1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình trạng rác thải sinh hoạt tại VN

24 469 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 243,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, Việt Nam là một nước đang phát triển. Sức ép của công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với sự gia tăng dân số làm cho nhu cầu sống của người dân ngày càng tăng, kéo theo sự gia tăng lượng rác thải sinh hoạt. Lượng rác thải lớn nhưng cơ chế quản lý và công nghệ xử lý rác thải của chúng ta còn kém phát phát triển, chủ yếu là chôn lấp và đốt nên gây ô nhiễm môi trường. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp sự phát triển kinh tế xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai. Giải quyết vấn đề liên quan đến rác thải sinh hoạt trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết đối với các cấp quản lí, các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài “Thực trạng rác thải sinh hoạt ở Việt Nam và phương hướng giải quyết ” để cùng nghiên cứu, bàn luận đưa ra những giải pháp giải quyết tốt nhất vì môi trường sinh thái của toàn xã hội.

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

BỘ MÔN HÓA PHÂN TÍCH VÀ ĐỘC CHẤT

Nhóm nghiên cứu: nhóm 7

ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG RÁC THẢI SINH HOẠT Ở VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI

QUYẾT.

TIỂU LUẬN KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

BỘ MÔN HÓA PHÂN TÍCH VÀ ĐỘC CHẤT

Nhóm nghiên cứu: nhóm 7

ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG RÁC THẢI SINH HOẠT Ở VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI

QUYẾT.

TIỂU LUẬN KHOA HỌC

Người hướng dẫn: Ths VŨ NGÂN BÌNH

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

người dân ngày càng tăng, kéo theo sự gia tăng lượng rác thải sinh hoạt

Lượng rác thải lớn nhưng cơ chế quản lý và công nghệ xử lý rác thải của chúng

ta còn kém phát phát triển, chủ yếu là chôn lấp và đốt nên gây ô nhiễm môi trường Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp sự phát triển kinh tế

- xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai Giải quyết vấn đề liên quan đến rác thải sinh hoạt trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết đối với các cấp quản lí, các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

và của toàn xã hội Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài “Thực trạng rác thải sinh hoạt ở Việt Nam và phương hướng giải quyết ” để cùng nghiên cứu, bàn

Trang 4

luận đưa ra những giải pháp giải quyết tốt nhất vì môi trường sinh thái của toàn

xã hội

2. Mục đích và yêu cầu nguyên cứu.

Đề tài “ Thực trạng rác thải sinh hoạt ở Việt Nam và phương hướng giải quyết” mà chúng tôi nghiên cứu và đưa ra dưới đây có yêu

cầu:

• Nêu rõ thực trạng, nguyên nhân tác động và phương hướng giải

quyết vấn đề rác thải sinh hoạt gia tăng tại Việt Nam hiện nay

• Kêu gọi, khơi dậy sự quan tâm của cộng đồng về vấn đề quản lý

và xử lý rác thải sinh hoạt

Với mục đích để mọi người có thể nhận thức đúng đắn, xác thực và

khách quan nhất về tình trạng gia tăng rác thải sinh hoạt cũng như

những tác động của nó với môi trường, đời sống, kinh tế xã hội từ đó có

ý thức xử lý rác thải hợp lý khoa học Đồng thời đưa ra ý kiến bàn luận

giúp tạo phương hướng giải quyết vấn đề tốt nhất

1 Định nghĩa.

Tại khoản 10 Điều 3 của Luật bảo vệ môi trường 2005 thì: “Chất thải là vật chất ở

thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác"

Như vậy, rác thải là tất cả những thứ vật chất từ đồ ăn, đồ dùng, chất phế thải sản xuất, dịch vụ, y tế mà mọi người không dùng nữa và thải bỏ đi

Rác thải sinh hoạt (chất thải rắn sinh hoạt) sinh ra từ mọi người và mọi nơi: Gia đình, trường học, chợ, nơi mua bán, nơi công cộng, nơi vui chơi giải trí, cơ sở y tế, cơ sở sản xuất kinh doanh, bến xe, bến đò [1]

2 Phân loại.

Rác thải sinh hoạt thường được chia thành 3 nhóm chính sau:

1 Rác khô hay còn gọi là rác vô cơ: gồm các loại phế thải thuỷ tinh, sành

sứ, kim loại, giấy, cao su, nhựa, vải, đồ điện, đồ chơi, cát sỏi, vật liệu xây dựng

Trang 5

2 Rác ướt hay thường gọi là rác hữu cơ: gồm cây cỏ loại bỏ, lá rụng, rau quả hư hỏng, đồ ăn thừa, rác nhà bếp, xác súc vật, phân động vật.

