28 Chương 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN .... Trong quá trình cái cách tư pháp đối với Tòa án
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ VĂN CAO
NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Công Bình
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2013
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Trung tâm tƣ liệu Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 3
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 3
5 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài 3
6 Tính mới và những đóng góp của luận văn 4
7 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 6
1.1 KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 6
1.1.1 Khái niệm nguyên tắc hai cấp xét xử trong pháp luật tố tụng dân sự 6
1.1.2 Ý nghĩa của nguyên tắc hai cấp xét xử trong pháp luật tố tụng dân sự 12
1.2 CƠ SỞ CỦA NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 14
Trang 41.2.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc hai cấp xét xử trong
pháp luật tố tụng dân sự 14 1.2.2 Cơ sở thực tiễn của nguyên tắc hai cấp xét xử trong
tố tụng dân sự 18
1.3 MỐI QUAN HỆ CỦA NGUYÊN TẮC HAI CẤP
XÉT XỬ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VỚI MỘT
SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN KHÁC CỦA LUẬT
TỐ TỤNG DÂN SỰ 181.3.1 Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự với
nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
tố tụng dân sự 19 1.3.2 Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự với
nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 20 1.3.3 Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự với
nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người tiến
hành tố tụng 22 1.3.4 Nguyên tắc hai cấp xét xử với nguyên tắc cung cấp
chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự 23
1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG QUYẾT ĐỊNH ĐẾN
VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT
XỬ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 24 1.4.1 Ý thức, trình độ am hiểu pháp luật của đương sự 25
Trang 51.4.2 Sự hỗ trợ đương sự tham gia tố tụng của người
đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự 26 1.4.3 Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ Thẩm
phán và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng 27 Kết luận Chương 1 28
Chương 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ NGUYÊN TẮC HAI CẤP
XÉT XỬ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ
THỰC TIỄN THỰC HIỆN 29 2.1 NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TÒA ÁN THỰC
HIỆN CHẾ ĐỘ HAI CẤP XÉT XỬ VÀ THỰC
TIỄN THỰC HIỆN 29 2.1.1 Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự
hiện hành về cấp xét xử sơ thẩm và thực tiễn thực
hiện 29 2.1.2 Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự
hiện hành về cấp xét xử phúc thẩm và thực tiễn thực
hiện 43
2.2 NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ XÉT LẠI BẢN
ÁN, QUYẾT ĐỊNH CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN 49
Trang 62.2.1 Tính chất của việc xét lại bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật 49
2.2.2 Những vấn đề chung về thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật 51
Kết luận Chương 2 55
Chương 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU CHỈNH CỦA NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 56
3.1 CÁC YÊU CẦU NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU CHÍNH CỦA NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 56
3.1.1 Yêu cầu từ đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước 56
3.1.2 Yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội và quá trình hội nhập quốc tế 57
3.2 CÁC KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU CHỈNH CỦA NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 58
3.2.1 Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật 58
3.2.2 Kiến nghị về một số biện pháp đảm bảo thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự Việt Nam 70
Kết luận chương 3 83
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 7MỞ ĐẦU
Từ khi Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 (LTCTAND), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS) được ban hành và có hiệu lực thi hành, thẩm quyền, trình tự và thủ tục xét xử các vụ án dân sự (VADS) đã được quy định các văn bản này và các văn bản hướng dẫn khá cụ thể và khoa học Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện tại các Tòa án vẫn còn hiện tượng các VADS được giải quyết một cách chậm trễ, kéo dài gây lãng phí, tốn kém cho người dân và Nhà nước
Theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng
6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, thì Tòa án là trung tâm của quá trình cải cách tư pháp Trong quá trình cái cách tư pháp đối với Tòa án, việc đình hình rõ, điều chỉnh và bổ sung các quy định của pháp luật về tổ chức Tòa án
và pháp luật tố tụng để đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử được sử dụng một cách phù hợp, tạo thuận lợi cho quá trình xét xử các VADS, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việc nghiên cứu nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTDS Việt Nam là một vấn đề hết sức cần thiết về phương diện lý luận cũng như ở phương diện thực tiễn trong bối cảnh hiện nay Vì vậy, học viên đã lựa chọn đề tài:
"Nguyên tắc hai cấp xét xử trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam" làm luận văn thạc sỹ luật học
Trang 8Luận văn có những điểm mới cụ thể sau:
Thứ nhất, luận văn đã hệ thống những vấn đề liên quan đến
nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử trong pháp luật TTDS và làm
rõ thêm những vấn đề lý luận về nguyên tắc hai cấp xét xử trong pháp luật TTDS Việt Nam
Thứ hai, luận văn phân tích làm rõ các quy định của pháp luật
Việt Nam về nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTDS như thẩm quyền xét xử theo các cấp sơ thẩm, phúc thẩm và những nội dung liên quan đến các cấp xét xử này Từ đó, luận văn đã chỉ ra những bất cập, những đòi hỏi cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn xét xử các VADS tại Tòa án, hạn chế và đi đến khắc phục, chấm dứt tình trạng các VADS bị kèo dài thời gian giải quyết, các Tòa án đẩy
đi đẩy lại cho nhau qua nhiều lần xét xử không mang lại hiệu quả giải quyết tranh chấp
Thứ ba, luận văn nêu lên những đề xuất các kiến nghị nhằm
thực hiện định hướng của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020, trong đó có vấn đề liên quan đến việc tổ chức thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng xét xử trong TTDS
Trang 9xử lần đầu ở cấp XXST và có thể được xét xử lại lần thứ hai ở cấp XXPT nếu có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
1.1.2 Ý nghĩa của nguyên tắc hai cấp xét xử trong pháp luật tố tụng dân sự
1.1.2.1 Ý nghĩa pháp lý của nguyên tắc hai cấp xét xử trong pháp luật tố tụng dân sự
Nếu quyết định, bản án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực có thể bị kháng cáo, kháng nghị và XXPT sẽ làm cho phát quyết cuối cùng của Tòa án có độ chính xác cao hơn, qua đó các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị bảo vệ được quyền, lợi ích của mình, lợi ích của công dân, nhà nước Về phía Tòa án, việc quy định
Trang 10nguyên tắc hai cấp xét xử theo đó Tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa, hủy bản án, quyết định sơ thẩm sẽ kịp thời sửa chữa những sai lầm hoặc các vi phạm pháp luật mà cấp sơ thẩm đã mắc phải, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1.1.2.2 Ý nghĩa chính trị, xã hội của nguyên tắc hai cấp xét
xử trong pháp luật tố tụng dân sự
Thứ nhất, pháp luật tố tụng nước ta hiện hành quy định nguyên tắc hai cấp xét xử là phù hợp với mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta
là thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh được ghi nhận tại Điều 3 của Hiến pháp năm 1992 Thứ hai, cũng như các nguyên tắc cơ bản khác của TTDS, nguyên tắc hai cấp xét xử có vai trò tác động lên ý thức pháp luật của mọi công dân, giúp công dân hiểu rõ được đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về bản chất của pháp luật TTDS
1.2 CƠ SỞ CỦA NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.2.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc hai cấp xét xử trong pháp luật tố tụng dân sự
Cơ sở lý luận của nguyên tắc hai cấp xét xử xuất phát từ tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta trong việc tổ chức, phân cấp xét xử theo hai cấp để đảm bảo VVDS được giải quyết đúng đắn, công minh nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của công dân đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật
Trang 111.2.2 Cơ sở thực tiễn của nguyên tắc hai cấp xét xử trong
tố tụng dân sự
Từ thực tiễn hoạt động xét xử vẫn còn những sai lầm, đến ý thức cẩn trọng của người thẩm phán khi nhân danh công lý, nhân danh Nhà nước để xét xử đã làm cho nguyên tắc hai cấp xét xử hai thể hiện được ý nghĩa rất quan trọng đó là bảo đảm tính đúng đắn, công minh hơn so với xét xử một lần
1.3 MỐI QUAN HỆ CỦA NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT
XỬ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VỚI MỘT SỐ NGUYÊN TẮC
CƠ BẢN KHÁC CỦA LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.3.1 Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự với nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng dân sự
Cả hai nguyên tắc đều đòi hỏi trong hoạt động tố tụng thì người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ các quy định của pháp luật, trong đó phải tuân thủ nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTDS Mặt khác, chỉ khi nguyên tắc pháp chế XHCN trong TTDS được tuân thủ một cách tuyệt đối, nghiêm minh thì mới đảm bảo cho nguyên tắc hai cấp xét xử trong
TTDS được thực hiện một cách nghiêm túc, hiệu quả
1.3.2 Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự với nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Chỉ khi người Thẩm phán, HTND chí công vô tư, độc lập đưa
ra quyết định của mình để giải quyết vụ án mà không có bất kỳ ai có
Trang 12thể can thiệp được mà họ chỉ căn cứ trên cơ sở quy định của pháp luật, thì khi ấy bản án, quyết định được ban hành sẽ công tâm, bảo vệ
được quyền và lợi ích chính đáng của đương sự
1.3.3 Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự với nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng
Nếu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng đắn quy định của pháp luật, có tinh thần trách nhiệm cao, chí công vô tư, tôn trọng đương sự thì việc giải quyết VVDS sẽ trở nên thuận lợi, đảm bảo được công lý và bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của đương sự, của Nhà nước Qua đó đảm bảo cho nguyên tắc hai cấp xét xử được thực hiện một cách thực chất và hiệu quả, tránh sự lạm quyền, tránh việc đùn đẩy trách nhiệm của cơ
quan, người tiến hành tố tụng cấp trên cho cấp dưới hay ngược lại
1.3.4 Nguyên tắc hai cấp xét xử với nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
Nếu đương sự không cung cấp được đầy đủ chứng cứ, không chứng minh được yêu cầu của mình thì Hội đồng xét xử (HĐXX) bác yêu cầu của họ, do đó vấn đề chứng cứ, chứng minh gắn chặt với việc thực thi có hiệu quả hay không nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTDS Bởi lẽ, một khi đương sự không cung cấp được chứng cứ đầy
đủ, rõ ràng để chứng minh yêu cầu thì Tòa án rất khó có thể ngay từ lần xét xử đầu tiên đã đủ cơ sở để kết luận vụ việc, đưa ra phán quyết đúng đắn, công minh
Trang 131.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG QUYẾT ĐỊNH ĐẾN
VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.4.1 Ý thức, trình độ am hiểu pháp luật của đương sự
Nếu ý thức pháp luật của đương sự cao, sự am hiểu pháp luật của đương sự nhiều thì ngay từ khi xác lập các giao dịch dân sự, họ với tư cách là chủ thể xác lập các giao dịch đó đã có thể ngăn ngừa khả năng xảy ra tranh chấp Đồng thời, nếu đương sự có kiến thức,
am hiểu vấn đề liên quan đến quyền lợi của mình thì việc thu thập, cung cấp chứng cứ cho cơ quan tiến hành tố tụng sẽ hợp lý, đầy đủ, tạo điều kiện cho cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ việc một cách thuận lợi hơn
1.4.2 Sự hỗ trợ đương sự tham gia tố tụng của người đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Thực tiễn cho thấy rằng trong nhiều trường hợp, nhờ sự hỗ trợ hiệu quả của người đại diện, NBVQLĐS, các đương sự đã chuẩn bị đầy đủ các chứng cứ, đưa ra những quyết định đúng pháp luật trong các giai đoạn tham gia tố tụng tại Tòa án, do đó công việc còn lại của HĐXX rất nhẹ nhàng, vụ việc sớm được kết luận và có phán quyết chính xác, khách quan
1.4.3 Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ Thẩm phán và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Cơ quan, người tiến hành tố tụng nếu tinh thần trách nhiệm,
Trang 14trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tốt, đáp ứng được đòi hỏi của việc giải quyết các VVDS thì sẽ giúp tạo ra những quyết định, bản án công tâm, chính xác đảm bảo được quyền lợi của các đương sự Còn nếu đội ngũ người tiến hành tố tụng không nêu cao tinh thần học tập, rèn luyện kỹ năng chuyên môn, ít nghiên cứu văn bản pháp luật thì khi đối diện với những vụ việc có tính chất phức tạp sẽ gặp lúng túng dẫn đến sai sót
Chương 2
NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG TỐ TỤNG
DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
2.1 NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TÒA ÁN THỰC
HIỆN CHẾ ĐỘ HAI CẤP XÉT XỬ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
2.1.1 Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về cấp xét xử sơ thẩm và thực tiễn thực hiện
2.1.1.1 Về thẩm quyền Tòa án cấp sơ thẩm
Kế thừa những quy định của PLGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ, BLTTDS quy định thẩm quyền xét xử VVDS theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án cấp huyện, theo đó, Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm hầu hết những tranh chấp dân sự và những yêu cầu dân sự thuộc thẩm quyền chung về dân sự
Trang 15tục sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh được quy định tại Điều 34 BLTTDS Thực tiễn cho thấy còn những bất cập, chẳng hạn như các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất từ trước đến nay luôn là một loại tranh chấp rất phức tạp, nhưng lại được giao cho TAND cấp huyện thú lý giải quyết cấp sơ thẩm Trong khi đó, dù mang yếu tố nước ngoài nhưng nhiều trường hợp tranh chấp rất đơn giản như đòi quyền trực tiếp nuôi con, tranh chấp về vay nợ mà có yếu tố nước ngoài đơn giản lại buộc phải TAND cấp tỉnh thụ lý giải quyết sơ thẩm là không hợp lý
BLTTDS và LSĐBSBLTTDS hiện nay chưa quy định về thủ tục rút gọn trong việc giải quyết những vụ việc đơn giản, có chứng
cứ rõ ràng, đây là một khoảng trống pháp lý cần được nghiên cứu bổ sung trong thời gian tới
2.1.1.3 Về quyền hạn của Hội đồng xét xử sơ thẩm và hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm