CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BĐTD KẾT HỢP MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC VỚI TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ .... DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU Bảng 1: Tóm tắt cách tiến hà
Trang 1LỜI CẢM ƠN!
Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được gửi tới cô giáo
hướng dẫn - Thạc sĩ: Nguyễn Thị Huệ - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo
để khóa luận của tôi được hoàn thành
Đồng thời, tôi cũng nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của Ban Giám
Hiệu trường Đại học Tây Bắc, các thầy cô giáo đặc biệt là tổ Phương Pháp Địa
lí, ban Chủ nhiệm khoa Sử - Địa, phòng Quản lý Khoa học và Quan hệ Quốc tế, Thư viện Trường Đại học Tây Bắc
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới thầy, cô giáo và các em học sinh lớp 11A1, 11A2, 11A3 và 11A4 trường THPT Tân Lạc - Hòa Bình đã ủng hộ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, tập thể lớp K52 - ĐHSP Địa lí và người thân đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm khóa luận
Trong quá trình nghiên cứu với thời gian và khả năng còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu xót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2015
Người thực hiện
Khà Thị Loan
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Giới hạn nghiên cứu 3
6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
6.1 Trên thế giới 3
6.2 Ở Việt Nam 6
7 Phương pháp nghiên cứu 9
7.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu 9
7.2 Phương pháp khảo sát điều tra 9
7.3 Phương pháp lập bảng thống kê, biểu đồ 9
7.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 10
8 Đóng góp khoá luận 10
9 Cấu trúc khoá luận 10
B NỘI DUNG Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP BĐTD KẾT HỢP MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC VỚI TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11
1.1 Cơ sở lí luận 11
1.1.1 Những vấn đề chung về đổi mới PPDH 11
1.1.1.1 Sự cần thiết phải đổi mới PPDH 11
1.1.1.2 Đổi mới PPDH theo hướng tích cực 13
1.1.1.3 Định hướng và giải pháp đổi mới PPDH Địa lí ở trường phổ thông 14
1.1.2 Khái quát chung về kĩ thuật dạy học 16
1.1.2.1 Khái niệm 16
1.1.2.2 Các dạng kĩ thuật dạy học tích cực 17
Trang 31.1.3 Khái quát chung về BĐTD 17
1.1.3.1 Khái niệm về BĐTD 17
1.1.3.2 Ý nghĩa của việc kết hợp kĩ thuật dạy học tích cực với BĐTD trong dạy học Địa lí 11 18
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 20
1.2.2 Đặc điểm chương trình và SGK Địa lí lớp 11 THPT 20
1.2.2.1 Mục tiêu chương trình môn Địa lí lớp 11 20
1.2.2.2 Cấu trúc 21
1.2.2.3 Nội dung 21
1.2.3 Đặc điểm tâm sinh lí Học sinh lớp 11 23
1.2.3.1 Đặc điểm chung 23
1.2.3.2 Đặc điểm tâm lý và trình độ nhận thức của HS lớp 11 - THPT 24
1.2.4 Thực trạng việc sử dụng BĐTD trong dạy học Địa lí ở trường THPH 25
CHƯƠNG 2 KẾT HỢP BĐTD VỚI MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC VỚI TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 27
2.1 Kĩ thuật phòng tranh kết hợp với BĐTD 27
2.1.1 Khái niệm kĩ thuật phòng tranh 27
2.1.2 Cách kết hợp kĩ thuật phòng tranh với BĐTD 27
2.1.3 Một số lưu ý trong việc kết hợp kĩ thuật phòng tranh với BĐTD 32
2.2 Kĩ thuật khăn phủ bàn với BĐTD 33
2.2.1 Khái niệm khăn phủ bàn 33
2.2.2 Cách kết hợp khăn phủ màn với BĐTD 33
2.2.3 Một số lưu ý khi tổ chức dạy học theo kĩ thuật khăn phủ màn kết hợp BĐTD 39
2.3 Kĩ thuật mảnh ghép 39
2.3.1 Khái niệm 39
2.3.2 Cách kết hợp kĩ thuật mảnh ghép với BĐTD 40
2.3.3 Một số lưu ý khi kết hợp kĩ thuật mảnh ghép với BĐTD 44
2.4 Thiết kế một số giáo án cụ thể 46
Trang 4CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 47
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 47
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 47
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 47
3.2 Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm 48
3.3 Tổ chức thực nghiệm 48
3.3.4 Đánh giá kết quả điều tra khảo sát 49
3.3.4.1 Kết quả điều tra khảo sát 49
3.3.4.2 Kết quả điều tra đánh giá 54
C KẾT LUẬN 57
1 Kết quả đạt được 57
2 Một số tồn tại 57
3 Kiến nghị, đề xuất 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1: Tóm tắt cách tiến hành BĐTD kết hợp với kĩ thuật mảnh ghép 42 Bảng 2: Nhiệm vụ của các thành viên trong nhóm khi tiến hành BĐTD kết hợp với kĩ thuật mảnh ghép………46 Bảng 3: Kết quả phiếu điều tra ý kiến học sinh sau thực nghiệm bằng phương pháp BĐTD kết hợp một số KTDH tích cực………52 Bảng 4: Tổng hợp kết quả phiếu điều tra tình hình sử dụng BĐTD kết hợp một
số KTDH tích cực trong dạy học ở trường phổ thông 54
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1: Não người và cách tiếp nhận các luồng thông tin 4 Hình 2: Tony Buzan giới thiệu về BĐTD 5 Hình 3: BĐTD nội dung các nhóm tìm hiểu bài 9 - Nhật Bản, tiết 1 - tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế, trang 74 - 76 28 Hình 4: BĐTD đặc điểm và đánh giá về vị trí địa lí của Nhật Bản, bài 9 - Nhật Bản, tiết 1 - tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế, trang 74 - 76 29 Hình 5: BĐTD đặc điểm và đánh giá điều kiện tự nhiên của Nhật Bản - Bài 9 Nhật Bản - tiết 1, trang 74 - 76 32 Hình 6: BĐTD kết hợp với kĩ thuật khăn phủ bàn 34 Hình 7: BĐTD hoàn chỉnh về một số vấn đề tự nhiên của Châu Phi, bài 5 - Một
số vấn đề của Châu lục và khu vực, tiết 1 -Một số vấn đề của Châu Phi, trang 19
- 20 38 Hình 8: BĐTD về “Đặc điểm tự nhiên Đông Nam Á lục địa” trong bài 11 42 Khu vực Đông Nam Á - tiết 1, trang 98 - 99 42 Hình 9: BĐTD về “Đặc điểm tự nhiên Đông Nam Á biển đảo” trong bài 11- Khu vực Đông Nam Á - tiết 1, trang 98 - 99 42 Hình 10: BĐTD tổng thể về “Đặc điểm tự nhiên của khu vực Đông Nam Á” trong bài 11- Khu vực Đông Nam Á - tiết 1, trang 98 – 99 43
Trang 7Hình 11: BĐTD về “Đánh giá điều kiện tự nhiên của khu vực Đông Nam Á” trong bài 11 - Khu vực Đông Nam Á - tiết 1, trang 100 44
Trang 8A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, giáo dục là một trong những vấn đề đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm Ở nước ta cũng vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định: giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Xuất phát từ những tư tưởng cơ bản của Đảng về giáo dục và đào tạo chúng ta không ngừng cải tiến chất lượng dạy và học từ đó nâng cao chất lượng giáo dục Thông qua đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam với các biện pháp cụ thể là: đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá,
xã hội hoá”, phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học Hội nghị lần thứ VI của ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X, trong “chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010” các văn kiện đều nhấn mạnh “đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục chuyển từ truyền đạt tri thức thụ động thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người đọc chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách
hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự học của Học sinh (HS)
Trong những thập kỉ gần đây, thế giới đã tiếp cận chuyển hoá các phương pháp khoa học, thành tựu của kĩ thuật, công nghệ mới thành phương pháp đặc thù, trong đó việc tiếp cận và sử dụng phương pháp dạy học (PPDH) bằng bản
đồ tư duy (BĐTD) là một trong những hướng có nhiều triển vọng BĐTD là một PPDH khá mới chưa được áp dụng rộng rãi trong dạy học Địa lí ở nước ta Đây
là PPDH chú trọng vào việc phát hiện và xác định các mối quan hệ, cấp bậc của kiến thức Phương pháp này không chỉ dừng lại ở việc cung cấp kiến thức cho HS
mà còn giúp các em xác định mối quan hệ giữa các kiến thức, kiến thức trọng tâm… Đồng thời thông qua phương pháp này còn hướng dẫn cho các em một phương pháp tự học, tích cực, hiệu quả cũng như rèn luyện cho các em những kĩ năng cơ bản cần thiết Qua đó từng bước nâng cao chất lượng dạy và học Địa lí 11 nói riêng và môn học Địa lí trong trường phổ thông nói chung
Trang 9Địa lí là khoa học chú trọng đến nghiên cứu các quy luật, các mối liên hệ giữa các thành phần, các hiện tượng và các mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Địa lí được phát triển theo hai hướng: phân tích - nghiên cứu các thành phần riêng biệt của tự nhiên hay những ngành kinh tế và tổng hợp - nghiên cứu thể tổng hợp tự nhiên hay thể tổng hợp kinh tế - xã hội Các mối quan hệ đó có thể diễn đạt dưới dạng “bản đồ tư duy” để mô hình hoá, hệ thống hoá kiến thức
Do đặc điểm kiến thức của từng bài, từng chương có mối quan hệ chặt chẽ, lôgic, hệ thống nên việc sử dụng “bản đồ tư duy” sẽ có nhiều ưu thế trong việc
“mã hoá” hệ thống, mối quan hệ các kiến thức đó
Thực tiễn cho thấy GV đã nhận thức được sự cần thiết phải tiến hành đổi mới PPDH Tuy nhiên, việc dạy và học các môn học nói chung và Địa lí nói riêng chưa vượt qua quỹ đạo cũ Đó là PPDH theo kiểu truyền thống, HS tiếp thu kiến thức một cách bị động Trong khi đó phương pháp BĐTD là một công
cụ có ưu thế để “mô hình hoá” các mối quan hệ, hệ thống các đối tượng Địa lí lại hầu như không được sử dụng
Vì vậy, để khắc phục thực trạng trên và góp phần đổi mới PPDH theo
hướng tích cực, tôi đã chọn đề tài “Sử dụng BĐTD với một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy dọc Địa lí 11 - THPT (ban cơ bản)” nhằm nâng cao chất
lượng dạy - học và hi vọng khoá luận hoàn thành sẽ là nguồn tư liệu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Địa lí ở trường phổ thông hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng phương pháp BĐTD kết hợp Kĩ thuật dạy học (KTDH) tích cực vào dạy học Địa lí lớp 11 nhằm pháp huy tính tích cực, chủ động của HS qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Địa lí ở các trường phổ thông
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên khoá luận hoàn thành có những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tổng hợp cơ sở lí luận và thực tiễn của việc “sử dụng BĐTD với một số KTDH tích cực trong dạy học Địa lí lớp 11 - THPT”
- Đưa ra phương pháp sử dụng BĐTD kết hợp với một số KTDH tích cực
Trang 10- Thiết kế một hệ thống BĐTD kết hợp với một số KTDH tích cực để phục
vụ dạy học địa lí lớp 11 bằng phần mềm Imindmap (đĩa CD kèm theo)
- Thực nghiệm để đánh giá tính khả thi của đề tài
4 Đối tƣợng nghiên cứu
Khoá luận tập trung vào việc nghiên cứu sử dụng BĐTD kết hợp với một số KTDH tích cực (kĩ thuật phòng tranh, khăn phủ bàn, mảnh ghép) trong dạy học Địa
lí lớp 11 - THPT (ban cơ bản)
5 Giới hạn nghiên cứu
- Về thời gian: khoá luận được thực hiện từ tháng 9/2014 đến tháng 5/2015
- Về không gian: khoá luận được nghiên cứu tại trường Đại học Tây Bắc và thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Tân Lạc
- Về nội dung: đưa ra phương pháp sử dụng BĐTD kết hợp với một số KTDH tích cực
6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
6.1 Trên thế giới
Về mặt lịch sử, lí thuyết BĐTD được Tony và Barry Buzan giới thiệu vào những năm 70 của thế kỉ XX BĐTD chính thức được giới thiệu với thế giới lần đầu tiên vào mùa xuân năm 1974 với ấn bản của cuốn đi trước được mang tên
“Sử dụng trí tuệ của bạn” (Use your head) BĐTD là một công cụ hỗ trợ tư duy
hiện đại một kĩ năng sử dụng bộ não mới mẻ Đó là một kĩ thuật hình họa, một dạng bản đồ, kết hợp giữa từ ngữ, đường nét, màu sắc tương thích với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não
BĐTD là một công cụ tổ chức tư duy được tác giả Tony Buzan (Anh) nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ biến rộng khắp thế giới Tony Buzan sinh năm
1942, là một giáo sư người Anh, chuyên gia hàng đầu thế giới về nghiên cứu hoạt động của bộ não và là cha đẻ của Mind Map Ông hiện là tác giả của 92 đầu sách, được dịch trên 30 thứ tiếng, xuất bản trên 125 quốc gia Ông cũng là tác
giả của quyển sách nổi tiếng về BĐTD “How to mind map” và đã được dịch sang tiếng Việt với tên gọi “Lập BĐTD” Theo triết lý của Tony Buzan thì
BĐTD được hiểu là một cách mở ra sức mạnh tư duy, tạo ra những đột phá
Trang 11trong suy nghĩ Buzan nghiên cứu chuyên sâu về bộ não, trí nhớ, tìm ra quy luật khi xây dựng BĐTD gồm nhiều nhánh, giúp bộ não ghi chép các sự kiện một cách hệ thống, giúp luyện tập trí não Tony Buzan dựa vào quy luật phát triển, tiếp nhận thông tin của bộ não: bán cầu não trái và bán cầu não phải có cách ghi nhớ thông tin khác nhau (bán cầu não trái xử lí các thông tin logic, con số, đường nét, từ ngữ, phân tích,…; bán cầu não phải xử lí thông tin về tưởng tượng, màu sắc, không gian, cấu trúc, nhịp điệu,… của đối tượng) Qua việc nghiên cứu đó, ông đã tạo ra một phương thức, công cụ của tư duy là BĐTD
Hình 1: Não người và cách tiếp nhận các luồng thông tin [3]
Phương pháp tư duy của ông được dạy và sử dụng ở khoảng 500 tập đoàn, công ty hàng đầu thế giới; hơn 250 triệu người sử dụng phương pháp Mind Map của Tony Buzan; khoảng hơn 3 tỷ người đã từng xem và nghe chương trình của ông Năm 2007, ông đã sang Việt Nam và nói về đề tài nghiên cứu của mình và nhận được nhiều sự quan tâm từ phía độc giả Việt Nam
Trang 12Hình 2: Tony Buzan giới thiệu về BĐTD [2]
Mỗi năm trôi qua số lượng người sử dụng BĐTD mở rộng và lập BĐTD tăng lên theo cấp số nhân Người ta phỏng tính hiện nay có khoảng hơn 25 triệu người sử dụng BĐTD trên khắp thế giới và họ đang thực hành kĩ thuật này trên mọi quốc gia BĐTD được ứng dụng trên nhiều lĩnh vực: lập kế hoạch, thuyết trình, hội thảo, dạy học…
Từ năm 1975 Joyce Wycoff đã kết hợp chặt chẽ với Tony Buzan để phát triển BĐTD thành một công cụ đào tạo tư duy hiệu quả và có logic Trong cuốn
“Mindmapping Ứng dụng BĐTD”, J.Wycoff đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể
trong hành tình khám phá khả năng của bộ não, khám phá bản thân đồng thời cung cấp những gợi mở thiết thực, có thể áp dụng tức thì giúp chúng ta nghi nhớ, thuyết trình, học tập, lập kế hoạch… trong công việc cũng như trong cuộc sống hằng ngày bằng cách lập BĐTD
Sau này nhiều nhà khoa học và GV qua nghiên cứu lí thuyết và kiểm nghiệm thực tiễn đã nhận thấy rõ hiệu quả lên lớp khi dạy học bằng BĐTD như
Luc De Brabandeer đã đưa ra cuốn sách “sắp xếp ý tưởng với BĐTD” để giúp
sắp xếp các ý tưởng trong việc đưa ra những quyết định đúng đắn, quản lí công việc hằng ngày, ghi chú có hiệu quả, quản lí các dự án lập BĐTD bằng máy tính
Tronng cuốn “Phương pháp học tập siêu tốc” của Bobbi Deporter và Mike
Trang 13Hernaki và cuốn “Tôi tài giỏi bạn cũng thế” của Adam khoo cũng đã dạy cách
sử dụng BĐTD trong học tập để đạt được hiệu quả cao, giúp tăng cường khả năng nhớ bài học cho HS Những tài liệu này đã chứng minh rằng sự ứng dụng lí thuyết BĐTD vào quá trình học là hoàn toàn hợp lí và lí thuyết BĐTD có thể ứng dụng vào tất cả các cấp học, môn học