3 Chất thải nguy hại (CTNH): là những thứ phế thải rất độc hại cho môi trường và con người như pin, bình ắc quy, hoá chất, thuốc trừ sâu, bom đạn, rác thải y tế, rác thải điện tử

3 Nguồn gốc phát sinh.

Việc nghiên cứu nguồn gốc, thành phần và tốc độ phát sinh rác thải sinh hoạt là cơ

sở quan trọng để thiết kế, lựa chon công nghệ xử lý và đề xuất các chương trình quản lý rác thải phù hợp

Ta có một số nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt như sau:

- Từ khu dân cư: Bao gồm các khu dân cư tập trung, những hộ dân cư tách

rời Nguồn rác thải chủ yếu là: thực phẩm dư thừa, thuỷ tinh, gỗ, nhựa, cao su, còn có một số chất thải nguy hại

- Từ các động thương mại: Quầy hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng cơ quan,

khách sạn Các nguồn thải có thành phần tương tự như đối với các khu dân cư (thực phẩm, giấy, catton, )

- Các cơ quan, công sở: Trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính: lượng rác thải

tương tự như đối với rác thải dân cư và các hoạt động thương mại nhưng khối lượng ít hơn

- Từ xây dựng: Xây dựng mới nhà cửa, cầu cống, sửa chữa đường xá, dỡ bỏ

các công trình cũ Chất thải mang đặc trưng riêng trong xây dựng: sắt thép

vụn, gạch vỡ, các sỏi, bê tông, các vôi vữa, xi măng, các đồ dùng cũ không

dùng nữa

- Dịch vụ công cộng của các đô thị: Vệ sinh đường xá, phát quan, chỉnh tu các công

viên, bãi biển và các hoạt động khác, Rác thải bao gồm cỏ rác, rác thải từ việc trang trí đường phố

Trang 6

- Từ các hoạt động sản xuất công nghiệp: Nguồn chất thải bao gồm rác từ sinh hoạt

của nhân viên làm việc

- Từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp: Nguồn chất thải chủ yếu từ các cánh đồng

sau mùa vụ, các trang trại, các vườn cây, Rác thải chủ yếu thực phẩm dư thừa, phân gia súc, rác nông nghiệp, các chất thải ra từ trồng trọt, từ quá trình thu hoạch sản phẩm, chế biến các sản phẩm nông nghiệp

Ngoài ra người ta còn chia nguồn gốc phát sinh rác thải theo khu vực như:

• Rác thải sinh hoạt đô thị

• Rác thải sinh hoạt nông thôn

4 Thành phần rác thải sinh hoạt.

Xác định thành phần của chất thải rắn có ảnh hưởng rất lớn đến sự lựa chọn phương pháp xử lý, thu hồi và tái chế, hệ thống, phương pháp và quy trình thu gom.

- Khi phân tích thành phần của chất thải, mẫu được lấy ra từ các tuyến xe thu gom rác hàng ngày, để có độ chính xác cao mẫu lấy khoảng 90kg

• Ta có bảng một số thành phần của rác thải rắn sinh hoạt sau:

Bảng 1 Thành phần rác thải rắn ( nguồn ISWM )

Rác thải hữu cơ: Rác thải vô cơ

Giấy catton, bìa cứng Vỏ hộp

Trang 7

Cành cây, cỏ, lá

• Các yếu tố ảnh hưởng tới thành phần rác thải sinh hoạt:

- Mùa và vùng: vào những mùa khác nhau thành phần rác thải có sự thay đổi nhất

định, mùa mưa độ ẩm cao, hay vào mùa thu lượng rác thải lá cây lớn; vùng đô thị khác vùng nông thôn

- Yếu tố xã hội: thói quen trong việc sử dụng bao bì, sử dụng nguồn thực phẩm

Ngoài ra các điểm như đình chùa thành phần chất thải cũng khác so với các địa điểm khác

- Trình độ công nghệ: Trình độ công nghệ càng cao lượng rác thải càng ít nhưng sẽ

có nhiều thành phần hơn trong rác thải

- Mức sống (điều kiện sinh hoạt)

Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn đến lượng chất thải rắn phát sinh và thành phần của

nó Người giàu thường có mức tiêu thụ lớn dẫn đến lượng phát thải lớn (thường từ 3kg/người/ngày), đối với nhóm người nghèo (nước có thu nhập thấp) có mức sống thấp

2-và nguồn phát thải của họ cũng thấp hơn (0,2 - 0,33kg/người/ngày)

Chúng ta có thể tham khảo bảng sau về thành phần rác thải ở các nước phát triển

Trang 8

Chất thải vườn 1-5 1-0 10-20

Qua đó có thể thấy Việt Nam có thành phần rác thải sinh hoạt là thực phẩm chiếm

đa số, đây là loại rác thải có thể được xử lý từ nguồn do đó để giải quyết vấn đề rác thải ta cần tuyên truyền nâng cao ý thức từ mọi cá nhân trong cộng đồng dân cư

5 Nguyên nhân và thực trạng tình hình rác thải sinh hoạt tại Việt Nam.

Tình trạng rác thải sinh hoạt ngày càng gia tăng đang là vấn đề đáng lo ngại của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng

Việt Nam là một nước công nghiệp đang phát triển với sự gia tăng không ngừng của các nhà máy, xí nghiệp các khu dân cư, đô thị và sự tăng dân số, sự lãng phí tài

nguyên thiên nhiên làm cho tình trạng rác thải sinh hoạt ngày càng trở nên nghiêm trọng Mặt khác cùng với sự đa dạng về chủng loại hàng hóa, chất lượng cuộc sống được nâng cao là lượng giác thải sinh hoạt tăng lên chóng mặt trong khi sự quản lý và xử lý rác thải chưa thực sự hợp lý

Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2011, khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại các đô thị trên toàn quốc tăng trung bình 10-16% mỗi năm, chiếm khoảng 60-70% tổng lượng rác thải đô thị và tại một số đô thị tỷ lệ rác thải sinh hoạt phát sinh chiếm đến 90% tổng lượng chất rác thải đô thị Rác thải sinh hoạt đô thị phát sinh với khối lượng lớn tại hai đô thị đặc biệt là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, chiếm tới 45,24% tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ tất cả các đô thị Chỉ số phát sinh rác thải sinh hoạt bình quân trên đầu người ở mức độ cao từ 0,9-1,38 kg/người/ngày ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số đô thị phát triển về du lịch như: thành phố Hạ Long, thành phố Đà Lạt, thành phố Hội An,…Chỉ số phát sinh rác thải sinh hoạt bình quân trên đầu người thấp nhất tại thành phố Đồng Hới, thành phố Kon Tum, thị xã Gia Nghĩa thuộc tỉnh Đăk Nông, thành phố Cao Bằng từ 0,31-0,38 kg/người/ngày

Trang 9

Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên toàn quốc năm 2014 khoảng 23 triệu tấn tương đương với khoảng 63.000 tấn/ngày, trong đó, rác thải sinh hoạt đô thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ngày Chỉ tính riêng tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh là: 6.420 tấn/ngày và 6.739 tấn/ngày.

Trong khi đó nếu tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các

đô thị vùng Đông Nam Bộ có lượng rác thải sinh hoạt phát sinh lớn nhất tới 6.713

tấn/ngày hay 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh rác thải sinh hoạt đô thị là 4.441 tấn/ngày hay 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh rác thải sinh hoạt đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh rác thải sinh hoạt đô thị là 237.350

tấn/năm (chiếm 3,68%)

Rác thải sinh hoạt ở các đô thị không ngừng gia tăng là vậy nhưng hiện tại nước ta vẫn chưa có những quy định cụ thể về việc phải phân loại rác phục vụ xử lý và tái chế, hầu hết các loại rác thải dù nguy hại hay không nguy hại đều được để chung trong những bịch nilon-những vật mà khó tiêu hủy trong môi trường đất nếu chôn lấp và gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng nếu xử lý thiêu đốt thô xơ

