1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

tài liệu thuyết trình ngân hàng thương mại

14 222 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 51,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiền gửi và các nghiệp vụ huy động tiền gửi: Tiền gửi của khách hàng là nguồn tiền quan trọng nhất của ngân hàng thương mại,chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng - Tiền

Trang 1

Nguồn vốn và quản lý nguồn vốn

I. Nguồn vốn của NHTM:

1. Khái niệm:

2. Các khoản mục nguồn vốn:

2.1 Vốn chủ sở hữu: là một lượng vốn nhất định mà chủ ngân hàng phải có để bắt đầu

hoạt động.Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài,hình thành trang thiết bị,nhà cưả cho ngân hàng

VD: Vốn chủ sở hữu của BIDV hết năm 2009 là 17106238( triệu đồng), VIETCOMBANK là 255496000( triệu đồng)

a. Vốn hình thành ban đầu:

tùy theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác nhau: ngân hàng nhà nước, cổ phần,liên doanh,tư nhân…

b. Vốn bổ sung trong quá trình hoạt động:

Dùng để bổ sung cho nguồn vốn chủ hữu trong quá trình hoạt động của ngân hàng:

• Nguồn từ lợi nhuận: Trong điều kiện kinh doanh có lãi, lợi nhuận ròng lớn hơn không,chủ ngân hàng có xu hướng chuyển một phần lợi nhuận thành vốn đầu tư

• Nguồn bổ sung: Trong quá trình kinh doanh, ngân hàng có thể phát hành thêm cổ phần ,góp thêm,cấp thêm…để mở rộng hoạt động kinh doanh, đổi mới trang thiết bị,tăng vốn chủ sở hữu.Đặc điểm của nguồn vốn này là không thường xuyên,song giúp cho ngân hàng huy động được lượng vốn lớn trong lúc cần thiết

VD: ngày 29/11/2010 Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã chấp thuận cho Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TiênPhongBank) phát hành 100 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu nhằm tăng vốn điều lệ từ 2.000 tỷ lên 3.000 tỷ đồng

c. Các quỹ:

Các quỹ của ngân hàng thuộc sở hữu của chủ ngân hàng,nguồn hình thành các quỹ này là

từ thu nhập của ngân hàng,mỗi quỹ có mục đích riêng

VD: quỹ dự phòng tổn thất,quỹ phúc lợi,quỹ khen thưởng…

Qũy của tổ chức tín dụng năm 2009 của VIETCOMBANK là 1283539 (triệu đồng)

d. Chênh lệch do đánh giá lại Tài Sản

Tài sản được đánh giá lại chủ yếu là TSCĐ, bất động sản đầu tư, một số trường hợp có thể

và cần thiết đánh giá lại vật liệu, công cụ, dụng cụ, thành phẩm, hàng hoá, sản phẩm dỡ dang

Chênh lệch đánh giá lại tài sản được phản ánh vào tài khoản này trong các trường hợp sau:

- Khi có quyết định của Nhà nước về đánh giá lại tài sản

Trang 2

- Khi thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước

- Các trường hợp khác theo quy định (Như khi chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp Tài khoản này không phản ánh số chênh lệch đánh giá lại khi đưa tài sản đi góp vốn liên kết, liên doanh hoặc đầu tư vào công ty con, khoản chênh lệch đánh giá lại trong các trường hợp này được phản ánh vào TK 711 - Thu nhập khác (nếu là lãi) hoặc TK 811 - Chi phí khác (nếu là lỗ)

Giá trị tài sản được xác định lại trên cơ sở bảng giá Nhà nước quy định hoặc Hội đồng định giá tài sản thống nhất xác định

Số chênh lệch giá do đánh lại tài sản được hạch toán và xử lý theo chính sách tài chính hiện hành

2.2 Vốn nợ:

a. Tiền gửi và các nghiệp vụ huy động tiền gửi: Tiền gửi của khách hàng là nguồn tiền

quan trọng nhất của ngân hàng thương mại,chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng

- Tiền gửi thanh toán(tiền gửi giao dịch, hoặc tiền gửi thanh toán): Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ.Lãi xuất của các khoản tiền này rất thấp,thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức thấp.Trong phạm vi số dư cho phép,các nhu cầu chi trả của chủ tài khoản đều được ngân hàng thực hiện,các khoản thu nhập của chủ tài khoản có thể được nhập vào tiền gửi thanh toán theo yêu cầu

- Tiền gửi có kỳ hạn của doang nghiệp,các tổ chức xã hội: Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận thiện cho hoạt động thanh toán song lãi suất lại thấp để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền,ngân hàng đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn.Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với các loại tiền này.Nếu cần chi tiêu,người gửi phải đến ngân hàng rút tiền ra

- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Người dân có thể gửi tiết kiệm khoản thu nhập của họ tạm thời không sử dụng vào ngân hàng để hưởng lãi suất và bảo toàn số thu nhập đó.Ngân hàng có thể mở cho mỗi người tiết kiệm nhiều sổ tiết kiệm cho mỗi kỳ hạn và mỗi lần gửi khác nhau,sổ tiết kiệm không dùng để thanh toán song có thể dùng để thế chấp vay vốn nếu ngân hàng cho phép

- Tiền gửi của các ngân hàng khác: Ngân hàng thương mại này có thể gửi tiền tại ngân hàng khác nhắm mục đích thanh toán hộ và một số mục đích khác

b. Tiền vay và nghiệp vụ đi vay của ngân hàng thương mại: Trong những giai đoạn cụ

thể,số tiền gửi không đáp ứng được nhu cầu chi trả của ngân hàng thương mại, do đó ngân hàng thương mại phải đi vay mượn thêm

- Vay ngân hàng nhà nước: Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi

trả của ngân hàng thương mạỊ.Hình thức chủ yếu cho vay của ngân hàng nhà nước là tái

Trang 3

chiết khấu,các thương phiếu đã được các ngân hang thương mại chiết khấu(hoặc chiết khấu) trở thành tài sản của họ.Khi cần tiền các ngân hang thương mại mang những thương phiếu này lên tái chiết khấu tại ngân hang trung ương,các thương phiếu được tái chiết khấu thường có thời hạn đáo hạn ngắn,khả năng trả nợ cao và phù hợp với mục tiêu của ngân hàng nhà nước trong từng giai đoạn.Trong điều kiện chưa có thương phiếu ,ngân hàng nhà nước cho ngân hàng thương mại vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định

- Vay các tổ chức tín dụng khác: Các ngân hàng có thể vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ

chức tín dụng khác trên thị trường lien ngân hàng.Các nguồn vay này dùng để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách của ngân hàng.Khoản vay có thể không cần bảo đảm hoặc được bảo đảm bằng các chứng khoán của kho bạc

VD: Tiền vay các tổ chức tín dụng khác trong năm 2009 của VIETCOMBANK là 6857580(triệu đồng), 2008 là 5093101( triệu đồng)

- Vay trên thị trường vốn: Các ngân hàng cũng vay mượn bằng cách phát hành các giấy tờ

có giá trên thị trường vốn.Khả năng vay mượn phụ thuộc vào lãi suất,uy tín trình độ phát triển của thị trường tài chính

VD: Trong năm 2009 VIETCOMBANK phát hành các giấy tờ có giá là 386058( triệu đồng), 2008 là 2922015( triệu đồng)

c. Vốn nợ khác:

- Tiền ủy thác: Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ ủy thác như ủy thác cho

vay.ủy thác đầu tư,ủy thác cấp phát,….Các nguồn hoạt động này tạo nên nguồn ủy thác tại ngân hàng

- Tiền trong thanh toán: Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành

nguồn trong thanh toán

- Tiền khác: Thuế chưa nộp,lương chưa trả…

VD: Các khoản phí,nợ phải trả của VIETCOMBANK năm 2009 là 1848712 (triệu đồng)

3. Vai trò, đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến từng nguồn vốn:

a. Tiền gửi:

- Đặc điểm chung là chúng phải được thanh toán khi khách hàng yêu cầu,chi phí tiền gửi thường cao hơn lãi trả cho tiền gửi

- Nhân tố ảnh hưởng:lãi suất,tỷ giá,thu nhập,chu kỳ chi tiêu,…

b. Tiền vay:

