều có giày, tất Còn khi vâng vào hầu trong phủ chúa, dùng mũ ô sa, có may nổi bằng chỉ đen, áo thanh cát có che phía sau Dây thao kép có xâu ngọc, trang trí vàng [61, tr 592]

Dẫu rằng Lê triều hội điển và Quốc triều chiếu lệnh thiện chính đã ghi chép cụ thể

hơn về các phẩm hàm trong triều đình cùng quy chế mũ áo phù hợp thì người đời sau cũng khó hình dung được chính xác do những ghi chép trong cứ liệu thành văn vẫn có sự giản lược, hầu như không mô tả, không có hình vẽ minh họa, chỉ có tên của trang phục, bởi tác giả đương thời dường như chỉ viết cho người đang sống trong chính thời kỳ đó

Nhưng đối với luận án Sự thể hiện trang phục thời Lê - Trịnh trên sân khấu

Việt Nam hiện nay, tập trung vào trang phục thời Lê - Trịnh thế kỷ XVII, các văn bản

lưu giữ các chế định về triều nghi phẩm phục thời Lê Thánh Tông, đặc biệt trong thời

Lê trung hưng với văn bản gần như toàn văn, chính là nguồn sử liệu quý giá cho NCS trong quá trình nghiên cứu

Lịch triều hiến chương loại chí do nhà bác học Phan Huy Chú soạn trong mười

năm (1809 - 1819) về phép tắc các triều đại chép theo thể phân loại, gồm 49 quyển,

chia làm 10 phần, được coi như Bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam Trong

LTHCLC phần Lễ nghi chí (từ quyển 20 đến quyển 25):

Trang 39

Quyển XXI: Lễ nghi chí

Hoặc có ghi về trang phục các bà trong cung đình, cũng chỉ ghi sơ lược: “Cung tần và các quan cứ thứ bực theo hầu, mũ áo của đàn bà kém chồng một bực, nếu bản thân là quý hiển thì không kém chồng ” [19, tr 121]

Văn bản triều đình khi chép về những nghi lễ có mặt vua, chúa thường chú trọng về nghi lễ, ít mô tả chi tiết về trang phục trong những dịp lễ trọng này

Sự kiện Lê Hoàn được Thái hậu của nhà Đinh nhường ngôi cũng chỉ được ghi vắn tắt: “Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế Từ đó Hoàn lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu

là Thiên Phúc năm đầu (980), giáng phong vua là Vệ Vương” [47, tr 221]

Vua Trần Anh Tông được vua cha Trần Nhân Tông nhường ngôi, trong

ĐVSKTT ghi chép ngắn gọn: “Sau khi vua nhận nhường ngôi, sứ Nguyên sang, làm lễ

đọc quốc thư xong, hôm sau ban yến Vua mặc áo tràng vạt bằng là màu vàng, đội mũ

có thao, sứ giả khen vua là “thanh thoát như thần tiên” Đến khi về nước [sứ giả] thường nói đến vẻ người thanh tú của vua” [48, tr 107]

Sau khi vua Lê Thái Tổ mất, vua Lê Thái Tông nối ngôi cha đã ban bố chế định

về các nghi thức đại triều ĐVSKTT đã chép nghi lễ của triều đình với các nghi thức

mới như sau:

Ngày Mậu Thân là lễ tế Kế Thiên thánh tiết

Hôm ấy, buổi sáng vua bái yết Thái miếu, làm lễ 4 lạy Khi về cung, Lễ bộ

ty bày nghi trượng ở Đan Trì Vua mang triều phục, áo cổn, mũ miện, ngự ở điện Hội Anh Đại đô đốc Lê Ngân dẫn các quan mặc triều phục, làm lễ, dâng biểu chúc mừng Vua mặc áo cổn, mũ miện, các quan mặc triều phục bắt đầu từ đây [48, tr 371]

Do ghi chép xưa để lại như vậy, quả thật muốn phục dựng một bộ áo long cổn hay một bộ trang phục đại triều của nhà vua cũng không dễ chút nào

Trang 40

Trong các nghi lễ triều chính, triều phục của vua sử còn chép giản lược như vậy, huống chi đối với phẩm phục của hoàng tộc

Ngay dịp vua Lê Thần Tông lấy con gái Chúa Trịnh Tráng là Trịnh Thị Ngọc Trúc, sử cũng chỉ ghi: “Mùa hạ, tháng 5, vua lấy con gái của Vương là Trịnh Thị Ngọc Trúc, lập làm hoàng hậu”[49, tr 234]

Trong dịp vua Lê Huyền Tông lập Hoàng hậu: “Tháng 8, sách lập chính cung Trịnh Thị Ngọc Áng làm Hoàng hậu” hay tôn mẹ làm Hoàng Thái hậu: “Tôn mẹ thân sinh ra vua là Phạm Thị Ngọc Hậu là Hoàng Thái hậu (Thái hậu người làng Quả Nhuệ, huyện Lôi Dương)” [49, tr 276]

Sử sách chỉ ghi nhớ sự kiện và không mô tả kỹ lưỡng lễ nghi, phẩm phục của triều đình trong những dịp đại lễ này

Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Bộ Luật Gia Long) được biên soạn từ 1802, hoàn

thành 1812 và được ban hành năm 1813 Đây là một bộ luật được biên soạn công phu,

đồ sộ, đã trở thành một bộ Luật cơ sở của triều đình nhà Nguyễn Chính vua Gia Long

đã đích thân viết bài Tựa ngự đề cho bộ HVLL:

Trẫm bèn sai các quan trong triều chuẩn theo pháp điển luật lệnh của các triều, tham khảo thêm luật lệnh thời Hồng Đức triều Lê và bộ luật triều Thanh, cân nhắc tuyển chọn xem điều nào đáng dùng, đáng bỏ rồi biên tập thành sách Trẫm tự mình xem xét, sửa chữa cho đúng đắn, rồi ban hành khắp thiên hạ [64, tr 17]

Với tất cả sự công phu, nghiêm cẩn như vậy, HVLL đã dành một chương về Lễ

luật (quyển 9) bao gồm 26 điều luật về tế tự, nghi chế Trong phần Nghi chế, ngoàiđiều

lệ về Phẩm phục đại triều, thường triều dành cho các quan văn võ, còn có điều lệ về Y

phục dành cho nam nữ thứ dân Trong quy định về áo bào của các quan đã ghi:

- Áo bào thì đều dùng cổ tròn, quan văn võ từ nhất phẩm trở lên đều dùng mãng bào màu tía

- Quan văn võ từ chánh nhất phẩm đến tòng tam phẩm đều dùng mãng bào các màu xanh lục, lam đen để tùy lúc dùng

- Các quan văn võ chánh tứ phẩm và tòng tứ phẩm đều dùng áo bào các màu xanh lục, lam đen để tùy lúc dùng

- Các quan văn võ chánh ngũ phẩm và tòng ngũ phẩm áo bào đều dùng sa đoạn các màu xanh lục, lam đen để tùy lúc dùng Bổ tử quan văn thì thêu mây và chim nhạn, quan võ thì thêu hình con báo vằn, đều trên nền màu hồng

