Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân trong giai đoạn chuẩn bị xét xử .... Quy định pháp luật về nhiệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TẠ THỊ NGỌC ĐIỆP
NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG
CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 40
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN TUÂN
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2015
Có thể tìm hiểu luận văn tại
Trung tâm tư liệu Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
TỤNG HÌNH SỰ TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN 7 1.1 Khái niệm, vị trí, vai trò và nguyên tắc hoạt động của người
tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân 7
1.1.1 Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án
nhân dân 7 1.1.2 Vị trí, vai trò của người tiến hành tố tụng hình sự trong Tòa án nhân dân 9 1.1.3 Các nguyên tắc trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng
hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân 11
1.2 Mối quan hệ giữa những người tiến hành tố tụng hình trong cơ
quan Tòa án nhân dân 19
1.2.1 Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Chánh án, Phó Chánh án Tòa án 19 1.2.2 Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án 20
1.3 Khái quát các quy định của pháp luật về người tiến hành tố tụng
các vụ án hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân từ năm 1945 đến nay 23
1.3.1 Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân trong giai
đoạn từ năm 1945 đến năm 1988 24 1.3.2 Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân theo quy
định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và năm 2003 26
1.4 Người tiến hành tố tụng hình sự trong luật tố tụng hình sự một
số nước trên thế giới 28 Kết luận chương 1 39 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH
TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 40 2.1 Những quy định pháp luật về người tiến hành tố tụng trong cơ
quan Toà án nhân dân 40 2.2 Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm 44
Trang 42.2.1 Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử 44
2.2.2 Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân trong phiên tòa xét xử sơ thẩm 49
2.3 Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân trong giai đoạn xét xử phúc thẩm 56
2.4 Thực tiễn áp dụng pháp luật về người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 59
2.4.1 Tình hình tổ chức, cán bộ ngành Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk 59
2.4.2 Kết quả đạt được trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong xét xử vụ án hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 63
2.4.3 Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk 69
2.4.4 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án 76
Kết luận chương 2 81
Chương 3: NHỮNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN 82
3.1 Những yêu cầu cải cách tư pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự của những người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân 82
3.2 Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân 90
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự của những người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án trong Bộ luật tố tụng hình sự 90
3.2.2 Các giải pháp khác nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự của những người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân 97
Kết luận chương 3 100
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tòa án là trung tâm và là bộ mặt của nền tư pháp ở mỗi quốc gia Kết quả trong hoạt động xét xử là thước đo cho tính công bằng và mức độ đảm bảo các quyền dân chủ và quyền con người góp phần vào việc thực hiện pháp luật đảm bảo công bằng và giữ gìn trật tự xã hội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đối với những hành vi phạm tội nguy hiểm cho xã hội Xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp với vai trò trung tâm của hệ thống Tòa án là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng
khẳng định “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”, Đại hội lần thứ IX của Đảng một lần nữa khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân” Quán triệt chỉ đạo của Đảng, tiếp thu
những tư tưởng mới về Nhà nước pháp quyền cũng như thực tiễn công cuộc Đổi mới và hội nhập của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay, Hiến pháp năm 2013
kế thừa những thành tựu lập hiến của các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980
và 1992 vẫn tiếp tục khẳng định vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp, vị trí trọng tâm của hoạt động xét xử trong các hoạt động tư pháp
Theo quy định tại Điều 33 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm
2003 thì người tiến hành tố tụng trong cơ quan Toà án gồm có Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán và Thư ký Toà án Là một trong các chủ thể của