Theo khảo sát trên một nhóm sinh viên trên 100 người tại các trường đại học khu vực Hà Nội chúng tôi đã thu được nhiều kết quả đáng xem xét như về lượng rác thải được thải ra mỗi ngày phần lớn là một lượng rác thải trung bình đạt 66% Đồng thời nơi đổ rác của phần đông là đem đến xe để rác tại nơi tập kết (68%), số lượng người để rác tại những nơi công cộng như cột điện, trước cửa nhà, để theo xu hướng số đông lại chiếm con số khá cao là 14,6% không ít các bạn đã tự nhận rằng bản thân đã để rác tại lề đường hay tiện đâu để đó…vv

Ngoài ra hiện nay, rác thải sinh hoạt nông thôn đã và đang trở thành vấn đề nổi cộm Lượng rác thải sinh hoạt nông thôn phát sinh ngày càng nhiều, đa dạng về thành phần và tính chất độc hại Thực tế cho thấy, công tác thu gom và xử lý còn manh mún, lạc

Trang 10

hậu, thô sơ, không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, vệ sinh an toàn môi trường Công tác quản lý còn nhiều bất cập thể hiện rõ nét qua sự chồng chéo trong việc phân công nhiệm

vụ giữa các cơ quan quản lý Một số vùng nông thôn người dân thực hiện phương pháp xử

lý rác thải thô sơ mang tính cá thể như chôn lấp rác thải tại vườn hoặc bãi đất trống, đốt rác hoặc thậm chí là để tại các bờ mương, lòng sông gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường cũng như ách tắc dòng chảy làm thiệt hại sức người, sức của Tuy vậy vẫn còn các vùng nông thôn đã và đang xây dựng được phương thức xử lý rác thải tập chung như có một đội quản lý môi trường dọn vệ sinh đường làng ngõ xóm và thu gom rác thải tránh tình trạng xả rác bừa bãi trước đây

Điều này đã khắc phục được phần nào sự ô nhiễm do rác thải sinh hoạt mang lại nhưng theo ước tính, chi phí xử lý 1 tấn rác thải theo công nghệ tiêu chuẩn là 12 USD Nhưng ở vùng nông thôn, chi phí xử lý 1 tấn rác thải được quy định là 3,6 USD Vì thế, việc xử lý rác thải sinh hoạt ở vùng nông thôn hiện nay chủ yếu vẫn được thực hiện dưới

2 hình thức, đó là chôn lấp và dùng lò đốt thủ công với chi phí đầu tư thấp Tuy nhiên, ở nhiều nơi, giải pháp chôn lấp không còn đáp ứng đủ số lượng rác thải, thậm chí còn gây ô nhiễm nặng hơn Thêm nữa là vì ở nông thôn, điều kiện kinh tế và nhận thức chưa phát triển nên tình trạng người dân vẫn tự ý xả rác không chịu đóng phí vệ sinh môi trường còn diễn ra phổ biến

Trang 11

Hình 2: Một khu tập chung rác thải ở nông thôn.(nguồn internet)

Chính những điều trên việc xử lý rác thải nông thôn đang là một bài toán cần ngay lời giải không chỉ của các cơ quan nhà nước mà cấp thiết nhất chính là của toàn dân-những người trực tiếp đã, đang và sẽ hoặc là bảo vệ chính mình hoặc là tự gây hại cho sức khỏe của chính mình chỉ bằng những hành động nhỏ

Vậy từ thực trạng đó đã đặt ra cho chúng ta một câu hỏi đó là nguyên do nào làm cho tình trạng rác thải sinh hoạt gia tăng nhiều như vậy cùng với đó là tại sao nó lại có ảnh hưởng lớn tới đời sống kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của chúng ta?

Trước hết có ta phải nhận thức rằng Việt Nam hiện là quốc gia đang phát triển với mục tiêu công nghiệp hóa, chính vì vậy số lượng nhà máy xí nghiệp ngày càng nhiều, quy

mô lớn và lượng công nhân tập chung về các thành phố lớn làm việc cũng ngày càng nhiều làm lượng rác thải sinh hoạt tăng lên nhanh chóng Chất lượng cuộc sống được nâng cao, hàng hóa dịch vụ ngày càng gia tăng cả về số lượng và chúng loại cũng là một nguyên nhân Tuy nhiên trên tất cả lượng rác thải gia tăng cũng chỉ là nguyên cớ, còn nguyên nhân khiến rác thải làm ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường, tới sức khỏe và kinh

Trang 12

tế xã hội thì đó là lỗi của con người Vứt rác tràn lan, không phân loại và không có ý thức giữ gìn môi trường chung là nguyên nhân khiến ô nhiễm môi trường, làm mất mĩ quan đô thị, làm ảnh hưởng tới sức khỏe con người Không phải tự nhiên mà những dòng sông ngay lòng thủ đô cũng ngập rác, những công viên, thậm chí là bờ hồ nơi và chỉ vài bước chân là có những thùng rác công cộng cũng không tránh khỏi số phận ngập rác thải.

Cũng theo khảo sát của chúng tôi, khi được hỏi về mức độ quan tâm về việc tái chế và xử

lý nghiêm những người không phân loại rác và xả rác bừa bãi, các bạn sinh viên đã có những cách nhìn khá tích cực có tới 87% quan tâm tới vấn đề tái chế, 85,7% bạn ủng hộ nhà nước đặt ra các quy định về xử lý và quản lý rác thải sinh hoạt tại nguồn Trong số đó

có những bạn sẵn sàng mua các sản phẩm tái chếvì góp phần bảo vệ môi trường và thúc đẩy nền kinh tế Tuy nhiên trong số đó, không ít bạn có những ý kiến đã phản ánh rõ tình trạng thực tế ngày nay:

Như các sản phẩm tái chế chưa được thực sự lấy được niềm tin của người tiêu dùng, và trên hết là công nghệ tái chế còn thô sơ nên sự nghi ngờ của người tiêu dùng là hoàn toàn

có thể hiểu được, chính vì các mặt hàng tái chế chưa tiếp cận được người tiêu dùng nên người dân không thực sự quan tâm tới vấn đề tái chế và phân loại rác thải dẫn tới tình trạng lãng phí tài nguyên và xả rác bừa bãi gây khó khăn cho khâu xử lý của các đơn vị

xử lý rác thải

Trang 13

Hình 3 Bờ Hồ Gươm ngập rác thải.( nguồn internet)

6 Tác động của rác thải tới đời sống kinh tế xã hội và môi trường.

Bên trên chúng ta đã đề cập tới tình trạng gia tăng rác thải sinh hoạt và nạn xả rác bừa bãi Vậy câu hỏi đặt ra là tình trạng trên có tác động thế nào tới con người?

Như đã biết trong thành phần của rác thải sinh hoạt có những hợp chất hữu cơ, vô

cơ và cả những thành phần rác thải nguy hại, chính điều đó gây nên tác hại đa diện của nó

 Trước tiên về mặt môi trường:

o Rác thải sinh hoạt gây mất mĩ quan đô thị, đường làng ngõ xóm: Tình trạng rác thải để tràn lan như gốc cây, lề đường hay bất kì nơi nào trống vắng là tình trạng không hiếm gặp hiện nay Đi tới bất cứ đâu cũng không khó để bắt gặp những túi rác, thậm chí là những đống rác lớn được vun ngay tại lề đường bốc mùi khó chịu do trong thành phần của rác thải đô thị có nhiều thành phần hữu cơ dễ bị ô xi hóa trong môi trường hoặc bị các vi sinh vật lên men phân hủy

o Rác thải làm cản trở giao thông, ách tắc dòng chảy…

o Rác thải làm ô nhiễm môi trường đất: Trong thành phần rác thải chứa nhiều chất độc, khi xâm nhập vào đất sẽ gây chết các vi sinh vật có lợi,

Ngày đăng: 24/10/2016, 22:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Thành phần chất thải rắn đối với các nước có thu nhập khác nhau. - Tình trạng rác thải sinh hoạt tại VN
Bảng 2. Thành phần chất thải rắn đối với các nước có thu nhập khác nhau (Trang 7)
Hình 2: Một khu tập chung rác thải ở nông thôn.(nguồn internet) - Tình trạng rác thải sinh hoạt tại VN
Hình 2 Một khu tập chung rác thải ở nông thôn.(nguồn internet) (Trang 11)
Hình 3. Bờ Hồ Gươm ngập rác thải.( nguồn internet) - Tình trạng rác thải sinh hoạt tại VN
Hình 3. Bờ Hồ Gươm ngập rác thải.( nguồn internet) (Trang 13)
Bảng 7.2.thành phần rác thải ở bãi chôn lấp một số địa phương năm 2009-2010 - Tình trạng rác thải sinh hoạt tại VN
Bảng 7.2.th ành phần rác thải ở bãi chôn lấp một số địa phương năm 2009-2010 (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w