Ngày đăng: 25/10/2016, 16:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thái Dịch An (2003), Tổng tập hoa văn rồng phượng, Giang Linh dịch, Nxb VHTT, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập hoa văn rồng phượng
Tác giả: Thái Dịch An
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2003
2. Phan Thuận An (2012), Lăng tẩm Huế, một kỳ quan, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lăng tẩm Huế, một kỳ quan
Tác giả: Phan Thuận An
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2012
3. Đào Duy Anh (2014), Việt Nam văn hoá sử cương, tái bản, Nxb Thế giới, Cty văn hóa và truyền thông Nhã Nam, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2014
4. Nguyễn Hải Anh (2009), Đi tìm trang phục Việt (24 tập), Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm trang phục Việt
Tác giả: Nguyễn Hải Anh
Năm: 2009
5. Chris Barker (2011), Nghiên cứu văn hóa, lý thuyết và thực hành, Đặng Tuyết Anh dịch, Nguyễn Thị Hiền, Đoàn Thị Tuyến hiệu đính, Nxb VHTT, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hóa, lý thuyết và thực hành
Tác giả: Chris Barker
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2011
6. Nguyễn Chí Bền (2006), Văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb VHTT, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2006
7. Nguyễn Chí Bền (chủ biên), (2010), Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá vật thể Thăng Long - Hà Nội, Nxb Hà Nội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá vật thể Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Chí Bền (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2010
8. Trần Lâm Biền (1993), Hình tượng con người trong Nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt, Nxb Mỹ thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng con người trong Nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 1993
9. Trần Lâm Biền (1996), Chùa Việt, Nxb VHTT, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 1996
10. Trần Lâm Biền (2013), Một con đường tiếp cận lịch sử, tái bản, Nxb VHTT, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận lịch sử
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2013
11. Trần Lâm Biền (1996), Một số giá trị văn hóa nghệ thuật của ngôi chùa truyền thống vùng đồng bằng sông Hồng, luận án TS chuyên ngành Lịch sử văn hóa và nghệ thuật, Viện VHNT Việt Nam, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giá trị văn hóa nghệ thuật của ngôi chùa truyền thống vùng "đồng" bằng sông Hồng
Tác giả: Trần Lâm Biền
Năm: 1996
12. Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh (2011), Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa, Nxb HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa
Tác giả: Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh
Nhà XB: Nxb HN
Năm: 2011
13. Nguyễn Đức Bình (2012), Hình ảnh con người trong trang trí kiến trúc đình làng Bắc bộ Việt Nam, thế kỷ XVII, luận văn Thạc sĩ, trường ĐH Mỹ thuật Việt Nam, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình ảnh con người trong trang trí kiến trúc đình làng Bắc bộ Việt Nam, thế kỷ XVII
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Năm: 2012
14. Tôn Thất Bình (1993), Tuồng Huế, Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuồng Huế
Tác giả: Tôn Thất Bình
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1993
15. Trần Văn Cẩn, Nguyễn Đỗ Cung (1975) , Việt Nam điêu khắc dân gian, Nxb Ngoại văn, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam điêu khắc dân gian
Nhà XB: Nxb Ngoại văn
16. Nguyễn Khắc Cần, Nguyễn Ngọc Điệp sưu tầm, biên soạn, chú giải, chuyển ngữ, Nguyễn Kim Hệ hiệu đính phần lịch sử (1997), Việt Nam trong quá khứ qua tranh khắc Pháp, Nxb VHDT, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam trong quá khứ qua tranh khắc Pháp
Tác giả: Nguyễn Khắc Cần, Nguyễn Ngọc Điệp sưu tầm, biên soạn, chú giải, chuyển ngữ, Nguyễn Kim Hệ hiệu đính phần lịch sử
Nhà XB: Nxb VHDT
Năm: 1997
17. Nguyễn Du Chi (2001), Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông, Nxb Mỹ thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 2001
18. Nguyễn Du Chi (2003), Hoa văn Việt Nam, từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến, Nxb Mỹ thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa văn Việt Nam, từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 2003
19. Phan Huy Chú (2014), Lịch triều hiến chương loại chí, tái bản, Nxb Trẻ, TP. HCM 20. Hoàng Chương (1983), Mấy vấn đề về sân khấu truyền thống, Viện Sân khấu, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí", tái bản, Nxb Trẻ, TP. HCM 20. Hoàng Chương (1983), "Mấy vấn đề về sân khấu truyền thống
Tác giả: Phan Huy Chú (2014), Lịch triều hiến chương loại chí, tái bản, Nxb Trẻ, TP. HCM 20. Hoàng Chương
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1983
21. Hoàng Chương (2001), Nghệ thuật Tuồng Bắc, Nxb Sân khấu, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật Tuồng Bắc
Tác giả: Hoàng Chương
Nhà XB: Nxb Sân khấu
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 01. So sánh đặc trưng trang phục sân khấu truyền thống và hiện đại - Sự thể hiện trang phục thời Lê – Trịnh trên sân khấu Việt Nam hiện nay
Bảng 01. So sánh đặc trưng trang phục sân khấu truyền thống và hiện đại (Trang 24)
Bảng 02. So sánh đặc trưng trang phục trong ba thể loại sân khấu - Sự thể hiện trang phục thời Lê – Trịnh trên sân khấu Việt Nam hiện nay
Bảng 02. So sánh đặc trưng trang phục trong ba thể loại sân khấu (Trang 25)
Bảng 03. Các đời vua Lê, chúa Trịnh và chúa Nguyễn, thế kỷ XVII - Sự thể hiện trang phục thời Lê – Trịnh trên sân khấu Việt Nam hiện nay
Bảng 03. Các đời vua Lê, chúa Trịnh và chúa Nguyễn, thế kỷ XVII (Trang 67)
Bảng 05. So sánh hệ thống họa tiết trang trí trên bia tại các lăng vua và Long  bào Hoàng đế thời Nguyễn (thế kỷ XIX, XX) - Sự thể hiện trang phục thời Lê – Trịnh trên sân khấu Việt Nam hiện nay
Bảng 05. So sánh hệ thống họa tiết trang trí trên bia tại các lăng vua và Long bào Hoàng đế thời Nguyễn (thế kỷ XIX, XX) (Trang 126)
Bảng 07.   So sánh  hệ  thống họa  tiết  trang trí  trên bia tại  lăng  các  công thần  Hậu Lê, bia Tiến sĩ Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội (thế kỷ XVII) - Sự thể hiện trang phục thời Lê – Trịnh trên sân khấu Việt Nam hiện nay
Bảng 07. So sánh hệ thống họa tiết trang trí trên bia tại lăng các công thần Hậu Lê, bia Tiến sĩ Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội (thế kỷ XVII) (Trang 130)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w