tố tụng hình sự (TTHS), những người tiến hành tố tụng (THTT) trong cơ quan Tòa án có vai trò quan trọng, mang tính quyết định trong quá trình chứng minh, giải quyết vụ án hình sự Những người THTT có nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, nhưng hoạt động của họ có mối liên hệ mật thiết, thống nhất với nhau và đều có trách nhiệm là nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Thực tiễn tố tụng hình sự nước ta cho thấy mặc dù định hướng cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước rõ ràng và nhận được sự đồng thuận cao, đồng thời hiến pháp đã ghi nhận xét xử là chức năng duy nhất của tòa án nhưng trong nghiên cứu lập pháp và hoạt động áp dụng vẫn chưa có sự đồng nhất trong việc tiếp cận vấn đề này Hệ quả dẫn tới trong khoa học pháp lý và thực tiễn công tác tố tụng tồn tại song song nhiều quan điểm, cách thức tiến hành còn khác nhau về tổ chức, hoạt động xét xử của tòa án Điều này có thể lý giải bởi hai nguyên nhân cơ bản: Ở góc độ luật thực định, Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn hiện hành vẫn còn tồn tại những bất hợp lý trong phân định chức năng của các chủ thể tiến hành tố tụng, điển hình trong đó nhiều quy định buộc Tòa án phải chịu trách nhiệm chứng minh tội phạm và thực hiện những
Trang 6công việc bên phần sân công tố; hoặc quy định chưa rõ ràng hoặc qui định chưa đẩy đủ các quyền năng để Tòa án có thể thực hiện được “tròn trịa” vai trò trọng tài, người phân xử Ở góc độ các chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, năng lực, trách nhiệm chưa cao của một bộ phận cán bộ thực hiện công tác tố tụng cùng với cơ chế, phương thức giải quyết án tại nhiều cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực sự khoa học và đúng với quy trình tố tụng cũng là nguyên nhân làm nảy sinh nhiều hạn chế trong công tác xét xử
Tỉnh Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở trung tâm Tây Nguyên, Việt Nam có diện tích 13.140km²; dân số gần 2.000.000 người Cơ cấu tổ chức của ngành Tòa án tỉnh Đắk Lắk hiện nay gồm: TAND tỉnh Đắk Lắk có 05 Tòa chuyên trách, 03 phòng giúp việc và 15 Tòa án cấp huyện Toàn ngành TAND tỉnh Đắk Lắk có
322 công chức, trong đó có 291 người trình độ đại học Trong những năm qua, cùng với ngành Tòa án toàn quốc, TAND tỉnh Đắk Lắk đã không ngừng nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó Chất lượng hoạt động xét xử đã được nâng lên từng bước, góp phần giải quyết tốt các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, tại môi trường ổn định, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Nhận thấy tầm quan trọng về lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu vai trò, chức năng, nhiệm vụ của những người THTT trong cơ quan Tòa án trong hệ thống pháp luật về tố tụng hình sự Việt Nam, tác giả mạnh dạn chọn đề
tài luận văn thạc sỹ là: “Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án (trên
cơ sở số liệu tại địa bàn tỉnh Đăk Lăk)”
2 Tình hình nghiên cứu
Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án với các chủ thể tham gia tố tụng hình sự khác là một trong những vấn đề được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu Sau khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực thi hành đã có một số công trình nghiên cứu đề cập các khía cạnh liên quan tới đề tài này như:
- “Giáo trình luật tố tụng hình sự”, của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội;
- “Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, do GS.TS Võ
Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004;
- “Trình tự thủ tục giải quyết các vụ án hình sự”, của Mai Thanh Hiếu và
Võ Chí Công, Nxb Lao động, Hà Nội;
- “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự (Xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm)”, Th.S Đinh Văn Quế, Nxb Tổng hợp Thành
phố Hồ Chí Minh, 2007;
Tuy nhiên, các công trình đó mới nhằm đến những khía cạnh nhất định của người tiến hành tố tụng mà chưa nghiên cứu toàn diện và đề xuất hoàn thiện những bất cập mà khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án đã và đang gặp phải, nhất là trong quá trình cải cách
hệ thống tư pháp hiện nay
Trang 73 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự và thực trạng về chất lượng người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án trong hoạt động xét xử án hình sự trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk
Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự thông qua việc đổi mới hoạt động của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án trong thời gian tới
Để đạt mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án trong BLTTHS
- Thực trạng áp dụng các quy định của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án vào xét xử vụ án hình sự trong từng giai đoạn
- Các giải pháp hoàn thiện các quy định của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án và những vấn đề trong công tác xét xử và áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án hình sự của từng chủ thể người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án qua thực tiễn tại tỉnh Đắk Lắk
Trên cơ sở mục đích, đối tượng nghiên cứu đã xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào những vấn đề tố tụng hình sự liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án và thực tiễn áp dụng từ năm 2009 đến năm 2014 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nhằm phát hiện những tồn tại, hạn chế cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xét xử của Tòa án, từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục nguyên nhân, phát huy những thành tựu, đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của hoạt động xét
xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân địa phương, đồng thời đề xuất các giải pháp để đảm bảo cho xét xử các vụ án hình sự của TAND đúng pháp luật, phù hợp với tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, chủ yếu sử dụng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phân tích và tổng hợp, lịch sử Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp của các bộ môn khoa học khác Hệ thống các phương pháp trên được sử dụng cụ thể như sau: Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để giải quyết nhiệm
vụ đặt ra ở các chương của luận văn
6 Đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhiệm vụ,
Trang 8quyền hạn của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nói chung
và hoạt động xét xử vụ án hình sự trên địa bàn TAND tỉnh Đắk Lắk nói riêng Luận văn lần đầu tiên đưa ra những luận cứ khoa học để làm sáng tỏ một cách
hệ thống vấn đề thực trạng mà người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án đã
và đang xét xử vụ án hình sự trong những năm qua và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự được tốt hơn để từ đó có thể giúp cho người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án giải quyết vụ án hình sự được tốt hơn Luận văn đồng thời phân tích làm rõ những kết quả, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong việc xét xử vụ án hình sự trong thời gian qua của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án
7 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn góp phần xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn trong chất
lượng xét xử vụ án hình sự của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án
Luận văn có thể được xây dựng làm cơ sở hình thành nên các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng hoạt động tố tụng hình sự Luận văn có thể là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và trong công tác xét xử những vụ án hình sự
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về người tiến hành tố tụng hình sự trong
cơ quan Tòa án nhân dân
Chương 2: Thực trạng pháp luật về những người tiến hành tố tụng hình
sự trong cơ quan Tòa án nhân dân và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Chương 3: Những yêu cầu cải cách nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ
án hình sự của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
HÌNH SỰ TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1 Khái niệm, vị trí, vai trò và nguyên tắc hoạt động của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân
1.1.1 Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân
Quá trình giải quyết vụ án hình sự là một quá trình liên tục có sự tham gia của nhiều chủ thể, trải qua nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau với nhiều cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau mà trong đó vị trí, vai trò của mỗi cơ quan là khác nhau Mỗi giai đoạn tố tụng đều có những đặc điểm đặc trưng và thể hiện một hướng nhất định của hoạt động tố tụng Cơ quan tham gia vào trình tự tố tụng
Trang 9hình sự này được gọi là cơ quan tiến hành tố tụng Tòa án nhân dân là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng có vị trí, vai trò quan trọng, là cơ quan cuối cùng kết thúc một quá trình tố tụng
Người tiến hành tố tụng hình sự nói chung là những người đại diện các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện những nhiệm vụ trong các giai đoạn tố tụng (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự) nhằm đảm bảo giải quyết vụ án hình sự theo đúng pháp luật tố tụng hình sự quy định, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Người tiến hành tố tụng là một trong các chủ thể của tố tụng hình sự, có vai trò quan trọng, mang tính quyết định trong quá trình chứng minh, giải quyết
vụ án hình sự Những người THTT có nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, nhưng hoạt động của họ có mối liên hệ mật thiết, thống nhất với nhau và đều có trách nhiệm là nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trên cơ sở phân loại theo các cơ quan THTT thì có người THTT trong Cơ quan điều tra, người THTT trong cơ quan Viện kiểm sát và người THTT trong
cơ quan Toà án
Theo phân loại tại Điều 33 BLTTHS năm 2003, ngoài các chức danh tư pháp như Thẩm phán,Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, BLTTHS năm 2003 còn quy định những chức danh lãnh đạo của Toà án là người tiến hành tố tụng
Do đó, có thể hiểu rằng, những người đại diện cho cơ quan Tòa án có thẩm quyền tiến hành xét xử vụ án hình sự là người THTT Khi tiến hành những hoạt động cụ thể trong việc xét xử các vụ án hình sự và thi hành các bản án, quyết định của Toà án, Tòa án phải thông qua những con người cụ thể, những người
đó gọi là người tiến hành tố tụng
Như vậy, người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án cũng như việc quy định về quyền, nghĩa vụ của họ được đề cập từ rất sớm trong lịch sử lập pháp Việt Nam Theo quy định của pháp luật có thể hiểu như sau về người tiến hành tố
tụng trong cơ quan Tòa án: “Người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa
án là người được cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm, được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm tiến hành xét xử các
vụ án hình sự của Toà án theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định.”
1.1.2 Vị trí, vai trò của người tiến hành tố tụng hình sự trong Tòa án nhân dân
Là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, hệ thống Tòa án nhân dân của Việt Nam thực hiện chức năng duy trì và bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân Các chức danh THTT trong cơ quan Tòa án bao gồm Chánh án, Phó Chánh án Toà án và Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án có vai trò quan trọng, mang tính quyết định trong quá trình chứng minh, giải quyết vụ án hình sự Như vậy, vai trò của người THTT trong cơ quan Tòa án có thể coi là
Trang 10người duy nhất được Nhà nước, cụ thể là Tòa án giao trách nhiệm thực hiện các hành vi tố tụng trong hoạt động khởi tố, xét xử vụ án hình sự, khi thực hiện nhiệm vụ chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ Người tiến hành TTHS là người có vai trò quan trọng, giữ vị trí trung tâm trong hoạt động TTHS
1.1.3 Các nguyên tắc trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân
Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng
hình sự
Theo nguyên tắc này thì khi giải quyết vụ án hình sự mọi hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS bảo đảm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội; không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Thứ hai, khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật
Đây là một nguyên tắc Hiến định, rất quan trọng trong hoạt động xét xử
Tuy nhiên hiện nay nguyên tắc này còn bị xem nhẹ, chưa có cơ chế phù hợp cho Thẩm phán, Hội thẩm thực sự độc lập Việc can thiệp vào hoạt động xét xử không phải là hiếm Do vậy nhiều nơi Thẩm phán và Hội thẩm chưa thực sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử
Thứ ba, nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án
Nguyên tắc này ghi nhận những người tham gia tố tụng được pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng với nhau và với Kiểm sát viên trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án nhằm chứng minh cho quan điểm, ý kiến của mình là có căn cứ và hợp pháp
Thứ tư, nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Nguyên tắc này khẳng định chỉ có Tòa án mới có quyền kết tội một con người đó bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật Khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, không một người nào bị coi là có tội Chỉ
có người đã bị Tòa án tuyên bố phạm tội mới bị áp dụng hình phạt và việc áp dụng hình phạt phải do Tòa án thực hiện
Thứ năm, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
BLTTHS quy định các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng mọi biện pháp pháp luật quy định để tìm ra sự thật khách quan của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ Nguyên tắc này còn quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Hiện nay trong các nhà nghiên cứu pháp lý có ý kiến nên bỏ quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm của Tòa án trong BLTTHS
Thứ sáu, nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng
hoặc người tham gia tố tụng
Trang 11Nguyên tắc này đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải đảm bảo vô tư khi làm nhiệm vụ Nếu HĐXX không vô tư, khách quan có thể sự thật của vụ
án sẽ không được rõ ràng, việc áp dụng pháp luật sẽ không chính xác, ảnh hưởng tới uy tín của nhà nước, sự nghiêm minh của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
Ngoài các nguyên tắc trên HĐXX cũng phải tuân thủ theo các nguyên tắc khác của BLTTHS
1.2 Mối quan hệ giữa những người tiến hành tố tụng hình trong cơ quan Tòa án nhân dân
1.2.1 Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Chánh án, Phó Chánh án Tòa án