Như vậy BĐTD đã trở thành một phương pháp chung của nhiều ngành khoa học khác nhau Trên thế giới xu hướng này ngày càng thu hút được sự chú ý không phải chỉ đông đảo các nhà khoa học, nhà chuyên môn mà còn lôi cuốn cả được sự quan tâm của nhiều nhà sư phạm, phụ huynh và các em HS
6.2 Ở Việt Nam
Đổi mới PPDH là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với nền giáo dục Việt Nam Việc tiếp cận PPDH bằng BĐTD là một trong những hướng có nhiều triển vọng nhưng người Việt Nam mới biết đến BĐTD Đến nay việc sử dụng BĐTD và kết hợp với những KTDH tích cực khác để dạy học vẫn chưa được ứng dụng ở diện rộng và chưa thực sự trở thành PPDH phổ biến Đặc biệt vận dụng vào dạy học môn Địa lí ở nước ta còn chưa được phổ biến và gần như quá ít
Giữa lúc cả xã hội bức xúc với việc “đọc - chép” và thói quen “học vẹt”
của nhiều HS thì việc ứng dụng BĐTD cùng với các PPDH tích cực khác đã đem lại rất nhiều lợi ích Tiến sĩ Trần Đình Châu và Tiến sĩ Đặng Thị Thu Thủy đã nghiên cứu một cách kĩ lưỡng và tham mưu cùng với bộ giáo dục và đào tạo đưa thành chuyên đề ứng dụng BĐTD hỗ trợ đổi mới PPDH tới các cán bộ quản lí và GV
Trong ba năm 2011 - 2013, Tiến Sĩ Trần Đình châu và Tiến Sĩ Đặng Thị Thu Thủy cùng các cán bộ nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Giáo dục Việt Nam, dự án Phát triển Giáo dục kết hợp với Vụ Giáo dục Trung học và Cục Nhà giáo của bộ Giáo dục và đào tạo và Sở Giáo dục và đào tạo các tỉnh đến các vùng miền của đất nước để nghiên cứu và nhân rộng dần phương pháp mới này với hi vọng sẽ giúp HS thoát khỏi lối học vẹt, đóng góp phần mình vào công việc chung của ngành giáo dục Trên 30 bài báo khoa học cùng với 4 cuốn sách:
Trang 14“ Dạy tốt - học tốt các môn học bằng BĐTD’’ dùng cho GV và HS từ lớp 4 đến lớp 12, “Thiết kế BĐTD dạy - học môn Toán’’ và “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học’’ của hai Tiến sĩ Trần Đình Châu và Tiến sĩ Đặng Thị Thu Thủy do nhà xuất bản giáo dục phát hành đã thu hút mạnh được sự quan tâm của các cấp quản lí giáo dục và đội ngũ các thầy cô giáo, phụ huynh và các em HS Nhận thấy những hiệu quả khi sử dụng BĐTD vào dạy học, đã có một số đề tài viết về BĐTD như: “củng cố kiến thức bài học bằng BĐTD” - Phan Thị Mộng Thu, Trường THPT Đoàn Kết; “sử dụng BĐTD trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông” - Nguyễn Chí Thuận, Trường THPT Dĩ An; “sử dụng BĐTD
- một biện pháp hỗ trợ HS học tập môn Toán” - Trần Đình Châu… và một số bài báo viết về đề tài này Trong tất cả các đề tài cũng như bài báo viết về việc sử dụng BĐTD trong dạy học đều cho thấy những hiệu quả do BĐTD đem lại trong dạy học, và góp phần quan trọng vào đổi mới phương pháp dạy và học Phần lớn các nghiên cứu về BĐTD vào dạy học ở nước ta mới dừng lại ở các bài báo, sáng kiến kinh nghiệm trong một số môn học như: Toán học, Lịch sử, Sinh học, Ngữ văn và các bài báo, sáng kiến kinh nghiệm mới chỉ tìm hiểu ở mức độ cơ bản về mặt lí luận và đưa vào ứng dụng vào một số bài học cụ thể Trong các đề tài đã viết về BĐTD thì đề tài: “sử dụng BĐTD trong dạy học Lịch Sử ở trường phổ thông” của Nguyễn Chí Thuận đã có những nghiên cứu khá chi tiết Tác giả
đã tìm hiểu về thực trạng và giải pháp trong dạy học với BĐTD, giới thiệu khái quát về BĐTD cũng như nguyên lý và ứng dụng BĐTD trong dạy học và giới thiệu một số phần mềm tạo BĐTD, tiến trình một tiết dạy theo BĐTD Tác giả
đã tập trung phần lớn vào nhấn mạnh ưu điểm của BĐTD Tuy nhiên, về mặt lí luận và tiến trình tiết học với BĐTD còn khá sơ sài, chưa đi sâu phân tích được khả năng kết hợp của phương pháp BĐTD với các phương pháp, phương tiện dạy học khác cũng như tính linh hoạt của BĐTD vào một tiết học
Năm 2010, ứng dụng BĐTD trong dạy và học đã được triển khai thí điểm tại 355 trường trên toàn quốc Hè 2011, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho tiến hành giảm tải nội dung dạy học từ năm học 2011 - 2012, PPDH bằng BĐTD là một trong năm chuyên đề dạy học tích cực được tập huấn cho 4.000 GV cốt cán
Trang 15bậc Trung học cơ sở cả nước Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển đã khẳng định: toàn ngành nỗ lực giảm tải mạnh mẽ nội dung dạy học theo
5 tiêu chí trên nguyên tắc vẫn phải giữ được mạch kiến thức và tính thống nhất của chương trình Điều đó có nghĩa là giảm tải những nội dung trùng lặp, nhàm chán, không phù hợp nhưng không giảm yêu cầu Muốn vậy, cùng với giảm tải phải tiến hành áp dụng các PPDH tích cực, từng bước chuyển cách dạy và học từ chỗ trang bị kiến thức cho người học sang dạy HS cách tiếp nhận và tìm tòi kiến thức, vận dụng vào thực tế và biến thành kĩ năng của riêng mình Cùng với các PPDH tích cực khác, việc triển khai dạy học bằng BĐTD chính là một công cụ phù hợp mà các trường đang thực hiện để tiến hành giảm tải đạt chất lượng Qua đó ta thấy việc vận dụng lý thuyết BĐTD vào quá trình dạy học ở Việt Nam đã được các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu và đưa vào ứng dụng trong thực tế giảng dạy, những nghiên cứu trên đều khẳng định tác dụng của việc sử dụng BĐTD trong việc nắm vững kiến thức, phát triển tư duy độc lập của HS, phát huy năng lực sáng tạo cho HS khá giỏi và việc nên sử dụng phương pháp này trong dạy và học
BĐTD là một phương pháp giúp HS dễ nhớ để hệ thống, khái quát kiến thức
cơ bản Sau khi đã hệ thống, có thể đi vào chi tiết từng bài Mỗi bài cũng có thể hệ thống lại xem có bao nhiêu nội dung chính, mỗi ý chính có bao nhiêu ý phụ dùng bút màu tô đậm những phần quan trọng hoặc gạch dưới những ý chính BĐTD được sử dụng để hình thành tri thức cho HS, củng cố khắc sâu nội dung kiến thức bài học cho HS, sử dụng trong các khâu của quá trình dạy học Để phát huy được hiệu quả cao khi sử dụng BĐTD phải có sự kết hợp với các PPDH cũng như KTDH tích cực khác Tuỳ từng mức độ, từng bài cụ thể, hình thức và điều kiện dạy học mà phương pháp BĐTD có thể phối hợp linh hoạt với các PPDH cũng như KTDH tích cực khác nhằm giúp HS tự học, biết cách hợp tác trong tự học,
tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức Mặc dù vậy đến nay
sử dụng phương pháp BĐTD kết hợp những KTDH tích cực trong dạy học nói chung và Địa lí nói riêng vẫn chưa được ứng dụng ở diện rộng và chưa trở thành phương pháp phổ biến Vì vậy, để cụ thể hóa phương pháp này trong giảng dạy
Trang 16Địa lí là vấn đề cần được tiếp tục bàn luận, trao đổi Mặt khác trong số các con đường mới đi tới một số giờ dạy học Địa lí chất lượng cao thì BĐTD kết hợp KTDH tích cực cũng là một con đường để đa dạng hóa hoạt động nhận thức và
gây hứng thú cho cả GV và HS
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp này sự kế thừa và phát huy các tài liệu nghiên cứu trước đó của các tác giả mục đích, yêu cầu nghiên cứu về đề tài Dựa vào đó để tiến hành thu thập, phân tích tài liệu từ các nguồn nghiên cứu khác nhau
Các tài liệu cơ sở lí luận bao gồm: các tài liệu về lí luận dạy học Địa lí, phương pháp giảng dạy Địa lí, rèn luyện kĩ năng Địa lí, phương tiện, thiết bị, KTDH tích cực trong dạy học Địa lí
Nghiên cứu các giáo trình Địa lí các châu lục tập I tập II, Địa lí tự nhiên đại cương, nội dung chương trình SGK Địa lí lớp 11, sách GV, thiết kế bài giảng Địa lí lớp 11 để xác định mục tiêu nhiệm vụ, nội dung, cách xây dựng và sử dụng kết hợp các KTDH tích cực với BĐTD cho từng bài, cập nhật mở rộng kiến thức từ các nguồn tư liệu khác nhau qua mạng Internet, phần mềm Freemind, phần mềm ConceptDraw Mindmap 5 Professional, CMP, phần mềm Buzan’s imindmap, imindmap Basic
Nghiên cứu lí thuyết về BĐTD kết hợp với một số KTDH tích cực
7.2 Phương pháp khảo sát điều tra
Đây là phương pháp quan trọng nhằm tìm hiểu thực trạng về việc sử dụng BĐTD với một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Địa lí 11 Trong khóa luận phương pháp này được sử dụng nhờ: thông qua các đợt kiểm tra và thi của
HS trường THPT Tân Lạc, thông qua các giờ dạy và tham khảo ý kiến của GV ở trường THPT Tân Lạc bằng các phiếu câu hỏi
7.3 Phương pháp lập bảng thống kê, biểu đồ
Phương pháp lập bảng thống kê được sử dụng trong khóa luận để xử lí số liệu, so sánh kết quả thực nghiệm của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm, đánh
Trang 17giá kết quả thực nghiệm sư phạm Từ các bảng thống kê đã có, tôi xây dựng biểu
đồ để thể hiện một cách trực quan hơn vấn đề nghiên cứu
7.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm tại THPT Tân Lạc để đưa ra những kết luận chính xác và tăng tính thuyết phục cho khoá luận
Việc kiểm nghiệm thực tiễn các ứng dụng đã giúp cho tôi có thể khẳng định những kết quả và những đóng góp của khoá luận
8 Đóng góp khoá luận
Khoá luận đã đưa ra được cách sử dụng BĐTD với một số KTDH tích cực một cách logic, khoa học
Khoá luận được hoàn thành là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị đối với
GV trong việc giảng dạy theo các phương pháp mới hiện nay
Đồng thời khoá luận sẽ là nguồn tài liệu tham khảo giúp các em HS và các bạn sinh viên thay đổi cách học truyền thống thay vào đó là cách học tư duy logic
9 Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, viết tắt, hình ảnh, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng BĐTD với một số
KTDH tích cực trong dạy học Địa Lí lớp 11
Chương 2: sử dụng BĐTD với một số KTDH tích cực trong dạy học Địa lí lớp 11
Chương 3: thực nghiệm sư phạm
Trang 18B KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BĐTD VỚI MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ
LỚP 11 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Những vấn đề chung về đổi mới PPDH
1.1.1.1 Sự cần thiết phải đổi mới PPDH
Trước những yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) việc đào
tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn mới là điều quan trọng Việt Nam đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu đến năm 2020 sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn lực con người Việt Nam được phát triển cả về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Việc này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông, mà trước hết là việc xác định mục tiêu đào tạo, cách thức đào tạo nói chung đó là một hệ thống phẩm chất và năng lực được hình thành trên nền tảng kiến thức, kĩ năng
đủ và chắc chắn
Sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ khoa học công nghệ thể hiện qua các kiến thức lí thuyết, qua các thành tựu mới và khả năng ứng dụng cao, rộng và nhanh buộc chương trình sách giáo khoa (SGK) và PPDH Địa lí ở trường phổ thông phải luôn được xem xét điều chỉnh phù hợp Học vấn
mà nhà trường phổ thông trang bị không thể thâu tóm được mọi tri thức mong muốn, vì vậy phải coi trọng việc dạy phương pháp học cách đi tới kiến thức loài người trên cơ sở đó mà tiếp tục học suốt đời Xã hội đòi hỏi người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn, đã lĩnh hội ở nhà trường phổ thông mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc lập, khả năng đánh giá các sự kiện, các tư tưởng, các hiện tượng một cách thông minh, sáng suốt khi gặp trong cuộc sống, trong
Trang 19lao động và trong quan hệ với mọi người Nội dung học vấn được hình thành và phát triển trong nhà trường phải góp phần quan trọng để phát triển hứng thú và năng lực nhận thức của HS, cung cấp cho HS những kĩ năng cần thiết cho việc
tự học và tự giáo dục sau này
Để thực hiện các yêu cầu trên của thực tiễn phát triển KT - XH bên cạnh việc đổi mới mục tiêu nội dung chương trình, Thì việc đẩy mạnh đổi mới PPDH là hết sức quan trọng
Thực trạng dạy học Địa lí ở THPT còn nhiều bất cập Từ những năm 90 của thế kỉ XX, cùng với việc đổi mới về mục tiêu, chương trình SGK Địa lí ở cấp THPT theo những định hướng của cải cách giáo dục thì việc đổi mới PPDH Địa lí cũng được chú trọng Tuy nhiên, cho đến nay việc đổi mới PPDH Địa lí diễn ra vẫn còn chậm chạp, chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục Có thể nêu một số nét về bức tranh chung trong dạy học Địa lí hiện nay như sau:
Một số GV Địa lí chưa thực sự thấm nhuần tính cấp thiết, tầm quan trọng, bản chất, phương hướng và cách thức đổi mới PPDH Địa lí, hiểu biết về cơ sở lí luận, thực tiễn của đổi mới PPDH Địa lí còn chưa sâu sắc
Đa số GV vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ hỏi đáp, nặng về thông báo giảng giải kiến thức, nhẹ về phát huy tính tích cực và phát triển tư duy HS, HS tiếp thu kiến thức một cách bị động
Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu dạy theo lớp là chủ yếu Các hình thức dạy học cá nhân, nhóm, ngoài trời chưa được thực hiện hoặc được thực hiện chưa có hiệu quả
Cơ sở vật chất phục vụ dạy học, các phương tiện dạy học còn thiếu và chưa đồng bộ
Việc tạo động cơ học tập đúng đắn cho HS và thực hiện các hình thức khen thưởng động viên khác nhau đối với người học đã không được GV quan tâm một cách thích đáng
Nhìn chung giờ học Địa lí chưa mang lại nhiều hứng thú cho HS ở trường THPT Cách dạy và học như trên không thể đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển xã hội, đòi hỏi của công cuộc đổi mới đất nước Vì vậy, tiếp tục đổi mới
Trang 20một cách mạnh mẽ, có hiệu quả các PPDH Địa lí là một trong những vấn đề quan trọng nhất cần phải được tiếp tục quan tâm và tìm cách giải quyết
1.1.1.2 Đổi mới PPDH theo hướng tích cực
PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì GV phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
Đối với các môn học nói chung và môn Đi ̣a lí nói riêng chương trình SGK đã có sự thay đổi nô ̣i dung đa da ̣ng , kênh hình phong phú hơn so với SGK cũ Điều này đòi hỏi GV phải thay đổi phương pháp giảng da ̣y , tăng cường sử du ̣ng phương tiê ̣n da ̣y ho ̣c nhằm phát huy tí nh tích cực , chủ động, tự giác của HS Viê ̣c sử du ̣ng các phương tiê ̣n da ̣y ho ̣c trực quan là hết sức quan tro ̣ng bởi đă ̣c thù của bộ môn và nhận thức còn hạn chế của nhiều HS Mặt khác, nhiều HS vẫn coi Đi ̣a lí là môn ho ̣c phụ nên chưa quan tâm chú ý và học theo kiểu chống đối Vì vậy, vấn đề đă ̣t ra ở đây là làm sao để HS hứng thú , yêu thích môn ho ̣c
và học tập đạt chất lượng cao hơn
Chúng ta thấy rằng , nhiê ̣m vu ̣ tro ̣ng tâm ở đây chính là ph ải đổi mới phương pháp và sử du ̣ng phương tiê ̣n da ̣y ho ̣c theo hướng tích cực , đầu tư nhiều hơn vào công tác thiết kế bài da ̣y và tổ chức da ̣y ho ̣c trên lớp theo tinh thần tổ chức các hoa ̣t đô ̣ng ho ̣c tâ ̣p cho HS Đồng thời GV cần thâ ̣t sự quan tâm tới viê ̣c bồi dưỡng phương pháp tự ho ̣c , rèn luyện kĩ năng khai thác kiến thức thông qua biểu đồ, bản đồ, sơ đồ, tranh ảnh,… Và vận dụng kiến thức vào thực tiễn , đem lại niềm tin và hứng thú cho HS
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Trong đổi mới PPDH phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp
Trang 21nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công Như vậy, việc dùng thuật ngữ "Dạy và học tích cực" để phân biệt với "Dạy và học thụ động"
Trong tiết dạy học Địa lí đổi mới PPDH theo hướng tích cực là:
- Đối với HS:
+ Cần biết rõ mục đích, yêu cầu của giờ học về kiến thức, kĩ năng Địa lí
và những thao tác tư duy cần vận dụng
+ Dành thời gian thích đáng để HS tự làm việc với SGK (kênh chữ, kênh hình) tập bản đồ và các nguồn cung cấp kiến thức khác dưới sự hướng dẫn của GV
+ Biết cách làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, hợp tác với bạn để hoàn thành nhiệm vụ GV giao cho
- Đối với GV:
+ Hình dung được kế hoạch bài dạy của mình một cách tường tận, chi tiết + Hạn chế việc giảng giải, thuyết trình, minh hoạ, hạn chế đưa câu hỏi vụn vặt mà nên tập hợp các câu hỏi thành những gợi ý, hướng dẫn giải quyết một vấn đề, một nội dung tương đối trọn vẹn
+ Dành thời gian cho HS làm việc Sau mỗi hoạt động đó, GV cần giúp
HS khẳng định lại từng kiến thức cơ bản của bài
+ Luôn chú ý động viên, khen thưởng HS
1.1.1.3 Định hướng và giải pháp đổi mới PPDH Địa lí ở trường phổ thông
Để có những cách dạy và cách học đạt được hiệu quả cao cần có định hướng và giải pháp phù hợp, đúng đắn
Đối với định hướng để đổi mới PPDH Địa lí ở trường phổ thông nên:
- Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của HS
- Bồi dưỡng phương pháp tự học
- Rèn luyện kĩ năng vận dụng vào thực tiễn
- Tác động đến tình cảm, niềm vui hứng thú học tập bộ môn
Đối với giải pháp để đổi mới PPDH Địa lí ở trường phổ thông, GV cần quan tâm thực hiện tốt các việc:
Trang 22- Đầu tư nhiều hơn vào công tác thiết kế bài dạy và tổ chức dạy học trên lớp theo tinh thần tổ chức các hoạt động học tập cho HS
- Vận dụng linh hoạt các PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS đồng thời áp dụng các PPDH mới như: thảo luận, khảo sát, điều tra,…
- Đa dạng hoá và phối hợp linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học: cá nhân, nhóm, lớp, tham quan, hoạt động ngoại khoá
- Trong điều kiện đổi mới PPDH hiê ̣n nay , viê ̣c sử du ̣ng các phương tiện dạy học là không thể thi ếu GV có thể sử du ̣ng bản đồ , tranh ảnh, các mô hình,
sơ đồ có sẵn trong SGK hoặc được xây dựng thêm để phù hợp với tiến trình và
nô ̣i dung bài ho ̣c Cụ thể về phía GV trực tiếp giảng dạy môn Địa lí và nhà trường như sau:
Đối với GV trực tiếp giảng dạy Địa lí ở các khối lớp:
- Vận dụng linh hoạt các PPDH Địa lí thông dụng theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, đồng thời mạnh dạn áp dụng các PPDH mới như: thảo luận, khảo sát điều tra, động não; biết cách tiếp nhận thông tin phản hồi từ sự đánh giá nhận xét của HS về PPDH và giáo dục của của GV; kiên trì phát huy mặt tốt, khắc phục mặt yếu, tự tin, không tự ty hoặc chủ quan, thoả mãn
- Trong quá trình dạy học, GV cần chú ý hướng dẫn HS phân tích, giải thích các mối quan hệ Địa lí, nhất là các mối quan hệ nhân quả; dành thời gian cho HS thu thập, xử lí thông tin dựa vào bản đồ, lược đồ, các bảng biểu, tranh ảnh, Để tìm kiến thức, rèn luyện các kĩ năng và phương pháp học tập Địa lí
- Cần quan tâm hơn đến việc xây dựng và sử dụng các kênh hình trong giảng dạy, xem đây là phương pháp đặc thù của bộ môn, phương pháp được ứng dụng rộng rãi trong nhiều mục đích giảng dạy của GV trong mô ̣t tiết lên lớp
- GV cần đề cao vai trò da ̣y ho ̣c trực quan , tích cực sử dụng ph ương tiện dạy học thường xuyên , nghiêm túc , triê ̣t để và sáng ta ̣o nhằm đưa chất lượng dạy - học ngày một cao hơn
Trang 23Về phía Ban giám hiê ̣u nhà trường:
- Cần trang bị đầy đủ các phương tiện, thiết bị, đồ dùng,… Để tạo điều kiện tốt hơn nữa cho GV trong việc nghiên cứu xây dựng và sử dụng phương tiện dạy học, PPDH tích cực
- Thườ ng xuyên kiểm tra viê ̣c đăng kí sử du ̣ng đồ dùng da ̣y ho ̣c của GV ở tất các các bô ̣ môn, trong đó có môn Đi ̣a lí
Trên đây là các giải pháp để tiếp tục thực hiện đổi mới PPDH Địa lí theo hướng tích cực nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy và học ngày càng hiệu quả hơn
1.1.2 Khái quát chung về KTDH
- PPDH là những cách thức, con đường dẫn đến mục tiêu của bài học
- KTDH là những biện pháp, cách thức hành động của GV và HS trong các tình huống/hoạt động nhằm thực hiện giải quyết một nhiệm vụ, nội dung cụ thể KTDH là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học
Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của PPDH Ví dụ, trong phương pháp thảo luận nhóm có các KTDH như: kĩ thuật chia nhóm, khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật các mảnh ghép, [6] Tuy nhiên, việc phân định chỉ mang tính tương đối sự phân biệt giữa quan điểm dạy học và PPDH, giữa PPDH và KTDH nhiều khi không thật rõ ràng Để
áp dụng các phương pháp, kĩ thuật trong dạy học đạt hiệu quả và tích cực hoá
HS thì ngoài việc tuân thủ các quy trình mang tính đặc trưng của phương pháp, KTDH còn đòi hỏi sự linh hoạt, sáng tạo và nghệ thuật sư phạm của GV
Trang 241.1.2.2 Các dạng KTDH tích cực
Việc đổi mới và ứng dụng các PPDH, KTDH tích cực đã đem lại những hiệu quả cao cho người học và dạy Việc tiếp cận các phương pháp và KTDH sẽ phát huy tính tích cực của HS và hiện nay đã có nhiều KTDH tích cực đang thực hiện như:
- Kĩ thuật đặt câu hỏi
1.1.3 Khái quát chung về BĐTD
1.1.3.1 Khái niệm về BĐTD
BĐTD còn gọi là Sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy là một hình thức ghi chép
sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ
là một ý tưởng hay một hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này
sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nối với các ý trung tâm Với phương thức tiến dần từ trung tâm ra xung quanh, BĐTD khiến tư duy con người cũng phải hoạt động tương tự Từ đó các ý tưởng của con người sẽ phát triển [2]
BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) Có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa sau mỗi chương, mỗi kì học, tóm lược một cuốn sách,… cũng như giúp lập kế hoạch công tác BĐTD khai thác toàn diện kĩ năng tư duy của vỏ não: từ, số, ảnh, suy luận, màu sắc, nhận thức không
Trang 25gian bằng một kĩ thuật độc đáo cực mạnh và đặc sắc Với phương thức tiến dần
từ trung tâm ra xung quanh BĐTD cũng khiến tư duy của chúng ta phải hoạt động tương tự Từ đó các ý tưởng sẽ phát triển và sự sáng tạo được nảy nở [2] BĐTD là bước đi kế tiếp giúp ta phát triển từ lối tư duy hàng dọc “một chiều” đến tư duy hàng ngang “hai chiều” đến tư duy mở rộng “nhiều chiều” Ta
có thể so sánh BĐTD với bản đồ một thành phố Màu trung tâm BĐTD giống như trung tâm của thành phố và tượng trưng cho ý tưởng quan trọng nhất Những con đường chính tỏa ra từ trung tâm tượng trưng cho các nhánh chính trong quá trình tư duy, các con đường nhỏ hơn hay các nhánh đường tượng trưng cho các nhánh tư duy tỏa ra từ các nhánh chính và cứ tiếp tục
Nghiên cứu BĐTD trên ta thấy rõ ràng bất kì từ khóa hay hình ảnh chủ đạo nào cũng đều có thể làm trung tâm phát sinh một BĐTD mới và từ đó lại tiếp tục
mở rộng Ngoài ra việc mở rộng cũng hoàn toàn bác bỏ quan niệm rằng phát sinh ý tưởng khó hơn nhiều so với việc tổ chức và biên tập ý tưởng Khả năng của BĐTD là vô hạn và khó khăn duy nhất là quyết định điểm dừng
1.1.3.2 Ý nghĩa của việc sử dụng BĐTD với một số KTDH tích cực trong dạy học Địa lí 11
Địa lí là môn học cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, cần thiết về Trái Đất và những hoạt động của con người trên bình diện quốc gia và quốc tế, làm cơ sở cho hình thành thế giới quan khoa học; giáo dục tư tưởng tình cảm đúng đắn đồng thời rèn luyện cho HS các kĩ năng hành động, ứng xử phù hợp với môi trường tự nhiên, xã hội, phù hợp với yêu cầu của đất nước và xu thế của thời đại Tuy nhiên, hiện nay đa số các em HS nghĩ Địa lí là môn học thuộc lòng
và khá chủ quan với môn học này Vì vậy mà đa số các em dùng rất ít thời gian cho môn học dẫn tới học tập chưa hiệu quả, thường chỉ là học vẹt, chưa có khả năng tư duy và vận dụng kiến thức Địa lí
Để hướng HS có cách thức học tập tích cực và tự chủ, chúng ta không chỉ cần giúp các em khám phá các kiến thức mới mà còn phải giúp các em hệ thống được những kiến thức đó Việc xây dựng được một “hình ảnh” thể hiện mối liên
hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ,
Trang 26phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo,… Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” là BĐTD
Sử dụng thành thạo và linh hoạt BĐTD trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết quả tốt và đáng khích lệ Đồng thời để HS có hứng thú học tập, tập trung chú ý tới bài, HS học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy thì việc kết hợp với các KTDH tích cực - những biện pháp, cách thức hành động của GV và HS sẽ tăng tính hiệu quả của việc dạy và học Với
HS, việc tự vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo, lôi cuốn HS tham gia vào bài giảng, tạo điều kiện phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của HS… Qua đó, các em tự chiếm lĩnh kiến thức mới một cách nhẹ nhàng, tự nhiên với hứng thú học tập lớn Với các bài tập nhóm, sử dụng BĐTD với KTDH tích cực còn giúp các em biết cách lập kế hoạch, phân công công việc, hợp tác để hoàn thành yêu cầu của GV GV sử dụng BĐTD để hệ thống kiến thức một cách khoa học và logic, nội dung bài học được thể hiện trên bản đồ một cách trực quan mà không bị bỏ sót ý Không những thế, sử dụng BĐTD kết hợp với KTDH tích cực còn giúp GV tạo ra các hình thức học tập khác nhau, sử dụng linh hoạt các PPDH, phối hợp sử dụng các thiết bị dạy học với nhau,… Góp phần thiết thực vào việc đổi mới PPDH hiện nay BĐTD có mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất với SGK SGK là cơ sở để HS tiếp nhận kiến thức, cùng với việc sử dụng và khai thác kiến thức từ thiết bị dạy học giúp HS hiểu bài và thể hiện lại sự hiểu biết ấy thông qua BĐTD Đây còn là một kênh thông tin phản hồi rất thiết thực từ HS đối với GV GV có thể dựa vào đó để nắm bắt được lượng thông tin mà HS tiếp nhận được, từ đó có hướng điều chỉnh đối với cả HS
và cách dạy của chính mình cho phù hợp
Kiến thức Địa lí lớp 11 có hệ thống và có mối quan hệ logic rất chặt chẽ
Có nhiều nội dung có thể vẽ BĐTD nhằm thể hiện được nội dung bài học một cách đơn giản hóa, dễ nhớ và thấy rõ được mối liên hệ giữa các đối tượng Ví dụ: sơ đồ nguồn lực phát triển KT - XH của từng quốc gia, khu vực,… Sau mỗi bài học, GV có thể hướng dẫn HS vẽ ngay BĐTD đơn giản về kiến thức bài học Qua đó, HS có thể khắc sâu nhanh nội dung bài học và thấy được mối liên hệ
Trang 27của các nội dung trong bài cũng như có thể thấy mối liên hệ với nội dung các bài học trước
Không có một phương pháp nào là vạn năng cả nên việc sử dụng BĐTD với KTDH tích cực sẽ phát huy tốt được tính tích cực học tập của HS, tránh nhàm chán trong tiết học Đồng thời khắc phục được hạn chế của BĐTD
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.2 Đặc điểm chương trình và SGK Địa lí lớp 11 THPT
1.2.2.1 Mục tiêu chương trình môn Địa lí lớp 11
Cùng với chương trình Địa lí 10 và 12, chương trình Địa lí lớp 11 góp phần hoàn thiện học vấn phổ thông cho HS để đáp ứng mục tiêu phát triển giáo dục và phát triển con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Nhìn chung, chương trình Địa lí lớp 11 có những mục tiêu cụ thể về các mặt kiến thức, kĩ năng và thái độ như sau:
- Về mặt kiến thức
Nắm vững kiến thức phổ thông cơ bản về:
+ Đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thế giới đương đại với sự chênh lệch rõ rệt về trình độ phát triển giữa các nhóm nước, với xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa và với hàng loạt vấn đề nổi lên mang tính toàn cầu
+ Đặc điểm tự nhiên, dân cư, KT - XH của một số khu vực và quốc gia tiêu biểu cho trình độ phát triển KT - XH khác nhau trên toàn thế giới
- Về kĩ năng
Củng cố và tiếp tục phát triển:
+ Kĩ năng nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh các sự vật, hiện tượng Địa
lí cũng như kĩ năng xây dựng biểu đồ, sử dụng và khai thác bản đồ, số liệu thống
kê liên quan đến Địa lí KT - XH thế giới, khu vực và một số quốc gia tiêu biểu + Kĩ năng thu thập, phân tích, trình bày các thông tin Địa lí của một khu vực hay quốc gia tiêu biểu trên thế giới
+ Kĩ năng vận dụng kiến thức ở mức độ nhất định để giải thích các sự vật, hiện tượng Địa lí đang diễn ra trên thế giới, trong khu vực
- Về thái độ, tình cảm
Trang 28Hình thành cho HS:
+ Tình yêu đất nước con người trên tinh thần quốc tế
+ Phân biệt và ủng hộ những xu thế tiến bộ, tất yếu của thời đại
+ Quan tâm đến những vấn đề cấp thiết mang tính toàn cầu
1.2.2.2 Cấu trúc
Dưới góc độ kiến thức, chương trình Địa lí lớp 11 cho cả 2 ban về cơ bản
là tương tự nhau Chương trình gồm hai phần: phần khái quát chung về nền KT -
XH thế giới và phần Địa lí khu vực và quốc gia tiêu biểu
Phần khái quát chung về nền KT - XH thế giới chiếm một thời lượng nhỏ với những kiến thức cơ bản được thiết kế theo cấu trúc như sau: Sự tương phản
về trình độ phát triển KT - XH của các nhóm nước trên thế giới; xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa; một số vấn đề mang tính toàn cầu; một số vấn đề KT -
XH của châu lục và khu vực
Phần Địa lí khu vực và quốc gia tiêu biểu chiếm phần lớn thời lượng chương trình Các khu vực và quốc gia tiêu biểu gồm có: Hoa Kì, Liên Minh Châu Âu, Liên Bang Nga, Nhật Bản, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Khu vực Đông Nam Á, Ô-xtrây-li-a
1.2.2.3 Nội dung
A Phần khái quát chung về nền KT - XH thế giới
Về mặt lí thuyết, phần này gồm 4 nội dung:
- Sự tương phản về trình độ phát triển KT - XH của các nhóm nước trên thế giới
Hiện nay trên thế giới có hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ với trình độ phát triển KT - XH rất khác nhau Dựa vào tiêu chí tổng sản phẩm quốc dân (GDP), GDP bình quân đầu người, chỉ số phát triển con người và đầu tư, nợ nước ngoài có thể phân các nước này thành nhóm nước phát triển và nhóm nước đang phát triển Nội dung bài cần làm rõ sự tương phản về trình độ phát triển KT
- XH và những nguyên nhân gây nên tình trạng đó
- Xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa
Trang 29Trong thời đại hiện nay, mối quan hệ giữa các quốc gia ngày càng trở nên phong phú, đa dạng Mối quan hệ đó diễn ra trong khu vực, trên toàn cầu đã và đang tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của mỗi quốc gia và qua đó tác động tới
sự phát triển KT - XH của toàn cầu Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa là đặc điểm nổi bật của thế giới đương đại mà chương trình Địa lí các nước không thể
bỏ qua
- Một số vấn đề KT - XH của châu lục và khu vực
Chương trình mới bổ xung thêm kiến thức về một số vấn đề tiêu biểu của châu Phi, Mĩ tinh và khu vực Tây Nam Á, Trung Á nhằm giúp HS biết đến những vùng lãnh thổ lớn của thế giới hiện đang có nhiều sự kiện xảy ra Mặt khác phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập Việt Nam cần quan tâm đến những khu vực có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế này
Về mặt thực hành: do thời lượng hạn chế nên chỉ tập trung vào việc thảo luận nhóm theo chủ đề cho trước và yêu cầu về kĩ năng chủ yếu là phân tích tư liệu và viết báo cáo ngắn
B Phần Địa lí khu vực và quốc gia tiêu biểu
Về mặt lí thuyết, chương trình đã lựa chọn một số khu vực và quốc gia tiêu biểu trên thế giới
Đối với khu vực (Liên Minh Châu Âu, Đông Nam Á): các nội dung chính được trình bày bao gồm quá trình hình thành, mục tiêu, hoạt động và một số thành tựu cụ thể Còn đối với các quốc gia tiêu biểu thì đó là vị trí địa lí và phạm
vi lãnh thổ, đặc điểm tự nhiên và đặc điểm dân cư, kinh tế
Trên nền tảng đó, đối với mỗi khu vực và quốc gia được lựa chọn chương trình chỉ nhấn mạnh đến một vài khía cạnh Cụ thể là:
- Hoa Kì: sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và lãnh thổ
- Liên minh châu Âu:
+ Sơ lược về quá trình hình thành, mục tiêu, thể chế hoạt động
+ Đỉnh cao của liên minh khu vực
+ Vai trò của EU trong nền kinh tế thế giới
+ Cộng hòa Liên Bang Đức
Trang 30- Liên Bang Nga: sự tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn gần đây và nguyên nhân phát triển
- Nhật Bản: nền kinh tế siêu cường
- Trung Quốc: nền kinh tế trong thời kì hiện đại hóa
- Khu vực Đông Nam Á:
+ Những nét chung về tự nhiên, dân cư, văn hóa và quá trình phát triển kinh tế + Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN): mục tiêu và việc hợp tác để cùng phát triển Những thành tựu bước đầu của sự hợp tác giữa các nước thành viên
+ Lợi thế và khó khăn của Việt Nam trong quá trình hội nhập ASEAN
- Ô-xtrây-li-a: khai thác và bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển KT
- XH
Về mặt thực hành: nội dung của phần này tiếp tục vào việc rèn luyện kĩ năng phân tích số liệu thống kê, xây dựng biểu đồ, đọc, nhận xét, giải thích một hiện tượng KT - XH trên bản đồ (lược đồ) cũng như tập viết báo cáo và trình bày một vấn đề liên quan đến một quốc gia cụ thể dựa trên cơ sở tư liệu cho trước
Nhìn chung SGK Địa lí lớp 11 có nhiều thuận lợi để sử dụng BĐTD với KTHD tích cực Đặc trưng của Địa lí lớp 11 là có cấu trúc và nội dung chứa đựng một thông tin lớn với những vấn đề mang tính khái quát trừu tượng, mối quan hệ đa dạng (tự nhiên - dân cư - xã hội) trong các quốc gia và khu vực Vì vậy, việc dạy của GV phải làm cho quá trình tiếp nhận kiến thức phức tạp đó trở nên đơn giản hóa Dạy theo BĐTD với KTDH tích cực GV dễ dàng điều khiển quá trình lĩnh hội tri thức ở HS một cách thuận lợi Đối với HS, các em chỉ thực sự nắm vững bài học một cách hệ thống, khái quát, hứng thú học tập thông qua các BĐTD dạy học trực quan và các KTDH tích cực
1.2.3 Đặc điểm tâm sinh lí HS lớp 11
1.2.3.1 Đặc điểm chung
So với HS Trung học cơ sở, HS THPT đã có sự trưởng thành hơn về mặt nhận thức, tư duy, tình cảm và giao tiếp ở các em đã hình thành ý thức về bản thân, quan điểm thẩm mĩ, tính phê phán,…
Các em thích thể hiện khả năng của mình trước tập thể, thích khám phá cái mới một cách chủ động Trong các giờ học Địa lí HS thích tham gia vào các
Trang 31hoạt động tự khai thác, chiếm lĩnh kiến thức một cách tích cực, không còn thụ động
HS THPT có tư duy lý luận, tư duy trừu tượng bộc lộ rõ Biểu hiện là trong các giờ học các em hay đặt ra câu hỏi: tại sao? như thế nào? tại sao lại thế? Mặt khác HS có thể phân tích làm sáng tỏ vấn đề một cách nhanh chóng, biết vận dụng kiến thức đã có để lập luận, giải thích vấn đề mới mà GV đưa ra Do vậy,
HS có thể thực hiện các thao tác tư duy: phân tích mối quan hệ nhân quả giữa các thành phần tự nhiên hay mối quan hệ nhân quả giữa tự nhiên với KT - XH Đối với HS THPT một số kĩ năng Địa lí đã hình thành ở các lớp học trước như: kĩ năng quan sát, trình bày, so sánh, tổng hợp các sự kiện Địa lí Ngoài ra,
HS đã có kĩ năng sử dụng bản đồ, biểu đồ và kĩ năng vận dụng kiến thức ở mức
độ nhất định để giải quyết các sự vật, hiện tượng Địa lí Vì vậy, GV cần nâng cao yêu cầu của câu hỏi và bài tập để HS tự chiếm lĩnh kiến thức, tiếp tục củng
cố và phát triển kĩ năng Tuy nhiên năng lực tư duy của HS THPT cũng chưa hoàn thiện như người trưởng thành, đôi khi còn vội vàng, thiếu chuẩn xác Do vậy, cần có sự hướng dẫn của GV để giúp các em nhanh chóng hoàn thiện khả năng nhận thức của mình
1.2.3.2 Đặc điểm tâm lý và trình độ nhận thức của HS lớp 11 - THPT
HS lớp 11 - THPT có độ tuổi 16, 17 thuộc tuổi vị thành niên và đang trong giai đoạn phát triển và hình thành nhận thức mạnh mẽ Mọi tác động của GV trong giai đoạn này đều có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển tâm lí HS theo các hướng khác nhau do các em rất nhạy cảm với các vấn đề
Ở lứa tuổi này, các em đã hình thành được và có năng lực quan sát, phân tích, khái quát và có khả năng tự học, tự nghiên cứu tri thức nếu được sự chỉ đạo, hướng dẫn Với đặc điểm như vậy nên các em thường thích đi sâu tìm hiểu bản chất của sự vật, hiện tượng cũng như nguyên nhân của các quá trình hiện tượng Địa lí, các em thường tìm hiểu các vấn đề đến tận gốc rễ, hay đưa ra ra các câu hỏi tại sao, vì sao,…
Tuy nhiên, do lứa tuổi này tâm lý các em phát triển chưa ổn định, các em bắt đầu có tình cảm lứa đôi, không thích bị áp đặt, học tập gò bó và nhiều khi
Trang 32đầu óc có tư tưởng “mộng mơ” nên các en rất dễ mất tập trung, phân tán trong học tập vì vậy, GV phải nắm bắt được đặc điểm tâm lí này để có những PPDH thích hợp nhằm đem lại hiệu quả cao
Ở lứa tuổi HS lớp 11 tính chủ định được phát triển mạnh mẽ ở tất cả các quá trình nhận thức
- Về tri giác: các em có sự nhạy cảm cao nhất về nghe, nhìn cũng như sự phối hợp nhẹ nhàng nhất về các cơ quan vận động, tri giác có mục đích đã đạt đến mức cao nhất, quan sát đã trở nên có hệ thống, có mục đích và toàn diện hơn
- Về trí nhớ: việc ghi nhớ có chủ định có chủ đạo trong hoạt đông trí tuệ, ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ có ý nghĩa tăng rõ rệt đặc biệt các em tạo được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ
- Về chú ý: năng lực chú ý có chủ định cũng phát triển Các em đã biết phân phối chú ý, tính lựa chọn và tính chủ định của chú ý của lứa tuổi này phát triển hơn các HS ở lứa tuổi dưới
- Về tư duy: tư duy của các em có sự thay đổi quan trọng về chất các hoạt động tư duy diễn ra một cách độc lập, tích cực, khả năng tư duy trừu tượng, tư duy lý luận cũng phát triển mạnh
- Về tưởng tượng: đã phát triển ở mức cao và đang dần hoàn thiện
Như vậy lứa tuổi HS lớp 11 - THPT có những đặc điểm tâm sinh lí đã phát triển nhưng chưa thực sự ổn định phù hợp với đặc điểm của tuổi vị thành niên Điều đó, đòi hỏi GV phải nắm bắt được các đặc điểm đó và có PPDH phù hợp cũng như lòng yêu nghề sâu sắc thì mới đạt hiệu quả cao trong học tập và giáo dục
1.2.4 Thực trạng việc sử dụng BĐTD trong dạy học Địa lí ở trường THPH
Trong những năm gần đây BĐTD được biết đến là một PPDH tích cực, có tầm quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học Tuy nhiên, tình hình sử dụng BĐTD còn quá ít đặc biệt là trong việc kết hợp với các KTDH tích cực khác còn rất hạn chế
Để biết được tình hình sử dụng BĐTD trong dạy học Địa lí tôi đã phát phiếu điều tra tình hình sử dụng BĐTD cho thầy, cô trường THPT Tân Lạc Theo kết quả khảo sát, tôi thấy rằng: hiện nay trong dạy học Địa lí đã có một số
Trang 33thầy, cô đã sử dụng BĐTD nhưng việc kết hợp với các KTDH tích cực hầu như chưa có, việc sử dụng BĐTD vào dạy học Địa lí do nhiều nguyên nhân khách và chủ quan nên phần lớn GV còn hạn chế trong việc sử dụng
Để tìm hiểu rõ hơn tình hình sử dụng BĐTD, tôi đã phát phiếu điều tra
“Tình hình sử dụng BĐTD với một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học ở trường phổ thông”cho 2/3 số GV tại trường THPT Tân Lạc Sau khi thu phiếu
điều tra cho thấy tình hình sử dụng BĐTD trong dạy học Địa lí nói riêng và dạy học các môn nói chung GV và HS đã biết đến BĐTD nhưng kết hợp với KTDH tích cực phần lớn GV chưa biết đến, chưa rõ ràng Bên cạnh đó tôi cũng đã tìm hiểu và khảo sát một số trường đều cho thấy: đây là một phương pháp mới, hầu như BĐTD dùng cho môn Địa lí còn ít phổ biến, nhiều trường, nhiều thầy cô còn chưa biết hoặc ít biết đến PPDH này nhất là các trường ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao Việc sử dụng BĐTD vẫn còn mang tính chất tự phát, chưa có một
sự chỉ đạo thống nhất, chưa có sự khuyến khích tiêu chí rõ ràng, chưa có sự kết hợp với KTDH tích cực khác BĐTD mới chỉ được sử dụng như một phương tiện trực quan, có tính chất minh hoạ thay lời thuyết giảng của GV không phát huy được tính tích cực, độc lập của HS
Trang 34Chương 2
SỬ DỤNG BĐTD VỚI MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11
2.1 Kĩ thuật phòng tranh kết hợp với BĐTD
2.1.1 Khái niệm kĩ thuật phòng tranh
Kĩ thuật phòng tranh là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân hay hoạt động nhóm Kĩ thuật phòng tranh nhằm tăng cường tính độc lập của HS, kích thích sự tham gia tích cực của HS, rèn luyện được
kĩ năng suy nghĩ, quyết định và giải quyết vấn đề, nâng cao hiệu quả học tập [6]
2.1.2 Cách kết hợp kĩ thuật phòng tranh với BĐTD
Kĩ thuật phòng tranh kết hợp với BĐTD có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm theo các bước như sau:
- GV nêu câu hỏi/vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm
- Mỗi thành viên (hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) vẽ BĐTD những ý tưởng của mình về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa hay tờ giấy A0 và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh
- HS cả lớp đi xem “triển lãm’’ và có ý kiến bình luận hoặc bổ sung
- Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương án tối ưu bằng BĐTD chuẩn, hợp lí nhất
Ví dụ: Bài 9 - Nhật Bản (tiết 1 - tự nhiên, dân cư và xã hội; SGK địa lí 11,
trang 74 - 76)
Bước 1: GV xác định mục tiêu bài học và lập các nhóm học tập nêu yêu
cầu/vấn đề cho các nhóm để tổ chức các hoạt động với BĐTD (có thể hoạt động
cá nhân)
?Đọc kênh chữ kết hợp với bản đồ tự nhiên Nhật Bản trong SGK - Trang 75
và một số hình ảnh Hãy nêu đặc điểm và đánh giá tự nhiên của Nhật Bản bằng BĐTD
Chia lớp thành các nhóm nhỏ:
Nhóm 1: tìm hiểu về vị trí Địa lí
Nhóm 2: tìm hiểu về địa hình
Trang 35Nhóm 3: tìm hiểu về thủy văn
Nhóm 4: tìm hiểu về khí hậu và khoáng sản
Bước 2: Các nhóm (hoạt động nhóm) vẽ BĐTD những ý tưởng của mình
về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa hay tờ giấy A0 và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh
Hình 3: BĐTD nội dung các nhóm tìm hiểu “Điều kiện tự nhiên”
của Nhật Bản
Bước 3: HS cả lớp đi xem “triển lãm” và đưa ra ý kiến bình luận hoặc bổ
sung Đồng thời mỗi nhóm cử người thuyết trình về BĐTD của nhóm mình cho mọi người đi xem triển lãm Cụ thể:
Nhóm 1: dựa vào BĐTD của nhóm để thuyết trình về “Vị trí địa lí” - Quần
đảo Nhật Bản nằm ở phía Đông của Châu Á với hệ tọa độ: 310B đến 450
B và
1290Đ đến 1420Đ, trải dài theo một vòng cung dài khoảng 3800km trên Thái Bình Dương gồm 4 đảo lớn: Hô-cai-đô, Hôn-su (chiếm 61% tổng diện tích), Xi-cô-cư, Kiu-xiu và hàng nghìn đảo nhỏ Với vị trí địa lí như vậy, Nhật Bản có thuận lợi: giao lưu với các nước trong khu vực và thế giới bằng đường biển và
Trang 36đường hàng không; phát triển đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản Bên cạnh đó Nhật Bản còn phải đối đầu với những khó khăn: nằm trên bờ Thái Bình Dương
có nhiều thiên tai, sóng thần, động đất, núi lửa Hạn chế phát triển đường bộ
Hình 4: BĐTD nhóm 1 đặc điểm và đánh giá về “Vị trí địa lí” của Nhật Bản; bài 9 - Nhật Bản, tiết 1 - tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế,
trang 74 - 76
Tương tự như vậy các nhóm khác thuyết trình về nhóm mình tìm hiểu, các bạn nhóm khác đi xem triển lãm bình luận và có ý kiến bổ sung
Trang 37Hình 5: BĐTD nhóm 2 đặc điểm và đánh giá về “Địa hình” các đảo của Nhật Bản; bài 9 - Nhật Bản, tiết 1 - tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh
tế, trang 74 - 76
Hình 6: BĐTD nhóm 3 đặc điểm và đánh giá về “Thủy văn” của Nhật Bản; bài 9 - Nhật Bản, tiết 1 - tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế,
trang 74 - 76
Trang 38Hình 7: BĐTD nhóm 4 đặc điểm và đánh giá về “Khí hậu và khoáng sản” của Nhật Bản; bài 9 - Nhật Bản, tiết 1 - tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển
kinh tế, trang 74 - 76
Bước 4: Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm
phương án tối ưu GV chuẩn lại kiến thức và đánh giá, nhận xét hoạt động hợp tác nhóm, cả về kiến thức, kĩ năng vẽ bản đồ…giữa các HS trong mỗi nhóm và giữa các nhóm Sau đó GV đặt câu hỏi thêm cho mỗi nhóm
Trang 39Hình 5: BĐTD hoàn chỉnh về đặc điểm và đánh giá “điều kiện tự nhiên”
của Nhật Bản - Bài 9 Nhật Bản - tiết 1, trang 74 - 76
2.1.3 Một số lưu ý trong việc kết hợp kĩ thuật phòng tranh với BĐTD
Kĩ thuật phòng tranh là KTDH đơn giản, dễ thực hiện, có thể tổ chức trong
tất cả bài học, môn học và có thể dạy học cá nhân hay kết hợp nhóm, tạo nên không khí học sôi nổi, thoải mái, bớt căng thẳng Tuy nhiên, để hoạt động đạt được hiệu quả cần lưu ý một số điểm sau:
- GV cần chuẩn bị nội dung và hệ thống các câu hỏi gợi mở để HS động não phát triển tư duy của mình
Trang 40- Câu hỏi/vấn đề nêu ra phải cụ thể, đảm bảo tất cả HS đều hiểu rõ và có khả năng hoàn thành nhiệm vụ
- Trong quá trình đi xem “triển lãm” GV khuyến khích HS đưa ra những nhận xét, bổ sung và trong quá trình phát triển ý tưởng, ý kiến của HS đều được tôn trọng và ghi nhận
- Tránh tình trạng mất tập trung, mất quá nhiều thời gian trong quá trình đi xem “triển lãm” và vẽ BĐTD
2.2 Kĩ thuật khăn phủ bàn với BĐTD
2.2.1 Khái niệm khăn phủ bàn
Kĩ thuật khăn phủ bàn là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp
tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm Kĩ thuật khăn phủ bàn nhằm: kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của HS; tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS; phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS [6]
Kĩ thuật khăn phủ bàn giúp người học học được cách tiếp cận với nhiều giải pháp và chiến lược khác nhau; rèn kĩ năng suy nghĩ, quyết định và giải quyết vấn đề Sự phối hợp làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm nhỏ tạo cơ hội nhiều hơn cho học tập có sự phân hóa Nâng cao mối quan hệ giữa HS, tăng cường sự hợp tác, giao tiếp, học cách chia sẻ kinh nghiệm và tôn trọng lẫn nhau
2.2.2 Cách kết hợp khăn phủ bàn với BĐTD
Bước 1: Chia HS thành các nhóm (4 người/nhóm - 6 người/nhóm) và
phát cho mỗi nhóm một tờ giấy A0
Bước 2: Trên giấy A0 chia thành các phần, gồm phần chính giữa và các
phần xung quanh Phần xung quanh được chia theo số thành viên của nhóm Mỗi người ngồi vào vị trí tương ứng với từng phần xung quanh (như hình vẽ - ví dụ nhóm 4 người)