- Các khoản vay thường là với thời hạn và quy mô xác định trước,do vậy tạo thành nguồn

ổn định cho ngân hàng.Ngân hàng chỉ vay lúc cần thiết và chủ động quyết định khối lượng vay phù hợp nhu cầu sử dụng,lãi suất trả cho tiền vay thường lớn hơn lãi suất trả cho tiền gửi cùng kỳ hạn

Trang 4

- Nhân tố ảnh hưởng: thu nhập nhân cư,ổn định vĩ mô và các kỹ thuật nghiêp vụ của ngân hàng tạo tính thanh khoản của các giấy nợ và thuận tiện đối với người cho vay

c. Nguồn khác:

- Phần lớn các nguồn khác ngân hàng không phải trả lãi,chi phí để có và duy trì chúng tương đối

Nhân tố ảnh hưởng: phụ thuộc vào chính sách tăng nguồn thu cho ngân hàng,khả năng thực hiện và mở rộng các loại hình dịch vụ này

VD: Cơ cấu vốn của Ngân Hàng Công Thương Việt Nam ( Vietinbank) năm 2009 : đơn

vị ( triệu đồng)

=> Cơ cấu nguồn vốn

Cơ cấu nguồn vốn của Ngân Hàng TMCP Ngoại Thương ( Vietcombank) năm 2009 là:

II. Quản lý các khoản mục nguồn vốn (vốn nợ):

1. Khoản mục nguồn vốn ngân hàng:

Nguồn vốn chiếm khoảng 90-95% tổng các nguồn vốn của ngân hàng trong đó tiền gửi chiếm tới hơn 75% tất cả nguồn vốn của ngân hàng thương mại

Các nguồn vốn khác gồm có vay ngân hàng khác, vay có cầm cố chứng khoán, phát hành hối phiếu, trái phiếu

Theo nghĩa rộng, quản lý nguồn vốn bao gồm các hoạt động liên quan đến việc nhận vốn

từ người gửi tiền và người cho vay tiền khác nhau Theo nghĩa hẹp, quản lý nguồn vốn được xem như là các hoạt động liên quan đến việc đáp ứng các nhu cầu về thanh toán bằng cách chủ động huy động nguồn vốn bổ sung dưới nhiều hình thức chính các nguồn vốn này được sử dụng đầu tư vào các tài sản khác nhau của ngân hàng, chi phí của vốn huy động sau khi được khấu hao trừ vào thu nhập của tài sản sẽ cho ra mực lơi nhuận của ngân hàng Do vậy, liên hệ giữa nguồn vốn và tài sản là một yếu tố quyết định tới lợi nhuận của ngân hàng

1.1 Tiền gửi giao dịch:

Đối tượng gửi tiền giao dịch của NHTM là cá nhân, công ty, cơ quan hành chính sự nghiệp…

Trang 5

Về mặt pháp lý, khi gửi tiền không kỳ hạn theo tài khoản giao dịch thể hiện một hợp đồng mặc nhiên giữa khách hàng và ngân hàng Theo đó ngân hàng phải có trách nhiệm thực hiện các khoản chi trả theo yêu cầu của khách hàng một cách kịp thời và chính xác Nếu không thực hiện đầy đủ trách nhiệm ấy thì ngân hàng bị coi là vi phạm hợp đồng và phải bối thương thiệt hại theo quy định của pháp luật

Lý do khiến khách hàng mở tài khoản giao dịch đó là trong các quan hệ thanh toán có nhu cầu tiền mặt với số lượng lớn có thể xuất hiện tức thì và ngân hàng có thể đáp ứng được các yêu cầu về tiền mặt đó với nhiều dịch vụ tiện lợi kèm theo đồng thời bảo đảm được tính an toàn cao, tính chính xác và kịp thời đối với phần lớn khách hàng, mục đích hương lãi từ loại tiền gửi này là thứ yếu Tài khoản tiền gửi giao dịch còn được gọi với tên khác

là tài khoản séc hay tài khoản thanh toán vì phần lớn quan hệ thanh toán trong giao dịch được thực hiện thông qua séc Ngoài ra, ngày nay sự phát triển của khoa học công nghệ cho ra đời nhiều loại hình mới như nghiệp vụ ngân hàng điện tử và thẻ rút tiền tự động… Tiền gửi giao dịch gồm 2 loại:

