1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT N
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ KIỀU DIỄM
VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ THỊ PHƯỢNG
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2014
Có thể tìm hiểu luận văn tại Trung tâm tư liệu Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm tư liệu – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 6
1.1 Nhận thức về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 6
1.1.1 Khái niệm các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam 6
1.1.2 Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam 8
1.1.3 Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 11
1.2 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự ở một số nước trên thế giới 12
1.2.1 Pháp luật tố tụng hình sự của Trung Quốc 13
1.2.2 Pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức 14
1.2.3 Pháp luật tố tụng hình sự của Liên bang Nga 15
1.3 Quá trình hình thành và phát triển những qui định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn 18
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1960 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 18
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 22
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 26
Trang 42.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về vai trò của
Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp ngăn
chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố 26
2.1.1 Biện pháp bắt người 26
2.1.2 Biện pháp tạm giữ 31
2.1.3 Biện pháp tạm giam 33
2.1.4 Các biện pháp ngăn chặn khác 39
2.2 Thực tiễn về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các các biện pháp ngăn chặn trên địa bàn thành phố Hà Nội 46
2.2.1 Những kết quả đạt được 46
2.2.2 Những hạn chế, tồn tại 56
2.2.3 Nguyên nhân những kết quả đạt được và những hạn chế, tồn tại 61
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ 65
3.1 Những yêu cầu để nâng cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố 65
3.1.1 Yêu cầu từ công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay 65
3.1.2 Yêu cầu từ thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự 67
3.2 Các giải pháp cụ thể 70
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan 70
3.2.2 Hoàn thiện tổ chức và phương thức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân và chế độ đào tạo, tuyển chọn, bổ nhiệm Kiểm sát viên 75
3.2.3 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tiến hành tố tụng hình sự 78
3.2.4 Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và giữa cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan liên quan 79
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC BẢNG BIỂU 87
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong nhóm các quan hệ xã hội đặc trưng được Luật TTHS điều chỉnh đó là cơ quan quyền lực Nhà nước với tội phạm và người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Nhà nước đã giao quyền cũng như trách nhiệm cho các cơ quan đó được áp dụng các biện pháp cưỡng chế để tác động đến đối tượng Một điều thấy rất rõ là các biện pháp cưỡng chế được áp dụng một chiều không phụ thuộc vào ý chí của bên bị áp dụng, chỉ cần có những căn cứ điều kiện do pháp luật quy định Các BPNC trong TTHS là những biện pháp cưỡng chế can thiệp nghiêm trọng tới các quyền cơ bản của công dân Việc áp dụng như thế nào để đảm bảo hiệu quả cũng như bảo vệ được quyền công dân là rất quan trọng Nó không chỉ liên quan đến nhiệm
vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa mà còn liên quan đến các quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ, liên quan đến trách nhiệm bồi thường trong trường hợp oan sai
Thực tiễn cho thấy, không ít các trường hợp áp dụng các BPNC một cách lạm dụng thiếu căn cứ, hoặc còn “non” về các điều kiện áp dụng Việc
áp dụng chỉ nhằm mục đích trước mắt là phục vụ thuận tiện cho việc điều tra
vụ án, nhất là các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc có cả trường hợp hợp pháp hóa tài liệu giấy tờ cần thiết để hồ sơ được phê chuẩn Mặc dù trên thực tế không thể phủ nhận rằng nhiều vụ án xảy ra nếu không áp dụng các BPNC sẽ gây khó khăn trong việc điều tra, truy tố như: người phạm tội bỏ trốn, phạm tội mới, tiêu hủy chứng cứ… Không xem xét đến tính cần thiết để
áp dụng; tính không cần thiết, không có căn cứ để hủy bỏ hoặc thay thế bằng một BPNC khác vẫn xảy ra Thực trạng này không chỉ có trách nhiệm Cơ quan điều tra, mà trách nhiệm của Viện kiểm sát là rất quan trọng, thậm chí Viện kiểm sát chịu trách nhiệm chính về việc áp dụng một số BPNC quan trọng Vì pháp luật TTHS đã quy định một cách rõ ràng về vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, trong đó có việc áp dụng các BPNC Đối với việc áp dụng các BPNC thì vai trò của Viện kiểm sát thể hiện rõ nhất là trong giai đoạn điều tra và truy tố Việc làm tốt vai trò đó trong hai giai đoạn này
có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần làm sáng tỏ toàn bộ sự thật khách quan của vụ án hình sự, tạo cơ sở cho việc truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của VKSND về việc áp dụng các BPNC trong giai đoạn điều tra, truy tố, thì việc nghiên cứu đề tài
“Vai trò của Viện kiểm sát về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong
giai đoạn điều tra, truy tố Thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội” là
Trang 6cần thiết Để từ đó xem xét, đánh giá đúng thực trạng hiện nay, tìm ra những tồn tại và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả của công tác
kiểm sát trên thực tế
2 Tình hình nghiên cứu
Việc áp dụng các BPNC trong TTHS cũng đã được một số nhà khoa học và những người làm công tác thực tiễn nghiên cứu dưới dạng sách và các bài báo, bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí kiểm sát, Tạp chí luật học, Tạp chí Toà án, cụ thể như:
Bình luận khoa học Bộ luật TTHSdo PGS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên
(NXB Công an nhân dân năm 2004); Thực hành quyền công tố và kiếm sát
các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra của tác giả Nguyễn Hữu Thể
(NXB Tư pháp năm 2005); Quá trình phát triền của pháp luật TTHS Việt
Nam về những BPNC của tác giả Trịnh Văn Thanh (NXB Công an nhân dân
năm 2005); Những BPNC trong TTHS của tác giả Nguyễn Mai Bộ (NXB Chính trị quốc gia năm 1997);Hoàn thiện các quy định về các BPNC trong
TTHS theo yêu cầu cải cách tư pháp của tác giả Phạm Mạnh Hùng – Viện
kiểm sát nhân dân tối cao (Tạp chí kiểm sát số 21 năm 2007); Một số ý kiến
về hoàn thiện các quy định về các BPNC trong TTHS của tác giả Nguyễn
Đình Bình (Tạp chí kiểm sát số 5 năm 2008);
Như vậy, vấn đề trên cũng rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, đều nhằm mục đích làm rõ các quy định của pháp luật, việc áp dụng trên thực tế như thế nào, những vấn đề cần hoàn thiện Vì vậy, nghiên cứu vai trò của Viện kiểm sát nhân dân về việc áp dụng các BPNC là cần thiết nhất là trong giai đoạn điều tra, truy tố, giúp chúng ta nhận thức một cách có hệ thống vấn đề này về lý luận cũng như thực tiễn
3 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích: Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống vai trò của Viện kiểm sát nhân dân khi áp dụng các BPNC trong giai đoạn điều tra, truy tố Từ đó làm rõ cơ sở pháp lý để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện vai trò của mình
- Nhiệm vụ: Luận văn có nhiệm vụ phân tích cơ sở pháp lý cũng như thực tiễn vai trò Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các BPNC trong tố tụng hình sự, bao gồm 06 biện pháp: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Từ đó thấy rõ vị trí, vai trò quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân và chỉ ra những tồn tại cần khắc phục để đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong áp dụng các BPNC Đồng thời góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao vai trò của các cơ quan tư pháp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
- Phạm vi nghiên cứu: Để giải quyết vấn đề một cách cụ thể và thuận
Trang 7lợi, trong quá trình nghiên cứu Luận văn sẽ chỉ nghiên cứu lý luận, các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
về việc áp dụng các BPNC trong giai đoạn điều tra, truy tố Có nhiều ý kiến về việc phân chia các giai đoạn tố tụng hình sự, trong phạm vi Luận văn xin được gộp giai đoạn khởi tố và điều tra làm một là giai đoạn điều tra vì hai giai đoạn này có mối quan hệ mật thiết với nhau để tiện cho việc nghiên cứu Trên cơ sở đó chỉ ra mặt tích cực và hạn chế trong thực tiễn áp dụng các biện pháp đó trong 05 năm (từ năm 2009 đến năm 2013), trên phạm vi thành phố Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận văn gồm: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp so sánh, đối chiếu
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ THEO PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Nhận thức về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc
áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.1 Khái niệm các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam
Các biện pháp cưỡng chế nhà nước được áp dụng thường xuyên trong các trường hợp cần thiết mà pháp luật quy định Trong đó có biện pháp ngăn chặn - là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc hơn cả vì nó tước bỏ tạm thời hoặc hạn chế một phần quyền tự do của người bị áp dụng nhằm ngăn chặn việc phạm tội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, tôn trọng các quyền, lợi ích của công dân trong TTHS Có nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm về biện pháp ngăn chặn Ta có thể khái niệm như
sau: Biện pháp ngăn chặn trong TTHS là biện pháp cưỡng chế mà người có
thẩm quyền trong TTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc người chưa bị khởi tố về hình sự khi có những căn cứ luật định nhằm mục
Trang 8đích kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc đảm bảo việc không gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc không tiếp tục phạm tội
1.1.2 Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam
VKSND có vai trò rất quan trọng trong hoạt động TTHS Là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng cùng với CQĐT, TAND, VKSND đã góp phần quan trọng vào hoạt động TTHS Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của ngành kiểm sát nhân dân
Ta có thể hiểu: Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong TTHS đó là
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong các hoạt động TTHS nhằm góp phần vào việc đảm bảo các quy định của pháp luật được chấp hành nghiêm túc, quyền và lợi ích của các cơ quan tố tụng, người tiến hành
tố tụng, người tham gia tố tụng, không bị xâm phạm
1.1.3 Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong phạm vi nhất định tùy vào giai đoạn tố tụng cũng như các BPNC mà có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các BPNC Việc áp dụng các BPNC đều nhằm những mục đích cụ thể, chủ yếu phục vụ cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng So với giai đoạn xét xử thì vai trò của VKSND về việc áp dụng các BPNC trong giai đoạn điều tra, truy tố thể hiện
rõ hơn Ở giai đoạn xét xử, vai trò của VKSND chỉ thể hiện ở việc thực hiện chức năng kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các BPNC của TA Còn ở giai đoạn điều tra, truy tố VKSND có quyền thực hiện hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng các BPNC của CQĐT
Ta có thể khái niệm về vai trò của VKSND đối với việc áp dụng các
BPNC trong giai đoạn điều tra, truy tố: Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
đối với việc áp dụng các BPNC trong giai đoạn điều tra, truy tố là việc thực hiện các các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong các hoạt động áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các BPNC của các cơ quan, người có thẩm quyền theo pháp luật TTHS Việt Nam trong giai đoạn điều tra, truy tố nhằm đảm bảo các quy định của pháp luật được áp dụng có căn
cứ cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
1.2 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự ở một số nước trên thế giới
Chế định các BPNC là một chế định quan trọng của pháp luật TTHS Việc quy định và áp dụng một cách đúng đắn, chính xác các BPNC là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của TTHS để phát hiện
Trang 9chính xác, nhanh chóng, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với kẻphạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Chế định các BPNC là một chế định quan trọng của pháp luật TTHS Pháp luật TTHS của các nước trên thế giới đều có quy định về các BPNC và VKSND có vai trò nhất định khi tiến hành áp dụng các BPNC, ví dụ trong pháp luật tố tụng hình
sự của Trung Quốc, Cộng hòa Liên bang Đức, Liên bang Nga
1.3 Quá trình hình thành và phát triển những qui định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1960 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình
sự năm 1988
Chế định VKSND lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm
1959 Trên cơ sở đó Luật tổ chức VKSND được ban hành 1960 làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của VKSND
Trước khi có BLTTHS năm 1988, sự tham gia của VKSND trong hoạt động TTHS chủ yếu được tiến hành trên cơ sở những quy định trong Luật tổ chức VKSND năm 1960 và năm 1981 Trong giai đoạn này, để đảm bảo cho hoạt động TTHS được tiến hành thuận lợi, một số văn bản pháp luật quy định việc áp dụng các BPNC được ban hành, cụ thể: Luật số 103/SL-L005 ngày 20/5/1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân; Sắc luật số 002/SLT ngày 18/6/1957 của Chủ Tịch nước: Sắc luật quy định những trường hợp phạm pháp quả tang, những trường hợp khẩn cấp và những trường hợp khám người phạm pháp quả tang; [35, tr.59+60]
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình
Về các BPNC thì BLTTHS năm 1988 đã dành một chương quy định về vấn đề này (Chương V) So với những quy định pháp luật trước đây thì BLTTHS năm 1988 có một số quy định mới sau: - Bổ sung một số BPNC mới: cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm; - Không quy định biện pháp tạm tha, tha mà sử dụng thuật ngữ trả lại tự
do với ý nghĩa “không giam giữ nữa”; - Bổ sung chế định thay đổi, hủy bỏ BPNC và các quy định về thủ tục áp dụng sau bắt; Những quy định về BPNC trong BLTTHS năm 1988 đã trở thành công cụ quan trọng cho các cơ quan
tiến hành tố tụng áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự [35, tr.80]
Trang 10Chương 2 QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH
VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI VIỆC
ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, truy tố
2.1.1 Biện pháp bắt người
2.1.1.1 Biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam
Việc bảo đảm áp dụng BPNC đúng pháp luật là trách nhiệm của VKS
vì Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2 tháng 1 năm 2001 của Bộ chính trị Ban
chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ “ ở đâu có việc bắt giam, giữ trái
pháp luật thì Viện kiểm sát ở đó phải chịu trách nhiệm” Vai trò của
VKSND trong quá trình áp dụng BPNC ở giai đoạn điều tra, truy tố là rất rõ nét, thể hiện thông qua nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng Đối với biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam, vai trò của VKSND thể hiện như sau:
Thứ nhất, VKSND có quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam Khoản 1
Điều 80 BLTTHS quy định: Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND và VKS quân sự các cấp có quyền bắt bị can để tạm giam
Thứ hai, VKSND có quyền phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam: đối
với trường hợp Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp ra lệnh bắt bị can
để tạm giam thì lệnh bắt phải được VKSND cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành (điểm d Khoản 1 Điều 80 BLTTHS)
Thứ ba, kiểm sát việc bắt bị can để tạm giam: sau khi ra lệnh bắt bị can
để tạm giam hoặc phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc thi hành lệnh này
2.1.1.2 Biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Để đảm bảo việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp được chính xác,
có căn cứ, bảo đảm các quyền và lợi ích của người bị bắt, BLTTHS đã quy
định nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND đối với biện pháp này như sau:
Thứ nhất, phê chuẩn việc bắt khẩn cấp Khi nhận được đề nghị xét phê
chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp cùng các tài liệu có liên quan, VKSND phải kiểm tra các căn cứ bắt khẩn cấp đối với từng trường hợp
để ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn
Thứ hai, kiểm sát việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp
khẩn cấp của người có thẩm quyền Để ra quyết định phê chuẩn hay không
Trang 11phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp một cách chính xác, có căn cứ thì VKSND phải kiểm sát chặt chẽ từ hình thức đến nội dung việc bắt người
2.1.1.3 Biện pháp bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã
Theo quy định tại Điều 82 BLTTHS thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt, tước vũ khí, hung khí của người bị bắt trong hai trường hợp trên
và giải ngay đến CQCA, VKSND hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất Các
cơ quan tiếp nhận người bị bắt trong hai trường hợp trên phải lập biên bản và giải ngay đến CQĐT có thẩm quyền
2.1.2 Biện pháp tạm giữ
Đối với BPNC này, vai trò của VKSND thể hiện cũng rất rõ:
Thứ nhất, VKSND có nhiệm vụ kiểm sát việc ra quyết định tạm giữ
Khoản 3 Điều 86 BLTTHS quy định: trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ phải được gửi cho VKS cùng cấp Khi nhận được quyết định tạm giữ, VKS sẽ kiểm tra tính có căn cứ, hợp pháp của quyết định tạm giữ; thời hạn ra quyết định tạm giữ; thời hạn gửi quyết định tạm giữ Qua hoạt động kiểm sát của mình, nếu VKSND phát hiện việc tạm giữ không có căn cứ và không hợp pháp thì có quyền yêu cầu CQĐT trả
tự do ngay cho người bị tạm giữ
Thứ hai, VKSND có quyền phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ Việc
gia hạn tạm giữ tạo điều kiện cho hoạt động điều tra, xác minh của CQĐT Mọi trường hợp gia hạn này đều phải được VKS cùng cấp phê chuẩn
2.1.3 Biện pháp tạm giam
Đối với BPNC này, VKSND có vai trò rất quan trọng, không những đảm bảo cho việc áp dụng biện pháp một cách đúng đắn, phục vụ có hiệu quả cho hoạt động điều tra mà còn đảm bảo quyền, lợi ích của bị can, thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, VKSND là một trong những chủ thể có quyền ra lệnh tạm
giam Khi áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can thì phải tuân thủ các quy định về đối tượng cũng như điều kiện tại Điều 88 BLTTHS để được áp dụng biện pháp này
Thứ hai, phê chuẩn lệnh tạm giam của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng
CQĐT trước khi thi hành và kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với
bị can Việc phê chuẩn nhằm đảm bảo việc áp dụng biện pháp này của CQĐT
có căn cứ, hợp pháp, hạn chế việc xâm phạm đến quyền, lợi ích của bị can
Thứ ba, thay thế, hủy bỏ biện pháp tạm giam: theo Khoản 2 Điều 94
BLTTHS thì VKSND có quyền thay thế, hủy bỏ biện pháp tạm giam khi thấy không còn cần thiết Khi VKS phê chuẩn lệnh tạm giam thì chỉ có VKS mới
có quyền thay thế hoặc hủy bỏ
Thứ tư, quyết định gia hạn tạm giam bị can để điều tra: thường thì khi
gần hết thời hạn tạm giam thì CQĐT sẽ đề nghị VKSND gia hạn tạm giam
Trang 12VKS sẽ kiểm tra tính cần thiết của việc gia hạn tạm giam
2.1.4 Các biện pháp ngăn chặn khác
2.1.4.1 Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú
Theo quy định của BLTTHS, trong giai đoạn điều tra, truy tố vai trò của VKSND đối với việc áp dụng biện pháp này thể hiện như sau:
Thứ nhất, VKSND có quyền ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú
Thứ hai, kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện áp cấm đi khỏi
nơi cư trú của CQĐT
Trong quá trình kiểm sát việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nếu phát hiện bị can bị áp dụng biện pháp này có vi phạm thì VKS có quyền yêu cầu CQĐT áp dụng BPNC khác nghiêm khắc hơn
2.1.4.2 Biện pháp bảo lĩnh
Đối với BPNC này, VKSND vừa có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bảo lĩnh, vừa có quyền kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp này
Thứ nhất, VKSND trực tiếp ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp bảo lĩnh Theo Điều 92 BLTTHS có ba điều kiện để áp dụng biện pháp bảo lĩnh thay thế biện pháp tạm giam: 1/ Chỉ áp dụng biện pháp này đối với bị can, bị cáo; 2/ Hành vi phạm tội của họ thuộc trường hợp mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm; 3/ Có ít nhất hai người thân thích nhận bảo lĩnh hoặc cơ quan, tổ chức nơi mà họ là thành viên nhận bảo lĩnh
Thứ hai, kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bảo lĩnh của
CQĐT Khi CQĐT quyết định cho bảo lĩnh bị can thì VKSND có trách nhiệm kiểm sát việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp này
2.1.4.3 Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
Đối với BPNC này, VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
Thứ nhất, phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm
và kiểm sát việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ việc áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm của CQĐT
Thứ hai, VKSND trực tiếp ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
2.2 Thực tiễn về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các các biện pháp ngăn chặn trên địa bàn thành phố Hà Nội
2.2.1 Những kết quả đạt được
Việc áp dụng các BPNC trong hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền có căn cứ, hợp pháp hay không, có đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng hay không thể hiện không nhỏ vai trò của VKSND Trong quá trình áp dụng, VKSND đã kịp thời thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình để bảo đảm việc tuân thủ pháp luật của cơ quan
Trang 13tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng để không
bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Việc áp dụng các BPNC đó đã góp phần không nhỏ giúp cho việc giải quyết vụ án được thuận lợi, việc
áp dụng ngày càng đạt hiệu quả Việc áp dụng các BPNC của CQĐT, VKS phụ thuộc vào hiệu quả áp dụng trên thực tiễn của từng biện pháp Đối với từng BPNC có kết quả nhất định, cụ thể:
Thứ nhất, về việc áp dụng biện pháp bắt người:
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội biện pháp bắt người được áp dụng khá phổ biến nhằm phục vụ cho hoạt động điều tra vụ án đồng thời cũng là biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích xã hội; quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần bảo đảm trật tự chính trị, an toàn xã hội Việc áp dụng biện pháp bắt người đã phát huy được tác dụng to lớn trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm, kịp thời ngăn chặn một số lượng lớn đối tượng đang có hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm, đang thực hiện hành vi phạm tội cũng như việc giúp ích cho hoạt động của cơ quan điều tra Tỷ lệ số người bắt sau đó bị khởi tố chiếm tỷ lệ khá cao Qua số liệu ta thấy số bị can bị khởi tố chiếm tỷ lệ cao trong những năm gần đây, tỷ lệ đối tượng bị khởi tố chiếm hơn 90% số người bị bắt Kết quả này cũng phản ánh chất lượng của hoạt động kiểm sát cũng như phối hợp trong công tác của VKSND với CQĐT trong quá trình áp dụng BPNC này Vai trò của VKSND còn thể hiện rõ khi áp dụng biện pháp bắt người trong giai đoạn điều tra, truy
tố đó chính là biện pháp bắt khẩn cấp và bắt bị can để tạm giam Không chỉ
có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát áp dụng mà VKSND còn có quyền phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp (sau khi thi hành) và bắt bị can để tạm giam (trước khi thi hành) Trong 05 năm trên địa bàn thành phố Hà Nội, VKSND đã không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp và lệnh bắt tạm giam 195 đối tượng trên
cơ sở đề nghị của CQĐT Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của VKSND
khi áp dụng biện pháp bắt người trong giai đoạn điều tra
Thứ hai, trong việc áp dụng biện pháp tạm giữ
Tỷ lệ số bị can bị khởi tố trên tổng số đối tượng bị tạm giữ trung bình trong 05 năm là 95% Đối với biện pháp tạm giữ, VKSND cũng góp phần vào giảm việc áp dụng tràn lan biện pháp này khi không cần thiết, giảm việc xâm phạm đến quyền tự do thân thể của công dân cũng như hạn chế tình trạng bắt giữ sau đó trả tự do chuyển xử lý hành chính để đảm bảo việc áp dụng có căn
cứ, tạo điều kiện thuận lợi thực sự cho hoạt động tố tụng Trong 05 năm từ năm
2009 đến năm 2013 số người được trả tự do sau khi VKSND hủy bỏ quyết định tạm giữ và không phê chuẩn gia hạn tạm giữ là 1.236 đối tượng Thông qua các trường hợp thực tế này, CQĐT cũng đã rút ra được kinh nghiệm trong áp dụng biện pháp tạm giữ trong những trường hợp cụ thể để giảm tỷ lệ VKSND hủy bỏ quyết định tạm giữ hoặc không phê chuẩn gia hạn tạm giữ