Chánh án là người tổ chức công tác xét xử của Tòa án, quyết định phân công Thẩm phán, Hội thẩm giải quyết, xét xử vụ án hình sự, quyết định việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm trước khi mở phiên tòa Khi Chánh án vắng mặt một Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh
án Mối quan hệ này mang tính đan xen giữa hành chính và tố tụng Trong hoạt động tố tụng, không có quy định nào buộc Thẩm phán hay Hội thẩm phải chịu sự chỉ đạo của Chánh án hay Phó Chánh án khi xét xử Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Tuy nhiên trong thực tế tại không ít các Tòa án trước khi xét xử hoặc sau phần tranh luận, trước khi nghị án, Thẩm phán phải báo cáo nội dung vụ án với Chánh án hoặc Ủy ban thẩm phán để xin đường lối giải quyết vụ án, thậm chí là duyệt trước mức án Việc làm này ảnh hưởng đến tính độc lập của HĐXX
1.2.2 Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án
Nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án được quy định khá rõ tại Điều 39, 40, 41 của BLTTHS và cũng có những quyền hạn, trách nhiệm riêng của mình có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xét xử
vụ án hình sự
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng có những quyền hạn, trách nhiệm riêng của mình có ảnh hưởng không nhỏ đến việc giải quyết vụ án hình sự Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Quyết định này là căn cứ xác lập vị trí pháp lý của những người tiến hành tố tụng Trên cơ sở đó, Thẩm phán, Hội thẩm mới có những quyền hạn, trách nhiệm mà pháp luật quy định cho các thành viên HĐXX Tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là thành viên của HĐXX, phần lớn hoạt động của chủ tọa phiên tòa là thay mặt HĐXX thực hiện các quyền hạn, trách nhiệm của HĐXX Chủ tọa phiên tòa thực hiện tốt các hoạt động này cũng là HĐXX thực hiện tốt quyền hạn và trách nhiệm của mình
Thư ký Tòa án là người làm thư ký tại phiên tòa Tại phiên tòa Thư ký Tòa
án có trách nhiệm ghi biên bản phiên tòa, thực hiện các yêu cầu của HĐXX Hoạt động của Thư ký Tòa án góp phần bảo đảm cho việc giải quyết vụ án trong việc thực hiện kế hoạch xét xử và ra bản án có căn cứ Thư ký Tòa án cũng có sự độc
Trang 12lập nhất định đối với HĐXX Họ phải ghi biên bản phiên tòa trung thực, chính xác, không thể phản ánh sai diễn biến phiên tòa để "hợp pháp hóa" chứng cứ hay làm sai lệch nội dung vụ án Tuy nhiên, hiện nay việc bố trí vị trí ngồi cho Thư ký Tòa án tại các phiên tòa cũng chưa hợp lý dễ gây hiểu lầm Thư ký Tòa án cũng là thành viên của HĐXX, cần phải nghiên cứu để bố trí lại vị trí ngồi của Thư ký Tòa
án cho phù hợp, qua đó cũng thể hiện rõ vị trí trung tâm của HĐXX
1.3 Khái quát các quy định của pháp luật về người tiến hành tố tụng các vụ án hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân từ năm 1945 đến nay
Ra đời chính thức vào ngày 13/9/1946, hệ thống Toà án của nước ta đã lần lượt trải qua những cải cách về tổ chức và hoạt động: theo quy định của Hiến pháp năm 1946, Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/05/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960, Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm
1981, Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), các luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1992 và năm 2002 Trong quá trình xây dựng hệ thống Tòa án, các quy định liên quan tới thẩm quyền, chức năng và nhiệm vụ của những người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án cũng có nhiều thay đổi qua thời gian Trọng tâm của những thay đổi này nằm ở chức danh Thẩm phán
và các Hội thẩm, Thư ký Tòa án
1.3.1 Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988
Giai đoạn này chưa có BLTTHS nhưng các văn bản thời bấy giờ như các văn bản: Sắc lệnh 33/C ngày 13/9/1945 của Chủ tịch nước thiết lập các Tòa án quân sự; Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 của Chủ tịch nước về tổ chức các ngạch Thẩm phán; Hiến pháp năm 1946; Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 của
Chủ tịch nước về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, Hiến pháp năm 1959;
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960; Thông tư số 2421-TC ngày 29/12/1961 và Thông tư số 16-TATC ngày 29/7/1974 của TANDTC đều có những nội dung ghi nhận việc xét xử phải được thực hiện bằng một tập thể Trong đó có những văn bản xác định HĐXX có nhiệm vụ quyết định mọi vấn đề
về nội dung cũng như về thủ tục tố tụng trong phiên tòa HĐXX quyết định theo
đa số, trên nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm ngang quyền nhau
1.3.2 Người tiến hành tố tụng theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và năm 2003
Hiến pháp năm 1980 và BLTTHS năm 1988 đều ghi nhận các nguyên tắc: Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, khi xét xử Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán; Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật BLTTHS năm 2003 trên cơ sở kế thừa BLTTHS năm 1988, đồng thời cũng có một số thay đổi, xác định rõ chức năng nhiệm vụ của những người tiến hành tố tụng, quy định chặt chẽ, cụ thể hơn về quyền hạn, trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng Sửa đổi các trình tự, thủ tục tố tụng cụ thể, rõ ràng, có tính khả thi hơn, đề cao tính tranh tụng hơn Về thành
Trang 13phần HĐXX và các nguyên tắc hoạt động của HĐXX cơ bản được giữ nguyên theo quy định của BLTTHS năm 1988
1.4 Người tiến hành tố tụng trong luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới
Thủ tục tố tụng của các nước trên thế giới hiện nay phân chia thành hai hệ thống chủ yếu đó là: Hệ thống tố tụng thẩm vấn (hay còn gọi là hệ thống tố tụng xét hỏi) và hệ thống tố tụng tranh tụng Tuy nhiên có quan điểm cho rằng có ba
hệ thống ngoài hai hệ thống trên còn có hệ thống tranh tụng pha trộn
Mô hình tố tụng tranh tụng chủ yếu được áp dụng ở các nước theo hệ thống pháp luật án lệ, là một trong các mô hình tố tụng hình sự phổ biến hiện nay trên thế giới; bảo đảm sự bình đẳng tuyệt đối giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong suốt quá trình đi tìm sự thật vụ án Thể hiện tính công bằng cao, thể hiện qua vai trò bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Mô hình tranh tụng thể hiện ở mức độ cao hơn sự tôn trọng quyền cơ bản của công dân Vai trò của luật sư giúp giảm đi sự lạm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng
Mô hình tố tụng thẩm vấn được phổ biến rộng rãi nhất trong thời đại chế
độ chuyên chế Với bản chất không đặt nặng hình thức như tố tụng tranh tụng,
tố tụng thẩm vấn coi sự thật sau cùng của vụ án là mục đích được mong chờ, do
đó, những sai phạm không đáng kể trong thủ tục có thể được bỏ qua nếu mục đích chứng minh tội phạm vẫn được giải quyết
Ngoài hai mô hình tố tụng nêu trên còn tồn tại mô hình tố tụng pha trộn
Mô hình tố tụng pha trộn là mô hình tố tụng có sự đan xen, kết hợp của cả hai cách thức tổ chức hoạt động tố tụng hình sự nêu trên
Mỗi mô hình tố tụng hình sự đều có những ưu thế và những hạn chế của nó Cho đến nay, các quốc gia đều có sự thay đổi hệ thống tố tụng của mình cho phù hợp với sự phát triển xã hội Tìm mọi cách phát huy những điểm mạnh, hạn chế những nhược điểm trong mô hình tố tụng mà mình đã lựa chọn