• Tài khoản séc dùng cho doanh nghiệp tài khoản này không được hưởng lãi trực tiếp mà người gửi chỉ hưởng lãi gián tiếp thông qua dịch vụ thanh toán miễn phí của ngân hàng

• Tài khoản tiền gửi giao dịch dành cho cá nhân hay còn gọi là lệnh rút tiền có thể thương lượng ( negotiable order of Withdrawal-NOW ) Tài khoản này được ngân hàng trả lãi nhưng lãi suất thấp hơn lãi suất tiền gửi kỳ hạn đồng thời các ngân hàng cũng hạn chế một

số dịch vụ đối với tài khoản loại này

Tiền gửi giao dịch chiếm khoảng 28% tổng các nguồn vốn của ngân hàng, điều đó chứng

tỏ đây là nguồn vốn quan trọng của ngân hàng và nó cũng giải thích tại sao ngày nay các ngân hàng không ngừng đưa ra các dịch vụ thanh toán thuân lợi

1.2 Tiền gửi phi giao dịch:

Tiền gửi kỳ hạn là nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng nó chiếm tới 61,5% tổng các nguồn vốn của ngân hàng Chúng có đặc tính chung là được hưởng tiền lãi và người gửi tiền không được phát séc Lãi suất của chúng thương cao hơn tiền gửi không kỳ hạn có hưởng lãi bời vì người gửi tiền kỳ hạn không được hưởng nhiều dịch vụ thanh toán Tiền gửi phi giao dịch gồm có 2 loại chính : tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn tiền gửi tiết kiệm đã từng là tiền gửi phi giao dịch phổ biến nhất với tài khoản tiền gửi tiết kiệm vốn

có thể rút ra hay gửi tiết kiệm bất cứ lúc nào Việc rút tiền gửi và thanh toán lãi được theo dõi trong 1 cuốn sổ nhỏ gọi là sổ tiết kiệm( do chủ tài khoản giữ) hoặc trong thông báo tình hình tiền gửi của ngân hàng vào cuối tháng

Về mặt kỹ thuật, tiền gửi loại này không được rút ra trước thời hạn, tuy nhiên do sự cạnh tranh giữa các ngân hàng nên người gửi tiền có thể được phép rút tiền ra ngay lập tức Tiền gửi kỳ hạn có nhiều loại khác nhau như: chứng chỉ tiết kiệm( savings certificates), chứng chỉ tiền gửi có giá trị lớn các loại tiền gửi loại này có thời gian đáo hạn cố định từ một vài tháng đến 5 năm

Trang 6

So với tiền gửi tiết kiệm chúng kém lưu hoạt hơn nhưng lại có lãi suất cao hơn Tuy nhiên người gửi kỳ hạn sẽ phải châp nhận một khoản tiền phạt nào đó( chẳng hạn như không được hưởng lãi vào tháng cuối) nếu rút tiền trước hạn

Chứng chỉ tiền gửi loại lớn ( CDs-Certificates of Deposit) chủ yếu do công ty hoặc các ngân hàng mua Các CDs có thể mua bán trên thị trường thứ cấp trước khi nó tới hạn thanh toán Tiền gửi tiết kiệm chiếm tới 13,2% và chứng chỉ tiết kiệm chiếm 21,9% tổng các nguồn vốn ngân hàng cho thấy tiền gửi kỳ hạn là môt nguồn vốn quan trọng của ngân hàng Ngoài ra ngân hàng còn phát hành các công cụ tiền tệ như: hối phiếu, kỳ phiếu… nhằm huy động vốn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ

Xác định lãi suất cho tiền gửi phi giao dịch:…

Tiền gửi phi giao dịch có thể áp dụng lãi suất cố định hay thả nổi, nếu áp dụng lãi suất thả

nổ thì phải lấy lãi suất thị trường liên ngân hàng làm cơ sở xác định lãi suất

Đối với các công cụ huy động vốn trên thị trường tiền tệ có 2 phương pháp phát hành:

- Phát hành theo mệnh giá: người mua chứng chỉ có giá loại này sẽ trả tiền theo mệnh giá ghi trên chứng chỉ Cuối kỳ ngân hàng thanh toán tiền theo mệnh giá đã mua và tiền lãi khách hàng được hưởng

- Phát hành theo hình thức chiết khấu: người mua trả tiền bằng mệnh giá trừ đi số tiền chiết khấu và khi đến hạn ngân hàng sẽ hoàn trả theo đúng mệnh giá

1.3 Vốn vay:

Các ngân hàng thu hút vốn vay bằng cách vay NHNN, vay ngân hàng khác, vay các công

ty Trường hợp vay từ ngân hàng nhà nước được gọi là vay chiết khấu hoặc tiền ứng trước ngân hàng cũng vay các khoản dự trữ ngắn hạn của các ngân hàng khác Các nguồn vốn vay khác mà các ngân hàng có được đó là: tiền vay từ nhưng công ty mẹ, những dàn xếp vay tiền các công ty…

2 Nội dung quản lý:

2.1 Quản lý quy mô và cơ cấu:…

2.2 Quản lý lãi suất chi trả;xác định các loại và cơ cấu lãi suất trả cho các nguồn tiền khác nhau:

- Lãi suất danh nghĩa: đây là mức lãi suất người tiền quan tâm nhất

Ví dụ: lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng là 0.35%/1 tháng thì lãi suất danh nghĩa là 0.35%

- Lãi suất thực tế:là mức lãi suất ngân hàng phải tính toán chính xác xem chi phí thực tế bỏ

ra để có nguồn tiền đó, tránh tình trạng thua lỗ do chi phí huy động thực tế của nguồn tiền

đó quá cao ttrong khi lãi suất cho vay không bù đắp được.Tuy nhiên chi phí thực còn phụ thuộc vào phương thức trả lãi: số lần trả lãi trong một kỳ , tỷ lệ dự trữ bắt buộc số lần trả lãi trong một kỳ càng nhiều , tỷ lệ dự trữ bắt buộc càng cao thì chi phí thực tế càng lớn

Trang 7

- Lãi suất bình quân: ngân hàng huy động rất nhiều nguồn tiền với các mức lãi suất, kỳ hạn khác nhau, quy mô khác nhau mà thực tế cho vay không phân biệt rạch ròi từ nguồn nào

do đó ngân hàng phải tính toán lãi suất bình quân để làm cơ sở xác định lãi suất cho vay để đảm bảo lợi nhuận tổng thể cho ngân hàng

2.3 Quản lý kỳ hạn:

- Kỳ hạn danh nghĩa: giả sử khách hàng gửi tiền kỳ hạn 6 tháng thì kỳ hạn danh nghĩa là 6 tháng

- Kỳ hạn ổn định của đồng tiền: kỳ hạn này xét với từng đồng tiền riêng biệt: Thông qua biến động số dư của một loại tiền gửi nào đó qua các thời kỳ ngân hàng có thể xác định một mức số dư ổn định tương ứng với một thời kỳ nhất định Việc xác định kỳ hạn ổn định

là rất quan trọng vì ngân hàng sẽ xác định chính xác nhu cầu chi trả thực tế đồng thời ngân hàng có thể sử dụng một phần dư đó để cho vay với kỳ hạn dài hơn kỳ hạn của nguồn tiền

mà vẫn đảm bảo khả năng thanh toán

III. Các quy định về bảo đảm an toàn trong hoạt động huy động vốn của NHTM tại VN:

Trước đây, các tổ chức tín dụng hoạt động dựa trên tỷ lệ đảm bảo an toàn theo quyết định 457/2005/QĐ-NHNN Tuy nhiên, kể từ ngày 1/10/2010, quyết định này đã đc thay thế bằng thông tư 13/2010 của NHNN, bao gồm các quy định về:

a) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu;

b) Giới hạn tín dụng;

c) Tỷ lệ khả năng chi trả;

d) Giới hạn góp vốn, mua cổ phần;

đ) Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động

1.Tỉ lệ an toàn vốn tối thiếu(Capital Adequacy Ratios- CAR)

Tỉ lệ an toàn vốn tối thiếu là 9%.( được quy định tại điều 4 của thông tư 13/2010)

Trong đó tỉ lệ an toàn vốn riêng lẻ của tổ chức tín dụng được tính như sau:

Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ = Vốn tự có

Tổng tài sản “Có” rủi ro

Trong đó vốn tự có là vốn cấp 1, về cơ bản bao gồm:

-Vốn điều lệ

-Lợi nhuận không chia

-Các quỹ dự phòng trên cơ sở trích lập từ lợi nhuân ( ví dụ: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều

lệ, quỹ dự phòng tc …)

Tổng tài sản “có” rủi ro, xác định theo mức độ rủi ro được tính bằng tích số của giá trị

tài sản “Có” và hệ số rủi ro tương ứng của tài sản “Có”

Trang 8

Ví dụ các khoản phải đòi với Chính phủ Việt Nam, NHNNVN, Chính phủ các nước thuộc OECD có hệ số rủi ro là 0%, trong khi ấy, các khoản phải đòi để đầu tư máy móc, thiết bị, tài sản cố định có hệ số rủi ro lên tới 100%

Và nếu một Ngân hàng thương mại cho vay đầu tư bất động sản, hệ số rủi ro của khoản vay này lên tới 250%

Thay đổi so với QĐ 457: tỷ lệ an toàn vốn tối thiếu trong QĐ 457 chỉ có 8%

2 Giới hạn tín dụng đối với khách hàng

- Quản lý, theo dõi những khoản cấp tín dụng ở mức từ 5% vốn tự có trở lên

- Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không quá 15% vốn tự có

- Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng, Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có

- Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàng

có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có của tổ chức tín dụng

- a) Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một doanh nghiệp

mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát không được vượt quá 10% vốn tự có của tổ chức tín dụng

- b) Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với các doanh nghiệp

mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát không được vượt quá 20% vốn tự có của tổ chức tín dụng

- Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng không có bảo đảm cho công ty trực thuộc là công ty cho thuê tài chính với mức tối đa không được vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng nhưng phải đảm bảo các hạn chế quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này

- Tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng cho công ty trực thuộc là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán

- Tổ chức tín dụng không được cho vay không có bảo đảm để đầu tư, kinh doanh chứng khoán

- Tổng dư nợ cho vay và chiết khấu giấy tờ có giá đối với tất cả khách hàng nhằm đầu tư, kinh doanh chứng khoán không vượt quá 20% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng

- Tổng dư nợ cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá 30% vốn tự

có của công ty cho thuê tài chính.( Ở đây là Ngân hàng )

3 Tỷ lệ về khả năng chi trả

- Tỷ lệ tối thiểu bằng 15% giữa tổng tài sản “Có” thanh toán ngay và tổng Nợ phải trả

- Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “Có” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể

từ ngày hôm sau và tổng tài sản “Nợ” đến hạn thanh toán trong 7 ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau đối với đồng Việt Nam, đồng Euro, đồng Bảng Anh và đồng đô la Mỹ (bao gồm

Trang 9

đồng đô la Mỹ và các ngoại tệ khác còn lại được quy đổi sang đô la Mỹ theo tỷ giá liên ngân hàng cuối mỗi ngày)

Các tỷ lệ này được theo dõi tại bảng theo dõi và quản lý các tỷ lệ khả năng chi trả tại phụ lục 2 của thông tư 13

-Nếu các NHTM gặp khó khăn trong khả năng chi trả NHTM cần báo cáo ngay cho NHNN NHNN sẽ thực hiện những biện pháp cần thiết đểkhắc phục khó khăn cho những ngân hàng này.( như cho vay tái CK)

4 Giới hạn góp vốn, mua cổ phần

- Mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong một doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự

án đầu tư, tổ chức tín dụng khác không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác đó, trừ trường hợp góp vốn, mua cổ phần thành lập công ty trực thuộc theo quy định của pháp luật

- Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng:

a) Trong tất cả công ty trực thuộc tối đa không quá 25% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của tổ chức tín dụng

b) Trong tất cả các doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác và góp vốn, mua cổ phần của công ty trực thuộc của tổ chức tín dụng không được vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của tổ chức tín dụng, trong đó tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng vào các công ty trực thuộc không được vượt quá tỷ lệ quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều này

- Tổ chức tín dụng góp vốn, mua cổ phần vượt quá tỷ lệ quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận trước bằng văn bản và đáp ứng đầy

đủ các điều kiện sau đây:

a) Tổ chức tín dụng chấp hành đầy đủ các quy định khác về bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, có tỷ lệ nợ xấu (NPL) từ 3% trở xuống và hoạt động kinh doanh có lãi liên tục trong ba (03) năm liền kề trước đó

b) Là khoản góp vốn, mua cổ phần vào các tổ chức tín dụng khác nhằm hỗ trợ tài chính cho tổ chức tín dụng gặp khó khăn về tài chính, có nguy cơ mất khả năng thanh toán, ảnh hưởng đến an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng

5 Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động

Đối với ngân hàng: 80%

IV. Thực trạng về nguồn vốn và hoạt động huy động vốn của các NHTM:

1. Tình hình huy động vốn:

a. Chính sách huy động vốn của NHNN:

Trang 10

(Chỉ thị số 04/CT-NHNN về việc thực hiện các giải pháp tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, góp phần ổn định giá cả và kinh tế vĩ mô trong những tháng cuối năm 2010 và đầu năm 2011)

Cần tập trung thực hiện 7 giải pháp chủ yếu:

Thứ nhất, tăng cường huy động vốn ở trong nước và nước ngoài thông qua các giải pháp

phù hợp quy định của pháp luật; không áp dụng các hình thức cạnh tranh không lành mạnh

để ổn định thị trường tiền tệ Kiểm soát tốc độ, quy mô và cơ cấu cho vay để cân đối với vốn huy động; thực hiện quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động

Thứ hai, đáp ứng các nhu cầu vay vốn có hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp và nông

thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhu cầu vốn để cung ứng hàng hoá và dịch vụ thiết yếu phục vụ cho sản xuất, tiêu dùng trong những tháng cuối năm 2010 và đầu năm 2011

Đối với các tỉnh miền Trung bị thiệt hại do bão, lũ xem xét thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi tiền vay theo quy định của pháp luật và xem xét cho vay mới để khôi phục, phát triển sản xuất, kinh doanh

Thứ ba, kiểm soát chặt chẽ huy động và cho vay bằng ngoại tệ, không để rủi ro thanh

khoản và lãi suất bằng ngoại tệ, tỷ giá; cho vay bằng ngoại tệ theo đúng quy định của pháp luật

Thứ tư, ấn định lãi suất huy động và cho vay, tỷ giá mua bán ngoại tệ phù hợp với quy

định của pháp luật, chủ trương của Chính phủ

Thứ năm, cung cấp đúng và kịp thời các thông tin về hoạt động kinh doanh của tổ chức

tín dụng theo quy định của pháp luật và yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước

Thứ sáu, xử lý kịp thời các trường hợp cho vay hỗ trợ lãi suất chưa đúng quy định của

pháp luật, theo yêu cầu của Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng, phát hiện của tổ chức tín dụng

Thứ bảy, khẩn trương đầu tư, nâng cấp công nghệ, nâng cao khả năng quản trị và điều

hành hoạt động kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật và yêu cầu an toàn, hiệu quả

b. Huy động vốn trong nước:

Trong thời gian vừa qua, lãi suất huy động vốn và cho vay của các ngân hàng không ngừng thay đổi, thậm chí là từng giờ Có một vấn đề là tâm lý của người gửi tiền không ổn định, sự thay đổi lãi suất đã kéo theo một hệ quả là lượng tiền mặt huy động của các ngân hàng tăng giảm thất thường Khi lãi suất huy động của ngân hàng A tăng lên thì lượng tiền cùng với số lượng người gửi tăng theo, và khi lãi suất huy động của ngân hàng B cao hơn thì một lượng lớn tiền mặt được rút khỏi ngân hàng A và được gửi sang ngân hàng B Khách hàng đi gửi tiền thường không hiểu rõ các điều kiện ràng buộc của các ngân hàng nên khi rút tiền không đúng kỳ hạn đã phải hưởng mức lãi suất thấp không như kỳ vọng, dẫn đến tâm lý thiếu lòng tin vào các ngân hàng Tuy tiền lãi mất đi đối với một khách

Ngày đăng: 24/10/2016, 21:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w