1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tài liệu cho vay tiêu dùng và bao thanh toán

19 233 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 51,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

còn đối với cho vay kinh doanh thì nguồn trả nợ là lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh + Về rủi ro: với phương thức cho vay tiêu dùng thì nó chứa đựng nhiều rủi ro nhất trong danh mục các

Trang 1

Cho vay tiêu dùng và bao thanh toán

A TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG

I. Khái niệm

Cho vay tiêu dùng là loại cho vay nhằm đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi sinh hoạt gia đình nhằm nâng cao đời sống dân cư Khách hàng vay là người có thu nhập không cao nhưng ổn định, chủ yếu là công nhân viên chức, hưởng lương và có việc làm ổn định và số lượng khách hàng thì rất đông

II. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng.

+ Về mục đích vay: thì cho vay tiêu dùng chỉ tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân chứ không phải tài

trợ cho nhu cầu kinh doanh, sản xuất

+ Về đối tượng vay: các cá nhân và hộ gia đình là khách hàng của loại hình cho vay tiêu dùng trong

khi đó cho vay kinh doanh lại là các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình

+ Về nguồn trả nợ: nguồn trả nợ của cho vay tiêu dùng là các tài sản thế chấp hay các khoản thu nhập

có được khác như: lương, thưởng, bán cổ phiếu, bán nhà, bán quyến sử dụng đất còn đối với cho vay kinh doanh thì nguồn trả nợ là lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh

+ Về rủi ro: với phương thức cho vay tiêu dùng thì nó chứa đựng nhiều rủi ro nhất trong danh mục các

tài sản của ngân hàng Sở dĩ như vậy là vì nguồn trả nợ là thu nhập thường xuyên của người vay Mà những khoản thu nhập này lại phụ thuộc vào sức khỏe và công việc của người vay Do đó khi bị mất việc hoặc ốm đau, tai nạn người vay khó có thể trả được nợ Hơn nữa việc thẩm định khả năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình cũng khó khăn khăn hơn Bởi đối với các hãng kinh doanh, ngân hàng có thể thẩm định khả năng trả nợ thông qua các báo cáo tài chính đã được kiểm toán độc lập, còn đối với người tiêu dùng thì ngân hàng chỉ có thể dựa vào tài sản cá nhân, lương và các khoản thu nhập khác

Để có được khoản vay, khách hàng có thể giấu các thông tin về tình hình sức khoẻ và công việc trong tương lai của mình nên các ngân hàng rất khó xác định được rủi ro khi cho vay tiêu dùng

Việc cho vay tiêu dùng phụ thuộc nhiều vào sự tăng trưởng ổn định về thu nhập và đảm bảo việc làm bởi nó cho phép người tiêu dùng mua được hàng hoá và dịch vụ ngày hôm nay dựa trên thu nhập của ngày mai Vì vậy khi nền kinh tế có xu hướng mở rộng thì nhu cầu vay tiêu dùng tăng cao và ngược lại khi nền kinh tế suy thoái nhu cầu vay tiêu dùng cũng bị giảm sút theo

Lý do giải thích cho việc tại sao lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn các khoản cho vay khác của ngân hàng! Đó là để bù đắp cho chi phí ( về thời gian và nhân lực để thẩm định, quản lý các khoản vay với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn, chi phí trên một đơn vị cho vay lớn ) và rủi ro cao mà ngân hàng có thể gặp phải khi cho vay tiêu dùng

Bởi vì các khoản cho vay tiêu dùng có tỷ lệ rủi ro cao nhất nên các ngân hàng thường yêu cầu phải có tài sản bảo đảm khi vay và yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, nhân thọ, bảo hiểm cho hàng hoá đã được mua bởi khoản vay

Thêm một đặc điểm khác của cho vay tiêu dùng là người vay thường chỉ vay một lần, ít khi có nhu cầu

Trang 2

doanh, lặp đi lặp lại Do đó nếu không có các giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng thì ngân hàng sẽ dần mất đi nguồn khách hàng tiềm năng này

+ Về quy mô khoản vay: hầu hết các khoản vay tiêu dùng đều có giá trị không lớn trừ những khoản

vay để mua quyền sử dụng đất, mua nhà, mua ôtô sang trọng, đi du học, mua sắm những đồ dùng xa xỉ nhưng số lượng các món vay tiêu dùng lại khá nhiều( vì nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng tăng)

+ Lãi suất cho vay tiêu dùng : Ngân hàng có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định

mức lãi suất phù hợp với khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng mà phần lớn lãi suất được xác định dựa trên lãi suất cơ bản ,phần lợi nhuận cận biên và phần bù đắp rủi ro,công thức tính tổng quát như sau: Lãi

suất

CVTD

=

Chi phí huy động vốn

+

Chi phí huy động khác

+

Rủi ro tổn thất chủ kiến

+

Phần bù khấu hao với các khoản cho vay dài hạn

+

Lợi nhuận cận biên Lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất các loại cho vay trong các lĩnh vực

khác.Ngoài ra chi phí của nó cũng thường cao hơn so với các khoản cho vay khác do phải bù đắp rủi

ro có thể xảy ra đối với khoản vay

Cho vay tiêu dùng từ khi ra đời và phát triển đã đem lại cho các ngân hàng lợi nhuận lớn ,lãi suất cho vay tiêu dùng thường được cố định chứ không thả nổi như những hình thức tín dụng khác Còn hiện nay, trong môi trường cạnh tranh đã buộc các Ngân hàng thay đổi, lãi suất của cho vay tiêu dùng đã có

sự thả nổi nhưng đấy là sự thả nổi chưa hoàn toàn Khi đưa ra mức lãi suất cho vay cố định đó ,các ngân hàng thường phải dự tính đến yếu tố lãi suất huy động đầu vào sẽ thay đổi như thế nào để làm căn

xứ đưa ra lãi suất cho vay tiêu dùng Vì vậy lãi suất cho vay tiêu dùng không linh hoạt như các khoản cho vay kinh doanh khác Đây cũng là yếu tố tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng khi lãi suất huy động tăng Ngoài ra ta có thể thấy nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co giãn với lãi suất Đối với đối tượng khách hàng này, điều khiến họ quan tâm hơn hết là số tiền mà họ phải trả hàng tháng hơn là lãi suất mà họ phải chịu, mặc dù rõ ràng chính lãi suất trong hợp đồng tín dụng ảnh hưởng đến quy mô

số tiền phải trả này

III. Các loại hình cho vay tiêu dùng

1. Căn cứ mục đích cho vay:

1.1.Cho vay tiêu dùng bất động sản :

Là khoản tín dụng được cấp nhằm tài trợ cho nhu cầu mua, xây dựng, cải tạo nhà cho khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình) Đặc điểm của những món vay này là quy mô thường lớn, thời gian dài Việc đánh giá giá trị tài sản tài trợ có vai trò vô cùng quan trọng đối với ngân hàng Nếu như trong cho vay tiêu dùng thông thường thì thu nhập tương lai của người vay là yếu tố quan trọng để ngân hàng quyết định có cho vay hay không thì trong cho vay nhà ở, giá trị và tình hình biến động giá của tài sản được tài trợ là yếu tố mà ngân hàng rất quan tâm Bởi vì khoản tín dụng tài trợ cho loại tài sản này có giá trị lớn, nên sự biến động theo hướng không có lợi của nó sẽ dẫn tới những thiệt hại rất lớn cho ngân hàng

1.2.Cho vay tiêu dùng thông thường :

Trang 3

Đây là những khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm phương tiện, đồ dùng,

du lịch, học hành, y tế hoặc giải trí Đặc điểm của những khoản tín dụng này thường có quy mô nhỏ, thời gian tài trợ ngắn Do đó mà mức độ rủi ro đối với ngân hàng là thấp hơn những khoản cho vay tiêu dùng bất động sản Đối với loại cho vay này, yếu tố quyết định cho vay hay không là khả năng trả

nợ của người vay, sau đó mới xem xét đến giá trị tài sản đảm bảo

Ví dụ: Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) cung cấp sản phẩm vay mua nhà.

• Đặc tính:

- Mức vay lên đến 100% giá trị mua/ nhận chuyển nhượng bất động sản

- Thời hạn vay tối đa 30 năm

- Chấp nhận tài sản bảo đảm là bất động sản hình thành từ vốn vay

• Điều kiện và thủ tục:

- Bản chính giấy đề nghị vay vốn theo mẫu của Sacombank

-Bản sao CMND/hộ chiếu; Hộ khẩu/Giấy xác nhận tạm trú của người vay và của người hôn phối, người bảo lãnh (nếu có)

-Chứng từ thể hiện nguồn thu nhập

-Hồ sơ về bất động sản dự định mua/nhận chuyển nhượng (Hợp đồng mua bán, hợp đồng đặt cọc, bảng báo giá, )

-Hồ sơ tài sản bảo đảm

2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả:

Trang 4

2.1 Cho vay trả góp:

- KN: Là hình thức cho vay trong đó người đi vay trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng nhiều lần theo kì hạn nhất định trong thời hạn cho vay.Phương thức này thường áp dụng cho các khoản vay không đủ khả năng thanh toán hết 1 lần số nợ vay

- Khi cho vay trả góp cần quan tâm tới các vấn đề:

+Số tiền phải trả trước:Khi mua tài sản ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải thanh toán trước 1 phần giá trị tài sản nhằm hạn chế rủi ro cho Ngân hàng.Số tiền trả trước ít hay nhiều phụ thuộc vào loại tài sản thị trường tiêu thụ về tài sản đó ngay sau khi sử dụng

+Chi phí tài trợ: Chi phí này phải được trang trải được chi phí vốn, rủi ro

+Điều khoản thanh toán:Số tiền thanh toán mối kì giá trị của tài sản tài trợ không được thấp hơn

số tiền tài trợ còn lại,kỳ hạn phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng, thời hạn tài trợ không quá dài

+Số tiền khách hàng phải trả thanh toán cho NH phải phù hợp với khả năng về thu nhâp,hài hòa với các nhu cầu chi tiêu khác của khách hàng

2.2 Cho vay từng lần:

Vay từng lần, hay còn gọi là vay theo món là hình thức vay, theo đó người vay sẽ phải làm hồ sơ vay vốn cho từng lần vay với lãi suất, thời hạn trả tiền và số tiền vay xác định Ưu điểm của hình thức này

là thủ tục rõ ràng,ngân hàng chủ động trong việc cho vay Nhưng nhược điểm là thủ tục rường rà, doanh nghiệp không linh động trong việc sử dụng vốn do phải lập hồ sơ cho từng lần vay, chỉ thích hợp với doanh nghiệp có nhu cầu vốn không định kì Nhìn chung, hình thức này rất phổ biến ở Việt Nam vì doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả,không cần vốn thường xuyên, trong khi ngân hàng với nghiệp

vụ chưa cao nên cho vay theo hình thức này ít rủi ro hơn

2.3 Cho vay theo hạn mức tín dụng:

Vay hạn mức tín dụng: người vay chỉ lập hồ sơ 1 lần cho nhiều khoảng vay, ngân hàng cấp cho khách 1 hạn mức, chỉ giới hạn dư nợ, không giới hạn doanh số ví dụ, vay hạn mức 50tr 1 tháng, bạn có thể vay tối đa 50tr, nếu trả 20tr trong tháng có thể vay tiếp 30tr, miến sao số dư cuối tháng không vượt quá 50tr Đây là hình thức vay tiên tiến, có nhiều ưu điểm, lợi ích cho doanh nghiệp như chủ động vốn, thủ tục đơn giản nhưng không phổ biến ở Việt nam do các doanh nghiệp không có nhu cầu vốn thường

xuyên, hành lang pháp lí chưa chặt chẽ dẫn đến việc ngân hàng khó xử lí trong việc phạt nợ quá hạn

vì vậy ngân hàng ít cung cấp dịch vụ này

2.4 Các phương thức cho vay khác:

Tùy theo tình hình thực tế, Ngân hàng còn áp dụng các phương thức cho vay sau: - Cho vay theo

dự án đầu tư - Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng - Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng - Cho vay hợp vốn - Cho vay theo hạn mức thấu chi - Các phương thức cho vay khác

3. Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ

Trang 5

3.1 Cho vay tiêu dùng gián tiếp

-Là hình thức cho vay trong đó NH mua các khoản nợ phát sinh do những công tybán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng

-Ưu điểm :

+Cho phép NH tăng nhanh về dư nợ cho vay tiêu dùng

+Giúp NH giảm được chi phí trong cho vay tiêu dùng

+Là nguồn gốc của việc mở rộng mối quan hệ với khách hàng và các hoạt độngkhác của NH

+Trong trường hợp có quan hệ với các công ty bán lẻ tốt, cho vay tiêu dùng gián tiếp an toàn hơn cho vay tiêu dùng trực tiếp

-Nhược điểm

+NH không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu

+Thiếu sự kiểm soát của NH khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán chịu hàng hóa

+Kỹ thuật và nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao

3.2.Cho vay tiêu dùng trực tiếp

-Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người này

-Ưu điểm

+NH có thể tận dụng được sở trường của nhân viên tín dụng vì quyết định của nhân viên tín dụng NH thường có chất lượng cao hơn nhân viên tín dụng của cửa hàng bán lẻ Ngoài ra trong hoạt động của mình nhân viên tín dụng NH có xu hướng chú trọng đến việc tạo ra các khoản cho vay có chất lượng cao trong khi nhân viên của công ty bán lẻ thường chỉ chú trọng đến việc bán được nhiều hàng Bên cạnh đó tại các điểm bán hàng các quyết định tín dụng thường đưa ra rất vội vàng

+Cho vay tiêu dùng trực tiếp linh hoạt hơn cho vay tiêu dùng gián tiếp

+Khi khách hàng có quan hệ trực tiếp với NH có rất nhiều lợi thế phát sinh có khả năng làm thỏa mãn quyền lợi cho cả hai phía khách hàng lấn NH

4 Dựa vào tài sản đảm bảo

4.1 Cho vay có tài sản đảm bảo.

Cho vay có tài sản đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên các bảo đảm như thế chấp, cầm cố, kí quỹ, đặt cọc, kí cược hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba Sự bảo đảm cho phép các ngân hàng cóđược nguồn thu

nợ thứ hai bằng cách bán tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất từ quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng không đủđể trả nợ ngân hàng Hình thức này thường áp dụng với các khách hàng chưa có

uy tín, hoặc uy tín không cao đối với ngân hàng

4.2 Cho vay tín chấp( không cần tài sản đảm bảo)

Trang 6

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004 sửa đổi khoản 2, điều 52 như sau: “Tổ chức tín dụng có quyền xem xét, quyết định cho vay trên cơ sở có bảo đảm hoặc không

có bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay, bảo lãnh của bên thứ ba và chịu trách nhiệm về quyết định của mình…” Như vậy, có thể kết luận rằng, trước ngày 01/10/2004, cho vay tín chấp chưa được thừa nhận trong hệ thống pháp luật về tín dụng, ngân hàng ở nước ta.Vay tín chấp là hình thức vay tiền ngân hàng và các tổ chức tín dụng được bảo đảm bằng sự tín nhiệm, không cần có tài sản thế chấp.Tất nhiên, tài sản thế chấp được đề cập ở đây là một tài sản hữu hình hoặc một bất động sản đầu tư Khái niệm trên cho thấy, vay tín chấp không phải là việc cho vay không có bảo đảm

mà cao hơn, tài sản bảo đảm là sự tín nhiệm giữa người cho vay (các ngân hàng, tổ chức tín dụng) và người vay, thông thường là các doanh nghiệp Từ những phân tích trên, có thể thấy,

vay tín chấp có những đặc trưng cơ bản sau:

Một là, vay tín chấp không thể thực hiện được trong giai đoạn đầu của mối quan hệ giữa người cho vay

và người vay Để có được sự tín nhiệm, quan hệ vay – cho vay phải trải qua một thời gian nhất định

Hai là, thế chủ động trong việc quyết định cho vay tín chấp thuộc về người cho vay Bởi lẽ, khi và chỉ

khi người cho vay có được độ tin cậy rất cao đối với người vay mới có thể quyết định cho vay tín chấp

Ba là, người vay (các doanh nghiệp) đóng một vai trò to lớn trong quá trình tạo ra sự tín nhiệm để có

thể vay tín chấp Trong nhiều trường hợp, chính hoạt động kinh doanh có hiệu quả và sự minh bạch của doanh nghiệp lại là nhân tố quyết định để ngân hàng và các tổ chức tín dụng quyết định cho vay tín chấp

Bốn là, sự tín nhiệm (“tài sản” đảm bảo tiền vay) lại là loại tài sản vô hình, không thể đem đấu giá để

thu hồi vốn cho vay Vì vậy, quyết định cho vay tín chấp của các ngân hàng và tổ chức tín dụng cần đặc biệt cẩn trọng và vì vậy, khó khăn là lẽ đương nhiên

Trên thực tế, thường thì các ngân hàng phân loại sản phẩm cho vay tiêu dùng của mình theo hình thức này Cũng có thể kết hợp chia nhỏ các sản phẩm tín dụng ra thành nhiều loại

Và cũng tùy vào cách phân loại của từng ngân hàng mà có những sản phẩm cho vay tiêu dùng khác nhau Ví dụ techcombank có các loại sản phẩm: cho vay tiêu dùng( cho vay tiêu dùng trả góp không có tài sản đảm bảo, ứng trước tài khoản cá nhân có tài sản đảm bảo và không có tài sản đảm bảo,vay nhanh bằng cầm cố chứng từ có giá, cho vay du học)

IV Quy trình cho vay tiêu dùng

Quy trình cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại gồm các bước sau đây:

+ Tiếp nhận hồ sơ tín dụng và kiểm tra các thông tin khách hàng đưa ra trên hồ sơ

+ Thẩm định tín dụng

+ Xét duyệt và quyết định cho vay

+ Hoàn tất các thủ tục pháp lý trước khi giải ngân

+ Kiểm tra sau khi giải ngân và phát hiện nhu cầu mới của khách hàng

+ Thu nợ và xử lý nợ quá hạn

Trang 7

Cụ thể chúng ta tìm hiểu ví dụ về quy trình cho vay tiêu dùng tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại

thương Việt Nam:

"Quy trình nghiệp vụ Tín dụng khách hàng cá nhân" do Tổng giám đốc Ngân hàng Ngoại thương ban hành ngày 31/12/2001 quy định về quy trình xử lý các bước trong một quá trình cấp tín dụng cho một khách hàng cá nhân nhằm đảm bảo tính chất nhất quán trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, tuân thủ các quy định của pháp luật

Qui trình cho vay đối với các món vay tiêu dùng gồm 8 bước và được chia làm 2 giai đoạn

Giai đoạn 1: Tiếp nhận, thẩm định và xét duyệt khoản vay

- Bước1: Tìm kiếm, tiếp nhận nhu cầu, thông báo cho khách hàng biết các chính sách cho vay mà SGD Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hiện đang áp dụng, tư vấn hồ sơ và hướng dẫn khách hàng lập hồ

sơ vay vốn Bộ hồ sơ vay vốn bao gồm các tài liệu được phân nhóm sau:

+ Hồ sơ pháp lý

+ Hồ sơ khoản vay

+ Hồ sơ tài sản đảm bảo

+ Các hồ sơ khác có liên quan

- Bước2: Thẩm định khoản vay

+ Thẩm định khách hàng: Thẩm định năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, tư cách người vay

+ Thẩm định phương án sản xuất kinh doanh, ngành kinh doanh: mục đích vay vốn, tính khả thi, hiệu quả; nguồn trả nợ, khả năng trả nợ

+ Thẩm định nguồn trả nợ và khả năng trả nợ

+ Thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay: thẩm định tài sản đảm bảo, điều kiện tài sản đảm bảo và giá trị tài sản đảm bảo, xác định các biện pháp bảo đảm bằng tài sản

Sau đó, CBTD lập tờ trình thẩm định Nếu không đủ điều kiện cho vay thì cũng không báo ngay cho khách hàng bằng văn bản

Cán bộ hỗ trợ tín dụng kiểm tra lại điều kiện, hồ sơ vay vốn của khách hàng, chấm lại điểm tín nhiệm khách hàng và nêu ý kiến khác (nếu có)

- Bước3: Trình duyệt hồ sơ vay vốn và phán quyết cho vay

CBTD tiếp nhận hồ sơ và trình hồ sơ vay vốn cho trưởng phòng Khách hàng cá nhân/ Giám đốc chi nhánh cấp 1,2 lấy ý kiến về khoản vay Mức phán quyết và thẩm quyền ký duyệt tín dụng sẽ được HĐQTT và Tổng giám đốc ban hành theo từng thời kỳ áp dụng đối với mỗi đơn vị cho vay

