Huy động vốn của ngân hàng phát triển NEU
Trang 11 Huy động vốn của NHPT và những nét đặc trưng
1.1 Yêu cầu đối với nguồn vốn hoạt động của NHPT
Nguồn vốn của ngân hàng phải đảm bảo được mối liên hệ về kỳ hạn và lãi suất Do lãi suất và kỳ hạn của nguồn bị tác động bởi kỳ hạn và khả năng sinh lời của dự án được tài trợ và hoạt động chủ yếu của ngân hàng là tài trợ cho các dự án dài hạn có khả năng sinh lời thấp hoặc rủi ro cao nên NHPT phải có nguồn vốn hỗn hợp với lãi suất tương đối thấp, thời gian sử dụng dài và chấp nhận rủi ro Chính vì vậy đòi hỏi ngân hàng phải nỗ lực để có thể huy động được nguồn vốn đáp ứng yêu cầu trong điều kiện thị trường vốn trung và dài hạn kém phát triển, thu nhập của dân cư thấp như hiện nay
1.2 Đặc trưng của hoạt động huy động vốn
* Các hình thức huy động:
- Huy động tiền gửi trên thị trường: huy động cả tiền gửi ngắn, trung và dài hạn nhưng chủ yếu là tiền gửi trung và dài hạn
+ Việc huy động chủ yếu là thông qua mở tài khoản thanh toán phục vụ cho các dự án hoặc các doanh nghiệp vay theo dự án
+ Các khoản tiền gửi của dân cư chủ yếu là tiết kiệm trung và dài hạn lãi suất cao và kỳ hạn dài Hình thức huy động vốn tuy ít đa dạng song ngân hàng khuyến khích các nguồn trung và dài hạn bằng cách tăng tính thanh khoản của các khoản tiền gửi
- Phát hành giấy nợ trung và dài hạn: Trái phiếu được các tổ chức kinh tế và dân cư ưa chuộng vì nó
có tính an toàn do được Chính phủ bảo lãnh, dễ chuyển đổi, lãi suất hấp dẫn
Nguồn tiết kiệm trung và dài hạn của dân cư còn thấp do đất nước còn nghèo nên ngân hàng phải trả lãi rất cao Vì vậy nó kém thích hợp với những dự án rủi ro cao hoặc sinh lời thấp nên ngân hàng phải kết hợp với các nguồn ưu đãi khác
- Huy động các quỹ của nhà nước: đây có thể là một phần thu của ngân sách nhà nước hoặc phần viện trợ không hoàn lại từ bên ngoài hoặc phát hành trái phiếu Chính phủ được chuyển cho NHPT Nguồn vốn này có vai trò rất quan trọng, nó tạo ra nguồn vốn hỗn hợp với chi phí bình quân thấp hơn các NHTM thể hiện ở lãi suất hoặc gia tăng khả năng chấp nhận rủi ro Quy mô của quỹ này quyết định qui mô cho vay đối với các dự án phát triển và có tỷ lệ tương đối cao trong tổng nguồn ngân hàng ở các nước phát triển
- Huy động các khoản tài trợ từ các tổ chức khác: các khoản này có được là do sự trùng hợp về mục tiêu hoạt động kinh-tế xã hội nguồn tài trợ này thường không hoàn trả, được trợ giúp về mặt kỹ thuật Tuy nhiên, các tổ chức vẫn có những mục tiêu riêng nên vẫn còn những khó khăn trong việc kêu gọi sự tài trợ
- Vay nước ngoài: song phương, đa phương hoặc từ các tổ chức tài chính phát triển như vay thương mại, phát hành giấy nợ ra thị trường nước ngoài, tiếp cận các khoản vay ưu đãi của các tổ chức tài chính
có mục tiêu cho vay ưu đãi như WB,ADB,…Tuy nhiên, nguồn vay này chịu nhiều nhân tố ảnh hưởng của thị trường tài chính quốc tế
- Tài trợ từ Ngân hàng Trung ương: như mua lại các khoản nợ, bảo lãnh, cấp vốn,…
Trang 2- Vốn và quỹ của ngân hàng: vốn cấp từ Nhà nước, cơ quan phát triển, các tổ chức tài chính phát triển, vốn cổ phần
* Đặc trưng huy động vốn của NHPT:
Từ các hình thức huy động vốn của ngân hàng ta có thể nhận thấy những nét đặc trưng về việc huy động vốn như sau:
-NHPT huy động từ nhiều nguồn khác nhau trong đó có nguồn cấp của ngân sách nhà nước cho các
dự án phát triển , các khoản vay ưu đãi từ các tổ chức tài chính như WB,ADB … Tạo ra các nguồn vốn hỗn hợp có lãi suất thấp chính vì vậy lãi suất cho vay thấp hơn của các ngân hàng thương mại
-NHPT tập trung huy động các nguồn vốn trung và dài hạn
-Nguồn huy động lớn nhất từ phát hành trái phiếu vì thời hạn dài tính an toàn cao
-Do mục tiêu phi lợi nhuận nên các nguồn vốn huy động của NHPT không phải dự trữ bắt buộc, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được Chính phủ bảo lãnh khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật
2 Giải pháp gia tăng nguồn vốn huy động
Mục tiêu :tìm kiếm các biện pháp gia tăng nguồn vốn với lãi suất thấp và kì hạn dài và ổn định là điều kiện sống còn của ngân hàng phát triển Chiến lược nguồn vốn của ngân hàng phát triển là khai thác triệt để các nguồn tài trợ từ chính phủ, các tổ chức tài chính, tiết kiệm trung và dài hạn của dân cư
Thứ nhất, liên kết các dự án trong nước và các nhà tài trợ nước ngoài sẽ mang lại hiệu quả cao trong
việc huy động vốn của NHPT
Các nguồn tín dụng ưu đãi có lãi suất tương đối thấp, thời hạn sử dụng thường là dài hạn , có thể có thời gian ân hạn , có thể kèm theo chuyển giao công nghệ ,chuyên gia ,bảo hành đối với thiết bị cung cấp thông tin ….tuy nhiên phần lớn các tín dụng ưu đãi thường kèm theo các điều khoản kinh tế, chính trị khác nhau mà NHPT không dễ dàng thực hiện được một số nhà tài trợ yêu cầu người nhận phải thuê lại chuyên gia hoặc mua trang thiết bị của các nước tài trợ hoặc tính toán một số chi phí theo yêu cầu của nhà tài trợ những yếu tố này sẽ làm cho nguồn vốn đắt hơn hoặc hiệu quả sử dụng thâp đi
Chính vì vậy đòi hỏi ngân hàng phải am hiểu và rất nhạy bén với những yêu cầu mà nhà tài trợ đưa
ra Để thực hiện được điều này ngân hàng phát triển cần:
+Nghiên cứu nhà tài trợ :mục tiêu tài trợ ,hình thức và điều kiện tài trợ , tính toán mức độ ưu đãi trên cơ sở các điều kiện rằng buộc
+Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới nhà tài trợ ,từ đó dẫn tới hoạt động tài trợ của họ
+Tìm kiếm các dự án trong nước phù hợp vơi từng nhà tài trợ
Thứ hai, ngân hàng phải thường xuyên kêu gọi các hoạt động tài trợ:
+Xây dựng phương án xin tài trợ , qua đó giải thích các yếu tố như các bước thực hiện , đối tác nhân sự ,uy tín và năng lực ngân sách , kết quả của các dự án +Gặp nhà tài trợ để thuyết trình tính cấp thiết của dự án , kế hoạch thực hiện , chi phí và ngân sách… thu hút các nhà tài trợ
Thứ ba, ngân hàng xác lập mối quan hệ giữa chính phủ với ngân hàng trong tài trợ dự án Đối với
một số dự án ngân hàng có thể yêu cầu chính phủ cấp vốn hay cho vay một phần
Trang 3Thứ tư, ngân hàng cần có biện pháp dự báo các nhân tố ảnh hưởng đên tiết kiệm trung và dài hạn để
ứng phó kịp thời.Các diễn biến phức tạp của thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán , bảo hiểm ảnh hưởng tới tiết kiệm trung và dài hạn chính vì vậy ngân hàng cần dự báo kịp thời
3 Liên hệ hình thức huy động vốn của Ngân hàng phát triển( VDB) và Ngân hàng Chính sách xã hội(VBSP):
3.1 Ngân hàng VDB:
3.1.2 Một số hình thức huy động vốn của Ngân hàng Phát triển:
+> Huy động từ tiền gửi trên thị trường: Ngân hàng phát triển Việt Nam là tổ chức tài chính thuộc
100% sở hữu Chính phủ nên không nhận tiền gửi từ dân cư, NHPT chỉ nhận tiền gửi của một số tổ chức như : Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, một số tổ chức kinh tế
+ Phát hành trái phiếu: Kể từ khi chuyển từ Quỹ hỗ trợ phát triển sang ngân hàng phát triển Việt
Nam , VDB huy động thêm được 180 nghìn tỷ đồng, tương đương 9,6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chủ yếu thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu VDB do Chính phủ bảo lãnh Cụ thể số vốn huy động được từ từ trái phiếu chính phủ được thể hiện ở bảng sau:
SỐ VỐN HUY ĐỘNG QUA CÁC NĂM
Đơn vị: tỷ đồng
9
36.36 9
40.38 2
29.00 0
48.37 0
Phát hành trái phiếu CP 10.05
0
24.09 5
26.64 7
7
Tỷ lệ trái phiếu/vốn huy
động
Nguồn : Chính phủ vn
Ví dụ : Trong năm 2011, VDB đã huy động số vốn bằng việc phát hành phiếu chính phủ 2 lần như sau:
+> Lần 1: Đấu thầu ngày 10/6/2011, số vốn đấu thầu là 3.500 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ bảo
lãnh nhưng có 2.165 tỷ đồng trái phiếu được chào bán thành công (61,28% khối lượng chào bán)
Lần này, VDB chào bán 2.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 5 năm và 1.500 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn
10 năm
Đối với trái phiếu kỳ hạn 5 năm, có 9 thành viên tham gia, lãi suất trúng thầu thành công là 12,7%/năm (cao hơn lãi suất trúng thầu trái phiếu kỳ hạn 5 năm do Kho bạc Nhà nước phát hành ngày 9/6 0,05%), khối lượng trúng thầu 1.820 tỷ đồng/2.000 tỷ đồng chào bán
Đối với trái phiếu kỳ hạn 10 năm, có 6 thành viên tham gia, lãi suất trúng thầu 12%/năm, giảm 0,2%/năm so với lãi suất trúng thầu phiên giao dịch đầu tuần (7/6), khối lượng trúng thầu 325 tỷ đồng/1.500 tỷ đồng chào bán
+> Lần 2: là ngày 4/10/2011, VDB gọi thầu 3,500 tỷ đồng, cũng chia làm 2 gói thầu Gói thứ nhất
kỳ hạn 3 năm trị giá 1,000 tỷ đồng sẽ được phát hành vào ngày 04/10/2011 và đáo hạn vào ngày
Trang 404/10/2014 Gói thứ hai kỳ hạn 5 năm trị giá 2,500 tỷ đồng được phát hành vào ngày 04/10/2011 và đáo hạn vào 04/10/2016 Cái này mới gọi thầu chưa có kết quả
+>Nguồn vốn huy động từ vay các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính, và NSNN
: đv:tr.đ
Vay NSNN, TTCTC, TCTD 21.386.609 22.290.081
Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2009 của VDB
So với các nguồn vốn khác thì đây là nguồn chiếm tỷ trọng cao nhất
+> Một nguồn vốn khác chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu nguồn của VDB là quản lý vốn ODA
và các quỹ quay vòng của Chính phủ với con số khoảng 9,5 tỷ USD Là cơ quan thực hiện cho vay lại của
Chính phủ lớn nhất hiện nay, với tổng số vốn quản lý chiếm khoảng 60% tổng nguồn ODA cho vay lại của
cả nước Sau 5 năm hoạt động, song hành cùng sự phát triển của đất nước, hoạt động quản lý và cho vay lại vốn ODA đã trở thành một trong những nghiệp vụ chính và quan trọng của VDB với nhiều chương trình, dự án trong các lĩnh vực như hạ tầng giao thông, cấp thoát nước, chế biến và xử lý rác thải, sử dụng năng lượng hiệu quả, năng lượng tái tạo, cải tạo lưới điện… Những chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn ODA đã và đang phát huy hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam