15 1.3 Sự hình thành và phát triển của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.... 41 Chươn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2Công trình đƣợc hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN ANH TUẤN
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn đƣợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2014
Có thể tìm hiểu luận văn tại
Trung tâm tƣ liệu Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm Thông tin – Thƣ viện, Đại học Quốc gia Hà
Trang 3TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CỦA CÁ NHÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ THẨM QUYỀN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 7
1.1 Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài
liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 7 1.1.1 Khái niệm nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ
của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 7 1.1.2 Ý nghĩa của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng
cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 13 1.2 Cơ sở của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ
của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 15 1.3 Sự hình thành và phát triển của nguyên tắc trách nhiệm cung
cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam 25 1.4 Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá
nhân, cơ quan, tổ chức theo pháp luật tố tụng dân sự của một
số nước trên thế giới 36 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41
Chương 2: NỘI DUNG NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM CUNG
CẤP TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CỦA CÁ NHÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ THẨM QUYỀN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 42
2.1 Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
trong việc cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, Toà án, Viện kiểm sát 42
Trang 42.1.1 Xác định các loại tài liệu, chứng cứ mà các cá nhân, cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền có trách nhiệm cung cấp trong các vụ
việc dân sự 43
2.1.2 Về phạm vi trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 55
2.2 Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đúng thời hạn theo yêu cầu của đương sự, Toà án, Viện kiểm sát 58
2.3 Trách nhiệm pháp lý của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, không đúng thời hạn các tài liệu, chứng cứ 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 74
Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CỦA CÁ NHÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ THẨM QUYỀN VÀ KIẾN NGHỊ 76
3.1 Thực tiễn thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 76
3.2 Một số kiến nghị về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự 100
3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 101
3.2.2 Kiến nghị về thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền 106
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 112
KẾT LUẬN CHUNG 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội là hệ thống các quan hệ đa dạng và phức tạp Quyền và lợi ích của các chủ thể là vấn đề quan trọng, là động lực để các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội Tuy ở những mức độ khác nhau nhưng pháp luật các nước trên thế giới đều công nhận và bảo hộ các quyền, lợi ích chính đáng của các chủ thể Khi tham gia vào các quan hệ xã hội các chủ thể phải thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Việc một chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình có thể xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, dẫn đến tranh chấp Để duy trì trật tự xã hội, Nhà nước phải thiết lập cơ chế pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể Một trong số đó là cơ chế về tố tụng
Hiện nay, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức của tiến trình hội nhập, một tiến trình không thể đảo ngược trên con đường phát triển đất nước Việc gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới, tham gia vào các công ước quốc tế, ký kết nhiều hiệp định song phương và đa phương với các nước, thu hút đầu tư nước ngoài đã làm cho các giao lưu dân sự, thương mại phát triển một cách mạnh mẽ và đa dạng
Để đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của các quan hệ dân sự, quan hệ thương mại đó đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh nó Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật nội dung thì việc hoàn thiện pháp luật tố tụng cũng là một nhu cầu rất cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong trường hợp có tranh chấp hoặc bị xâm phạm Một cơ chế tố tụng có hiệu quả có vai trò rất quan trọng để các chủ thể yên tâm và, hơn nữa, thúc đẩy họ tham gia tích cực vào các giao lưu dân sự, thương mại trên thị trường góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng,
xã hội phát triển Chính vì vậy, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 đã ra đời với nhiều điểm mới cả về nội dung và hình thức khắc phục kịp thời những hạn chế tồn tại của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 đáp ứng tích cực yêu cầu của quá trình hội nhập Bộ luật tố tụng dân sự 2004 với nội dung phong phú quy định khá cụ thể những vấn đề liên quan đến
Trang 6hoạt động tư pháp của nước ta hiện nay, trong đó vấn đề chứng cứ trong tố tụng dân sự được quan tâm sửa đổi khá nhiều, với nhiều điểm mới quan trọng giúp cho việc thu thập, sử dụng, đánh giá chứng cứ của các thẩm phán cũng như những người tiến hành tố tụng khác được khách quan và đúng đắn hơn, góp phần giải quyết các vụ việc dân sự một cách đúng đắn, triệt để, đáp ứng lòng tin của nhân dân đối với pháp luật Một trong số những vấn đề liên quan đến chứng cứ đã được sửa đổi, bổ sung là trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự Đây được coi là một nội dung có nhiều điểm mới tiến
bộ so với pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trước đây và được quy định là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự hiện hành Trên thực tế, đôi khi chứng cứ có thể không do các đương sự lưu giữ mà do các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác lưu giữ, quản lý Việc quy định trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức giúp cho đương sự có thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình, đồng thời góp phần giúp cho Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự một cách đúng đắn, chính xác và nhanh chóng Như vậy, nguyên tắc này ra đời đã thể hiện được vai trò to lớn của nó đối với hoạt động xét xử của Tòa án, tuy nhiên, thực tế thi hành vẫn còn một số vướng mắc nhất định Chính vì vậy, việc nghiên cứu về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức là rất cần thiết Với
những lý do trên, em đã chọn đề tài “Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp
chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự” làm luận
văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận cũng như nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân,
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, chỉ ra những điểm còn thiếu sót hoặc chưa hợp lý trong các quy định hiện hành về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức Ngoài ra việc nghiên cứu cũng nhằm chỉ ra một số vướng mắc, khó khăn trên thực tế khi thực
Trang 7hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật đồng thời nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trên thực tế
- Phạm vi nghiên cứu:
Với mục đích nghiên cứu trên, Luận văn tập trung nghiên cứu về pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tại một
số Tòa án địa phương Tuy nhiên, một số vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền cũng được tiến hành nghiên cứu nhằm tạo cơ sở cho việc đánh giá luật thực định và đề xuất kiến nghị Ngoài ra, Luận văn có mở rộng nghiên cứu quy định của pháp luật một số nước về trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự
Tuy nhiên, việc nghiên cứu chỉ nhằm mục đích so sánh, tham khảo mà không nghiên cứu sâu quy định về trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự của Tòa án nước ngoài
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ được giới hạn trong phạm vi sau đây:
- Nghiên cứu khái niệm, ý nghĩa và cơ sở hình thành nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự
- Nghiên cứu lược sử pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền trong tố tụng dân sự và so sánh, tham khảo pháp luật một
số nước trên thế giới
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự Để làm rõ vấn đề này, bên cạnh việc nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành, Luận văn còn nghiên cứu quy định của một số ngành luật nội dung để làm
rõ trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Tuy nhiên, trong khuôn khổ của Luận văn này, tác giả chỉ giới hạn
Trang 8việc nghiên cứu quy định của một số ngành luật nội dung có liên quan đến việc quản lý, lưu giữ chứng cứ, tài liệu của các cá nhân, cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền điều chỉnh một số quan hệ xã hội mang tính chất phổ biến, thường gặp trong thực tiễn tố tụng tại Toà án
- Nghiên cứu tình hình thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trên thực tế, từ
đó rút ra những vướng mắc, khó khăn và đề xuất giải pháp khắc phục
3 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tố tụng dân sự như Công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước của Toà án nhân dân tối cao năm 1996 nghiên cứu về “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự”; Công trình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của trường Đại học Luật Hà Nội 2001 nghiên cứu về “Cơ sở khoa học của việc hoàn thiện một số chế định cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”…Bên cạnh những công trình đó, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề chứng cứ, chứng minh trong tố tụng dân sự, như Luận văn
“Chứng cứ và hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự” của Thạc sỹ Vũ Trọng Hiếu năm 1997; Luận văn “Hoạt động cung cấp và thu thập chứng
cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam” của thạc sỹ Nguyễn Minh Hằng năm 2002; Luận án tiến sĩ Luật học của Nguyễn Minh Hằng năm 2007 nghiên cứu về “Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam”… Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền Có thể nói đây là công trình đầu tiên tiếp cận nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này ở cấp độ thạc sỹ
4 Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên quan điểm, quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tôn trọng sự thật khách quan của sự vật hiện tượng, xem xét vấn đề một cách một cách toàn diện
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề dưới góc độ pháp luật như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Trang 95 Đóng góp của đề tài
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự - có thể coi là công trình đầu tiên tiếp cận nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này ở cấp độ thạc sỹ, cụ thể là:
Thứ nhất: Lần đầu tiên nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu,
chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân
sự được nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện cả về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn từ khái niệm, ý nghĩa, cơ sở hình thành và lược sử phát triển của nguyên tắc, làm bật bản chất và trọng tâm của vấn đề nghiên cứu Luận văn cũng đã tiếp cận và làm rõ được trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc cung cấp đầy đủ, đúng thời hạn tài liệu, chứng cứ mà mình đang quản lý, lưu giữ, đồng thời làm rõ các trách nhiệm pháp lý có thể được áp dụng khi cá nhân, cơ quan, tổ chức không thực hiện trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của mình
Thứ hai: Quá trình nghiên cứu đề tài đã tìm ra được những tồn tại, bất cập
trong công tác xây dựng và thực tiễn thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị để góp phần vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như tăng cường hiệu quả thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài
liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trên thực tế
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu bởi 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc trách nhiệm cung
cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong
tố tụng dân sự
Chương 2: Nội dung nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng
cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam hiện hành
Chương 3: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài
liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và kiến nghị
Trang 10Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CỦA CÁ NHÂN, CƠ QUAN,
TỔ CHỨC CÓ THẨM QUYỀN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CỦA CÁ NHÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ THẨM QUYỀN
1.1.1 Khái niệm nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng
cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là một trong những nguyên tắc cơ bản trong
tố tụng dân sự, xác định trách nhiệm phối hợp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đang lưu giữ, quản lý chứng cứ, tài liệu trong việc cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc dân sự khi có yêu cầu của đương sự, Toà án hoặc Viện kiểm sát đồng thời xác định trách nhiệm pháp lý của các chủ thể này trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, kịp thời trách nhiệm của mình
1.1.2 Ý nghĩa của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có ý nghĩa to lớn trước hết đối với đương sự, giúp đương sự thực hiện được quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình, phát huy hơn nữa vai trò chủ động, tích cực của họ trong việc giải quyết tranh chấp vì lợi ích của chính mình, bên cạnh đó, giúp Toà án và Viện kiểm sát có cơ sở để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình một cách đúng đắn, kịp thời, đồng thời, góp phần nâng cao trách nhiệm phối hợp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết vụ việc dân sự
1.2 CƠ SỞ CỦA NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP
TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CỦA CÁ NHÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ THẨM QUYỀN
- Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được xây dựng trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng về hoàn thiện pháp luật và cải cách tư pháp
Trang 11- Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
- Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân
- Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được xây dựng trên cơ sở bảo đảm quyền tiếp cận công lý của đương sự, tạo cơ sở pháp lý cho đương sự có thể thực hiện được việc bảo vệ quyền lợi của mình
- Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được thiết lập trên cơ sở nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
- Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được ghi nhận xuất phát từ cơ sở chứng cứ, tài liệu do cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ việc dân sự
- Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được hình thành từ yêu cầu của thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự nhằm khắc phục tình trạng án tồn đọng, kéo dài, kém hiệu quả trong hoạt động giải quyết án kiện của Toà án
1.3 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGUYÊN TẮC
TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CỦA CÁ NHÂN,
CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ THẨM QUYỀN TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
- Giai đoạn từ năm 1989 trở về trước:
Trong giai đoạn từ 1989 trở về trước, các văn bản về tố tụng dân sự
đã ra đời, tuy nhiên, còn tản mạn, chưa có tính thống nhất Trong những văn bản này cũng đã có những quy định cụ thể về trách nhiệm phối hợp của các cơ quan khác trong việc cung cấp chứng cứ để đảm bảo cho quá trình giải quyết án dân sự Tuy nhiên, những quy định này còn chưa mang tính khái quát, nhưng đây cũng có thể coi là cơ sở bắt nguồn cho quá trình
Trang 12hình thành và phát triển của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức sau này
- Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004:
Trong giai đoạn này, pháp luật về tố tụng dân sự đã có sự ghi nhận
về quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ trong quá trình tố tụng Tuy nhiên, hệ thống pháp luật giai đoạn này mới chỉ ghi nhận quyền yêu cầu của Toà án khi xét thấy cần thiết, mà không cho phép đương sự chủ động yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp chứng cứ cho mình Mặt khác, quy định ở giai đoạn này còn mang tính hình thức, bởi nó mới chỉ ghi nhận quyền yêu cầu của Toà án, mà chưa quy định về trách nhiệm thực hiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan Chỉ đến khi Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động 1996 ra đời, pháp luật mới quy định trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan phải cung cấp tài liệu, chứng cứ đầy đủ và đúng thời hạn theo yêu cầu của Toà án Và đây có thể coi là mốc khởi đầu cho quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự
- Giai đoạn từ năm 2005 trở đi:
BLTTDS 2004 ra đời đã quy định được khá đầy đủ các vấn đề về tố tụng dân sự, đặc biệt bổ sung một số nguyên tắc mới, nhiều quy định trong thủ tục tố tụng dân sự cũng được quy định rõ hơn, cụ thể hơn trong phần các nguyên tắc, như nguyên tắc “trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự” được quy định tại Điều 7 BLTTDS Theo quy định của nguyên tắc này, chủ thể
có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức chứng cứ là đương sự và Tòa
án, tuy nhiên, chưa quy định về trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức
Khắc phục hạn chế đó, khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung năm
2011 có sửa đổi, bổ sung Điều 7 BLTTDS 2004 Theo đó, điều luật sửa đổi này đã bổ sung chủ thể có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ là đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát đồng thời quy định trách nhiệm pháp lý khi các cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản
lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ từ chối cung cấp mà không có lý do chính
Trang 13đáng, cung cấp không đầy đủ, kịp thời hoặc không chính xác theo yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát
1.4 NGUYÊN TẮC TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP TÀI LIỆU,
CHỨNG CỨ CỦA CÁ NHÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp chứng cứ
là một trong những hình thức thu thập chứng cứ trong quá trình tố tụng dân sự Và hiện nay trên thế giới, mỗi nước đều có một cách quy định riêng về cách thức cung cấp, thu thập chứng cứ, nhưng nhìn chung có thể chia thành ba mô hình sau:
- Thứ nhất, Toà án không tham gia thu thập chứng cứ ở các nước
theo mô hình tranh tụng;
- Thứ hai, Toà án đóng vai trò chủ động, tích cực và trực tiếp thu
thập chứng cứ trong mô hình thẩm xét;
- Thứ ba, Toà án không thu thập nhưng hỗ trợ đương sự bằng các
quyết định tư pháp trong mô hình kết hợp tranh tụng và thẩm xét
Tùy vào quan niệm về vai trò của Toà án và đương sự trong thu thập chứng cứ với mỗi hệ thống pháp luật trên thế giới mà có quy định khác nhau về việc thu thập, cung cấp chứng cứ Tuy nhiên, nhìn chung, có thể xuất phát từ đương sự hoặc Toà án, nhưng những hệ thống pháp luật này đều ghi nhận trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc cung cấp chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý cho đương sự hoặc Toà án
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Chương 1 Luận văn đã phân tích, khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự, bao gồm:
- Xây dựng được một cách đầy đủ khái niệm về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong tố tụng dân sự, đồng thời làm rõ được ý nghĩa của nguyên tắc này trong hoạt động tố tụng dân sự;
- Làm rõ quá trình hình thành và phát triển của các quy định về trách