+ Đồng ý cho vay: Giám đốc đơn vị cho vay ghi rõ đồng ý cho vay, các điều kiện cho vay (nếu có), có thể ghi thêm yêu cầu về điều kiện trước khi giải ngân

Trang 8

+ Yêu cầu tái thẩm định: Một số trường hợp nhằm tăng độ tin cậy của các nội dung cần thẩm định Giám đốc đơn vụ cho vay có thể yêu cầu chuyển qua Phòng quản lí tín dụng các cấp thực hiện tái thẩm định

+ Từ chối cho vay: Trong trường hợp này, Giám đốc đơn vị cho vay ghi rõ lý do không đồng ý cho vay

và chuyển lại cho CBTD để lập thông báo gửi khách hàng

Giai đoạn 2: Thực hiện cho vay

- Bước 4: Lập, đàm phán và kí kết các hợp đồng liên quan đến việc cấp tín dụng

Khi khoản vay được phê duyệt đồng ý cho vay cùng các điều kiện có liên quan, CBTD tiến hành soạn thảo các hợp đồng và giấy tờ liên quan đến giải ngân

+ Hợp đồng tín dụng

+ Hợp đồng thế chấp/ Cầm cố/ Bảo lãnh bằng tài sản

+ Giấy đề nghi vay vốn kiêm khế ước nhận nợ

Trường hợp có phản hồi từ khách hàng về việc không đồng ý hoặc không rõ các điều khoản trong hợp đồng thì CBTD trao đổi thêm với khách hàng để làm rõ, nếu khách hàng chưa đồng ý thì báo cáo trưởng phòng khách hàng cá nhân giải quyết

Đăng ký giao dịch đảm bảo tài sản thế chấp, cầm cố trong trường hợp thoả thuận là Ngân hàng đăng ký

Giám đốc đơn vị cho vay ký hợp đồng

Giao nhận giấy tờ, tài sản bảo đảm tiền vay

- Bước 5: Kiểm tra hồ sơ giải ngân và trình duyệt giải ngân

- Bứoc 6: Giải ngân

Sau khi hồ sơ tín dụng đã hoàn tất, các bộ phận liên quan tiến hành thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng phù hợp với quyết định của ban tín dụng

- Bước 7: Giám sát và theo dõi khoản vay

Cán bộ hỗ trợ tín dụng thường xuyên quản lý, theo dõi khoản vay trên máy tính và trên sổ theo dõi khách hàng để cập nhật thông tin và đôn đốc khách hàng thực hiện đúng theo các cam kết

CBTD kiểm tra khách hàng vay vốn, kiểm tra việc sử dụng vốn vay, tình hình sử dụng vốn vay, tài sản bảo đảm của khoản vay và các giấy tờ sổ sách có liên quan

Thu nợ và xử lý các vấn đề phát sinh

- Bước 8: Tất toán khế ước, thanh lý hợp đồng, giải chấp, lưu hồ sơ

2.2.1.2 Đối tượng cho vay và điều kiện cho vay

Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cho vay tiêu dùng đối với tất cả các cá nhân và hộ gia đình thoả mãn những điều kiện nhất định của ngân hàng Cụ thể khách hàng vay tiêu dùng tại SGD Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phải thoả mãn những điều kiện sau:

Trang 9

- Có hộ khẩu thường trú (hoặc diện KT3) tại cùng địa bàn hành chính Tỉnh, thành phốn nơi có trụ sở hoặc các chi nhánh của Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

- Cá nhân, chủ hộ hoặc người đại diện cho chủ hộ của hộ gia đình trong giao dịch với SGD Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phải có đủ năng lực hành vi dân sự

- Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp

- Có vốn tự có tham gia vào phương án vay vốn

- Có nguồn thu ổn định đảm bảo khả năng trả nợ trong thời hạn cam kết

- Thực hiện việc bảo đảm tiền vay phù hợp với quy định của pháp luật và của Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

V.Thực trạng cho vay tiêu dùng của các NHTM

1 Đánh giá thời cơ

* Nhu cầu tiêu dùng trong nền kinh tế đang gia tăng mạnh mẽ

Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam khá cao và GDP bình quân đầu người đang tăng lên

Tốc độ tăng trưởng(%) 7,04 7,34 7,69 8,4 7,8 8,48 6,23 5,32

GDP bình quân đầu người(USD) 439 481 514 638 754 835 960

Trang 10

Dân số Việt Nam hiện nay là 85,8 triệu người, với cơ cấu dân số trẻ: lực lượng lao động chiếm khoảng 2/3 dân số Theo dự báo của Bộ Thương mại: chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người trên tháng tại Việt Nam 2006-2010 tăng khoảng 10,57%/năm, đến năm 2010 thì chỉ tiêu này đối với cả nước là

657800 đ/người/tháng, với khu vực thành thị là 1054700đ/người/tháng

* Mặt khác ,tuy có nhu cầu lớn về hàng tiêu dùng nhưng khách hàng không có đủ khả năng tài chính Theo đánh giá của Techcombank, nhu cầu của khách hàng đối với các sản phẩm gia dụng như TV, tủ lạnh, máy giặt, xe máy… là rất lớn do sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và tốc độ cải thiện mức sống Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể có khả năng tài chính để đáp ứng ngay các nhu cầu

này.

Đối với dân cư, đặc biệt là thế hệ trẻ và người thu nhập thấp, họ không thể đợi cho đến già mới tiết kiệm đủ tiền để mua nhà, mua ôtô và các đồ dùng gia đình khác Tín dụng tiêu dùng giúp họ có được một cuộc sống ổn định ngay từ khi còn trẻ, bằng việc mua trả góp những gì cần thiết, tạo cho họ động lực to lớn để làm việc, tiết kiệm, nuôi dưỡng con cái

Các lĩnh vực đang có tiềm năng phát triển sáng sủa:

+ Ô tô: ở Việt Nam hiện nay tỷ lệ xe ô tô mới đạt 8 xe/1000 dân trong khi đó tại Trung Quốc là 24 xe/1000 dân, Thái Lan là 152 xe/1000 dân Với đà tăng trưởng kinh tế và lộ trình giảm thuế khi gia nhập WTO thì chắc chắn nhu cầu mua ô tô sẽ tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới

+Nhà đất: theo quy hoạch tổng thể định hướng phát triển đô thị đến năm 2020 dân số đô thị sẽ chiếm 45% dân số cả nước, dẫn đến nhu cầu nhà ở nhất là ở các thành phố trung tâm sẽ tăng cao

+Lĩnh vực du học: cùng với sự nâng cao mức sống và dân trí, nhu cầu nhập khẩu dịch vụ du học càng tăng cao, nhu cầu vay vốn để du học theo đó cũng sẽ tăng

* Cơ chế chính sách đang có những thay đổi có tác động tích cực đến việc phát triển cho vay tiêu dùng:

Từ giữa năm 2008, khi lạm phát tăng cao và lãi suất biến động mạnh, các ngân hàng thương mại thắt chặt cho vay tiêu dùng Sau nhiều khuyến nghị từ các chuyên gia, tổ chức trong và ngoài nước, ngày 23/1/2009, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Đồng Tiến đã ký ban hành Thông tư số

01/2009/TT-NHNN, hướng dẫn về lãi suất thỏa thuận của tổ chức tín dụng đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Văn bản trên chính thức tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại nối lại và thúc đẩy hoạt động cho vay tiêu dùng, một hoạt động đã bị siết chặt trong hơn nửa năm trước đó

Hiện Bộ Công Thương đang soạn thảo đề án “Hỗ trợ mua sắm, kích cầu tiêu dùng hàng hóa sản xuất trong nước” Theo dự thảo này, một đối tượng chiếm tỷ lệ lớn trong xã hội là nông dân sẽ được Chính phủ cho vay với lãi suất ưu đãi để mua hàng trả góp, trả chậm không tính lãi Chương trình này đề nghị cho phép sử dụng hình thức tín chấp cho người dân nông thôn vay ưu đãi hoặc thế chấp bằng tài sản được mua

* Cơ sở vật chất kĩ thuật, trình độ chuyên môn của hệ thống ngân hàng ngày càng được nâng cao

và hoàn thiện hơn giúp cho ngân hàng có thể đánh giá khách hàng , kiểm soát các khoản vay tốt hơn

2.Thách thức

Ngày đăng: 24/10/2016, 21:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w